Tài chính công Tài chính công là một phạm trù gắn với các hoạt động thu và chi bằng tiền của nhànước, phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hìnhthà
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
CAO HỌC K20 - LỚP ĐÊM 7
THỰC TIỄN
VÀ XU HƯỚNG CẢI CÁCH
TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn:
TS Diệp Gia Luật
Nhóm thực hiện:
1 Phan Văn Cương_ nhóm trưởng 27/11/1979 Thương mại
10 Nguyễn Thị Phương Thảo 25/5/1981 Thương mại
(Tháng 03 năm 2011)
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I
SỰ CẦN THIẾT TIẾN HÀNH CẢI CÁCH TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
1 Khái quát về tài chính công và thị trường tài chính 4
1.3 Tài chính ở các đơn vị hành chính, đơn vị sự nghiệp 12
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 GS.TS Dương Thị Bình Minh, TS Sử Đình Thành – GIÁO TRÌNH LÝ THUYẾT
TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ – NXB Thống kê 2005.
2 Cấn Quang Tuấn, Văn phòng Bộ Nội vụ – CẢI CÁCH TÀI CHÍNH CÔNG - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP – 2008.
3 Các văn bản Luật, Nghị định, Thông tư của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ liên quan vềlĩnh vực thuế, tài chính công và thị trường tài chính
4 Các website vneconomy.vn; Ngân hàng nhà nước (www.sbv.gov.vn); Uỷ ban chứngkhoán nhà nước (www.ssc.gov.vn); Tổng cục thống kê (www.gso.gov.vn)
2
Trang 4Bên cạnh những thành công đạt được, quá trình cải cách cũng gặp nhiều khó khăn,thách thức, đòi hỏi phải có những cải cách tiếp tục trong thời gian tới Do đó, tiểu luận này
sẽ tập trung trình bày thực tiễn cải cách tài chính - tiền tệ ở nước ta và xu hướng trong thờigian tới
Với mục tiêu trên, kết cấu của tiểu luận sẽ gồm 3 chương:
Chương 1: Sự cần thiết tiến hành cải cách tài chính - tiền tệ ở Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn tài chính - tiền tệ ở Việt Nam
Chương 3: Xu hướng cải cách tài chính - tiền tệ ở Việt Nam
Cuối cùng, nhóm chân thành cảm ơn TS Diệp Gia Luật cùng toàn thể học viên Lớpđêm 7 đã góp ý để tiểu luận của nhóm chúng tôi ngày càng hoàn thiện hơn
Trang 5CHƯƠNG I
SỰ CẦN THIẾT TIẾN HÀNH CẢI CÁCH TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
1 Khái quát về tài chính công và thị trường tài chính
1.1 Tài chính công
Tài chính công là một phạm trù gắn với các hoạt động thu và chi bằng tiền của nhànước, phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hìnhthành và sử dụng các quỹ tiền tệ của nhà nước nhằm phục vụ việc thực hiện những chứcnăng vốn có của nhà nước đối với xã hội (không vì mục tiêu lợi nhuận)
Nội dung của tài chính công bao gồm: ngân sách nhà nước từ trung ương đến địaphương; dự trữ nhà nước; tín dụng nhà nước; ngân hàng nhà nước; tài chính của các cơquan hành chính nhà nước; tài chính của các đơn vị sự nghiệp nhà nước; các quỹ tài chínhnhà nước (đối với nước ta) Trong đó, ngân sách nhà nước được xem là bộ phận quantrọng nhất, chi phối đến các thành tố khác Trong phạm vi bài viết này, xin đề cập đến 3thành tố có quan hệ chặt chẽ với nhau và liên quan trực tiếp tới việc cải cách tài chínhcông hiện nay Đó là: ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước và tài chính các đơn
vị hành chính sự nghiệp
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quannhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong 1 năm để bảo đảm thực hiệncác chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Như vậy, xét về khía cạnh kinh tế, hoạt động thu -chi của ngân sách nhà nước thể hiện quá trình phân phối và phân phối lại một bộ phận giátrị tổng sản phẩm xã hội Quy mô phân phối lại phụ thuộc vào mức độ động viên của ngânsách nhà nước
Thuế chiếm vai trò quan trọng trong tổng thu ngân sách nhà nước, là thành phần chủyếu và chiếm tỷ trọng lớn trong ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước có 3 chức năng cơ bản Đó là: công cụ thực hiện việc phân bổnguồn lực trong xã hội; thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập và chức năng điềuchỉnh vĩ mô nền kinh tế quốc dân Với các chức năng đó, ngân sách nhà nước tác độngtrực tiếp và gián tiếp tới hầu hết các chủ thể, các đơn vị và các tổ chức trong xã hội Điềunày cũng giải thích tại sao ngân sách nhà nước lại là thành tố quan trọng nhất của tài chínhcông
Các quỹ tài chính nhà nước, về nguyên tắc, ngân sách nhà nước phải được quản lýmột cách toàn diện, nhưng không có nghĩa là tất cả các khoản chi phải được quản lý theoquy trình thống nhất Vì vậy, ở nhiều nước, một số khoản chi của Chính phủ đã được quản
lý thông qua các quy trình đặc biệt, mà chủ đạo là các quỹ tài chính nhà nước, tạo nên sựlinh hoạt nhất định trong quyết định chi tiêu của Chính phủ
Quỹ tài chính nhà nước có nhiều loại hình khác nhau Nhưng xét về hình thức tổ chứcthường có 2 loại: là tổ chức tài chính có bộ máy tổ chức, có tư cách pháp nhân (như Quỹ
hỗ trợ phát triển ) hoặc chỉ là nguồn tài chính dành riêng để sử dụng vào một hoặc một sốmục đích nhất định (như Quỹ bình ổn giá cả, Quỹ tích luỹ trả nợ )
Các quỹ tài chính nhà nước thường có nguồn thu chủ yếu từ ngân sách nhà nước vàhuy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân Việc sử dụng quỹ không được hạch toán vàongân sách mà được quản lý theo các quy định riêng Tuy nhiên, cách làm này, bất kể mục
4
