- Các sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các trường PT Dân tộc Nội trú tăng cường vai trò của tổ trưởng chuyên môn trong công tác bồi dưỡng đội ngũ, đổi mới phương pháp dạy học bộ môn; vận d
Trang 1THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI HỌC THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG MÔN NGỮ VĂN
Ở TRƯỜNG PT DÂN TỘC NỘI TRÚ
O HỌN T :
Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục dân tộc năm học 2012 – 2013 của
Bộ Giáo dục – Đào tạo có nêu:
“ - Căn cứ hướng dẫn của Bộ Giáo dục – Đào tạo, các địa phương thực hiện tốt chương trình và kế hoạch giáo dục trong các trường PT Dân tộc Nội trú… về dạy học 2 buổi/ ngày; dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình Giáo dục phổ thông; dạy học tự chọn
- Tăng cường đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá học sinh phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc thiểu số
- Các sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các trường PT Dân tộc Nội trú tăng cường vai trò của tổ trưởng chuyên môn trong công tác bồi dưỡng đội ngũ, đổi mới phương pháp dạy học bộ môn; vận dụng linh hoạt, sáng tạo các chuyên đề bồi dưỡng giáo viên phù hợp với tình hình thực tế để nâng cao chất lượng học tập của học sinh; tổ chức khảo sát phân loại năng lực học tập của học sinh ngay từ đầu năm học để dạy học, phụ đạo, bồi dưỡng đúng đối tượng học sinh
- Thực hiện nghiêm túc quy chế đánh giá xếp loại học sinh do Bộ Giáo dục – Đào tạo ban hành; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý dạy học, kiểm tra đánh giá học sinh trong các cơ sở giáo dục phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc thiểu số; thực hiện tốt việc phân tích kết quả đánh giá, xếp loại các môn học của học sinh năm học 2011 – 2012, từ đó đề ra các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng dạy học”
Đáp ứng yêu cầu và hướng dẫn của Bộ Giáo dục – Đào tạo, trường PT Dân tộc Nội trú đã triển khai ngay từ đầu năm học cho các tổ bộ môn thực hiện tốt những nội dung chỉ đạo trên
Đối với bộ môn Văn, nhiều năm qua gặp nhiều khó khăn trong giảng dạy và kết quả thực sự chưa cao trong các kỳ thi, đặc biệt là kỳ thi tốt nghiệp Có thể nói
đó cũng là tình hình chung trong các trường phổ thông trên toàn Tỉnh
Nhiều năm trở lại đây, Sở Giáo dục có nhiều cố gắng trong việc tổ chức tập huấn các chuyên đề đi sâu và phục vụ bộ môn như: Chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, các kỹ thuật dạy học tích cực, Chuyên đề dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng, Chuyên đề đổi mới trong kiểm tra đánh giá… Các chuyên đề này đã thực sự hữu ích cho công tác chuyên môn của Giáo viên (GV) Tuy nhiên, việc áp dụng, thực hiện như thế nào ở các trường, các tổ chuyên môn lại là một vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn nữa
Riêng với trường Dân tộc Nội trú Tỉnh, việc triển khai các nội dung trên thực tế gặp nhiều khó khăn, vì GV ở mỗi bộ môn ít nên việc trao đổi kinh nghiệm
