Trong gần bốn thập kỷ qua, với nhiều nỗ lực chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, chỉ một số quốc gia châu Phi đã phát triển thành công, song có rất nhiều quốc gia đã thất bại, đắm chì
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHẠM QUỐC CƯỜNG
CẢI CÁCH THỂ CHẾ KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC CHÂU PHI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
HÀ NỘI - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHẠM QUỐC CƯỜNG
CẢI CÁCH THỂ CHẾ KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC CHÂU PHI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 9310106.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Nguyễn Mạnh Hùng
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công
bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan
Phạm Quốc Cường
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 10
1.1 Các nghiên cứu trên góc độ lý luận về thể chế và cải cách thể chế 10
1.2 Các nghiên cứu về thể chế và cải cách thể chế kinh tế ở châu Phi 13
1.3 Đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan và hướng nghiên cứu của luận án 24
Tiểu kết chương 1 26
CHƯƠNG 2.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẢI CÁCH THỂ CHẾ KINH TẾ 27
2.1 Các vấn đề chung về thể chế 27
2.1.1 Quan niệm, phân loại và vai trò của thể chế 27
2.1.2 Quá trình hình thành và thay đổi thể chế 29
2.2 Thể chế kinh tế và cải cách thể chế kinh tế 30
2.2.1 Quan niệm về thể chế kinh tế và cải cách thể chế kinh tế 30
2.2.2.Các yếu tố chính tác động đến cải cách thể chế kinh tế 32
2.3 Thể chế kinh tế thị trường và cải cách thể chế kinh tế thị trường 41
2.3.1 Quan niệm về thể chế kinh tế thị trường và cải cách thể chế kinh tế thị trường 41 2.3.2 Khung phân tích cải cách thể chế kinh tế thị trường 44
2.4 Cải cách thể chế kinh tế thị trường của một số nước và nhóm nước 47
2.4.1 Cải cách thể chế kinh tế thị trường ở Đông Âu và Nga 47
2.4.2 Cải cách thể chế kinh tế thị trường ở Hàn Quốc 51
Trang 52.4.3 Cải cách thể chế kinh tế thị trường ở Trung Quốc 55
2.4.4 So sánh kinh nghiệm cải cách thể chế kinh tế thị trường của các nước và khu vực 59
Tiểu kết chương 2 64
CHƯƠNG 3 CẢI CÁCH THỂ CHẾ KINH TẾ Ở CHÂU PHI 65
3.1 Bối cảnh và nguyên nhân của cải cách thể chế kinh tế ở châu Phi 65
3.1.1 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của châu Phi 65
3.1.2 Chất lượng thể chế kinh tế của châu Phi 69
3.1.3 Yêu cầu chuyển đổi sang cơ chế thị trường 76
3.2 Nội dung cơ bản trong cải cách thể chế kinh tế thị trường ở châu Phi 79
3.2.1 Cải cách quyền sở hữu 79
3.2.2 Mở cửa nền kinh tế 82
3.2.3 Thúc đẩy tư nhân hoá 88
3.3 Đánh giá tiến trình cải cách thể chế kinh tế thị trường của châu Phi 97
3.3.1 Đặc điểm và kết quả của tiến trình cải cách 97
3.3.2 Các yếu tố cơ bản tác động đến tiến trình cải cách 103
Tiểu kết chương 3 111
CHƯƠNG 4: CẢI CÁCH THỂ CHẾ KINH TẾ Ở GUINEA XÍCH ĐẠO, GHANA VÀ TUNISIA 112
4.1 Cải cách thể chế kinh tế ở Guinea xích đạo 112
4.1.1 Bối cảnh cải cách thể chế kinh tế 112
4.1.2 Những vấn đề chính của cải cách thể chế kinh tế 114
4.1.3 Đánh giá kết quả cải cách thể chế kinh tế 116
4.2 Cải cách thể chế kinh tế ở Ghana 122
4.2.1 Bối cảnh cải cách thể chế kinh tế 122
4.2.2 Những vấn đề chính của cải cách thể chế kinh tế 125
4.2.3 Đánh giá kết quả cải cách thể chế kinh tế 129
4.3 Cải cách thể chế kinh tế ở Tunisia 134
Trang 64.3.1 Bối cảnh cải cách thể chế kinh tế 134
4.3.2 Những vấn đề chính của cải cách thể chế kinh tế 137
4.3.3 Đánh giá kết quả cải cách thể chế kinh tế 141
4.4 So sánh các trường hợp nghiên cứu 144
Tiểu kết chương 4 151
CHƯƠNG 5 BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CỦA CÁC NƯỚC CHÂU PHI 152
5.1 Đánh giá chung và bài học kinh nghiệm 152
5.2 Một số gợi mở chính sách đối với Việt Nam 161
Tiểu kết chương 5 169
KẾT LUẬN 170
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 172
TÀI LIỆU THAM KHẢO 173
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển châu Á AfDB African Development Bank Ngân hàng phát triển châu Phi ASEAN Association of Southeast
Asian Nation
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ECB European Central Bank Ngân hàng Trung ương châu Âu
FAO Food Agricultural
Organization
Tổ chức Nông Lương của Liên hợp quốc
FDI foreign direct investment đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP gross domestic product tổng sản phẩm trong nước
IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế
ILO International Labor
OPEC Organization of Petroleum
Trang 8Economic Partnership diện khu vực
TNC Transnational Corporation Tập đoàn đa quốc gia
UNCTAD United Nations Conference
for Trade and Development
Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển
UNDP United Nations Development
Program
Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 1.1 Các cấu phần của trụ cột thể chế trong chỉ số cạnh
2 Bảng 2.1 Các đặc tính cơ bản của quản trị tốt theo một số
3 Bảng 2.2 Cải cách thể chế kinh tế thị trường và dân chủ hoá 45
4 Bảng 2.3 Cải cách thể chế kinh tế thị trường và quản trị quốc gia 46
5 Bảng 3.1 Các nước châu Phi thuộc nhóm các nước có thu
9 Bảng 3.5 Các giai đoạn phát triển của các nước châu Phi 69
10 Bảng 3.6 Sự tương phản trong chất lượng thể chế của
11 Bảng 3.7 Các nước bị xếp hạng có nền kinh tế bị hạn chế tự do 76
12 Bảng 3.8 Sở hữu của chính phủ trong một số lĩnh vực trước
và sau khi tư nhân hoá (1991-2002), tỷ lệ % 93
13 Bảng 3.9 Sự tham gia của khu vực tư nhân vào các lĩnh vực
14 Bảng 3.10 Chất lượng quản trị của châu Phi năm 2014 108
15 Bảng 3.11 Chỉ số quản trị châu Phi Ibrahim 2014 109
Trang 1016 Bảng 3.12 Quan niệm của người dân về hành động chống
17 Bảng 4.1 Xếp hạng thứ bậc trong quản trị tài nguyên của
18 Bảng 4.2 Xếp hạng chỉ số môi trường kinh doanh năm 2016
19 Bảng 4.3 Chất lượng quản trị của Guinea xích đạo theo bộ
20 Bảng 4.4 Chất lượng quản trị của Ghana theo bộ chỉ số quản
21 Bảng 4.5 Chỉ số dân chủ của Tunisia của EIU (2010-2015) 143
Trang 113 Hình 3.3 Mức độ tự do về sở hữu của châu Phi nam Saharaso
với thế giới và châu Á – Thái Bình Dương 82
9 Hình 3.9 Mức độ tự do hoá kinh tế của châu Phi nam Sahara so
với thế giới và châu Á - Thái Bình Dương, 1995-2016 101
10 Hình 3.10 Tỷ lệ các quốc gia “không có tự do” ở châu Phi nam
11 Hình 3.11 Tỷ lệ số người dân sống tại các quốc gia có tự do ở
12 Hình 3.12 Chất lượng quản trị của các nước châu Phi nam
13 Hình 3.13 Mức độ tham nhũng ở châu Phi nam Sahara so với
thế giới và châu Á – Thái Bình Dương 109
14 Hình 4.1 Thu nhập bình quân đầu người của Guinea xích đạo
Thu nhập bình quân đầu người của Guinea xích đạo 113
Trang 1215 Hình 4.2 Mức độ tự do kinh tế của Guinea xích đạo 117
16 Hình 4.3 Mức độ tự do thương mại, tự do đầu tư và tự do tài
17 Hình 4.4 Chất lượng quản trị của Guinea xích đạo theo bộ chỉ
18 Hình 4.5 Mức độ tham nhũng của Guinea xích đạo 121
19 Hình 4.6 Thu nhập bình quân đầu người của Ghana 123
21 Hình 4.8 Chất lượng quản trị của Ghana theo bộ chỉ số quản
23 Hình 4.10 Mức độ tự do thương mại, đầu tư và tài chính của
24 Hình 4.11 Thu nhập bình quân đầu người của Tunisia (PPP,
25 Hình 4.12 Tỷ lệ thất nghiệp ở Tunisia, 2001-2010 136
26 Hình 4.13 Tỷ lệ đầu tư tư nhân so với GDP (%) 137
