CÁC GIAI ĐOẠN CẢI CÁCH THỂ CHẾThể chế kinh tế là một bộ phận cấu thành nên hệ thống thể chế, tồn tại cùng vớicác thể chế như chính trị, giáo dục, dân sự, lao động… Thể chế kinh tế có thể
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
NHÓM 15: CẢI CÁCH THỂ CHẾ KINH
TẾ Ở VIỆT NAMDANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM
Trang 2I CÁC GIAI ĐOẠN CẢI CÁCH THỂ CHẾ
Thể chế kinh tế là một bộ phận cấu thành nên hệ thống thể chế, tồn tại cùng vớicác thể chế như chính trị, giáo dục, dân sự, lao động… Thể chế kinh tế có thể hiểu nhưmột hệ thống gồm các luật lệ kinh tế, quy tắc, quy chế về kinh tế gắn với các chế tài
xử phạt, các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế, các cơ quan quản lý, vận hành nềnkinh tế
Thể chế kinh tế Việt Nam thực sự được quan tâm xây dựng khi chuyển từ nềnkinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa Trong chủ đề này tập trung phân tích thể chế kinh tế và các thànhphần liên quan trong các giai đoạn cải cách của Việt Nam từ cuối những năm 1970
I.1: THỬ NGHIỆM
-Từ cuối những năm 1970, nước ta rơi vào khủng hoảng kinh tế và tiêu dùng, cung và cầu, thu và chi, xuất khẩu và nhập khẩu, Nền kinh tế mang tính chất hiện vật theo cơ chế quản lý tập trung, bao cấp hoạt động và vận hành theo quyết định hành chính là chủ yếu nên hệ thống thể chế có rất nhiều nhược điểm dẫn tới ít hiệu quả.
- Trước năm 1975, Việt Nam thống nhất 2, miền Nam có hoạt động kinh tế mangtính chất thị trường tự do, kinh tế tư nhân Đến hội nghị lần 24 của ban chấp hànhtrung ương Đảng lao động VN khóa III đã áp dụng mô hình kinh tế chung của cảnước và quyết định: xóa bỏ tư sản mại bản ( thành phần trung gian giữa tư bản nướcngoài với thị trg VN), cải tạo xhcn đối với tư sản dân tộc, phát triển kinh tế quốcdoanh
- Năm 1976, thực hiện kế hoạch 5 năm 1976-1980, tập trung cải tạo xã hội chủnghĩa ở miền Nam với mô hình hợp tác hóa, cải tạo thương nghiệp
- Năm 1978, thống nhất tiền tệ trong cả nước Việc này góp phần cải tạo xã hộichủ nghĩa ở miền Nam xóa bỏ lối làm ăn rối loạn của tư thương
=> Kế hoạch 5 năm gặp khó khăn, giai đoạn này bị cắt giảm viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa, cơ chế kinh tế mới áp dụng tại miền nam khiến kinh tế cho miền Nam cũng như cả nước nói chung sa sút.
-Từ năm 1979 Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có một số thử nghiệm nhằm khắcphục một bước một bước những khuyết tật của cơ chế quản lý cũ
Hội nghị Trung Ương Đảng khóa IV tiến hành hội nghị lần thứ sáu và đưa raquyết định với tinh thần là: Cho phép kết hợp kế hoạch tập trung với cơ chế thịtrường; Sử dụng kinh tế tư nhân dưới sự quản lý của nhà nước; Sửa lại giá nông sảntheo hướng thỏa thuận; cho phép địa phương được xuất khẩu,
-Năm 1981, Nhà nước đã thay đổi một bước hệ thống kế hoạch điều hành xínghiệp quốc doanh Từ một kế hoạch tập trung và Nhà nước đã chuyển thành một kếhoạch ba phần (Chế độ 3 kế hoạch):
Trang 3+Phần kế hoạch bắt buộc mà Nhà nước giao cho xí nghiệp (KH1)
+Phần kế hoạch có tính hướng dẫn cho xí nghiệp được tham khảo lựa chọn.(KH2)
+Phần kế hoạch tự quản do xí nghiệp đặt quan hệ với thị trường (KH3)
- Ban hành chỉ thị về Cải tiến công tác khoán, mở rộng "khoán sản phẩm đếnnhóm lao động và người lao động" trong hợp tác xã nông nghiệp, thường gọi tắt làkhoán 100
-Trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa của thương nghiệp quốc doanh đã thí điểm
và mở rộng từng bước cơ chế giá thị trường đi đôi với phương thức bù giá vào lươngcho những người trước đó như mua nhu yếu phẩm theo giá thấp (hiểu là tăng lươngtối thiểu để giúp người dân đối phó với tính trạng giả cả leo thang, vì do tình trạngtranh mua tránh bán khi KH2, Kh3 được thực hiện nhiều, vì vậy để đạt mức kế hoạch(KH1) đề ra nhà vì nước in thêm tiền => lạm phát)