Trang 6đích gì đều làm nảy sinh một số vấn đề trong việc phân bổ nguồn ngân sách Thôngthường thì các giao dịch thực hiện từ các quỹ này không được phân loại theo các tiêu chínhư các khoản chi ngân sách, từ đó làm ảnh hưởng đến tính đầy đủ, chính xác của việcphân tích các chương trình chi tiêu của Chính phủ Hơn nữa, sự hiện diện của quá nhiềucác loại quỹ tài chính nhà nước trong nền kinh tế sẽ làm cho nguồn lực tài chính nhà nước
bị phân tán, tính minh bạch của ngân sách vì thế cũng sẽ bị hạn chế
Tài chính các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp: các cơ quan hành chính, đơn
vị sự nghiệp thuộc bộ máy nhà nước là những đơn vị có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụcông cho xã hội Nguồn tài chính cho các đơn vị này hoạt động chủ yếu dựa vào nhữngkhoản cấp phát theo chế độ từ ngân sách nhà nước Ngoài ra, còn một số khoản thu khác
có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, các khoản thu do đơn vị tự khai thác, hoặc từ quyêngóp, tặng, biếu không phải nộp ngân sách nhà nước
Giữa ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước và tài chính các cơ quan hànhchính, đơn vị sự nghiệp luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó ngân sách nhà nước
có vai trò quan trọng và chi phối các thành tố khác Một bộ phận rất lớn của chi ngân sáchnhà nước được các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp sử dụng trực tiếp, do đó, hiệuquả tài chính của các khu vực này có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chi ngân sách nhànước Ngược lại, quy mô và hiệu quả của ngân sách nhà nước cũng sẽ quyết định, chi phốitiềm lực và hiệu quả tài chính các đơn vị hành chính, sự nghiệp
Quản lý tài chính công được thực hiện theo 4 nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc hiệu quả: là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong quản lý tài chínhcông Hiệu quả thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội Hiệu quả xãhội và hiệu quả kinh tế là 2 nội dung quan trọng phải được xem xét đồng thời khi hìnhthành một quyết định hay một chính sách chi tiêu ngân sách
Nguyên tắc thống nhất: thống nhất quản lý bằng pháp luật là nguyên tắc không thể
bỏ qua trong quản lý tài chính công Thực hiện nguyên tắc này sẽ đảm bảo tính bình đẳng,công bằng, hiệu quả, hạn chế những tiêu cực, nhất là những rủi ro có tính chất chủ quankhi quyết định các khoản chi tiêu
Nguyên tắc tập trung dân chủ: tập trung dân chủ đảm bảo cho các nguồn lực của xãhội được sử dụng tập trung và phân phối hợp lý Các khoản đóng góp của dân thực sự phải
do dân quyết định chi tiêu nhằm đáp ứng mục tiêu chung của cộng đồng
Nguyên tắc công khai, minh bạch: thực hiện công khai minh bạch trong quản lý sẽtạo điều kiện cho cộng đồng có thể giám sát, kiểm soát các quyết định về thu, chi tàichính, hạn chế những thất thoát và bảo đảm tính hiệu quả
1.2 Thị trường tài chính
Thị trường tài chính là nơi diễn ra hoạt động giao dịch và mua bán quyền sử dụngnhững khoản vốn thông qua các phương thức giao dịch và những công cụ tài chính nhấtđịnh
Phân loại thị trường tài chính
Có nhiều cách đến phân loại thị trường tài chính Nếu phân loại theo công cụ tài chínhtrên thị trường, ta có thị trường nợ và thị trường chứng khoán Nếu phân loại theo thờigian luân chuyển vốn, ta có thị trường tiền tệ (có thời gian luân chuyển vốn dưới 1 năm)
và thị trường vốn (có thời gian luân chuyển vốn từ 1 năm trở lên) Nếu phân loại theo hình
Trang 7phân loại nào thì sẽ tuỳ thuộc vào vấn đề mà người nghiên cứu Thông thường, khi nói đếnthị trường tài chính người ta thường phân ra theo 2 cách sau
Cấu thành của thị trường tài chính
Trong một thị trường tài chính hiện đại, luôn có 3 thành phần cơ bản tham gia là:người sử dụng cuối cùng, các định chế tài chính trung gian và các nhà đầu tư
Những doanh nghiệp, cá nhân khi cần vốn cho kế hoạch kinh doanh của mình có thểhuy động nguồn vốn này trên thị trường tài chính, bằng nhiều hình thức khác nhau thôngqua các định chế tài chính trung gian Họ là những người sử dụng nguồn vốn này để thựchiện các kế hoạch kinh doanh, tạo ra lợi nhuận Đồng thời, họ cũng có những nghĩa vụ củangười vay nợ đối với người cho vay
Các định chế tài chính trung gian gồm:
- Các tổ chức nhận ký gửi là các tổ chức nhận ký gửi bao gồm các ngân hàng thương
mại, các hợp tác xã tín dụng Các tổ chức này có đặc điểm chung là nhận tiền gửi và sau
đó đem cho vay trực tiếp tới các cá nhân, tổ chức cần vốn và một phần khác đem đầu tưvào chứng khoán Như vậy, thu nhập của tổ chức này có được từ 2 nguồn: thu nhập từ tiềnlãi cho vay và đầu tư chứng khoán, thu nhập từ các khoản phí dịch vụ
- Các tổ chức không nhận ký gửi bao gồm các tổ chức như: công ty bảo hiểm, quỹ
hưu trí, quỹ đầu tư
- Nhà đầu tư là những người sẵn sàng bỏ vốn ra để đầu tư cho các dự án Họ là thành
phần đầu vào tạo ra nguồn vốn cho các doanh nghiệp Họ là những người gửi tiết kiệmngân hàng, mua cổ phiếu, trái phiếu
Vai trò của thị trường tài chính
Thứ nhất, hình thành giá các tài sản tài chính Thông qua tác động qua lại giữa những
người mua và những người bán, giá của tài sản tài chính (chứng khoán) được xác định,hay nói cách khác, lợi tức cần phải có trên một tài sản tài chính được xác định
Thứ hai, cung cấp một cơ chế để cho các nhà đầu tư bán tài sản tài chính Với đặc tính
này, thị trường tài chính tạo ra tính thanh khoản Thiếu tính thanh khoản, các nhà đầu tưphải nắm giữ tài sản tài chính cho đến khi nào đáo hạn, hoặc đối với cổ phiếu cho khi nàocông ty tự nguyện thu hồi hoặc nếu không tự nguyện thì phải chờ thanh lý tài sản Mặc dùtất cả các thị trường tài chính đều có tính thanh khoản, nhưng mức độ thanh khoản giữachúng là khác nhau