Trang 2còn hạn chế, đối tượng Học sinh (HS) đặc biệt chưa đáp ứng được yêu cầu theo lý thuyết đã được tập huấn Chính vì vậy, là Tổ trưởng chuyên môn, bản thân tôi có nhiều trăn trở trong việc thúc đẩy chuyên môn của tổ, của bản thân và đồng nghiệp, nhằm làm cho việc giảng dạy bộ môn ngày càng đem lại kết quả cao hơn, HS tích cực hơn trong học tập GV xác định được mục tiêu dạy học thì tiết học sẽ trở nên nhẹ nhàng, tạo được sự hứng thú trong học tập và cả giảng dạy, nhất là trong môi
trường của trường Dân tộc Nội trú Các em HS cần phải được “hòa nhập” với mặt
bằng HS trường bạn ở các cuộc thi quốc gia trong điều kiện có bước khởi đầu chậm hơn so với đối tượng HS khác
Một trong những hướng đi của tổ Văn là từng bước thay đổi quan niệm giảng dạy của GV, quan niệm học tập của HS đối với bộ môn Từ thực tiễn, chúng
ta vẫn thấy còn những hạn chế nhất định về nhiều mặt: sách giáo khoa, quy định thời gian, số tiết và không thể không nhắc đến hạn chế trong quan điểm đánh giá giờ dạy của GV lâu nay Khi dự giờ, chúng ta chỉ chú trọng các hoạt động của GV đối với nội dung bài học mà quên rằng, cũng cần phải quan sát thái độ học tập của
HS trước những gì mà GV truyền đạt Chúng ta còn quá chú trọng đến hoạt động
“dạy” mà chưa quan tâm đến hoạt động hướng dẫn HS “học” Vì vậy, ở chuyên
đề này, tôi mạnh dạn đề xuất và thực hiện cách gọi “thiết kế bài học” thay cho
“thiết kế bài dạy” như lâu nay vẫn dùng
Chọn đề tài THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI HỌ THEO HƯỚNG DẠY
HỌC TÍCH CỰC TRONG MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PT DÂN TỘC NỘI TRÚ, bản thân tôi muốn nhấn mạnh công tác chuẩn bị cho tiết dạy của GV ở mỗi
giờ lên lớp Chúng ta không đi vào thói quen là “tôi sẽ dạy cái gì trong tiết dạy
này” mà phải quan tâm đến việc “tôi sẽ dạy cho học sinh học như thế nào vấn
đề này, trong tiết học hôm nay” Đó là mục tiêu để hướng đến sự đổi mới mà bản
thân tôi vô cùng trăn trở
hông phải là những kiến thức mới m , cũng không phải là những cách thức khác biệt, nhưng chuyên đề này gởi gắm tâm huyết với nghề, với HS và khát vọng làm cho HS yêu th ch, hứng thú với mỗi giờ học của bản thân tôi trong việc ạy Văn nhiều niềm vui và cũng nhiều nỗi buồn như hiện nay
Trang 3điều kiện, hoàn cảnh sống khó khăn của gia đình nên các em đã tham gia lao động
từ nhỏ, vì vậy các em thường có khả năng tự lập cao trong điều kiện phải sống xa nhà
Với điều kiện học tập và ở Nội trú, không có cha mẹ và người lớn ở bên thường xuyên giúp đỡ, nên ngoài việc lên lớp, các em còn phải tự tổ chức cuộc sống hằng ngày cho mình từ việc nề nếp học tập cho đến các sinh hoạt thường ngày, kể cả khi ốm đau… Do đó, HS tộc thiểu số có thể tự tổ chức cuộc sống hằng ngày với nhau, giải quyết các vấn đề nảy sinh trong tập thể Các em là những người luôn có nghị lực vươn lên, sẵn sàng vượt qua khó khăn, vất vả o điều kiện sống xa nhà mang lại Tuy nhiên, do thiếu sự quan tâm, định hướng của cha mẹ nên các em cũng hay có những hành động tự phát, thiếu suy nghĩ ch n chắn Vì vậy, vai trò của Thầy, Cô giáo là rất quan trọng