- Những thử nghiệm đó tuy chỉ mới thay đổi bộ phận song là bước khởi độngcho sự đổi mới tư duy và làm bộc lộ rõ những lực cản trong hệ thống thể chế
Thứ nhất là thể chế hành chính-kinh tế Các cơ quan quản lý hành chính chi phối
cả đời sống dân cư dẫn đến không có quyền chủ động và chịu trách nhiệm về kết quảhoạt động của mình, thủ tục hành chính phiền hà gây nhiều trở ngại
Thứ hai là thể chế xã hội và đời sống dân cư.Trong nền kinh tế bao cấp Nhànước được tổ chức, điều hành như một trung tâm chỉ huy.Xuất hiện nhiều vấn đề về
sở hữu, về quyền và nghĩa vụ qua lại mà hệ thống thể chế chưa giải quyết đượcThứ ba về thể chế lao động.Thời bao cấp làm việc ngoài xã hội bị cấm đoán, hạnchế coi như chưa có việc làm còn những người làm trong nhà nước mới gọi là cóviệc làm và làm trong hợp tác xã thì coi như có việc làm một nửa Tạo nên tình trạng
ỷ lại vào nhà nước
Thứ tư là thể chế tài chính, tiền tệ, ngân hàng trong cơ chế bao cấp là một chế độcấp phát của Nhà nước cho toàn xã hội Những người không làm việc cũng đượchưởng một chế độ cấp phát nhất định Tuy nhiên không có những ràng buộc cho đốitượng được cấp phép gây sử dụng thiếu hiệu quả
.- Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam cuối năm 1986 đã nhận định:
từ năm 1979 Đảng và Nhà nước đã cho thử nghiệm một số mô hình mới về quản lýkinh tế, tìm ra cách làm ăn mới song cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp về cơ bảnchưa bị xóa bỏ, cơ chế mới chưa được thiết lập đồng bộ ,nhiều thể chế mới chưađược thay đổi
I.2 CẢI CÁCH THỂ CHẾ THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986- 2001)
a Nội dung
- Trong bối cảnh sai lầm của đợt tổng cải cách giá - lương - tiền cuối năm 1985làm cho kinh tế Việt Nam càng trở nên khó khăn, Nền kinh tế Việt Nam lâm vào
khủng hoảng trầm trọng Tình hình này làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam quyết
định mở Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Trên cơ sở phân tích nguyên nhân
Trang 4đúng đắn của tình hình khủng hoảng kinh tế nhiều năm trước, chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với cơ chế quản lý kinh doanh thay thế cho nền kinh tế hiện vật với cơ chế quản lý tập trung , bao cấp đã xuất
hiện nhu cầu cấp bách về xây dựng thể chế
- Quan điểm Đổi mới về kinh tế đã được hoàn thiện dần trong quá trình thực
hiện, đó là quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sangnền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản
lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên trong văn kiện
chính thức ở đại hội VI không coi nền kinh tế VN là “kinh tế thị trường” mà chỉ
- Đặc Điểm
Nhà nước chấp nhận sự tồn tại bình đẳng và hợp pháp của nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu Tuy nhiên, kinh tế Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo
Cơ chế kinh tế là kinh tế thị trường nhưng có sự quản lý của Nhà nước, nền kinh tế được vận hành bởi hai bàn tay: thị trường và Nhà nước Điều này có ưu điểm là nó phát huy tính tối ưu trong phân bổ nguồn lực xã hội để tối đa hóa lợi nhuận thông qua cạnh tranh, mặt khác, sự quản lý của Nhà nước giúp tránh được những thất bại của thị trường như lạm phát, phân hóa giàu nghèo, khủng hoảng kinh tế
- Trong lĩnh vực đầu tư của người nước ngoài vào Việt Nam và lĩnh vực kinhdoanh tư nhân,đã có một loại thể chế được hình thành như Luật+ Đầu tư nước ngoài(1987), Luật Doanh nghiệp tư nhân( 1990) ,…
- Việc ban hành Hiến pháp 1992 khẳng định những nguyên tắc pháp lý cơ
bản của công cuộc đổi mới trong lĩnh vực kinh tế, nền kinh tế nhiều thành phần được Hiến Pháp chính thức được thừa nhận.