Thứ ba, giảm bớt chi phí tìm kiếm và chi phí thông tin Để các giao dịch có thể được
diễn ra thì những người mua và người bán phải tìm được nhau Họ phải mất rất nhiều tiền
và thời gian cho việc tìm kiếm này, ảnh hưởng đến lợi nhuận kỳ vọng của họ Chi phí đó
là chi phí tìm kiếm Bên cạnh, để tiến hành đầu tư họ cần có các thông tin về giá trị đầu tưnhư khối lượng và tính chắc chắn của dòng tiền kỳ vọng Thị trường tài chính nhờ có tínhtrung lập này - là nơi để người mua, người bán đến đó tìm gặp nhau, là nơi cung cấp cácthông tin một cách công khai và đầy đủ - nên có khối lượng giao dịch và giá trị giao dịchlớn, vì thế nó cho phép giảm đến mức thấp nhất những khoản chi phí trên
Thị trường tài chính phát triển cùng với trình độ phát triển của nền kinh tế, đi từ đơngiản đến phức tạp Ở trình độ phát triển ngày càng cao, thị trường tài chính ngày càng cónhiều loại trung gian tài chính tham gia Các trung gian tài chính ngày càng tạo ra nhiềuloại sản phẩm tài chính đa dạng, đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu của các bên tham giathị trường
6
Trang 82 Sự cần thiết tiến hành cải cách tài chính - tiền tệ ở Việt Nam
2.1 Tài chính công
Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, cải cách tài chính công là một đòi hỏi khách quanxuất phát từ thực trạng tài chính công hiện nay và yêu cầu về cải cách hành chính nhànước trong những năm tới
Thứ nhất, đối với thực trạng tài chính công hiện nay, bên cạnh một số kết quả bước
đầu đạt được, tài chính công vẫn đang còn những hạn chế cần sớm khắc phục, đó là:
Đối với lĩnh vực ngân sách nhà nước: do chưa xây dựng khuôn khổ tài chính trunghạn nên hạn chế tính chiến lược của ngân sách và không phù hợp với việc quản lý các dự
án tài chính lớn cần thực hiện trong nhiều năm Bố trí ngân sách còn bị động, co kéo vớicác mục tiêu ngắn hạn Cơ cấu chi ngân sách còn bất hợp lý, vẫn còn những khoản chimang tính bao cấp Phạm vi chi ngân sách chưa được xác định rõ nên khó giảm được gánhnặng chi ngân sách trong khi quy mô ngân sách còn nhỏ Mặt khác, việc chi bao cấp, baobiện đã tạo tư tưởng ỷ lại, làm giảm động lực phát triển và cản trở việc thu hút đầu tư xãhội vào việc cung cấp dịch vụ công Việc phân bổ, quản lý và sử dụng ngân sách còn kémhiệu quả, sử dụng lãng phí Công tác kiểm soát chi vẫn nặng nề về số lượng, chưa chú ýđúng mức đến chất lượng, hiệu quả khoản chi
Đối với tài chính các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp: định mức, chế độ chitiêu lạc hậu, thiếu cụ thể, không đồng bộ Cơ chế quản lý biên chế, quản lý kinh phí ngânsách còn bất cập, chưa tạo động lực khuyến khích sử dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả,dẫn đến tình trạng lãng phí khá phổ biến
Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu cải cách hành chính nhà nước và những thể chế mới về
ngân sách nhà nước cũng đặt ra yêu cầu về cải cách tài chính công một cách cấp thiết, cụthể:
Luật ngân sách nhà nước (2002) vừa tạo ra cơ sở pháp lý cho cải cách căn bản vềtài chính công, vừa dẫn đến những yêu cầu về cải cách tài chính công như: cơ cấu lại chingân sách, đổi mới cơ chế phân cấp quản lý tài chính và ngân sách
Mục tiêu tổng thể về cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 đã đặt rayêu cầu cải cách tài chính công Đó là: tạo điều kiện cho chính quyền địa phương chủđộng xử lý các công việc ở địa phương; phân biệt cơ quan hành chính công quyền với tổchức sự nghiệp, dịch vụ công; đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách, chuyển từ cấp kinh phítheo biên chế sang cấp kinh phí căn cứ vào kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vàokiểm soát đầu ra, tăng quyền chủ động của đơn vị sử dụng ngân sách
Những kết quả bước đầu của cải cách tài chính công ở Việt Nam thời gian gần đây đòihỏi phải tiếp tục cải cách mạnh mẽ hơn nữa trong giai đoạn tới
2.2 Thị trường tài chính
Cấu trúc của thị trường tài chính còn chưa thật phù hợp với yêu cầu phát triển của nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Theo thể chế kinh tế này, nền kinh tế tồntại nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình doanh nghiệp Mỗi thành phần kinh tế và loạihình doanh nghiệp đều có nhu cầu về dịch vụ tài chính cũng như nguồn vốn phù hợp vớimức độ phát triển của thành phần kinh tế đó Do vậy, cấu trúc của thị trường tài chính đòihỏi phải có những định chế tài chính tương thích đáp ứng nhu cầu đa dạng của các thành
Trang 9ngân hàng hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu cho các thành phần kinh tế đa dạng này,làm hạn chế khả năng vận hành có hiệu quả của thị trường tài chính
Hệ thống chính sách, cơ sở phát lý cho hoạt động của thị trường chưa đầy đủ, các quyđịnh điều tiết thị trường chưa hoàn chỉnh, đồng bộ Khả năng của ngân hàng nhà nước cònhạn chế trong điều tiết, can thiệp thị trường một cách chủ động, linh hoạt Thị trường thiếu
hệ thống giám sát rủi ro và cảnh báo sớm; chưa hình thành được hệ thống chỉ tiêu chuẩn
để phản ánh tình trạng thị trường và định hướng kỳ vọng cho các thành viên, đặc biệt chưa
có được đường cong lãi suất chuẩn Hoạt động thị trường liên ngân hàng còn đơn điệu,chủ yếu là các giao dịch tiền gửi và tín dụng truyền thống, các nghiệp vụ phái sinh tiền gửi