27 Hình 4.14 Tỷ lệ đầu tư tư nhân so với GDP (%) 142
28 Hình 4.15 Mức độ tự do thương mại, đầu tư và tài chính của
Trang 131
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế học thể chế cho rằng, thể chế có ảnh hưởng lớn đối với phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia Khác biệt về thể chế là nguyên nhân của phát triển hay đói nghèo: một số dạng thể chế có thể đem lại sự phát triển, song một
số dạng thể chế có thể tạo ra những hệ lụy tai hại cho sự phồn vinh, tự do và các giá trị con người khác, và sự xuống cấp của hệ thống quy tắc có thể dẫn tới suy thoái kinh tế - xã hội Khi các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, lao động giá rẻ và vốn đã đến giới hạn hoặc không thể phát huy thì cải cách thể chế là đòi hỏi tất yếu đối với tất cả các nước để đi xa hơn trên con đường tiến tới phồn vinh Tuy nhiên, đây cũng là thách thức nghiệt ngã mà nhiều nước chưa thể vượt qua nên sa lầy trong tình trạng kém phát triển, hoặc có những nước lại tiến hành
cải cách khi đã quá muộn khiến quốc gia rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng
Ngược lại, cũng có những nước đã chủ động tiến hành cải cách nên vượt qua được khó khăn để vươn lên Những bài học thất bại và thành công đó rất có giá trị để Việt Nam tham khảo
Mặc dù là một châu lục có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, lực lượng lao động dồi dào và với sự hỗ trợ không nhỏ từ bên ngoài, châu Phi vẫn là một châu lục kém phát triển nhất của thế giới Xung đột vũ trang, nội chiến, khủng bố, bất ổn chính trị, cùng với một loạt vấn đề phát triển khác như đói nghèo, bất bình đẳng xã hội, dịch bệnh thường xuyên hiện diện, tạo ra những thách thức lớn cho sự phát triển của nhiều quốc gia ở châu lục này Không ít
nước châu Phi đã bị coi là những quốc gia “thất bại” như Somalia, Sudan
v.v nơi chính phủ trung ương hầu như không thể kiểm soát được lãnh thổ quốc gia của mình Nhiều nước ở khu vực Bắc Phi rơi vào vòng xoáy bất ổn kinh tế-
xã hội sau làn sóng đòi cải cách chính trị và dân chủ hoá “Mùa xuân Arab” Tuy
nhiên, một số nước châu Phi cũng đạt được những thành tựu phát triển đáng
Trang 142
khâm phục, trong số đó phải kể đến Benin, Botswana, Ghana, Senegal v.v
Phần lớn các nước Châu Phi thành lập vào những năm 1960 sau quá trình đấu tranh giành độc lập khó khăn Vào thời điểm đó, nhiều nhà lãnh đạo châu Phi đã chọn cơ chế kế hoạch hoá tập trung và kiểm soát kinh tế Về mặt ý thức
hệ, họ xem có mối liên hệ mật thiết giữa chủ nghĩa tự bản tự do với chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc Họ tin rằng, các nước châu Phi tuy đa dạng về sắc tộc, tôn giáo song vẫn đạt được sự thống nhất chính trị là nhờ sức mạnh của
ý thức hệ xã hội chủ nghĩa (XHCN)
Bầu không khí học thuật ở châu Phi cũng bị chi phối bởi đường lối cánh tả
và chủ nghĩa nhà nước Các học giả lớn của châu Phi như Sekou Toure, Leopold Senghor, Kenneth Kaunda, Julius Nyerere và Franz Fanon đều xem rằng, quản lý theo mô hình kế hoạch hoá và chủ nghĩa xã hội hiện thực có thể dùng để khắc phục những thất bại của thị trường – nguyên nhân gây ra nạn nghèo khổ, ngu dốt
và dịch bệnh ở châu Phi Từ năm 1960 đến đầu những năm 1980, có ít nhất 16 nước châu Phi Nam Sahara đã theo đuổi ý thức hệ xã hội chủ nghĩa (XHCN) hoặc phát triển theo hướng XHCN (theo mô hình Xô Viết hay Trung Quốc) như Angola, Benin, Burkina Faso (lúc đó là Upper Volta), Congo-Brazzaville, Ethiopia, Ghana, Guinea-Bissau, Guinea, Madagascar, Mali, Mozambique, Senegal, Sudan, Tanzania, Zambia và Zimbabwe Ngoài ra, nhiều nước châu Phi khác cũng chấp nhận đường lối phát triển theo mô hình Xô Viết mặc dù không tuyên bố chính thức Một số nước như Kenya mặc dù tiến hành cơ chế thị trường trên thực tế song dưới khẩu hiệu chủ nghĩa xã hội
Kết quả của thời kỳ theo đuổi mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã dẫn đến những bất ổn, méo mó của nhiều nền kinh tế châu Phi Khó khăn kinh tế
- xã hội nghiêm trọng vào đầu những năm 1980 đã buộc nhiều chính phủ châu Phi phải cầu cứu các định chế tài chính của Hệ thống Bretton Woods, chấp nhận những chương trình tự do hoá để đổi lại các khoản tín dụng cứu trợ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã thiết kế các Chương trình ổn định kinh tế vĩ mô ngắn hạn và
Trang 153
Ngân hàng thế giới (WB) thiết kế các chương trình cải cách cơ cấu (SAP) trong
trung hạn để chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường cho các nước châu Phi Mô
hình kinh tế thị trường ngày càng có chỗ đứng vững chắc ở châu Phi kể từ những năm 1990, sau khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu tan rã, kéo theo sự sụp đổ của những nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
Trong gần bốn thập kỷ qua, với nhiều nỗ lực chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, chỉ một số quốc gia châu Phi đã phát triển thành công, song có rất nhiều quốc gia đã thất bại, đắm chìm trong đói nghèo và những nỗ lực cải cách thể chế thậm chí lại đẩy đất nước vào những bất ổn không ngừng Ngay cả khi cộng đồng các nhà tài trợ và các tổ chức quốc tế đã cố gắng thiết kế và áp đặt
cho các nước châu Phi những gì được xem là “tập quán tốt nhất” trên thế giới
song rất ít nước châu Phi đã phát triển kinh tế thành công theo cách thức này
Với những vấn đề nêu trên, luận án “Cải cách thể chế kinh tế ở các nước châu Phi và bài học kinh nghiệm” sẽ phân tích vấn đề cải cách thể chế kinh tế, tập
trung vào thể chế kinh tế thị trường ở các nước châu Phi, từ đó rút ra các kinh nghiệm cho tiến trình cải cách thể chế kinh tế thị trường ở các nước đang phát triển nói chung và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay của Việt Nam
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu vấn đề cải cách thể chế kinh tế thị trường của một số nước châu Phi; đánh giá kết quả đạt được, làm rõ những kinh nghiệm thành công và thất bại; từ đó rút ra một số gợi mở có giá trị tham khảo đối với tiến trình cải cách thể chế kinh tế thị trường ở các nước đang phát triển nói chung, trong đó có tiến trình cải cách thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu trên, luận án sẽ tập trung chủ yếu vào giải quyết các nhiệm vụ chính sau đây:
Trang 164
1 Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về cải cách thể chế kinh tế, trong
đó tập trung vào vấn đề cải cách thể chế kinh tế thị trường
2 Phân tích khái quát quá trình cải cách thể chế kinh tế thị trường ở các nước châu Phi; và đánh giá kết quả của quá trình cải cách này
3 Phân tích, đánh giá sâu tiến trình cải cách thể chế kinh tế, chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường của một số nước châu Phi điển hình
4 Rút ra các bài học kinh nghiệm trong tiến trình cải cách thể chế kinh tế thị trường của các nước châu Phi và những gợi mở có giá trị tham khảo đối với tiến trình cải cách thể chế kinh tế thị trường của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Tại sao các nước châu Phi cần chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường?
- Những nội dung chính của cải cách thể chế kinh tế thị trường ở các nước châu Phi là gì?
- Có thể rút ra các kinh nghiệm gì từ việc nghiên cứu cải cách thể chế kinh tế thị trường của các nước châu Phi?