+ nguyên tắc tự do kinh doanh theo pháp luật của các thành phần kinh tế.
Trang 5+ đảm bảo quyền con người và quyền công dân
+ khuyến khích người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
- Tăng cường hội nhập kinh tế, quốc tế: Bình thường hóa quan hệ với TQ,
tham gia các tổ chức thương mại quốc tế
Trong giai đoạn 1986 – 2001 , Việt Nam trải qua thời kì đổi mới và dần cónhững bước tiến tích cực Giai đoạn 1986-1990, là giai đoạn đầu của công cuộc đổimới, đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới,thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống kinh tế - xã hội và bước đầu giảiphóng được lực lượng sản xuất, tạo ra động lực phát triển mới Đến giai đoạn 1991-
1995 ,Đất nước dần dần ra khỏi tình trạng trì trệ, suy thoái Nền kinh tế tiếp tục đạtđược những thành tựu quan trọng và đến giai đoạn 1996-2001 là giai đoạn đánh dấubước phát triển quan trọng của kinh tế thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước Với những bước đầu thành công của giai đoạn 1986 -2001 đãkhẳng định đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng, góp phần khích lệ, động viênnhân dân tiếp tục hưởng ứng, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chínhtrị - xã hội, tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước với những bướctiến cao hơn
I.3 Thành tựu cơ bản trong xây dựng thể chế kinh tế thời kỳ đổi mới.
Thứ nhất, trước đây nhà nước quản lý kinh tế xã hội bằng chính sách, Nghị quyết và mệnh lệnh hành chính, thì từ khi đổi mới đến nay pháp luật đã trở thành công cụ chủ yếu của Nhà nước.
- Nguyên tắc pháp quyền được phát huy hiệu quả hơn Việc công dân khởi kiện
cơ quan hành chính trước tòa án đang dần dần trở thành hoạt động bình thường
Thứ hai, thể chế của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã từng bước thay thế thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp:
- Tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần, xác định chế độ sở hữu, địa vị pháp lý của các doanh nghiệp, xóa bỏ chế độNhà nước độc quyền về ngoại thương, giảm sự can thiệp của nhà nước bằng các biệnpháp hành chính vào quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và các doanh nghiệp
- Mở rộng quan hệ đối ngoại
- Dân chủ hóa đời sống xã hội, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào quản lýNhà nước, Nhà nước chỉ quản lý những gì thực sự cần thiết thuộc về chức năng vốn
có của nhà nước
Thứ ba, Nhận thức về điều ước quốc tế đã được nâng cao một cách rõ rệt Điều ước quốc tế dần trở thành một bộ phận không thể tách rời của hệ thống thể chế và được thừa nhận là có ưu thế hơn so với văn bản quy phạm pháp luật trong nước.
Thứ tư, về cải cách lập pháp Cách xây dựng thể chế đã dựa vào luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tạo cơ sở pháp lý để đưa công tác soạn thảo, thẩm định và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dần dần đi vào nề nếp.
Trang 6Thứ năm, về cải cách hành chính Tổ chức và hoạt động của các cơ quan
hành chính Nhà nước từ trung ương đến địa phương đã có một bước điều chỉnh theo yêu cầu của quá trình chuyển từ cơ cấu kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
- Từng bước xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
- Việc Chuyển đổi cơ bản từ chế độ cấp phép sang đăng kí kinh doanh tạo thuậnlợi cho phát triển kinh tế và ổn định xã hội
- Tổ chức bộ máy của Chính phủ đã sắp xếp gọn hơn, giảm bớt số bộ, cơ quanngang bộ Ở địa phương, giảm số đầu mối ở cấp tỉnh từ trên 30 xuống 20 cơ quan và
ở cấp huyện từ trên 20 phòng ban xuống còn khoảng 10 phòng ban
Thứ sáu, về cải cách tư pháp Đã có những điều chỉnh nhất định về tổ chức,
bộ máy của tòa án, viện kiểm sát, các cơ quan điều tra thi hành án, bảo trợ tư pháp.