và đầu tư liên ngân hàng chưa được triển khai (đầu thầu tiền gửi, giao dịch kỳ hạn vốn…).Thị trường còn tiểm ẩn những rủi ro về mất cân đối kỳ hạn, năng lực kiểm soát rủi ro tíndụng, rủi ro thanh khoản và rủi ro thị trường của các tổ chức tín dụng còn yếu Nhiều tổchức tín dụng chưa có khả năng kiểm soát và quản lý vốn tập trung toàn hệ thống, chưathiết lập lên bộ phận kinh doanh vốn, hệ thống quản lý rủi ro độc lập và năng lực tài chínhcủa các tổ chức tín dụng còn nhiều yếu kém
Ngoài ra, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến kinh tế Việt Nam cùngvới những yếu kém nội tại của nền kinh tế vẫn là thách thức lớn nhất đối với thị trường tàichính mà trực tiếp là thị trường chứng khoán Khủng hoảng và suy thoái kinh tế khiến cácdoanh nghiệp hoạt động khó khăn hơn làm ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp Thêmvào đó, sự sụt giảm giá chứng khoán trong năm 2008 còn ảnh hưởng nặng nề đến tâm lýcác nhà đầu tư, khiến nhiều nhà đầu tư không còn mặn nồng đầu tư vào thị trường chứngkhoán Điều này dẫn đến những khó khăn trong hoạt động của các công ty chứng khoán,các quỹ đầu tư làm cho dòng vốn lưu chuyển trên thị trường chứng khoán chậm lại, kémhiệu quả
8
Trang 10CHƯƠNG II
THỰC TIỄN TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
1 Tài chính công
1.1 Ngân sách nhà nước
1.1.1 Thu ngân sách nhà nước
Thuế chiếm vai trò quan trọng trong tổng thu ngân sách nhà nước Trong những nămqua, thuế luôn là nguồn thu ngân sách chủ, đảm bảo cho các mục tiêu tăng trưởng và pháttriển kinh tế - xã hội
Thuế xuất nhập khẩu
Với việc trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam đangtừng bước cắt giảm thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng theo đúng lộ trình cam kết Thuếsuất cam kết cuối cùng (thực hiện trong 5 - 7 năm) có mức bình quân giảm 23% so vớimức thuế bình quân hiện hành (thuế suất MFN) của Biểu thuế (từ 17,4% xuống còn13,4%) Tính đến thời điểm này, Việt Nam đã cắt giảm khoảng 3.000 dòng thuế và vẫntiếp tục cắt giảm trong những năm kế tiếp theo theo cam kết Ngoài ra, theo cam kết vớiKhu vực mậu dịch tự do Asean (AFTA), Việt Nam cũng đã tiến hành cắt giảm khoảng7.600 dòng thuế Việc cắt giảm thuế nhập khẩu đã làm giảm đáng kể đến tỷ trọng của thuếnhập khẩu trong tổng thu ngân sách nhà nước (chiếm khoảng 13% tổng thu ngân sách nhànước trước khi tiến hành cắt giảm), nhưng bù lại, việc tự do hóa thương mại với các nướcthành viên sẽ giúp tạo nguồn thu cho xuất khẩu cũng như việc thu hút các dòng vốn đầu tư
về Việt Nam Ngoài ra, với việc phải cắt giảm thuế nhập khẩu, chúng ta cũng chuyển hìnhthức bảo hộ thuế quan sang hình thức bảo hộ phi thuế quan đối với các ngành công nghiệpnon trẻ trước sức ép của hàng ngoại Đối với thuế xuất khẩu, chúng ta vẫn đang tiến hànhcải cách theo hướng giảm thuế xuất khẩu cho các mặt hàng có hàm lượng chế biến cao vàtăng thuế đối với nguyên liệu thô hoặc các sản phẩm chưa qua chế biến (gỗ, khoángsản…)
Thuế thu nhập
Đổi mới các chính sách về thuế thu nhập đóng vai trò quan trọng trong xu hướng cảicách lĩnh vực thuế Tỷ trọng đóng góp của thuế trực thu vào ngân sách nhà nước tăng quacác năm và đây sẽ là nguồn thu chủ yếu trong những năm tới theo định hướng của Nhànước Đây chính là xu hướng phù hợp với các nước phát triển trên thế giới Trong các loạithuế trực thu thì thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp là 2 loại thuế chính
o Thuế thu nhập cá nhân
Hòa cùng xu hướng phát triển chung của các nước phát triển về các chính sách thuế,Chính phủ đã ban hành Nghị định 147/2004/NĐ-CP quy định chi tiết về việc thực hànhpháp lệnh thuế đối với người có thu nhập cao Trên cơ sở đó, Quốc hội đã ban hành luật số04/2007/QH12 về thuế thu nhập cá nhân Có thể thấy rõ những đổi mới trong luật thuế thunhập cá nhân như quy định rõ ràng thu nhập thường xuyên và thu nhập không thườngxuyên Thu nhập chịu thuế của các cá nhân được mở rộng ra bao gồm các thu nhập vềchuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng vốn, thu nhập từ lãi cho vay…
Trang 11Một đổi mới quan trọng trong luật thuế thu nhập cá nhân đó là việc giảm mức thuế suất(mức thuế suất thấp nhất giảm xuống còn 5% và mức thuế suất cao nhất giảm xuống còn35%) Biểu thuế suất mới của luật thuế thu nhập cá nhân đảm bảo công bằng hơn trongviệc điều tiết thu nhập do chênh lệch về thuế suất giữa các bậc thuế giảm đi Mặt khác,việc hạ mức thuế suất cao nhất (từ 40% xuống còn 35%) càng khuyến khích người laođộng sản xuất kinh doanh và làm giàu chính đáng Tuy nhiên, Luật thuế thu nhập cá nhânmới vẫn còn bộc lộ một số khuyết điểm, như quy định các khoản giảm trừ gia cảnh chưađược hợp lý, chưa tính đến mặt bằng thu nhập chung của các địa phương
o Thuế thu nhập doanh nghiệp
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp mới được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2007, theo
đó thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giảm từ 28% xuống 25%, thể hiện rõ việc khuyếnkhích các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh Tuy nhiên, việc thắt chặt lại thời gian ưuđãi miễn giảm thuế cũng như các khu vực được hưởng ưu đãi miễn giảm thuế nhằm mụcđích tận thu thuế các doanh nghiệp có vốn đầu tư FDI (những doanh nghiệp luôn dùng thủthuật mở rộng sản xuất để hưởng các ưu đãi về thuế)