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
Đối tượng nghiên cứu:
- Cải cách thể chế kinh tế, trọng tâm là cải cách thể chế kinh tế thị trường
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: tiến trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường tập trung
chủ yếu vào ba vấn đề: sở hữu, mở cửa nền kinh tế và tư nhân hoá Đây cũng là
ba vấn đề nổi bật, phức tạp và kéo dài thường được nghiên cứu nhiều ở các nền kinh tế chuyển đổi và là quá trình chuyển đổi thể chế kinh tế quan trọng nhất của châu Phi kể từ những năm 1980 đến nay
- Thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn kể từ thập niên 1980, khi các nước châu Phi theo mô hình kế hoạch hóa tập trung tiến hành triển khai các chương trình cơ cấu lại nền kinh tế (SAP) đến nay
Trang 17- Các nghiên cứu về cải cách thể chế kinh tế ở các nước đang phát triển
hiện nay đều tập trung vào vấn đề cải cách thể chế kinh tế thị trường Trên thực
tế, nói đến cải cách thể chế kinh tế ở các nước đang phát triển, kém phát triển là nói đến cải cách thể chế kinh tế thị trường mà bản chất và mục tiêu là hoàn thiện
quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường hiện đại Do vậy, luận án nghiên
cứu cải cách thể chế kinh tế thị trường ở các nước châu Phi, trong đó (Chương 3) tập trung vào vấn đề chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường hiện đại ở những nước này
- Có nhiều yếu tố tác động đến cải cách thể chế kinh tế (như phần tổng quan các nghiên cứu đã chỉ ra) Tuy nhiên luận án vận dụng dụng luận điểm của Daron Acemoglu và cộng sự (về vai trò của cải cách thể chế chính trị) và luận điểm của Ngân hàng thế giới (về vai trò của cải cách nền quản trị quốc gia) để phân tích các yếu tố chính tác động đến cải cách thể chế kinh tế
Phương pháp nghiên cứu
Trang 18Các trường hợp này được lựa chọn vì những lý do sau:
+ Guinea xích đạo: là một trong những nước tính theo GDP bình quân đầu người đứng đầu châu Phi song lại vẫn được xếp vào nhóm các nước kém phát triển (cho đến năm 2017) Các nỗ lực cải cách kinh tế ở nước này đã không tiến
xa được Nguyên nhân cơ bản là chất lượng quản trị quốc gia thấp kém, chính phủ độc đoán, tình trạng bất bình đẳng xã hội nghiêm trọng (do đó, GDP bình quân đầu người không phản ánh đúng thực tế phát triển) Guinea xích đạo là ví
dụ điển hình cho những thất bại trên cả phương diện cải cách thể chế kinh tế và cải thiện nền quản trị quốc gia
+ Ghana: là nước có trình độ phát triển trung bình ở châu Phi, cải cách thể chế kinh tế thị trường ở nước này là ví dụ điển hình cho những nỗ lực xây dựng
mô hình nhà nước phát triển học tập theo các nước Đông Á Về mô hình quản
trị: Ghana thường được biết đến với mô hình “độc tài tốt”
+ Tunisia: là nước có trình độ phát triển trung bình, là ví dụ điển hình cho
làn sóng dân chủ hoá “Mùa xuân Arab” bùng nổ khi các vấn đề xã hội không được giải quyết thấu đáo khi nền kinh tế gặp khó khăn trong quá trình điều chỉnh Tunisia là ví dụ điển hình cho việc cải cách thể chế kinh tế không đi kèm với cải thiện nền quản trị quốc gia đã dẫn đến sự kiện đấu tranh dân chủ khởi đầu cho làn sóng Mùa xuân Arab
Các trường hợp nghiên cứu này được lựa chọn để kiểm chứng các luận điểm của Daron Acemoglu và cộng sự và luận điểm của Ngân hàng thế giới Nghiên cứu, so sánh các trường hợp nói trên sẽ đem đến một bước tranh sinh động về mối quan hệ giữa cải cách thể chế kinh tế với môi trường chính trị và môi trường quản trị quốc gia cùng với những yếu tố đặc thù của châu Phi (như: lịch sử, tham nhũng, xã hội )
Trang 19Bảng 1.1: Các cấu phần của trụ cột thể chế trong chỉ sốcạnh tranh toàn cầu
Các thể chế khu vực công Các thể chế khu vực
Hoạt động của khu vực công
đức công
ty
Trách nhiệm giải trình
tư pháp
7 các quyết định mang tính chất thiên vị của quan chức chính phủ
8 lãng phí trong chi tiêu chính phủ
9 gánh nặng của các quy định của chính phủ
10 tính hiệu quả của khung khổ pháp lý trong giải quyết tranh chấp
11 hiệu quả của khung khổ pháp
lý trong việc xử
lý các quy định
12 sự minh bạch trong xây dựng chính sách của chính phủ
13 chi phí kinh doanh vì các hoạt động khủng bố
14 chi phí kinh doanh vì các hoạt động tội phạm và bạo lực
15 tội phạm
có tổ chức
16 sự tin cậy của lực lượng công an
17
hành
xử có đạo đức của các công
ty
18 sức mạnh của kiểm toán và các chuẩn mực báo cáo
19 hiệu lực của hội đồng quản trị công
ty,
20 bảo vệ lợi ích của các
cổ đông nhỏ
21 bảo vệ các nhà đầu
tư
Nguồn: World Economic Forum Global Competitiveness Report 2016-2017, Geneva, Tr.39
Trang 208
+ Bộ chỉ số của Báo cáo Chỉ số môi trường kinh doanh (DB) của WB Báo cáo này đã đưa ra một bộ chỉ số gồm 10 yếu tố có tác động đến môi trường kinh doanh gồm: khởi sự doanh nghiệp; giải quyết việc xin giấy phép xây dựng; xin cấp điện; đăng ký tài sản; xin nhận tín dụng; mức độ bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư nhỏ; gánh nặng thuế phải trả; hoạt động thương mại dọc & xuyên biên giới; mức
độ thực thi các hợp đồng; và chấm dứt kinh doanh (Ngoài ra, còn có yếu tố các quy định về thị trường lao động song yếu tố này không được đưa vào để tính điểm chung cho Chỉ số về môi trường kinh doanh)
+ Báo cáo Chỉ số tự do kinh tế của Quỹ Heritage Báo cáo này đánh giá mức độ
tự do của một nền kinh tế theo bốn nhóm chỉ số sau: 1) Tinh thần thượng tôn pháp luật (bảo đảm quyền sở hữu, không bị tham nhũng); 2) Hạn chế của chính phủ (tự do về tài khoá, chi tiêu của chính phủ); 3) Hiệu quả của quy định (tự do kinh doanh, tự do lao động, tự do về tiền tệ) và 4) Thị trường mở (tự do thương mại, tự do đầu tư và tự do tài chính)
- Luận án sử dụng bộ chỉ số quản trị của Ngân hàng thế giới để đánh giá chất lượng quản trị quốc gia Bộ chỉ số này bao gồm 3 khía cạnh với 6 nhóm chỉ số:
1 Tiến trình các chính phủ được lựa chọn, giám sát và thay thế (được đo lường bằng hai nhóm chỉ số: 1) tiếng nói và trách nhiệm giải trình; 2) ổn định chính trị và không có bạo lực)
2 Năng lực của chính phủ trong việc xây dựng và thực thi các chính sách tốt (được đo lường bằng 2 nhóm chỉ số: 3) hiệu lực của chính phủ; 4) chất lượng của quy định)
3 Việc các công dân và nhà nước tôn trọng các thể chế điều chỉnh các quan
hệ kinh tế và xã hội giữa hai bên (được đo lường bằng 2 nhóm chỉ số: 5) công bằng của luật pháp; và 6) kiểm soát tham nhũng
- Nguồn dữ liệu được sử dụng là dữ liệu thứ cấp trong và ngoài nước Nghiên cứu cũng sử dụng bộ dữ liệu về chỉ số quản trị của Ngân hàng thế giới trong giai đoạn kể từ năm 1996 cho đến thời điểm cập nhật nhất khi luận án hoàn thành để đánh giá chất lượng của cải cách thể chế Các nguồn dữ liệu khác được lấy từ cơ
sở dữ liệu Các chỉ số phát triển thế giới (WDI) của Ngân hàng thế giới Ngoài ra,
Trang 219
luận án có thể tham khảo thêm các nguồn dữ liệu của một số tổ chức quốc tế khác như IMF, ADB, AfDB, Heritage Foundation, WEF…về thể chế và quản trị quốc gia
6 Các đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, luận án đã vận dụng những khuôn khổ lý thuyết mới (quan
điểm của Acemoglu và cộng sự về vai trò của cải cách thể chế chính trị và quan điểm của Ngân hàng thế giới về vai trò của cải cách quản trị quốc gia) để phân tích, đánh giá tiến trình và kết quả cải cách thể chế kinh tế ở châu Phi, từ đó làm
rõ hơn ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của các lý thuyết này
Thứ hai, luận án đã cung cấp những phân tích, đánh giá về thực trạng cải