- Thành lập thêm các tòa kinh tế, lao động, hành chính tại Tòa án nhân dân tốicao và các Tòa án cấp tỉnh, đảm bảo việc xét xử được chuyên môn hơn
- Lập lại chế độ bổ nhiệm thẩm phán thay thế chế độ bầu, cải thiện đáng kể chế
độ đãi ngộ đối với thẩm phán
Ngoài ra, có trọng tài kinh tế (phi Chính phủ) ra đời thay thế cho hệ thống trọngtài kinh tế trước đây
Hoạt động bổ trợ tư pháp như luật sư tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, côngchứng,… được triển khai mạnh mẽ và rộng khắp nhằm giúp công dân, doanh nghiệpbảo vệ được quyền lợi của họ, góp phần đảm bảo an toàn cho các chi phí giao dịchkinh tế
Thứ bảy, hoạt động thông tin mở rộng và phát triển hơn, trong đó có thông tin về thể chế của các cơ quan Nhà nước và khu vực tư nhân có sự phát triển đáng kể Khái niệm Chính phủ điện tử (E-government) được quan tâm Công báo được phát hành rộng rãi, đảm bảo số lượng đáp ứng nhu cầu sử dụng Công báo của các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội, nhân dân,
=>Những thành tựu
- Giai đoạn 1986 - 1990: Đây là giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới Chủ
trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế dần dần khắc phục được những yếu kém và có những bước phát triển Kết thúc kế hoạch 5 năm (1986 -
1990), công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng:GDP tăng 4,4%/năm; tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 3,8 - 4%/năm;công nghiệp tăng bình quân 7,4%/năm, trong đó sản xuất hàng tiêu dùng tăng 13-14%/năm; giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng 28%/năm (1) Việc thực hiện tốt bachương trình mục tiêu phát triển về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàngxuất khẩu đã phục hồi được sản xuất, tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát,… Đâyđược đánh giá là thành công bước đầu cụ thể hóa nội dung của công nghiệp hóa
Trang 7XHCN trong chặng đường đầu tiên Điều quan trọng nhất, đây là giai đoạn chuyểnđổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trìnhđổi mới đời sống kinh tế - xã hội và bước đầu giải phóng được lực lượng sản xuất,tạo ra động lực phát triển mới.
- Giai đoạn 1991 - 1995: Đất nước dần dần ra khỏi tình trạng trì trệ, suy
thoái Nền kinh tế tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng: đã khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thoái, tốc độ tăng trưởng đạt tương đối cao, liên tục
và toàn diện, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều vượt mức: GDP bình quân tăng
8,2%/năm; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13,3%/năm; nông nghiệp tăng4,5%/năm; lĩnh vực dịch vụ tăng 12%/năm; tổng sản lượng lương thực 5 năm (1991 -1995) đạt 125,4 triệu tấn, tăng 27% so với giai đoạn 1986 - 1990 (2) Hầu hết cáclĩnh vực kinh tế đều đạt nhịp độ tăng trưởng tương đối khá “Nước ta đã ra khỏi cuộckhủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm, tuy còn một sốmặt chưa vững chắc, song đã tạo được tiền đề cần thiết đển chuyển sang một thời kỳphát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (3)
- Giai đoạn 1996 - 2000: Đây là giai đoạn đánh dấu bước phát triển quan
trọng của kinh tế thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mặc dù cùng chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực (giai
đoạn 1997 - 1999) và thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp, đặt nền kinh tế nước tatrước những thử thách khốc liệt, tuy nhiên, Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăngtrưởng khá GDP bình quân của cả giai đoạn 1996 - 2000 đạt 7%; trong đó, nông,lâm, ngư nghiệp tăng 4,1%; công nghiệp và xây dựng tăng 10,5%; các ngành dịch vụtăng 5,2% (4) “Nếu tính cả giai đoạn 1991 - 2000 thì nhịp độ tăng trưởng GDP bìnhquân là 7,5% So với năm 1990, GDP năm 2000 tăng hơn hai lần”
Cải cách thể chế kinh tế: hạn chế chính là chưa thực sự tạo ra tính bình đẳng trong sân chơi kinh doanh giữa các thành phần kinh tế Quá nhiều số lượng văn bản, mâu thuẫn giữa các qui định, thẩm quyền ban hành các thể chế quá rộng rãi, giao cho nhiều cơ quan (vd: để quản lý việc xuất nhập khẩu hàng hóa
qua biên giới việt nam đã cso các cơ quan sau đây ra qui định và cử nhân viên xuốngtận cửa khẩu kiểm tra: cơ quan thương mại về quy chế mậu dịch biên giới, cơ quankiểm dịch động vật, thực vật thuộc bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, cơ quan
Trang 8hải quan về thủ tục và thuế xuất nhập khẩu hàng hóa, cơ quan biên phòng về quy chếbiên giới, cơ quan bảo vệ môi trường, cơ quan quản lý thị trường Khi rà soát khoảng
200 văn bản thuộc loại này của các bộ, tổng cục, đã thấy có thể bãi bỏ 48 văn bản.)