Đặc biệt đối với việc học tập, các em ường như thoát khỏi “vòng phong tỏa” của cha mẹ dẫn đến một số em thiếu ý thức vươn lên, không xác định mục tiêu học tập và không có phương pháp học tập nếu không được GV bộ môn, GV chủ nhiệm hướng dẫn Vì vậy, việc hướng dẫn học tập cho các em qua mỗi tiết học là
vô cùng có ý nghĩa, cần thiết
I.1.2 Những khó khăn thường gặp của Học sinh Dân tộc Nội trú trong học tập:
- Điều kiện sống : Do điều kiện ở các vùng khó khăn, trình độ nhận thức các vấn đề
xã hội và hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên HS rất dễ tiếp nhận những thói hư tật xấu, dễ bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội
- Học lực: Trình độ nhận thức của các em HS ở vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế,
điều này có thể là hệ quả của quá trình học tập của các em ở những cấp học trước, dẫn đến đầu vào của các em thấp hơn so với các đối tượng HS khác Môi trường sống đặc thù và những khó khăn về ngôn ngữ, quan niệm giữa Thầy và trò cũng có thể trở thành nguyên nhân dẫn đến việc tiếp thu kiến thức của HS dân tộc thiểu số
bị hạn chế
- Khả năng ngôn ngữ: Kĩ năng nghe, nói, đọc, viết của các em có nhiều hạn chế
nhất định Việc đọc diễn cảm trong bộ môn Văn là điều mà rất ít HS dân tộc thiểu
số làm được Khả năng iễn đạt ảnh hưởng lối nói trong cuộc sống hằng ngày nên cũng phần nào khó khăn trong khi viết văn
- Thiếu cơ hội hòa nhập cộng đồng và tiếp cận thông tin: Một số nét tính cách
chung của đa số HS người dân tộc thiểu số là trọng danh dự, thật thà, trung thực và
có tính tự tôn dân tộc cao Tuy nhiên, do ít tiếp xúc với môi trường bên ngoài nên các em thường nhút nhát, thụ động, tự ti, bảo thủ Nắm bắt nét đặc điểm tâm lý này
GV cần có những hoạt động tích cực giúp các em phát huy những nét tính cách tốt đẹp và khắc phục dần những hạn chế để các em sớm thích ứng, hòa nhập được với môi trường sống, yêu cầu học tập và tiếp cận với cách học khoa học, phát huy tính chủ động để theo kịp sự phát triển chung của xã hội
Trang 4I.2 MỘT SỐ KHÁI NI M ÊN QU N ẾN TÀI:
I.2.1 Khái niệm học tích cực:
Học tích cực là một thuật ngữ có tầm bao phủ rộng và là một thuật ngữ được
hiểu theo nhiều cách khác nhau Dưới đây là một số trích đoạn định nghĩa về học
+ Học tích cực bao gồm việc HS tham gia vào quá trình xây dựng mô hình trí tuệ của riêng mình từ những thông tin họ có được, đồng thời liên tục kiểm tra sự hợp lý của mô hình trí tuệ đã xây ựng được
+ Học tích cực đòi hỏi HS sử dụng bộ não của họ để nghiên cứu ý tưởng, giải quyết vấn đề và áp dụng những gì học được vào cuộc sống
+ Người học hoạt động hăng hái, phấn đấu để có một trách nhiệm lớn hơn cho việc học của mình
+ Việc học tốt nhất là thông qua tương tác xã hội và ít cạnh tranh hơn Có nhiều phương pháp thúc đẩy việc học tích cực bao gồm: HS làm việc cùng nhau cả trong và ngoài lớp học cũng như bài giảng trên lớp
I.2.2 Một số mô hình học tích cực theo L Dee Fink :