cách thể chế kinh tế thị trường ở châu Phi, phân tích sâu thực trạng này ở các quốc gia (Guine xích đạo, Ghana và Tunisia) là những địa bàn ít được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu
Thứ ba, luận án đã đưa ra những luận điểm khoa học mới khi nhận định,
phân tích kết quả và những nhân tố tác động đối với tiến trình cải cách thể chế kinh tế ở châu Phi
Thứ tư, luận án đã có những đối chiếu, so sánh tiến trình cải cách thể chế
kinh tế ở châu Phi với một số khu vực khác trên thế giới; rút ra những gợi mở mới về mặt chính sách đối với tiến trình cải cách thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được chia làm 5 chương gồm: Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cải cách thể chế kinh tế
Chương 3: Cải cách thể chế kinh tế ở châu Phi
Chương 4: Cải cách thể chế kinh tế ở Guinea xích đạo, Ghana và Tunisia Chương 5: Bài học kinh nghiệm từ quá trình cải cách thể chế kinh tế thị trường của các nước châu Phi
Trang 2210
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1 Các nghiên cứu trên góc độ lý luận về thể chế và cải cách thể chế
Trong khoảng 10 - 15 năm trở lại đây, đã có một cuộc tranh luận bùng lên trong giới kinh tế về những yếu tố sâu xa nhất của phát triển: vốn vật thể, vốn con người, công nghệ, địa lý, văn hóa, thể chế yếu tố nào căn bản hơn? Trong cuộc tranh luận đó, một số người tiếp tục cho rằng: thể chế đóng vai trò quan trọng hơn trong tăng trưởng và phát triển kinh tế; sự khác biệt về thể chế đã tạo
ra sự khác biệt giữa các xã hội về tốc độ tích lũy và "cải tiến"
Ý tưởng về sự phồn vinh của một xã hội phụ thuộc vào các thể chế kinh tế
đã được các nhà triết học như David Hume và kinh tế học như Adam Smith đề cập trong cuộc thảo luận về chủ nghĩa trọng thương và vai trò của thị trường Họ cho rằng xã hội sẽ thành công về kinh tế khi có được thể chế kinh tế tốt Những
thể chế tốt mà nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đòi hỏi là pháp trị (rule of law), tư hữu (private property) và tự do hợp đồng (freedom to contract) Họ phê phán
những hệ lụy của chủ nghĩa trọng thương (chủ nghĩa bảo hộ thương mại tuỳ ý và
sự dựa dẫm vào hoạt động kinh tế nhà nước và các liên minh quyền lực) đối với nền kinh tế (Smith, 1776 [2008])
Vào những thập niên đầu tiên của thế kỷ 20, những phiên bản kinh tế học thể chế (cũ) đã xuất hiện, chủ yếu phân tích các thể chế và phản bác các lý thuyết kinh tế cổ điển với những học giả ở cả châu Âu và Mỹ như Gustav Schmoller, Walton H Hamilton, Thorstein Veblen, John Commons và Wesley Mitchel Ví
dụ, John R Commons (1931) đã đưa ra một quan niệm rằng nền kinh tế là một mạng lưới các mối quan hệ giữa các cá nhân có những lợi ích khác nhau; tuy nhiên, mọi người đều muốn giải quyết các tranh chấp và chính phủ là người cầm trịch cần phải đóng vai trò hòa giải giữa các nhóm tranh chấp với nhau
Trang 2311
Kinh tế học thể chế đương đại (kinh tế học thể chế mới) bắt đầu với công trình của Ronald Coase (1960) về những hệ quả của chi phí giao dịch, tiếp đó là những tác phẩm nổi tiếng của James Buchanan, Gordon Tullock và Mancur Olson cùng những người theo trường phái “lựa chọn công” khác, của Douglass North (1990) về vai trò quan trọng của các thể chế qua việc phân tích quá trình phát triển kinh tế trong quá khứ, và William Vickery (1969) về hệ quả của việc mọi người chỉ nắm được những tri thức hạn chế, bất đối xứng Họ chỉ ra cách thức mà qua đó cạnh tranh giữa các cộng đồng và các hệ thống pháp lý dẫn tới
sự tiến hoá của nhiều quy tắc thân thiện hơn với người dân và doanh nghiệp, chẳng hạn như chính phủ hữu hạn, các quyền tài sản, quy trình chuẩn mực và pháp trị
Douglass C North (1990: 3) đưa ra định nghĩa “thể chế” như sau: “Thể chế là các luật lệ của cuộc chơi trong một xã hội, hay nói một cách chính thức,
là những ràng buộc mà con người soạn thảo ra giúp định hình sự tương tác của con người.” Còn theo Ngân hàng thế giới (1998) thì thể chế là “các quy tắc chính thức và phi chính thức và các cơ chế đảm bảo thi hành của chúng định hình cách hành xử của các cá nhân và các tổ chức trong một xã hội.” Thực tế là
việc các tác giả trên được trao giải Nobel Kinh tế năm 1974 (Hayek), 1986 (Buchanan), 1991 (Coase), 1993 (North) và 1996 (Vickery) đã cho thấy hoạt động nghiên cứu kinh tế học thể chế đang ngày càng tiến triển Trong những năm 1980 và 1990, kinh tế học thể chế đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu năng động và rộng lớn, tập trung vào vai trò then chốt của các thể chế trong việc thúc đẩy hoạt động kinh tế
Tuy nhiên, sẽ là một chiều nếu chỉ nhìn thấy tác động của thể chế đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế mà không thấy theo chiều ngược lại Trong suốt
nửa cuối thế kỷ 20, các học giả theo trường phái “hiện đại hóa” (modernization theory) ở phương Tây đã nỗ lực chứng minh rằng các quốc gia hiện đại hóa trên
thế giới cuối cùng sẽ tụ lại theo một mô hình chính trị - kinh tế - xã hội chung,
Trang 2412
và đó là mô hình dân chủ tự do của các nước tư bản phương Tây phát triển (Rostow, 1961; 1962) Các lý thuyết hiện đại hóa cũng nói rằng khi một đất nước đang có chế độ độc tài ngày càng phát triển thì cấu trúc xã hội trở nên phức tạp hơn, quá trình sản xuất đòi hỏi những người lao động phải hợp tác, giới chủ
có quyền tự chủ nhiều hơn, xã hội có nhiều thông tin hơn và tạo điều kiện cho các nhóm xã hội xuất hiện Bối cảnh này khiến chính quyền độc tài mất dần khả năng kiểm soát xã hội một cách hiệu quả Càng ngày sẽ có càng nhiều tổ chức xã hội dân sự nổi lên và chống lại chế độc tài khiến cho nó sụp đổ (Przeworski and Limongi, 1997: 157) Như thế, trình độ phát triển cao hơn là điều kiện để thể chế dân chủ xuất hiện (Lipset, 1959)
Trong tác phẩm nổi tiếng “Tại sao có quốc gia thất bại?: Nguồn gốc của quyền lực, thịnh vượng và nghèo đói”, Daron Acemoglu và James Robinson
(2012) đã giải thích sự thành công cũng như sự thất bại của các quốc gia khác nhau rằng: Quốc gia phát triển lên nếu như nó xây dựng được những thể chế
kinh tế và chính trị “bao trùm”; quốc gia thất bại khi các thể chế trở thành “loại trừ”, tập trung quyền lực và cơ hội vào tay một nhóm nhỏ Thể chế kinh tế bao
trùm hỗ trợ cho thể chế chính trị bao trùm - một thể chế ủng hộ những quyết sách đổi mới và sáng tạo Ngược lại, thể chế chính trị loại trừ dồn quyền lực vào tay một nhóm người để hỗ trợ cho việc duy trì thể chế kinh tế loại trừ
Daron Acemoglu, Simon Johnson và James Robinson (2005) nêu rằng: Các cá nhân có quyền lực chính trị không thể cam kết rằng họ sẽ không sử dụng quyền lực của mình để phục vụ lợi ích của mình tốt nhất Nói một cách khác, họ
có thể sử dụng quyền lực chính trị của mình để xây dựng và duy trì một hệ thống thể chế kém hiệu quả hoặc không tối ưu theo nghĩa không tạo ra lợi ích tổng thể lớn nhất cho xã hội song lại đem lại lợi ích lớn nhất cho chính họ Với một hệ thống thể chế tồi, vốn chỉ nhằm tạo ra lợi ích cá nhân cho thành phần tinh túy, bất chấp việc phần lớn hơn xã hội sẽ nghèo đi thì những cải cách sẽ khó khả thi hoặc có thể chỉ được tiến hành nửa vời Nếu các nhóm người có quyền lực chính trị thực tế làm "điều đúng" như tiến hành cải cách, có thể họ sẽ mất đi đặc quyền
Trang 2513
đặc lợi Những mô hình phát triển lạc hậu vẫn tiếp tục tồn tại hoặc thay đổi rất chậm chỉ vì các lực lượng chính trị đầy sức mạnh tại các quốc gia nghèo khó này muốn duy trì nó như thế để bảo vệ lợi ích của mình (Acemoglu và Robinson, 2012)