Chưa có một khung thể chế hình thành đầy đủ các bộ phận của nền kinh tế thị trường, có bộ phận thể chế quá nhiều hoặc còn thiếu so với nhu cầu, có bộ phận khập khiễng, mâu thuẫn chồng chéo
Ngoài ra còn thể hiện rõ nét ở các qui chế cho vay về vốn, về cấp và cho thuê đấtđai làm mặt bằng sản xuất kinh doanh, về thái độ Nhà nước đối với những rủi ro,thua lỗ của doanh nghiệp; tất cả những qui chế đó đối với từng loại thành phần kinh
tế đều có chênh lệch, có bộ phận được ưu ái, bạc đãi
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều hạn chế: Hệthống các thị trường: lao động, vốn, bất động sản hoạt động chưa hiệu quả, quản lýnhà nước chưa linh hoạt, thiếu chủ động và mức độ kiểm soát thị trường chưa cao
Về hệ thống pháp luật
- Chưa theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội, thể hiện ở tính chưa đồng bộ,chưa đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật Một số vấn đề chậm thể chếhóa như quản lý nhà nước đối với tài sản thuộc nhà nước, đăng ký kinh doanh bấtđộng sản, kiểm soát độc quyền
- Chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thu hành luật, tình trạng văn bản hướngdẫn thi hành mâu thuẫn với văn bản luật chưa được khắc phục triệt để
- Hiệu lực thi hành của một số văn bản pháp luật chưa cao, chưa qui định rõquyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh, thể chế hóa các hoạt động giao dịch, chốngđộc quyền, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- Qui trình xây dựng văn bản pháp luật còn thiếu dân chủ, cứng nhắc, cách phâncông cho cán bộ, ngành soạn thảo văn bản pháp luật dễ dẫn tới tình trạng bảo vệ lợiích cục bộ của ngành
Cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường
- Vận dụng chưa đồng bộ các công cụ quản lý và điều tiết thị trường
- Năng lực của bộ máy quản lý nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu quản lý hiệu quảnền kinh tế thị trường, thiếu tính chuyên nghiệp và sự tận tâm phục vụ
Cải cách thể chế hành chính- kinh tế: hạn chế lớn nhất tương tự như thể chế kinh
tế là quá nhiều văn bản, mâu thuẫn chồng chéo, thẩm quyền ban hành chế độ của bộ,tổng cục quá rộng, chưa tạo được một trật tự, kỷ cương mới trong nền hành chính vàtrong xã hội
Nhiều nhu cầu mới xuất hiện đòi hỏi có thêm thể chế hành chính nhưng tiến độnghiên cứu và xây dựng chậm chạp hoặc còn có những nhận thức khác nhau như vấn
đề chính quyền đô thị, việc đổi mới cấu trúc bên trong của một Bộ, Tổng cục ( cóvấn đề làm thử 8,9 năm vẫn chưa có kết luận như vấn đề cải cách thủ tục hànhchính,,,
Trang 9Nội dung thể chế hành chính vẫn bị ảnh hưởng rất sâu tư duy của cơ chế bao cấp
cũ, quản lý nặng nề về sự can thiệp sự vụ của cơ quan hành chính, gây khó khăn chodoanh nghiệp và công dân Chức năng đảm bảo trật tự, kỷ cương theo pháp luật chưađược coi trọng cả trong bộ máy nhà nước cũng như trong xã hội
Thể chế bộ máy hành chính cấp trung ương chưa thoát khỏi tình trạng khôngrành mạch về chức năng Tổ chức bên trong của Bộ, Tổng cục phần lớn theo nguyêntắc khép kín, lẫn lộn chức năng
Thể chế hành chính bộ máy địa phương mang nặng tính chất đồng loạt, chưa cóphân biệt rõ rệt quản lý đô thị, nông thôn, phân biệt cấp huyện, thị xã, xã, phường,,,.Cũng chưa có sự phân biệt về qui mô đơn vị hành chính, địa vị tài chính
Thể chế về quản lý công chức từ đào tạo, tuyển dụng, bổ nhiệm đến chế độ tiềnlương, thưởng, bảo hiểm chưa có tác dụng khích lệ người công chức trau dồi đạođức công vụ Ngược lại trong một số lĩnh vực dễ đưa người công chức vào vòng tiêucực