Một vấn đề quan trọng là việc chống chuyển giá đối với các công ty đa quốc gia khilượng thuế thu nhập doanh nghiệp bị thất thu ngày càng lớn Đến nay, Bộ Tài chính chỉmới ban hành 2 thông tư (trong đó Thông tư 66/2010/TT-BTC thay thế Thông tư117/2005/TT-BTC) quy định về hoạt động chuyển giá Mặt khác, do những hạn chế vềnhân lực, các cán bộ thuế của các cơ quan thuế vẫn chưa theo kịp với tình hình, đặc biệt làviệc phát hiện và xử lý các vi phạm về chuyển giá của doanh nghiệp
Các loại thuế khác
o Thuế giá trị gia tăng
Đối với thuế giá trị gia tăng, việc đổi mới nhằm thống nhất lại các chính sách thuế, vềcác vi phạm cũng như ưu đãi Một điều dễ nhận thấy nữa là trong luật về thuế giá trị giatăng ban hành vào năm 2007, đã có tới 17 mặt hang tăng mức thuế từ 5% lên 10% so vớiluật cũ Điều này thể hiện rõ quan điểm xem thuế gián thu như là một nguồn thu chủ yếucủa thu ngân sách trong giai đoạn tới
o Thuế tiêu thụ đặc biệt
Đối với thuế tiêu thụ đặc biệt, Chính phủ xem đây là một công cụ nhằm bảo hộ cácngành công nghiệp non trẻ thông qua việc điều chỉnh mức thuế tiêu thụ đặc biệt Một ví dụ
dễ thấy đó là việc nhập khẩu ôtô, thông qua việc điều chỉnh thuế tiêu thụ đặc biệt, Chínhphủ đã gián tiếp thực hiện việc bảo hộ đối với ngành công nghiệp ôtô trong nước
* Cải cách hành chính liên quan đến lĩnh vực thuế
Việc cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế đang diễn ra theo hướng giúp các doanhnghiệp và cá nhân dễ dàng hơn trong việc kê khai và nộp thuế Tổng cục thuế đang triểnkhai mô hình kê khai thuế qua mạng và nhân rộng ra các địa phương trên khắp cả nước,hay như Cục thuế Tp HCM cũng triển khai phần mềm kê khai thuế cá nhân…
Việc phát triển nhân lực trong ngành thuế cũng được chú trọng, trong đó chú trọngviệc bồi dưỡng cho các cán bộ ngành thuế am hiểu về chuyên môn nghiệp vụ cũng nhưthái độ khi tiếp cá nhân và các doanh nghiệp Ngoài ra, việc tuyên truyền các chính sáchthuế cho cá nhân và doanh nghiệp cũng đang được triển khai một cách thành công
1.1.2 Chi ngân sách nhà nước
Giai đoạn 1991 - 1995
10
Trang 12Trong giai đoạn này, chi đúng đối tượng, có hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế - xãhội được đặt ra Nhờ những giải pháp trên, số thâm hụt ngân sách nhà nước đã giảm dầnqua từng năm và được bù đắp bằng vay trong nước và vay nước ngoài Trong giai đoạn
1991 - 1995, tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước so với GDP chỉ ở mức 1,4% đến 4,17%(1991: 1,4%, 1992:1,5%, 1993: 3,9%, 1994: 2,2% và năm 1995 là 4,17%) Như vậy, cóthể thấy bội chi ngân sách nhà nước trong những năm 1991 - 1995 là rất thấp, thể hiệnchính sách thắt chặt chi tiêu của Chính phủ
Giai đoạn 1996 - 2000
Tình hình thu - chi ngân sách nhà nước đã có nhiều chuyển biến tích cực, thu khôngnhững đủ chi thường xuyên mà còn cho đầu tư phát triển, thâm hụt ngân sách nhà nướcđược khống chế ở mức thấp Tuy nhiên, giai đoạn 1996 - 2000, do tác động của khủnghoảng tài chính ở các nước Đông Nam Á nên nền kinh tế có gặp không ít khó khăn Tốc
độ tăng trưởng kinh tế giảm dần từ năm 1996 đến năm 1999 và đến năm 2000 mới tănglên chút ít, chặn đứng đà giảm sút Trong những năm này, tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước
ở mức từ 3,0% GDP năm 1996 lên 4,95% GDP năm 2000 (năm 1996: 3%, năm 1997:4,05%, năm 1998: 2,49%, năm 1999: 4,37%, năm 2000: 4,95%) Tỷ lệ bội chi bình quân 5năm là 3,87% GDP, cao hơn mức bình quân năm 1991 - 1995 (2,63%) Năm 2000 có mứcbội chi cao nhất là 4,95% GDP và năm 1998 có mức bội chi thấp nhất là 2,49% Đây làthời kỳ suy thoái và thiểu phát, nên mức bội chi ngân sách nhà nước như trên không tácđộng gây ra lạm phát mà có tác động làm cho nền kinh tế chuyển sang giai đoạn đi lên
Giai đoạn 2001 - 2007
Giai đoạn 2001 - 2007, ngân sách nhà nước cũng đã có chuyển biến đáng kể Tốc độtăng thu hằng năm bình quân là 18,8% Tốc độ tăng chi bình quân hằng năm đạt 18,5%.Bội chi ngân sách nhà nước trong
giai đoạn này về cơ bản đuợc cân đối
ở mức 5% GDP và thực hiện ở mức
4,9% - 5% GDP Nếu chỉ xét ở tỷ lệ
so với GDP, cũng thấy bội chi ngân
sách nhà nước trong 7 năm trở lại
đây tăng cao hơn các năm trước đó
khá nhiều (bình quân khoảng 4,95%
GDP) vì giai đoạn 1991 - 1995, mức
bội chi ngân sách nhà nước so với
GDP chỉ ở mức 2,63% và giai đoạn
1996 - 2000 ở mức 3,87% so với GDP
1.2 Các quỹ tài chính nhà nước
Với việc hình thành các quỹ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, Nhà nước có thêm công
cụ để điều tiết các khoản thu nhập trong xã hội, nhằm thực hiện mục tiêu công bằng, dânchủ, văn minh
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội mang tính xã hội rộng lớn, được áp dụng đối vớimọi người lao động trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế sốngười tham gia bảo hiểm xã hội không ngừng tăng lên hàng năm Nếu như năm 1995 có2,85 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội thì đến cuối năm 2003 đã là 5,24 triệu người
Hình 2.1 Bội chi ngân sách/GDP qua các năm
Trang 13Hình thành được hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam thống nhất từ trung ương xuốngđịa phương Với hệ thống tổ chức này, lần đầu tiên việc thực hiện các nhiệm vụ thu bảohiểm xã hội chi trả cho các đối tượng, xét duyệt hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội đã được tậptrung vào một đầu mối Về thực hiện chế độ, nếu tính cả 8 năm qua, bảo hiểm xã hội đãgiải quyết cho 1.055 triệu người nghỉ hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần, bình quânmỗi năm tăng 40 vạn người, bằng khoảng 1% nguồn lao động xã hội Trong khi đó, cácđối tượng được hưởng trợ cấp lại đều chưa có tài khoản cá nhân, phương thức chi trả chủyếu là chi trực tiếp.