Trong những năm gần đây, xu hướng quá nhấn mạnh vào tác động của thể chế đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế dường như đã trở thành quan điểm mang tính áp đặt của các nước phương Tây và các tổ chức quốc tế trong nỗ lực thúc đẩy cải cách ở các nước nghèo Tách ra khỏi xu hướng này, một số nghiên cứu cho rằng, có mối quan hệ nhân quả giữa một số cấu phần của phát triển đối với chất lượng của thể chế Ví dụ, José Antonio Alonso và Carlos Garcimartín (2009) cho rằng trình độ phát triển (thể hiện qua các yếu tố như thu nhập bình quân đầu người, trình độ học vấn, mức độ phân phối thu nhập) có tác động đến chất lượng thể chế (đo lường bởi bộ chỉ số Quản trị quốc gia của Ngân hàng thế giới)
Kể từ đầu những năm 1990, những nghiên cứu mới về vai trò của thể chế đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế đã đưa ra hàng loạt tiêu chí khác nhau
để đánh giá chất lượng thể chế Điển hình trong số này, nghiên cứu của Stephen Knack và Philip Keefer (1995) cho rằng chất lượng của thể chế có thể được đánh giá qua các tiêu chí như: i) sự đảm bảo đối với quyền sở hữu tài sản; và ii) mức
độ đảm bảo thực thi hợp đồng Trong khi đó, nghiên cứu của Alberto Alesina (1998) lại đo lường chất lượng của thể chế qua các tiêu chí như: i) mức độ hiệu quả của bộ máy hành chính; ii) mức độ tham nhũng; iii) mức độ bảo đảm quyền
sở hữu; và iv) công bằng của pháp luật
Như vậy, nhìn chung các nghiên cứu đã cho thấy mối quan hệ hai chiều giữa thể chế và phát triển kinh tế: một hệ thống thể chế tốt thường đi kèm với một nền kinh tế phát triển cao; tuy nhiên, vẫn cần những bằng chứng thực tế để khẳng định rằng, cái nào là nguyên nhân của cái nào
1.2 Các nghiên cứu về thể chế và cải cách thể chế kinh tế ở châu Phi
Cải cách thể chế là tâm điểm của nhiều nghiên cứu của các tổ chức phát triển quốc tế về các tiến trình cải cách ở châu Phi Trong hai thập kỷ qua, các nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (1993, 1997, 2000) đã tập trung nhấn mạnh
Trang 2614
vai trò của cải cách thể chế và quản trị, coi đó là yếu tố then chốt đối với sự phát triển của châu Phi Ủy ban kinh tế châu Phi của Liên hợp quốc (2003) cũng đã tiến hành một số nghiên cứu bài bản về tiến trình cải cách thể chế trong khu vực song tập trung chủ yếu vào khía cạnh quản lý khu vực công Ngoài ra, một số tổ chức khác như Quỹ tiền tệ quốc tế (2001), Chương trình phát triển Liên hợp quốc (1997), Ngân hàng phát triển châu Phi (1999) cũng tiến hành nhiều nghiên cứu về cải cách thể chế ở châu Phi
Các nghiên cứu đã chỉ ra nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thể chế của châu Phi Easterly và Levine (2003) lập luận rằng, chất lượng thể chế cũng
có thể bị ảnh hưởng bởi các điều kiện địa lý Vị trí đất nước trong vùng nhiệt đới, thiếu tiếp cận với biển hoặc độ phì nhiêu của đất có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của thể chế mạnh Đây là điều rất phổ biến ở lục địa châu Phi nơi có nhiều quốc gia không có biển và nằm trong vùng nóng xích đạo Châu Phi là một châu lục có nhiều tài nguyên, nhưng nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng chính đây lại là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng thể chế và do đó, trình độ phát triển của châu lục này Sachs và Warner (1997), Easterly và Levine (2003) tập trung nghiên cứu sự sẵn có của tài nguyên thiên nhiên và lập luận rằng tài nguyên thiên nhiên phong phú như dầu thô ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng thể chế do điều này thúc đẩy các hoạt động khai thác tài nguyên và thay các khoản thu thuế bởi các nguồn thu khác ít minh bạch hơn và ít chịu trách nhiệm hơn Về yếu tố lịch sử, châu Phi cũng bị xem là có nhiều hạn chế trong việc thúc đẩy một hệ thống thể chế tốt Việc buôn bán nô lệ và hệ thống thuộc địa đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng thể chế Đây là nguyên nhân gây
ra tình trạng di dân, không quốc tịch gây mất ổn định chính trị lâu dài, dẫn đến suy yếu và bị chia cắt (Acemoglu và các cộng sự, 2001)
Từ những năm 1960, sau khi giành được độc lập, nhiều nước kém phát triển ở châu Phi đã theo đuổi các chính sách can thiệp vào nền kinh tế, thực hiện chiến lược phát triển công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu (ISI) Điều này đã
Trang 2715
dựng lên các rào cản đối với việc nhập khẩu hàng hóa nước ngoài Kết quả là vào cuối những năm 1970, nhiều nền kinh tế châu Phi đã bị biến dạng mạnh mẽ
do các chính sách can thiệp (Mensah, 2006; Aman và cộng sự, 2006)
Phân tích nguyên nhân và lịch sử cải cách thể chế kinh tế ở châu Phi, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, từ những năm 1960, sau khi giành được độc lập, nhiều nước kém phát triển ở châu Phi đã theo đuổi các chính sách can thiệp vào nền kinh tế, thực hiện chiến lược phát triển công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu Điều này đã dựng lên các rào cản đối với việc nhập khẩu hàng hóa nước ngoài Kết quả là, vào cuối những năm 1970, nhiều nền kinh tế châu Phi đã bị biến dạng do các chính sách can thiệp (Mensah, 2006; Aman và cộng sự, 2006)
Có nhiều nghiên cứu đã phân tích các sáng kiến cải cách và phát triển của châu Phi Tiêu biểu trong số đó là: Kế hoạch hành động Lagos năm 1980; Chương trình ưu tiên kinh tế châu Phi 1986 – 1990 được Tổ chức Thống nhất Châu Phi (OAU) thông qua năm 1985; Chương trình Liên hợp quốc bổ sung vì
sự phát triển của Châu Phi; Ủy ban kinh tế châu Phi (ECA).Ở cấp độ thực thi chính sách của các chính phủ, IMF và Ngân hàng Thế giới đã tài trợ cho các chương trình điều chỉnh cấu trúc (SAP) mang lại những tác động sâu rộng đối với các nền kinh tế Châu Phi Gần đây hơn, châu Phi đã triển khai sáng kiến Quan hệ đối tác mới cho Phát triển Châu Phi (NEPAD) được thông qua vào tháng 10 năm 2001 bởi các nguyên thủ quốc gia và chính phủ châu Phi; Cơ chế đánh giá ngang hàng châu Phi (APRM) năm 2003 nhằm giải quyết vấn đề quản trị của các quốc gia thành viên Liên minh châu Phi (AU) Ở một mức độ nào đó, APRM đã gián tiếp gây áp lực cho các nước châu Phi để thực hiện quá trình phát triển với các thể chế tốt Nhìn chung, các nghiên cứu đều cho rằng, châu Phi bắt đầu thực hiện các biện pháp cải cách thị trường trong điều kiện thiếu vắng những cấu trúc và nền tảng thị trường cơ bản Tuy nhiên, cải cách thị trường lại là điều kiện cần thiết để vay vốn từ các tổ chức quốc tế (WB, 1989)
Trang 2816
Các nghiên cứu cũng đã phân tích và chỉ ra nhiều vấn đề trong việc nhất quán thực thi các chính sách cải cách kinh tế của châu Phi Phần lớn các cuộc cải cách kinh tế ở châu Phi đều do bên ngoài thúc đẩy song cũng chính vì thế nhiều chính phủ châu Phi không có một cam kết chắc chắn đối với cải cách kinh tế Các cam kết của chính phủ đa phần là lời hứa suông để đảm bảo rằng đất nước của họ, thậm chí là chế độ của họ, vẫn tiếp tục nhận được các khoản tín dụng, các khoản tài trợ ưu đãi Tổng thống Mobutu Sese Seko của Cộng hoà dân chủ Công gô đã rất thành thạo trong đàm phán thỏa thuận với IMF và Ngân hàng Thế giới, mặc dù rõ ràng là ông không có bất kỳ ý định làm theo yêu cầu của các tổ chức này (Leslie, 1987)
Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới đã cho thấy một khoảng cách lớn giữa các biện pháp và thực tế cải cách kinh tế ở châu Phi và kết luận rằng, “nhiều quốc gia điều chỉnh cơ cấu [ở Châu Phi] chỉ điều chỉnh tên gọi” (Mosley và Weeks, 1993, trang 1590) Một số chính phủ thực tế chỉ thực hiện một nửa hoặc thậm chí ít hơn những thay đổi chính sách theo các cam kết ban đầu để nhận khoản vay (Mosley và cộng sự, 1991, Chương 5) Những chính phủ khác ban đầu thực hiện thỏa thuận nhưng sau đó đã đảo ngược chính sách (Zambia đại diện cho trường hợp cực đoan nhất ở châu Phi) Các chính phủ Zaire, Kenya và Nigeria đã thực hiện những biện pháp khôn khéo hơn như lúc ban đầu đồng ý với những điều kiện, nhưng sau đó lại vô hiệu hóa của những cải cách này bằng các biện pháp khác (ví dụ: ban đầu đóng băng tiền lương của công chức, nhưng sau đó lại tìm cách để nhiều công chức được trả lương cao hơn)
Ngay cả Tanzania, một quốc gia được coi có kỷ cương, kỷ luật lãnh đạo ở châu Phi cũng bị coi là: chủ nghĩa phong kiến quan liêu (Munishi, 1989, trang 153-167) Chủ nghĩa này được thể hiện qua mối quan hệ mua –bán trong hệ thống chính trị: nhà lãnh đạo bảo trợ và đảm bảo vị trí cho những người thân tín
để đánh đổi sự trung thành của họ; các phe phái trong hệ thống chính trị chỉ quan tâm đến lợi ích của các thành viên mà không quan tâm nhiều đến các cuộc cải
Trang 2917
cách kinh tế có thể mang lại nhiều lợi ích cho công chúng (Munishi, 1989, trang 166) Hệ thống thể chế của Kenya rơi vào tình trạng mắc hội chứng quan liêu tương tự Các dịch vụ công cộng hoạt động khá hiệu quả trong những năm 1960
và 1970 Tuy nhiên, vào những năm 1980, một thế hệ công chức mới xuất hiện thay thế thế hệ công chức đầu tiên là những người được đào tạo tốt đã tiến hành chuyển đổi các dịch vụ công phù hợp với cơ chế vận hành của một mô hình mang tính bảo trợ (Cohen, 1993, tr 456) Tại Ghana, những thành công trong tiến trình phát triển lại nhờ vào việc áp dụng một mô hình độc đoán, áp đặt từ trên xuống và phụ thuộc vào sự đàn áp và vi phạm nhân quyền dưới thời lãnh tụ Rawlings (Jeffries, 1991, trang 165) Kinh nghiệm của Ghana cho thấy, một lãnh đạo chuyên quyền và chính phủ yếu kém sẽ khó thể thúc đẩy các cuộc cải cách kinh tế (Tangri, 1992)
Tiến trình cải cách thể chế ở các quốc gia châu Phi cũng được nghiên cứu đánh giá dưới các góc độ khác nhau Ví dụ, dưới góc độ kinh tế chính trị, Bigsten, A and S Kayizzi-Mugerwa (2000) đã giải thích sự thất bại của chính sách ở Zambia; Coolidge, J và S Rose-Ackerman (1997) đã phân tích về vấn đề địa tô và tham nhũng trong giới lãnh đạo cấp cao ở một số nước châu Phi Khi nhìn lại tiến trình cải cách hệ thống hành chính của các nước châu Phi sau 10 năm, Lienert, I và J Modi (1997) cùng với Lienert, I (1998) đã cho thấy rằng các kết quả đạt được là không rõ ràng: có một số quốc gia thành công song cũng
có nhiều quốc gia thất bại Nổi bật trong số nghiên cứu này, trong bài viết “Tại sao châu Phi lại nghèo?” Daron Acemoglu và James Robinson (2010) cho rằng nguyên nhân chủ yếu là do hệ thống thể chế chính trị và kinh tế không phù hợp
Hệ thống thể chế hiện nay của một số nước châu Phi vẫn bị ràng buộc bởi những yếu tố thể chế tàn dư của lịch sử vốn không phù hợp nên đã cản trở sự phát triển
đi lên của những quốc gia này Cũng trả lời câu hỏi tương tự, theo Greg Mill (2010), nguyên nhân là những quyết định sai lầm và yếu kém của các nhà lãnh đạo châu Phi và môi trường thể chế gắn liền với lợi ích cá nhân, tạo điều kiện
Trang 30Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra mối quan hệ giữa thể chế và kết quả phát triển kinh tế, cũng như giữa cải cách thể chế, nhất là thể chế chính trị, với cải cách kinh tế ở châu Phi (van de Walle, 1999; Stein, 1994) Van de Walle (1999) cho rằng, làn sóng dân chủ hoá ở châu Phi trong đầu thập niên 1990 sẽ ảnh hưởng không nhiều đến các chương trình cải cách kinh tế Đây là kết quả của việc các thể chế chính trị dân chủ ở châu Phi có động cơ tích cực và tiếp tục có khả năng xử lý các vấn đề kinh tế bức xúc, duy trì cải cách chính sách kinh tế vĩ
mô Nhìn dưới ba góc độ của thể chế là mô hình điều chỉnh cơ cấu, kinh tế học thể chế mới và lý thuyết thể chế cũ, Howard Stein (1994) phân tích cải cách kinh
tế ở châu Phi trên các mặt: quyền tài sản, thể chế tài chính và tiền tệ, giá cả và thị trường, doanh nghiệp và các tổ chức công nghiệp, thị trường và nhà nước Tác giả cho rằng, cải cách thị trường ở châu Phi cần tuân theo đơn thuốc của trường phái kinh tế học thể chế cũ
Trang 3119
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu đã đánh giá kết quả của quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường thông qua các chương trình cải cách cơ cấu (SAP) ở châu Phi, với nhiều quan điểm khác nhau, gồm cả ủng hộ lẫn phản đối Chương trình SAP tập trung vào một số khía cạnh chủ chốt như: mở cửa nền kinh tế, tư nhân hóa, tự do hóa tài chính, cắt giảm trợ cấp (Makalou, 1999; Nellis, 2005; Buchs, 2003; White và Bhatia, 1998) Những người ủng hộ SAP cho rằng, có thể SAP chưa mang lại kết quả như mong muốn nhưng cũng đã giúp nhiều nước châu Phi cải cách và vượt qua được những thời điểm khó khăn nhất Những ý kiến phản đối cho rằng, SAP được thiết kế bởi phương Tây chứ không phải bởi châu Phi SAP không do các nước châu Phi “sở hữu”, kiểm soát và điều hành SAP còn
ôm đồm quá nhiều thứ, chỉ tính đến những mục tiêu ngắn hạn, thiếu các mục tiêu phát triển dài hạn và cuối cùng không hiệu quả bởi châu Phi vẫn chưa thoát khỏi
“bẫy đói nghèo” (Dollar và Kraay, 2002; Manuel, Bloom, Chapellier và Saigal, 2002) Về khía cạnh xã hội, một số nghiên cứu chỉ ra rằng, quá trình tự do hóa kinh tế ở châu Phi tác động mạnh đến những người lao động là công nhân và nông dân thu nhập thấp Do nền kinh tế - xã hội ở trình độ phát triển thấp, nông dân và công nhân thành thị thực tế vẫn là một tầng lớp như nhau ở Châu Phi và
họ chịu những rủi ro như nhau về tình trạng mất việc làm, mất đất nông nghiệp
và giá cả leo thang hàng ngày do lạm phát (Bangura và Gibbon, 1992)
Vẫn còn nhiều thảo luận trong giải thích hiệu quả tăng trưởng kinh tế của Châu Phi (Heidhues, 2009) Nhìn chung, kết quả tăng trưởng của Châu Phi chưa đáp ứng yêu cầu của tiến trình xóa đói, giảm nghèo và phát triển bền vững Một
số quốc gia châu Phi Nam Sahara đã triển khai các cuộc cải cách kinh tế khá sâu rộng, kèm theo đó là những nỗ lực lớn để xây dựng một nền quản trị tốt nhằm bảo vệ những thành công gặt hái được trong cải cách kinh tế Điển hình trong số này là các nước như: Tanzania, Rwanda và Ethiopia – những nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh nhất châu Phi dù không có nhiều hàng hóa và tài nguyên thiên nhiên như dầu khí Thay vào đó, tốc độ tăng trưởng nhanh của
Trang 32tự do Euro-Ma-rốc vào năm 2010; iii) giai đoạn 1998-2004, được đặc trưng bởi
sự củng cố của giai đoạn cải cách thứ hai, cụ thể là cải cách chính trị, thể chế và
xã hội Thời kỳ này cũng được đặc trưng bởi sự gia nhập của phe đối lập chính trị vào tháng 3 năm 1998 và sự lên ngôi của vua Mohamed VI vào tháng 7 năm
1999 sau cái chết của vua cha Hassan II Đối với mỗi giai đoạn cải cách, nghiên
Trang 33dù chính phủ Algeria đã thành công trong mục tiêu này, nhưng lại không nhất quán thực hiện các chiến lược cải cách
Nghiên cứu của Sáng kiến cải cách Ả rập (2009) đánh giá, sau quá trình cải cách dân chủ, nền kinh tế Tunisia rơi vào tình trạng suy giảm và đứng trước nhiều thách thức, khó khăn, như: thất nghiệp cao, nhu cầu công bằng xã hội không được đáp ứng, tham nhũng gia tăng và quỹ đạo kinh tế vĩ mô không bền vững, tất cả đều