Cải cách thể chế dân sự- kinh tế: các thể chế dân sự chưa được quan tâm xâydựng và hoàn thiện, mặc dù cuộc sống đang đòi hỏi phải có nhiều thể chế dân sự hơnnữa Các quyền của công dân ghi trong hiến pháp đều có nội dung tiến bộ nhưng mớichỉ được ghi nhận trên nguyên tắc hiến định, một số quyền ghi trên hiến pháp cầnsớm được qui định thành thể chế cụ thể
Nhận xét:
Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã có nhiều chuyển biến về chất trong nhận thức , cải cách kinh tế và thiết lập, hoàn chỉnh dần thể chế kinh tế Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, Việt Nam đã dần chuyển sang nền kinh tế kế hoạch hóa có điều chỉnh trong những năm 1980 và nền kinh
tế định hướng thị trường, mở cửa và hội nhập từ năm 1989 và với mục tiêu là xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ khoảng năm 2000 Và điều đó đã tạo ra thành tựu cơ bản trong việc xây dựng thể chế kinh tế thời kỳ đổi mới
II.CẢI CÁCH THỂ CHẾ TRONG GIAI ĐOẠN 2002-2010
II.1 Mục tiêu tổng quát:
Cải cách thể chế giai đoạn 2002-2010 được thực hiện với 5 mục tiêu cơ bản:
- Bảo đảm hoàn thành đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế, hành chính, dân sự, tưpháp và các thể chế khác để tăng cường năng lực thi hành thể chế trong bộ máy nhànước và trong toàn xã hội
- Tập chung vào việc hoàn thiện thể chế kinh tế tạo cơ sở pháp lý cho các hoạtđộng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, tạo hành lang an toàn, điều kiệnthuận lợi cho các thành phần kinh tế
Trang 10- Hoàn thiện và đổi mới hệ thống thể chế hành chính, xây dựng nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, nâng cao năng lực quản lí điều hànhcủa bộ máy.
- Nghiên cứu, đẩy mạnh hơn nữa việc ban hành các thể chế dân sự,tiến đến xâydựng một xã hội trong đó các quyền công dân được bảo đảm, các hình thức tự quảnđược phát triển nhiều hơn nữa ở nông thôn, thành thị do các tổ chức, đoàn thể chínhtrị, xã hội, tạo điều kiện phát huy mạnh mẽ quyền dân chủ của nhân dân dưới sự lãnhđạo của đảng
- Hoàn thiện, đổi mới hệ thống thể chế tư pháp, xây dựng thực sự một nền công
lý, một xã hội công bằng, mọi người bình đẳng trước pháp luật, pháp luật bình đẳngtrước mọi người
II.2 Thể chế kinh tế :
Nhược điểm :
- Thể chế kinh tế giai đoạn này chưa thực sự tạo ra tính bình đẳng trong sân
chơi kinh doanh giữa các thành phần kinh tế
-Chưa có một khung thể chế hình thành đầy đủ các bộ phận của nền kinh tế
thị trường Sự bình đẳng trong kinh doanh thể hiện rõ nét ở các quy chế cho vay
vốn, về cấp và cho thuê đất đai làm mặt bằng kinh doanh, về đóng thuế, về ưu tiênxuất nhập khẩu, về thái độ của nhà nước đối với những rủi ro, thua lỗ của doanhnghiệp… những quy chế này đối với từng loại thành phần kinh tế có sự chênh lệch
- Về số lượng văn bản thể chế, tình trạng phổ biến là có quá nhiều văn bản
dưới luật Cụ thể là 1990-2000 đã ban hành 84 đạo luật, 77 pháp lệnh, 826 nghị
định, bên cạnh đó còn rất nhiều các thông tư của bộ, quy định của chính quyền
- Số lượng văn bản quá nhiều khó tránh khỏi sự mâu thuẫn, chồng chéo
trong các thể chế Điều này nếu không tiến hành một kế hoạch đơn giản hóa thì hiệu
quả không những không cao mà còn xuất hiện tình trạng lạm dụng thể chế
+ Thị trường sản phẩm khoa học - Công Nghệ
+ Thị trường bảo hiểm
- Hoàn thiện chế độ pháp lí về sở hữu
- Bảo đảm quyền tự do kinh doanh nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
-Bảo đảm quyền công dân và doanh nghiệp được tự do và dễ dàng giao kết hợp đồng.
Trang 11-Bảo đảm quyền tự chủ, tự định đoạt của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nước với tư cách là các chủ thể pháp luật độc lập.
-Hoàn thiện khung pháp luật về tài chính, tiền tệ.