Quỹ bảo hiểm xã hội là một quỹ tài chính độc lập được hình thành trên cơ sở đóng gópcủa người lao động, người sử dụng lao động và có sự hỗ trợ một phần của Nhà nước Vớimức đóng góp 5% của người lao động và 15% của người sử dụng lao động theo Điều lệbảo hiểm xã hội đã làm cho quỹ bảo hiểm xã hội hình thành trên thực tế và trở thành quỹtài chính độc lập với ngân sách nhà nước Như vậy, các quan hệ tài chính trong bảo hiểm
xã hội đã được thể hiện rõ ràng các nguồn thu và các khoản chi bảo hiểm xã hội đã đượccân đối một cách tổng thể Sự đóng góp bảo hiểm xã hội của các bên còn thể hiện quyềnlợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của họ trong bảo hiểm xã hội
Việc tổ chức bảo hiểm xã hội được tập trung thống nhất và phân định rõ chức năng của
cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và cơ quan quản lý sự nghiệp bảo hiểm xãhội Sự quản lý quỹ bảo hiểm xã hội tập trung thống nhất đã tạo điều kiện để các doanhnghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đối với người lao động, nâng cao trách nhiệm đảmbảo quyền lợi cho người lao động của cơ quan bảo hiểm xã hội và nâng cao hiệu quả quản
lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Việc thực hiện các chế độ chính sách bảo hiểm xã hội theo cơ chế mới dựa trên nguyêntắc có đóng bảo hiểm xã hội mới được hưởng các quyền lợi về bảo hiểm xã hội Nguyêntắc này đã làm thay đổi một cách cơ bản nhận thức của hàng triệu lao động và người sửdụng lao động trong việc thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, làm cho chính sáchbảo hiểm xã hội của Đảng và Nhà nước thực sự đi vào cuộc sống, bảo đảm sự công bằngnhững người lao động và người sử dụng lao động về nghĩa vụ bảo hiểm xã hội
1.3 Tài chính ở các đơn vị hành chính, đơn vị sự nghiệp
1.3.1 Các đơn vị hành chính, sự nghiệp
Do định mức, chế độ chi tiêu lạc hậu, thiếu cụ thể, không đồng bộ; cơ chế quản lý biênchế, quản lý kinh phí còn bất cập chưa tạo động lực khuyến khích sử dụng tiết kiệm, hiệuquả, dẫn đến tình trạng lãng phí khá phổ biến
1.3.2 Khối doanh nghiệp nhà nước
Tính đến đầu năm 2009, cả nước đã thực hiện sắp xếp được 5.556 doanh nghiệp và 8tổng công ty nhà nước, trong đó cổ phần hóa được 3.854 doanh nghiệp và bộ phận doanhnghiệp, giao 196 doanh nghiệp, bán 155 doanh nghiệp, khoán và cho thuê 30 doanhnghiệp, sáp nhập 531 doanh nghiệp, còn lại các hình thức khác là 790 doanh nghiệp
Cổ phần hóa đã trở thành biện pháp sắp xếp lại, làm thay đổi về chất của khu vựcdoanh nghiệp nhà nước nhờ vào việc hình thành các doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữucũng như tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp
Hơn nữa, chính cổ phần hóa cũng đã giúp Nhà nước thu về hàng ngàn chục tỷ đồngnhờ vào việc bán bớt phần vốn của mình tại các doanh nghiệp nhà nước, từ đó có vốn đểđầu tư cho các dự án trọng điểm cần thiết
12
Trang 14Quá trình cổ phần hóa giúp cho các doanh nghiệp nhà nước không chỉ thu lợi từ việc
mở rộng quy mô của mình (thông qua thị trường tài chính), mà còn giúp các doanh nghiệpnày thay đổi mô hình quản lý theo hướng tiếp cận với những quy trình quản lý hiện đại.Điều này giúp cho các doanh nghiệp cổ phần hóa có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp
tư nhân không chỉ trên phương diện kinh doanh mà còn trên phương diện thu hút vốn, kỹthuật và nhân lực
Tuy nhiên, nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong việc điều hành các doanh nghiệp cổphần (đặc biệt là các tổng công ty), nhằm giúp ổn định và định hướng sự phát triển của cácdoanh nghiệp này thông qua lượng cổ phần mà nhà nước nắm giữ (đại diện là Tổng công
Về chi ngân sách nhà nước
Ngân sách này đã được cơ cấu lại theo hướng giảm các khoản chi bao cấp, tăng dần tỷ
lệ chi cho đầu tư phát triển, tập trung ưu tiên chi cho những nhiệm vụ phát triển kinh tế
-xã hội quan trọng và giải quyết những vấn đề -xã hội bức xúc Công tác quản lý và phâncấp ngân sách đã có những đổi mới cơ bản, nâng cao quyền chủ động và trách nhiệm củacác đơn vị, các địa phương và các ngành sử dụng ngân sách; giảm được nhiều khâu, thủtục không cần thiết trong cấp phát ngân sách, tập trung vào công tác thanh tra, kiểm tra,giám sát tài chính Bội chi ngân sách nhà nước được xử lý theo hướng tích cực và đượckiềm chế trong giới hạn cho phép Giải quyết thành công cơ cấu lại nợ nước ngoài, tỷ lệ
nợ nước ngoài được khống chế ở mức an toàn theo thông lệ quốc tế, tạo điều kiện giữvững an ninh tài chính quốc gia Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính bước đầu đã thuđược kết quả tích cực
Về các quỹ tài chính nhà nước
Nhìn chung, chính sách bảo hiểm xã hội hiện hành đã góp phần tích cực vào việc làmlành mạnh hóa thị trường lao động ở nước ta, góp phần thực hiện bình đẳng xã hội và ổnđịnh xã hội
Bảo hiểm y tế được triển khai ở nước ta đến nay được 12 năm Mặc dù những năm đầucòn gặp rất nhiều khó khăn, song từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 58/1998/NĐ-