đe dọa những lợi ích chính trị gần đây Nghiên cứu này cho rằng, trong những năm đầu tiên chuyển sang nền dân chủ, Tunisia chủ yếu tập trung vào việc giải quyết các thách thức chính trị Tuy nhiên, những lợi ích trên mặt trận chính trị phải trả giá bằng những thất bại về kinh tế Do đó, một trong những thách thức chính trong giai đoạn tới sẽ chủ yếu là kinh tế Thất nghiệp cao, nhu cầu công bằng xã hội không được đáp ứng, tham nhũng gia tăng và quỹ đạo kinh tế vĩ mô không bền vững đều
đe dọa làm đảo lộn những lợi ích chính trị
Đặc biệt, các nghiên cứu của những tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới đã rất chú trọng phân tích khía cạnh quản trị ở châu Phi Nghiên cứu “Châu Phi nam Sahara: từ khủng hoảng cho đến tăng trưởng bền vững” năm 1989 của
WB nhấn mạnh, quản trị là một nội dung quan trọng của cải cách thể chế và gắn liền với một khu vực công hiệu quả hơn ở các nước châu Phi nam Sahara Các chính sách cải cách kinh tế theo hướng thị trường ở châu Phi không thành công
Trang 3422
vì thiếu hụt các nền tảng thể chế quản trị cơ bản Do quyền lực không được kiểm soát, các quan chức chính phủ có thể trục lợi mà không phải giải trình Các cá nhân bảo vệ mình không phải bằng pháp luật mà bằng nỗ lực xây dựng các mối quan hệ cá nhân, do đó hình thành các quan hệ bảo kê quyền lực (WB, 1989)
Tại Việt Nam, cải cách thể chế trở thành một chủ đề nóng bỏng trong các cuộc tranh luận học thuật và các nghiên cứu gắn liền với vấn đề cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng Tuy nhiên, các nghiên cứu về cải cách thể chế ở châu Phi của Việt Nam không nhiều Một số khía cạnh cải cách thể chế gồm cải cách hệ thống chính trị, tiến trình dân chủ hóa, hệ thống bầu cử, cải cách doanh nghiệp nhà nước, v.v… mới được đề cập đến trong một số tác phẩm gần đây như “Châu Phi: Những đặc điểm chính trị chủ yếu hiện nay” của Nguyễn Thanh Hiền (2009); “Châu Phi và Trung Đông năm 2008: những vấn đề
và sự kiện nổi bật” của các tác giả Đỗ Đức Định và Nguyễn Thanh Hiền (2009);
“Cẩm nang các nước Châu Phi” của các tác giả Đỗ Đức Định và Giang Thiệu Thanh (2010); “Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và những vấn đề của Châu Phi”của Bùi Nhật Quang (2009) và “Hợp tác quốc tế giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu của châu Phi” của Nguyễn Thanh Hiền (2008) Ngoài ra, các nghiên cứu về cải cách thể chế và phát triển của châu Phi cũng được nghiên cứu trong hệ thống các chuyên đề và đề tài của Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông trong 10 năm qua (Bùi Nhật Quang, 2011; Kiều Thanh Nga, 2012)
Trong một số nghiên cứu gần đây, vấn đề về thể chế đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu Ví dụ, trong bài viết “Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng quản trị ở một số nước châu Phi”, các tác giả Nguyễn Mạnh Hùng, Phạm Anh Tuấn, Bùi Khắc Linh (2016) cho rằng, trong nhiều thập kỷ qua, mặc dù có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và lực lượng lao động dồi dào, châu Phi vẫn là một châu lục kém phát triển nhất của thế giới Các nước châu Phi đã nỗ lực cải cách nền quản trị quốc gia của mình để có thể phát triển xa hơn nữa song chỉ có một số nước đạt được thành công trong khi nhiều nước khác đã thất bại và
Trang 3523
tiếp tục bị cuốn vào tình trạng bất ổn không ngừng Các tác giả đã chỉ ra những nhân tố tác động đến chất lượng quản trị quốc gia ở châu Phi như trình độ phát triển kinh tế, sự phát triển của giáo dục, độ mở thương mại, mức độ truy cập internet và cả yếu tố lịch sử là quốc gia đó đã từng là thuộc địa của nước nào Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với các nghiên cứu khác khi cho rằng
“trình độ phát triển” đóng vai trò tiên quyết, là cơ sở nguồn lực quan trọng để xây dựng một thể chế và nền quản trị tốt (Chong và Zanforlinm, 2000; Islam và Montenegro, 2002; Rigobon và Rodrik, 2004) Kết luận ảnh hưởng tích cực của
“trình độ giáo dục” đến chất lượng thể chế cũng phù hợp với nghiên cứu của A Alesina và R Perotti (1996) và P Evans và P Rauch (2000) khi chứng minh được mối quan hệ thuận giữa hai biến số này
Trong bài viết “Thể chế, quản trị và phát triển của các nước châu Phi – Nguyên nhân thành công và thất bại”, tác giả Nguyễn Mạnh Hùng (2015) đã đánh giá môi trường quản trị của các nước châu Phi và cho rằng, cái vòng luẩn quẩn giữa sự yếu kém của thể chế và sự thất bại của phát triển là ví dụ điển hình của nhiều nước châu Phi Nhìn lại vấn đề cải cách thể chế và tình hình phát triển kinh tế ở một số nước Bắc Phi - Trung Đông sau 5 năm Mùa xuân Arab, các tác giả Nguyễn Mạnh Hùng và Hồ Khánh Duy (2016) cho rằng, “Mùa xuân Ả rập” với những thay đổi chể chế mà nó tạo ra chưa cho thấy một tương lai phát triển tươi sáng hơn ở nhiều nước Bắc Phi - Trung Đông khi mà cuộc sống của đông đảo người dân chưa được cải thiện Thực tế đã cho thấy, chỉ tập trung vào cải cách chính trị thôi là chưa đủ Cải cách thể chế chính trị cần song hành với cải cách kinh tế để một quốc gia có thể phát triển bền vững và để những thành quả của cải cách thể chế có tính chất "bao trùm" và công cuộc cải cách tiếp tục nhận được sự ủng hộ của đông đảo người dân Nếu các thể chế mới được tạo ra nhất quán với nhau thì sẽ tạo ra sự tin tưởng giữa mọi người, qua đó tạo ra sự ổn định
và phối hợp trong cộng đồng vì lợi ích phát triển chung Ngoài ra, vấn đề cải cách thể chế ở châu Phi còn được đề cập đến trong mối quan hệ so sánh với các
Trang 3624
châu lục khác Ví dụ, trong bài viết “Cải cách thể chế kinh tế ở các nước Á - Phi qua một số công trình nghiên cứu”, tác giả Phạm Quốc Cường (2016) đã tổng thuật các nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa chất lượng thể chế và tăng trưởng kinh tế, đồng thời đánh giá mối quan hệ này qua những công trình nghiên cứu liên quan đến châu Á và châu Phi
1.3 Đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan và hướng nghiên cứu của luận án
Đến nay đã có nhiều nghiên cứu phân tích về cải cách thể chế của các nước châu Phi, trong đó một số nghiên cứu đã tập trung phân tích, đánh giá sâu khía cạnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường của các nước này Nhìn chung, các nghiên cứu này có quan điểm khá đồng thuận về sự tương thích giữa thể chế với tăng trưởng và phát triển kinh tế ở châu Phi: các thể chế tốt thường xuất hiện
ở những quốc gia có tăng trưởng và phát triển kinh tế Nhiều nghiên cứu cho rằng: thể chế tốt là nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng kinh tế ở châu Phi, bởi vậy, châu Phi cần cải cách thể chế kinh tế để phát triển Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay vẫn còn có nhiều khoảng trống:
Thứ nhất, khi đi sâu vào đánh giá kết quả của các nỗ lực cải cách thể chế
kinh tế ở châu Phi, các quan điểm vẫn còn tương đối khác biệt Những người ủng hộ các chương trình chuyển đổi cơ cấu (SAP) cho rằng, có thể chúng chưa thực sự thành công nhưng cũng đã giúp nhiều nước châu Phi vốn gần như đứng bên bờ vực sụp đổ vượt qua được thời điểm khó khăn nhất Các chương trình điều chỉnh cơ cấu đã giúp hoạt động thương mại, tài chính của nhiều nền kinh tế châu Phi thoát khỏi tình trạng bị “kiểm soát chặt chẽ”, đồng thời giúp ổn định kinh tế vĩ mô và chuyển sang nền kinh tế thị trường tự do Ngược lại, những ý kiến phản đối cho rằng, SAP không tính đến các điều kiện đặc thù của châu Phi, thậm chí không tính đến đặc thù giữa các nước châu Phi Việc tự do hoá thương mại, phá giá đồng tiền ở nhiều nước châu Phi đã tạo ra những tác động tiêu cực; chính sách thúc đẩy xuất khẩu đã để lại hệ luỵ là tình trạng khai thác, bòn rút tài
Trang 3725
nguyên và tàn phá môi trường nghiêm trọng ở nhiều nước châu Phi Thậm chí,