“ ối thoại với chính mình” :
Điều này xảy ra khi người học suy nghĩ về một chủ đề, ví dụ: họ tự hỏi mình biết gì, nghĩ gì, cảm thấy gì về chủ đề đó Đó là ý kiến riêng của mỗi người Nó có
độ bao phủ rộng hơn các câu hỏi chỉ liên quan đến nhận thức Một GV có thể yêu cầu HS viết về những gì họ đang học, cách thức học, vai trò của những kiến thức được học đối với cuộc sống của chính các em Những nội dung học tập tác động đến suy nghĩ, cảm xúc của các em như thế nào
“ ối thoại với người khác” :
Trong dạy học truyền thống khi học sinh đọc một cuốn sách hay nghe một bài giảng là họ lắng nghe người khác (GV, tác giả cuốn sách) Điều này có lẽ, có thể được xem là đối thoại một phần nhưng nó bị hạn chế vì thông tin chỉ được truyền theo một chiều Một hình thức học tập năng động và tích cực được thực hiện trong dạy học ngày nay là GV tổ chức cho HS thảo luận theo nhóm về một
Trang 5đối thoại với khách mời, các “nhà chuyên môn” trong lớp học hoặc bên ngoài lớp học Có thể trao đổi bằng cách viết thư thông thường hoặc thư điện tử
“Quan sát” :
Điều này xảy ra bất cứ khi nào người học sử dụng các giác quan của mình
để nghiên cứu, phát hiện những gì liên quan đến điều họ đang học Ví dụ lắng nghe
GV, người khác phê phán một tác phẩm văn học đã được học; hoặc quan sát các hiện tượng đang được nghiên cứu (tự nhiên, xã hội hoặc văn hóa) Các hành vi quan sát có thể là trực tiếp hay gián tiếp đối với cùng một chủ đề Ví dụ HS được yêu cầu tìm hiểu về cuộc sống của người nghèo, các em có thể đi đến nơi mà người dân có thu nhập thấp đang sinh sống và làm việc, dành thời gian quan sát cuộc sống ở đó (quan sát trực tiếp) hoặc các em có thể được xem một bộ phim, một câu chuyện liên quan đến người nghèo (quan sát gián tiếp)
“ àm”:
Điều này nói đến bất kỳ hoạt động học tập của HS được thực sự làm điều gì đó: thiết kế mạch điện hoặc tiến hành một thử nghiệm (tự nhiên và khoa học xã hội), điều tra sự ô nhiễm môi trường ở địa phương, thực hiện một bài thuyết trình
Những việc “làm” của HS như nêu trên có thể được thực hiện ở trong hoặc ngoài lớp học; cũng có thể “làm trực tiếp” tạo ra các sản phẩm thật hoặc chỉ ưới dạng bài tập, mô hình (làm “gián tiếp”)
I.2.3 Các hình thức, kiểu học tích cực:
* Học chủ động / học độc lập:
- Học chủ động/ học độc lập là một hình thức, kiểu học tích cực “Học” không hoàn toàn giống ghi nhớ Đó là một quá trình chủ động “tạo nghĩa” hay nói cách khác đó là sự vận động nội tại trong não người học Chỉ có những thông tin nào được người học sắp xếp, cấu trúc và tổ chức mới có thể chuyển thành trí nhớ dài Thông tin chỉ tồn tại trong trí nhớ dài, nếu nó được tái sử dụng và nhắc lại một cách thường xuyên
- Học chủ động/ học độc lập là tập trung vào việc học, tạo cơ hội và kinh nghiệm cần thiết cho người học để họ trở thành người có năng lực tự lực, có động lực và tự học suốt đời Học hiệu quả hơn nếu động cơ của nó là ham muốn được thành công hơn là lo sợ bị thất bại HS cần có trách nhiệm tối đa đối với việc học tập, đánh giá và đạt tiến bộ