CP kèm theo Điều lệ bảo hiểm y tế mới, công tác quản lý và tổ chức thực hiện chính sáchbảo hiểm y tế từ trung ương đến các địa phương đã đi vào nền nếp
Trang 15Bảo hiểm y tế với bản chất nhân văn, có tính cộng đồng cao đã đáp ứng được nhu cầukhám chữa bệnh cho người dân Số người tham gia bảo hiểm y tế liên tục tăng qua cácnăm, kể cả dạng bắt buộc và tự nguyện Nếu như năm 1993 (năm đầu triển khai bảo hiểm
y tế) chỉ có 3,8 triệu người tham gia, số thu đạt 111 tỷ đồng, thì đến năm 2003, số ngườitham gia đã lên tới 16,8 triệu người, chiếm 21% dân số cả nước
Đối với các đơn vị hành chính, sự nghiệp
Trên cơ sở phân định rõ các đơn vị hành chính với đơn vị sự nghiệp, tiến hành áp dụng
cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính, Nhà nước đã ban hành Nghị định số130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sửdụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước và Nghị định số43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiệnnhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Tómlại, cơ chế tài chính đối với khu vực hành chính, sự nghiệp được đổi mới về cơ bản theohướng tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính Cơ chế tài chính trongviệc cung cấp dịch vụ công theo hướng khuyến khích các tổ chức kinh tế và nhân dân đầu
tư để thực hiện và cung cấp một số dịch vụ công, đẩy mạnh xã hội hóa một số lĩnh vực sựnghiệp, thu hút được nguồn nội lực đáng kể cho phát triển sự nghiệp
1.4.2 Hạn chế
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình thực hiện cải cách tài chính công còntiềm ẩn những yếu tố chưa ổn định Mặc dù thời gian qua, Chính phủ đã không ngừnghoàn thiện chính sách phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính công nhằm nâng cao chấtlượng hàng hoá công cho xã hội, nhưng kết quả thực tế mang lại không cao do các nguyênnhân sau:
Một là, thể chế tài chính trong kinh tế thị trường chậm hình thành, hệ thống chính sách,
pháp luật về tài chính thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán đã cản trở quá trình vận hành theo cơchế thị trường để có thể phát huy hết các tiềm năng và nguồn lực của nền kinh tế Nhữngthay đổi bất lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước phát sinh trong quá trình hoànchỉnh hệ thống pháp luật theo hướng tiến tới một mặt bằng pháp lý chung Cụ thể như:việc thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã giảm ưu đãi về thuế (từ 45% xuống còn32% và đang duy trì ở mức 25%) nhất là đối với các dự án đầu tư vào khu công nghiệp,khu chế xuất tại các trung tâm đô thị lớn và các dự án thuộc danh mục đặc biệt khuyếnkhích đầu tư Tuy nhiên, bất cập đã xảy ra đối với việc giảm ưu đãi về thuế thu nhậpdoanh nghiệp đối với các dự án đầu tư nước ngoài đặc biệt là chính sách đối với ô tô, xemáy đã làm cho nhiều nhà đầu tư lo ngại về sự thiếu nhất quán của chính sách đẩu tư nướcngoài, cản trở việc ra quyết định đầu tư của một dự án có quy mô lớn sử dụng công nghệcao
Hai là, sự ách tắc, đình trệ của nhiều dự án đầu tư vào các lĩnh vực dịch vụ do trong
chủ trương chưa rõ ràng, chưa tháo gở các vướng mắc trong công tác quy hoạch ngành Từ
đó, làm hạn chế việc thu hút đầu tư nước, gây quan ngại cho các nhà đầu tư khi ra quyếtđịnh kinh doanh vào thị trường Việt nam Thêm vào đó, do hạn chế trong nhận thức về vaitrò của tài chính và thị trường vốn trong việc mở đường, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xãhội nên tư duy trong hoạch định chính sách tài chính và phát triển thị trường tài chínhchậm đổi mới, thiếu tính đột phá trong hoạch định chính sách
Vẫn còn duy trì phương thức quản lý truyền thống hay còn gọi là quản lý ngân sáchtheo các khoản mục đầu vào vốn dĩ đã bộc lộ nhiều yếu kém, đó là: không chú trọng cácđầu ra và kết quả trong thực hiện mục tiêu chiến lược ưu tiên của quốc gia; không khuyến
14
Trang 16khích các đơn vị tiết kiệm ngân sách, đầu tư dàn trải, nguồn tài trợ cho những kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội không được quan tâm đúng mức dẫn đến sự hụt hẫng về tàichính, nhiều công trình đang khát vốn chờ kinh phí; việc soạn lập ngân sách thiếu mối liênkết chặt chẽ giữa kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn với nguồn lực trong mộtkhuôn khổ kinh tế vĩ mô được dự báo nên dẫn đến các kết quả ngân sách nghèo nàn Cònnặng về tư duy “tài chính phục vụ sản xuất”, “tài chính bảo đảm vốn cho mọi hoạt động”dẫn đến người có thẩm quyền quyết định đầu tư không gắn với thẩm quyền bỏ vốn, kếtquả là quyết định đầu tư vượt quá khả năng nguồn vốn đầu tư, làm cho vốn đầu tư dàn trải,
nợ xây dựng cơ bản lớn mà đầu tư thì kém hiệu quả
Ba là, chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa chiến lược phát triển các ngành kinh tế với
chiến lược tài chính, chiến lược thuế…dẫn đến có sự chấp vá không xuyên suốt trong cơchế hình thành chính sách; đồng thời làm cho chính sách thường xuyên thay đổi, gây mất