- Hoàn thiện pháp luật về thanh tra, kiểm tra, làm rõ thẩm quyền thanh tra, kiểm tra của từng cơ quan để chấm dứt tình trạng thanh tra chồng chất, gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp và công dân.
II.3 Thể chế hành chính – kinh tế:
Thể chế hành chính – kinh tế bao gồm hai bộ phận lớn:
- Bộ phận thể chế hành chính thuần túy về hoạt động quản lí Nhà nước bao gồmcác thể chế trong lĩnh vực chính trị, hành chính, xây dựng chế độ quản lý giấy tờ,hiện đại hóa công sở, chế độ bầu cử …
- Bộ phận thể chế hành chính tác động trực tiếp tới hoạt động kinh doanh baogồm các thể chế về thủ tục đăng ký kinh doanh, cấp các loại giấy phép, sự kiểm soáthành chính, thuế, hải quan, quản lí đất đai, các tổ chức của công chức hành chính
Phần này chỉ đề cập đến bộ phận thứ hai của thể chế hành chính, tạm gọi là thể
chế hành chính – kinh tế Nhược điểm lớn nhất của thể chế hành chính là quá
nhiều văn bản, mâu thuẫn, chồng chéo, thẩm quyền ban hành thể chế của Bộ, Tổng cục quá rộng, chưa tạo được một trật tự, kỷ cương mới trong nền hành chính và trong xã hội.
Nội dung thể chế hành chính vẫn bị ảnh hưởng rất sâu tới tư duy của cơ chế bao cấp cũ, quản lý nặng về sự quan thiệp sự vụ của cơ quan hành chính Thể chế bộ máy hành chính ở Trung ương chưa rành mạch về chức năng Thể chế về
bộ máy hành chính địa phương mang nặng tính chất đồng loạt, cào bằng, chưa
có phân biệt rõ rệt quản lý đô thị, quản lý nông thôn, hay giữa các cấp quận, huyện, thị xã, phường, xã, thị trấn …
Hoàn thiện thể chế hành chính với vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền có liênquan mật thiết Xây dựng thể chế hành chính có khả năng tạo nên một bước đổi mớiquan trọng trong nền hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền ( Nền hành chínhgần dân hơn, phục vụ dân, tinh giản hơn, can thiệp vừa đủ và đúng vào đời sốngnhân dân, một nền hành chính trong sạch, có hiệu lực, hiện đại hơn Xóa bỏ cơ bảncác thủ tục hành chính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhândân Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan trong hệ thốnghành chính, xây dựng các thể chế về dịch vụ công…)
a) Đổi mới, hoàn thiện các thể chế về tổ chức bộ máy hành chính Trung ương.
- Bố trí lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ: Xây dựng cơ cấu tổ chức Chính phủgồm các Bộ, cơ quan ngang bộ làm chức năng quản lí nhà nước Cơ cấu tổ chứcChính Phủ theo nguyên tắc Bộ đa ngành, đa lĩnh vực, bộ máy của các Bộ được điều
Trang 12chỉnh về cơ cấu phân biệt rõ chức năng Giảm mạnh các cơ quan thuộc Chính phủ và
tổ chức trực thuộc Thủ tướng Chính phủ
- Điều chỉnh lại bộ máy bên trong của các Bộ và cơ quan thuộc Chính phủ: táchchức năng quản lí nhà nước của Bộ đối với ngành, tổ chức hành chính với tổ chức sựnghiệp để hoạt động theo cơ chế riêng Tinh gọn bộ máy bên trong các Bộ, cơ quanChính phủ, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
b) Đổi mới, hoàn thiện thể chế tổ chức bộ máy chính quyền địa phương
- Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của chính quyền địa phương, sửađổi Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân
- Quy định các tiêu chí cụ thể để phân loại các đơn vị hành chính
- Sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân các cấptheo hướng trách nhiệm, rõ ràng, rành mạch, gọn nhẹ…
c) Nâng cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức công vụ đi đôi với cải cách chế
độ tiền lương
- Xây dựng tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cán bộ, công chức Tăng cường cấcbiện pháp giáo dục về trách nhiệm, tận tâm, tận tụy với công việc Tôn vinh nghềnghiệp danh dự của người cán bộ, công chức
- Ban hành thực hiện nghiêm Quy chế công vụ, gắn với thực hiện Quy chế dânchủ trong các cơ quan hành chính nhà nước
- Ban hành cơ chế kiểm tra cán bộ, công chức tiếp nhận và giải quyết công việccủa dân
- Cải cách chế độ tiền lương theo quan điểm coi tiền lương là hình thức đầu tưtrực tiếp vào con người, đầu tư cho phát triển
d) Đổi mới, hoàn thiện thể chế về tài chính công.