- Cách tốt nhất để phát triển khả năng học chủ động/ học độc lập là thông
qua “các kỹ năng tư uy” Nhà trường không chỉ dạy cho HS học cái gì mà cần dạy cho HS học thế nào Điều này có nghĩa là tạo cho HS những thách thức đối
với tư uy và cho các em thời gian để tư uy về mọi lĩnh vực học tập của mình
- GV cần biết các phong cách học tập khác nhau của người học để kết hợp nhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học khác nhau nhằm tạo điều kiện giúp mọi HS thành công trong học tập
* Học hợp tác:
- Học hợp tác là một hình thức/ kiểu học tích cực chú trọng đến sự phối hợp
Trang 6việc chung và các thành viên trong nhóm có quan hệ phụ thuộc nhau, giúp đỡ nhau
để giải quyết các vấn đề khó khăn của nhau HS có thể học tập ưới các hình thức khác nhau: tập thể, nhóm nhỏ, cá nhân hay theo cặp để đạt được các mục tiêu hoạt động
- Các yếu tố học hợp tác:
+ Quan hệ phụ thuộc tích cực: Kết quả của cả nhóm chỉ có được khi có sự hợp tác
làm việc, chia s của tất cả các thành viên trong nhóm
+ Trách nhiệm cá nhân: Mỗi cá nhân đều được phân công trách nhiệm thực hiện
một phần của công việc và tích cực làm việc để đóng góp vào kết quả chung, tránh trường hợp chỉ có nhóm trưởng và thư ký làm việc
+ Khuyến khích sự tương tác: Trong quá trình hợp tác cần có sự trao đổi chia s
giữa các thành viên trong nhóm để tạo thành ý kiến chung của nhóm
+ Rèn luyện các kỹ năng xã hội: Tất cả các thành viên đều có cơ hội để rèn kỹ
năng như: lắng nghe tích cực, đặt câu hỏi đưa thông tin phản hồi tích cực, thuyết phục, ra quyết định
+ Kỹ năng đánh giá: Cả nhóm HS thường xuyên rà soát công việc đang làm
“chúng ta đang làm như thế nào?” và kết quả ra sao HS có thể đưa ra ý kiến nhận định đúng hoặc sai, tốt hoặc chưa tốt để góp phần hoàn thiện hoạt động và kết quả của nhóm
* Học tương tác:
- Học tương tác là một hình thức/ kiểu học tích cực Tương tác: liên quan đến giao tiếp – giữa con người với con người và đôi khi với các tác nhân khác như sách, máy tính – ví dụ: khi ta viết lên lề của một bài viết hoặc kích chuột vào một địa chỉ kết nối đến một trang Web là đã phản hồi lại điều bạn vừa đọc
- Học tương tác mô tả phương pháp tiếp nhận thông tin thông qua thực hành, tương tác Việc này đối lập với học thụ động chỉ thông qua quan sát hoặc chỉ nghe thông tin
- Học tương tác được sử dụng phổ biến trong môi trường giáo dục ngày nay, đặc biệt thường liên quan đến việc sử dụng máy tính và những trang thiết bị khác
II MỘT SỐ CÁCH THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI HỌC
THEO HƯỚNG HỌC TÍCH CỰC
II.1 CẤU TRÚC KẾ HOẠCH BÀI HỌ THEO HƯỚNG HỌC TÍCH CỰC:
Kế hoạch bài học (giáo án) cần bao quát đủ những yếu tố cơ bản và xác lập
được những liên hệ cần thiết, hợp lý giữa mục tiêu bài học, nội dung học tập, các
thiết bị dạy học và học liệu, các hoạt động học tập, tổng kết và hướng dẫn học tập
Tất cả tạo nên một quy trình rõ ràng về logic và nội dung Một kế hoạch bài học sẽ
có cấu trúc gồm các phần sau:
Trang 7KẾ HOẠCH BÀI HỌC TÊN BÀI HỌC:
- Thời gian dự kiến để thực hiện hoạt động
IV Tổng kết và hướng dẫn học tập:
( Nội dung này sẽ được minh họa bằng giáo án ở phần phụ lục)
II.2 THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI HỌ THEO HƯỚNG HỌC TÍCH CỰC: II.2.1 Thiết kế mục tiêu bài học:
Mục tiêu học tập là kết quả học tập dự kiến mà HS đạt được sau bài học Việc thiết kế mục tiêu được quy định bởi chuẩn chương trình, chuẩn kỹ năng kiến thức của môn học
Mục tiêu học tập được thiết kế có thể không hoàn toàn trùng khớp với mục tiêu o người học tự đặt ra Đó là một thực tế khách quan cần được tôn trọng vì
ch nh độ chênh này mới thực sự là điều kiện cho sự phát triển và khác biệt cá nhân
Trang 8Có thể khái quát mục tiêu bài học theo sơ đồ:
1 Bắt chước
2 Thao tác
3 Làm chuẩn xác
4 Tổ chức giá trị ( quy tắc ứng xử)
5 Đặc trưng văn hóa
Khi thiết kế mục tiêu bài học cần dựa vào 5 nguyên tắc:
- Mục tiêu phải định rõ mức độ hoàn thành công việc của HS Cần chỉ rõ học xong bài này HS phải đạt được những gì chứ không chỉ là trong tiết học này
GV phải làm những gì
- Mục tiêu phải nói rõ đầu ra của bài học chứ không phải là tiến trình bài học
- Mục tiêu không phải là chủ đề của bài học mà là cái đích bài học phải đạt
tới
- Mỗi mục tiêu chỉ nên phản ánh một đầu ra để thuận tiện cho việc đánh giá
kết quả bài học Nếu bài học có nhiều mục tiêu thì nên trình bày riêng từng
mục tiêu với mức độ phải đạt về mỗi mục tiêu đó
- Mỗi đầu ra của mục tiêu nên được diễn đạt bằng một động từ được lựa chọn
Trang 9Mức độ ộng từ diễn đạt
Nhớ
Định nghĩa Nêu tên Điền vào Nhớ
Ghi lại Sắp xếp lại Nhắc lại một cách máy móc
Nhớ lại
Kể lại Sắp xếp thứ tự Xác định
Hiểu
Diễn đạt lại Nhận diện Thảo luận Sắp xếp Diễn giải
Mô tả Báo cáo Nhìn nhận Nhìn lại Diễn tả
Giải thích
Kể (bằng lời của mình)
Hợp lại với nhau
Áp dụng
Sử dụng Giải thích Minh họa
Mô phỏng
Áp dụng Thực hành Hoạt động Phỏng vấn
Dùng Kịch hóa Lên kế hoạch
Vẽ
Phân tích
Phân biệt Phân tích
So sánh Tranh luận Phân loại
So sánh Tương phản Hỏi
Đánh giá Lập biểu đồ
Bình phẩm Giải quyết Thử nghiệm Kiểm tra Viết lại
ánh giá
Nhận định
Dự đoán Thiết lập
Đánh giá Lựa chọn Tranh luận
Bảo vệ Quyết định
Sáng tạo
Chuẩn bị
Bố trí Thiết lập
Đề xuất Lên kế hoạch Sáng tác
Tạo lập Lập công thức Thiết kế
Tóm lại, mục tiêu bài học dự kiến này càng cụ thể, càng sát hợp với yêu cầu, mục đ ch của chương trình, với hoàn cảnh dạy và học thì càng tốt Nó sẽ là căn cứ
để Thầy đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy, điều chỉnh hoạt động dạy, để trò tự đánh giá kết quả học, điều chỉnh hoạt động học, từng bước thực hiện mục đ ch ạy học một cách vững chắc
II.2.2 Thiết kế nội dung học tập:
Nội dung học tập là đối tượng của hoạt động học tập (nhận thức, giao tiếp, quản lý vận động thể chất, lao động, nghệ thuật, quan hệ xã hội…)
Nội dung học tập của bài học được mô tả và thiết kế theo một số quy tắc:
- Chỉ rõ thực chất của quá trình, sự vật hay sự kiện từ những khía cạnh: hình thức, cấu trúc, logic, chức năng, xu thế…