có những ý kiến còn cho rằng, châu Phi có thể sẽ phát triển tốt hơn nếu không có
SAP Do vậy, luận án sẽ góp phần bổ sung vào các tranh luận, đánh giá hiện
tại về kết quả của cải cách thể chế kinh tế thị trường ở các nước châu Phi
Thứ hai, nhiều nghiên cứu đã nỗ lực chỉ ra những yếu tố quan trọng tác
động đến tiến trình cải cách thể chế kinh tế của các nước châu Phi Tuy nhiên,
không nhiều nghiên cứu có những so sánh, đối chiếu về vai trò của cải cách
chính trị và cải cách nền quản trị quốc gia đối với cải cách thể chế kinh tế ở châu
Phi Luận án sẽ bổ sung khoảng trống này trong các nghiên cứu hiện nay
Thứ ba, các nghiên cứu đi trước ít quan tâm đến việc lý giải vấn đề: tại
sao những chương trình cải cách thể chế kinh tế ở châu Phi lại tạo ra những kết
quả khác nhau ở những nước châu Phi khác nhau? Tại sao lại có những nước đã
phát triển thành công sau quá trình chuyển đổi này song cũng có những nước
thất bại? Phải chăng, chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường là điều kiện cần
nhưng chưa đủ để các nước châu Phi phát triển? Thực tế này tiếp tục đặt ra vấn
đề nghiên cứu: các yếu tố của phát triển và chất lượng thể chế có thể có tác động
hai chiều Trong khi nhiều nghiên cứu nói đến việc thể chế yếu kém là nguyên
nhân của phát triển kinh tế trì trệ, thực tế của châu Phi có thể lại chứng minh
rằng: trình độ phát triển kinh tế lạc hậu là nguyên nhân dẫn đến chất lượng thể
chế tồi Đây là những vấn đề lý luận và thực tiễn mới, là khoảng trống nghiên
cứu về cải cách thể chế kinh tế ở châu Phi mà luận án này có thể bù đắp
Thứ tư, các bài học kinh nghiệm của châu Phi đến nay ít được chú ý vì lập
luận rằng: trình độ phát triển của châu Phi còn thấp Các nước châu Phi như
Guinea xích đạo, Ghana và Tunisia ít được quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên,
luận án chỉ ra rằng, châu Phi cũng có những điểm sáng trong cải cách thể chế so
với những nước đang phát triển là những kinh nghiệm tốt, ngay cả đối với những
nước như Việt Nam Luận án cũng chỉ ra những kinh nghiệm không thành công
điển hình trong cải cách thể chế kinh tế thị trường ở những nước đi sau
Trang 3826
Tiểu kết chương 1
Đến nay đã có nhiều nghiên cứu phân tích, đánh giá vấn đề cải cách thể chế kinh tế ở châu Phi, trong đó có những nghiên cứu tập trung phân tích, đánh giá sâu khía cạnh chuyển đổi và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường của một số nước ở châu lục này Các nghiên cứu hiện nay chỉ ra rằng ở châu Phi: các thể chế tốt thường xuất hiện ở những quốc gia có tăng trưởng và phát triển kinh tế, tuy nhiên còn nhiều tranh luận về sự thành bại của các chương trình cải cách thể chế kinh tế Nhiều nghiên cứu cho rằng, việc áp đặt những mô hình cải cách thể chế kinh tế của phương Tây (như chương trình điều chỉnh cơ cấu) cho châu Phi đã không mấy thành công khi xét về phương diện phát triển Do vậy, luận án sẽ góp phần bổ sung vào các tranh luận, đánh giá hiện tại về kết quả của cải cách thể chế kinh tế thị trường ở các nước châu Phi; phân tích các yếu tố tác động đến tiến trình cải cách thể chế kinh tế ở các nước này Đặc biệt, dưới góc độ quản trị, luận án đã nêu ra cách tiếp cận cải cách thể chế có thể phù hợp với điều kiện của châu Phi Bên cạnh những tiến trình cải cách thể chế được coi là thất bại, luận án cũng phân tích, chỉ ra những tiến trình cải cách thể chế tương đối thành công ở châu Phi là hình mẫu cho nhiều nước đang phát triển khác học tập
Trang 3927
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẢI CÁCH THỂ
CHẾ KINH TẾ
2.1 Các vấn đề chung về thể chế
2.1.1 Quan niệm, phân loại và vai trò của thể chế
Có nhiều quan niệm và định nghĩa về thể chế song tựu chung lại có hai cách tiếp cận Theo nghĩa hẹp, sử gia kinh tế, người đã từng đoạt giải Nobel
Douglass C North đưa ra định nghĩa “thể chế” như sau: “Thể chế là các luật lệ của cuộc chơi trong một xã hội, hay nói một cách chính thức, là những ràng buộc mà con người soạn thảo ra giúp định hình sự tương tác của con người ” [83] Theo nghĩa rộng, trong Báo cáo phát triển thế giới với chủ đề “Xây dựng thể chế cho thị trường”, Ngân hàng Thế giới quan niệm: “thể chế là các quy tắc, các
cơ chế thực thi và chế tài, và các tổ chức”.[125] Tổ chức là một dạng thể chế đặc
biệt, đi kèm với các quy tắc, chuẩn mực hành xử mà các chủ thể dựa vào đó để tương tác với nhau, để thực thi các quy tắc, chuẩn mực đạt được các kết quả mong muốn Ví dụ, nếu các quy tắc là luật về phá sản các tổ chức tương ứng sẽ
là các cơ quan thuế, toà án, các cơ quan thực thi pháp luật, v.v Nếu quy tắc trong kinh doanh là “có đi có lại”, thế chấp, đền bù thiệt hại hợp đồng thì các tổ chức tương ứng sẽ là các ngân hàng, toà trọng tài, hiệp hội kinh doanh v.v
Thể chế khác với chính sách, tuy hai thuật ngữ này thường được dùng
song song với nhau, đôi lúc trùng với nhau Nếu thể chế là các quy tắc, quy định trong hành xử thì chính sách gồm mục tiêu và các kết quả mong muốn Các quốc gia có thể có một nền tảng thể chế giống nhau (như cùng là nền kinh
tế thị trường) song vẫn có thể triển khai các chính sách khác nhau và có các kết quả phát triển khác nhau Ví dụ, các quốc gia có nền kinh tế thị trường vẫn có thể thể có các chính sách thuế hay chống lạm phát khác nhau Chính sách sẽ tác động đến loại thể chế cần hình thành; song thể chế sẽ tác động đến loại chính sách cần có
Trang 4028
Luận án này quan niệm thể chế là các luật chơi, theo nghĩa gồm các quy tắc, quy định, chuẩn mực chi phối cách hành xử của các chủ thể trong xã hội Tuy tập trung nghiên cứu thể chế, luận án này đồng thời xem xét quá trình cải cách/thay đổi thể chế với các quá trình thay đổi chính sách
Có thể phân loại thể chế theo một số cách:
- Gồm thể chế công và thể chế tư: Thể chế công bao gồm toàn bộ các cơ
quan Nhà nước (các tổ chức công) với hệ thống quy định, luật pháp do Nhà nước
xác lập Thể chế tư là toàn bộ các quy định mang tính quy phạm và các tổ chức
ngoài Nhà nước Các thể chế tư có thể tồn tại song hành hoặc nằm trong một môi trường thiết lập bởi các thể chế công Ví dụ, thể chế tư là các quy tắc về thừa kế đất đai có thể nằm trong các quy định về luật thừa kế; thể chế tư là các ngân hàng tư nhân có thể hoạt động trong môi trường luật công ty, v.v
- Gồm thể chế chính thức và thể chế phi chính thức, chủ yếu nói về các quy tắc chính thức và phi chính thức Các quy tắc chính thức bao gồm hiến pháp, các bộ luật, điều luật, hiến chương, văn bản dưới luật…Các quy tắc không chính thức là các chuẩn tắc xã hội bất thành văn (truyền thống, tập quán, những điều cấm kỵ…) hay các quy tắc ửng xử nội bộ có vai trò mở rộng, chi tiết hóa hoặc chỉnh sửa các quy tắc chính thức và điều chỉnh hành vi của các chủ thể cho phù hợp
- Gồm các loại thể chế như: thể chế kinh tế, thể chế chính trị, thể chế xã hội, thể chế văn hoá, v.v
Ý nghĩa then chốt của thể chế chính là việc giúp cho con người “xây dựng các động cơ khuyến khích trong hoạt động trao đổi của con người, bất kể là chính trị, xã hội, hay kinh tế”[83] Thể chế giúp hạn chế bớt tình trạng thông tin
bất đối xứng trong vấn đề giao dịch và quản lý Không có các quy định, chuẩn mực, quy tắc để điều chỉnh các mối quan hệ, xã hội sẽ trở nên hỗn loạn, sự tương tác xã hội trở nên quá tốn kém, sự tin tưởng và hợp tác đổ vỡ Sự phân công lao động, nguồn gốc chủ yếu của phồn vinh kinh tế, sẽ không còn nữa Chức năng then chốt của các thể chế là nhằm hỗ trợ trật tự: một cách thức tổ chức có tính hệ