- Đổi mới về cơ chế phân cấp quản lí tài chính và ngân sách
- Bảo đảm quyền quyết định ngân sách địa phương của Hội đồng nhân dân cáccấp, tạo điều kiện cho chính quyền chủ động xử lí các công việc của địa phương
- Thực hiện đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho các cơ quan hành chính
- Đổi mới cơ bản cơ chế tài chính đối với khu vực dịch vụ công: xây dựng quanniệm đúng về dịch vụ công, có các chính sách cơ chế tạo điều kiện để doanh nghiệp,
tổ chức xã hội và nhân dân trực tiếp làm các dịch vụ phục vụ đời sống và sản xuất.Xóa bỏ các cơ chế cấp phát tài chính thiêu kiểu “xin – cho”, ban hành các cơ chế,chính sách thực hiện chế độ tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có điều kiệnnhư trường đại học, bệnh viện, viện nghiên cứu…
- Thực hiện một số cơ chế tài chính mới: Cơ chế khuyến khích các nhà đầu tưtrong nước và nước ngoài đầu tư phát triền trường học, cơ sở chữa bệnh, khu côngnghiệp, cho thuê đất xây dựng trường học, bệnh viện …, Cơ chế khoán một số dịch
vụ công cộng cho các công ty thực hiện, hợp đồng một số dịch vụ trong cơ quanhành chính(ô tô đưa đón, dọn dẹp vệ sinh …)
Trang 13- Đổi mới công tác kiểm toán đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.
e) Đổi mới tăng cường thể chế tài phán hành chính
Bổ sung thể chế tài phán hành chính thì tình hình khiếu kiện có thể được giảiquyết nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật và dứt điểm hơn Thể chế tài phánhành chính có nhưng lợi thế như: Bình đẳng bên kiện(công dân) và bên bị kiện( cơquan hành chính) Kiện ra tòa là đưa vấn đề ra công khai, mọ, phải mở phiên tòa vàmọi người đều biết và đánh giá phán quyết của tòa một cách khách quan nhất, kiện ratòa cũng làm sáng tỏ chân lý cụ thể khi xảy ra tranh luận trực tiếp giữa hai bên Tăngthẩm quyền và phạm vi xét xử cho Tòa án Hành chính, đồng thời kiện toàn cơ quannày
II.4 Thể chế dân sự - kinh tế
Bao gồm các quy định về quyền công dân, về thân phận của con người trong các mối quan hệ của họ với gia đình, cộng đồng, xã hội, Nhà nước, về các hình thức tổ chức được thiết lập giữa các thành viên, các cộng đồng để hoạt động nhằm đạt đến 1 mục tiêu chung Các mối quan hệ xã hội có liên quan trực tiếp đến
thể chế dân sự gồm:
Quan hệ giữa con người với cộng đồng
Quan hệ giữa con người với xã hội
Quan hệ giữa con người với Nhà nước
Quan hệ giữa con người với con người
Quan hệ giữa các cộng đồng với gia đình
Quan hệ giữa gia đình, cộng đồng với Nhà nước
- Hệ thống thể chế dân sự còn gồm nhiều quy ước thành văn, không thành văngiữa các cộng đồng dân cư thể hiện qua phong tục tập quán
- Hệ thống thể chế dân sự có phạm vi đến đâu, điều chỉnh các mối quan hệ nào,mối quan hệ giữa thể chế dân sự với thể chế kinh tế, thể chế hành chính, tư pháp vàcác thể chế khác phụ thuộc vào việc xác định vai trò của Nhà nước đối với xã hội
- Trong nền kinh tế bao cấp, Nhà nước bao trùm lên mọi lĩnh vực với tư
cách là trung tâm chỉ huy, trực tiếp điều hành
- Trong nền kinh tế thị trường, Vai trò của Nhà nước được điều chỉnh hợp lý
- Trên thực tế, Đảng và Nhà nước ta rất chăm lo đến việc xây dựng và kết hợpdân chủ đại diện với dân chủ trực tiếp, những năm gần đây phát triển khá mạnh
- Có nhiều sáng kiến trong việc hình thành các hình thức tổ chức đa dạng, linhhoạt trong nhân dân nhằm tập hợp những người có những điểm giống nhau để cùngnương tựa, giúp đỡ khích lệ lẫn nhau, cùng nhau đáp ứng nhu cầu và các sở thíchchung