- Tổ chức hệ thống khái niệm
- Dự kiến được cấu trúc và tính chất của các hoạt động mà HS phải thực hiện
- Cần gợi ra được cấu trúc, cơ cấu, tính chất và cường độ của các hoạt động, nhưng không nhất thiết phải ấn định các hoạt động một cách cứng nhắc
Trang 10- Cần chuyển các thành phần nội dung trừu tượng thành sự mô tả hành động hoặc kỹ năng hành vi, hoặc đối tượng cảm t nh Để làm điều này phải có kỹ năng sử dụng các mô hình, biểu trưng, đồ họa, sơ đồ…
II.2.3 Chuẩn bị thiết bị dạy học và học liệu:
Các thiết bị dạy học và học liệu được lựa chọn theo 3 tiêu chí cơ bản:
- Có những yếu tố mới ngoài các thiết bị dạy học thông thường, hoạch định
những thiết bị dạy học và học liệu đặc thù của bộ môn, bài học
- Được xác định về chức năng một cách cụ thể: hỗ trợ GV, hỗ trợ HS, hỗ trợ
đồng thời cho cả GV và HS
- Có hình thức vật chất cụ thể Tiêu ch này đòi hỏi sự xác định rõ ràng về bản
chất vật lí (vật liệu, k ch thước, cấu tạo, số lượng, màu sắc…), về bản chất sinh học và tâm lý (có liên quan đến thị giác, thính giác, cảm giác, sức khỏe,
quá trình trí tuệ, xúc cảm và tính tích cực cá nhân…), về bản chất xã hội
(những đặc điểm thẩm mĩ, văn hóa, đạo đức, chính trị…)
Các thiết bị dạy học và học liệu thường được chuẩn bị theo một số quy tắc:
- Hỗ trợ triệt để cho các mục đ ch hoạt động của GV trên nhiều mặt: khai thác
và phân tích nội dung học tập, áp dụng phương pháp, biện pháp và kĩ thuật dạy học, đánh giá, tổ chức và quản lí lớp… phù hợp với mục tiêu bài học
- Chủ yếu có vai trò công cụ trong hoạt động của HS (có t nh tương tác cao chứ không chỉ để minh họa và chứa đựng thông tin)
- T nh đa ạng và tiện sử dụng của phương tiện Không nên lạm dụng một chủng loại hay kiểu phương tiện
- Lựa chọn ưu tiên các thiết bị dạy học tối thiểu do Bộ Giáo dục – Đào tạo ban hành, học liệu phổ biến, đơn giản, dễ làm, chủ động Cần xác định thiết bị, học liệu nào HS hay GV phải chuẩn bị để liệt kê trong kế hoạch bài học
II.2.4 Thiết kế các hoạt động học tập:
II.2.4.1 Các hoạt động học tập của Học sinh:
A Phân biệt theo chức năng giáo dục:
Trọng tâm và điểm xuất phát là từ hoạt động của HS dự kiến cách thức hoạt
động của GV (bao gồm cả việc lựa chọn PPDH và kĩ thuật dạy học của GV) Hoạt
động của HS bao gồm các kiểu sau:
- Các hoạt động tìm tòi, phát hiện
Trên cơ sở thông tin từ GV và nguồn học liệu khác, HS cần thực hiện một vài hoạt động có chức năng tìm tòi – phát hiện để thu thập dữ liệu, bổ sung dữ kiện, kiểm tra giả thuyết, làm sáng tỏ phán đoán, nhận thức nhiệm vụ hoặc vấn đề, phân
Trang 11Đó là những hoạt động nhằm xử lý, biến đổi thông tin, dữ liệu và sự kiện đã tìm
ra, phát hiện được Qua xử lí, HS sẽ có những thông tin mới của chính mình Đó sẽ
là cơ sở nảy sinh quá trình tư uy, cảm nhận, tưởng tượng, suy luận và khái quát
hóa ở người học Các hoạt động này phát triển những kỹ năng áp dụng (ghi nhớ, nhớ lại); các kỹ năng trí tuệ (tư uy phê phán, sáng tạo, kĩ năng giải quyết vấn đề)
- Các hoạt động ứng dụng, thực hiện
Thường có hình thức thực hành hoặc nhiệm vụ thực tiễn HS phải làm ra sản phẩm cụ thể, hoàn tất một công việc cụ thể, qua đó luyện tập và củng cố những điều đã học Đó có thể là báo cáo, nghiên cứu cá nhân hoặc nhóm về một chủ đề, một thực nghiệm thăm ò hoặc chứng minh…
- Các hoạt động đánh giá và tiếp nối
Các hoạt động đánh giá o HS thực hiện giúp họ nhận thức rõ kết quả học tập với những thành công cũng như thiếu sót của mình, từ đó thực hiện một vài hoạt động bổ sung có tác dụng luyện tập, rèn kĩ năng và củng cố bài học
B Kỹ năng cần thiết xây dựng từ thực tế trường Dân tộc Nội trú:
B.1 Giúp HS xác định mục tiêu, ý nghĩa, tác dụng của việc học tập bộ môn đối với cuộc sống, công việc sau này
Trước hết, xin được nhắc lại nội dung mà Hội đồng về “giáo dục thế kỉ ”
của N SC iên hiệp quốc đã đưa ra khuyến cáo về trụ cột của giáo ục:
- Đ ch đến đơn giản nhất là để có thành tích qua các kì thi
- Rèn luyện cho bản thân các kĩ năng nói, viết có văn hóa, có nghệ thuật ứng dụng trong giao tiếp hằng ngày, trong công việc sau này
- Tăng cường kiến thức về khoa học xã hội
- Hiểu biết về ngôn ngữ tiếng mẹ đ
- Và cuối cùng là để bồi ưỡng tâm hồn bằng cái hay, cái đẹp của văn chương
H ớng d n học inh t học đúng ph ng pháp đặc tr ng bộ môn:
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện
cho HS có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho các
em lòng ham học, khơi ậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học
Trang 12học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ
tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo
viên
Dạy học tích cực xem việc rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu của
dạy học
Đối với môn Văn, việc HS tự học là một khâu quan trọng, HS phải thực hiện
được những bước cơ bản sau :
- Đọc tác phẩm
- Bước đầu cảm thụ tác phẩm theo suy nghĩ, cảm xúc cá nhân
- Định hình những nội dung cần phân tích
Sự rèn luyện một cách có ý thức năng lực tập trung trong cuộc sống hàng ngày sẽ cho phép ta tận dụng hiệu quả hơn thời gian và chuẩn bị tinh thần để bước vào những trải nghiệm mới
Tâm lý giáo ục cho rằng lứa tuổi vị thành niên, đặc biệt là ở HS trung học hiện tượng hay mơ màng, nghĩ chuyện vẩn vơ, th ch chứng minh mình là “người lớn”, … Và như vậy, khả năng tập trung sự chú ý vào bài học của các em t nhiều
bị ảnh hưởng Nhưng cũng từ đó, GV hiểu được tâm lý của các em, có những biện pháp đúng đắn thì sẽ khơi gợi được động lực mạnh mẽ để các em đến với bài học đạt hiệu quả cao nhất
HS hiện nay có nhiều vấn đề để quan tâm như nhu cầu bản thân, giải trí, hưởng thụ, tình trạng gia đình … Nên việc giúp các em biết tập trung vào học tập cũng là một yêu cầu thiết yếu
Năng lực tập trung ngày nay có ý nghĩa lớn lao hơn bao giờ hết, phân tán tư tưởng cản trở việc học tập, làm giảm khả năng phát triển bản thân Vì thế, hãy thực hành, luôn luôn thực hành, thường xuyên nhắc nhở bản thân tập trung
B.4 H ớng d n HS cách đọc tác phẩm hiệu quả
- Yêu cầu HS thực hiện việc đọc sách với tư thế phù hợp