ổn định trong môi trường đầu tư Mặt khác, công tác phân tích dự báo chưa được coi trọngđúng mức khi nghiên cứu hoạch định chính sách dẫn đến phải bổ sung, sửa đổi tạo ra sựkhông đồng bộ, không nhất quán
Bốn là, tư tưởng bao cấp, tâm lý muốn được Nhà nước bảo hộ còn nặng nề Trong
quản lý còn nặng về tư tưởng “xin - cho”, nhiều doanh nghiệp còn trông chờ vào nguồn tíndụng ưu đãi, không muốn huy động tên thị trường vốn Chưa thúc đẩy nhanh tiến trình sắpxếp, chuyển đổi sở hữu và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các doanhnghiệp nhà nước lớn, làm hạn chế sự phát triển của thị trường chứng khoán
Năm là, chưa kiên quyết trong việc chuyển nhanh các đơn vị sự nghiệp sang thực hiện
cơ chế tự chủ tài chính Việc triển khai thực hiện cải cách hành chính song song với cảicách tài chính còn chậm, công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có năng lực trongcác lĩnh vực tài chính được chú trọng nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thựctiễn
Sáu là, hệ thống các văn bản pháp luật ban hành và sửa đổi nhiều lần gây khó khăn cho
các doanh nghiệp trong việc nắm vững hệ thống thuế mới Việc truy thu thuế còn gặp rấtnhiều khó khăn, dẫn đến thất thoát một lượng lớn thuế thu cho ngân sách Tham nhũngtrong ngành thuế còn diễn ra thường xuyên cũng như việc hạch sách các doanh nghiệp.Trình độ của cán bộ thuế trong một số lĩnh vực vẫn chưa theo kịp so với tình hình hiện tại,đặc biệt trong lĩnh vực chuyển giá, tạo kẻ hỡ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài dễ dàng chuyển lợi nhuận ra nước ngoài
Bảy là, tham nhũng trong lĩnh vực tài chính công vẫn còn phổ biến Công tác cán bộ
bảo thủ, trì trệ, bị chi phối bởi cách nhìn chủ quan, phiến diện, việc bố trí cán bộ ở nhiềucấp, nhiều ngành còn mang tính bè phái, tính răn đe trong xử lý cán bộ sai phạm chưanghiêm
Tám là, Việt Nam vẫn đang là một nước có mức thu nhập bình quân đầu người chưa
cao, tỷ lệ hộ nghèo còn lớn Chính phủ Việt Nam nhận thức được điều này và coi tăngtrưởng kinh tế cao, bền vững là điều kiện chủ yếu và nhân tố quan trọng để rút ngắnkhoảng cách về trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam so với các nước khác trong khuvực và trên thế giới, đồng thời tạo nguồn lực để tăng phúc lợi, cải thiện mức sống nhândân, giảm nghèo đói, thực hiện công bằng xã hội
2 Thị trường Tài chính
Trang 17 Thị trường nội tệ liên ngân hàng
Theo Chỉ thị 07/CT-NH1 ngày 07/10/1992 của Thống đốc ngân hàng nhà nước chophép các tổ chức tín dụng được thực hiện cho vay và đi vay lẫn nhau, thị trường nội tệ liênngân hàng chính thức hoạt động từ tháng 7/1993 Đến nay, thị trường này đã phát huy hiệuquả vai trò khai thông nguồn vốn giữa các ngân hàng thương mại thông qua nghiệp vụ vay
và cho vay bằng tiền mặt và cầm cố, chiết khấu giấy tờ có giá
Hoạt động của thị trường diễn ra theo hình thức các ngân hàng trực tiếp vay mượn lẫnnhau không thực hiện thông qua ngân hàng nhà nước Các ngân hàng thỏa thuận phươngthức giao dịch, thời hạn, lãi suất cũng như điều kiện bảo đảm tiền vay dựa trên mức độ tínnhiệm và có sự tham gia tích cực của ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liêndoanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Hiện nay, phần lớn các giao dịch liên ngân hàngđược thực hiện dưới các hình thức tín chấp, bảo đảm bằng số dư tiền gửi đối ứng tại ngânhàng cho vay
Doanh số giao dịch thị trường liên ngân hàng từ năm 2002 đến nay, theo đánh giá củacác chuyên gia ngân hàng thì doanh số giao dịch tăng khoảng 20% mỗi năm Bên cạnh đó,thời hạn của các giao dịch trong thời gian gần đây đã được áp dụng khá linh hoạt Trướcđây, thời hạn giao dịch chủ yếu từ 3 đến 6 tháng, đến nay thời hạn giao dịch có thể là quađêm, 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng
Môi trường pháp lý cho hoạt động của thị trường liên ngân hàng ngày càng được hoànthiện Từ những cơ sở pháp lý nền tảng ban đầu, Thống đốc ngân hàng nhà nước ban hànhthêm những quyết định như: Quyết định số 114/QĐ-NĐ14 ngày 21/6/1993 ban hành quychế tổ chức và hoạt động của thị trường liên ngân hàng, Quyết định số 190/QĐ-NH14ngày 06/10/1993 bổ sung, sửa đổi quy chế tổ chức và hoạt động về thị trường liên ngânhàng, Quyết định số 189/QĐ-NH14 ngày 06/10/1993 ban hành quy chế bảo lãnh vay vốntrên thị trường liên ngân hàng, Quyết định số 1310/2001/QĐ-NHNN ban hành quy chếvay vốn giữa các tổ chức tín dụng…giúp cho hoạt động thị trường liên ngân hàng được cảithiện rõ rệt, từng bước phù hợp với thông lệ của quốc tế
Hoạt động cho vay tái cấp vốn giữa ngân hàng nhà nước và ngân hàng thương mại
Bên cạnh phát triển thị trường liên ngân hàng, nghiệp vụ tái cấp vốn đã được ngânhàng nhà nước từng bước đổi mới, hoàn thiện theo hướng nâng cao hiệu quả điều tiết tiền
tệ, thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng của nền kinh tế Tái cấp vốn của ngânhàng nhà nước cho các ngân hàng thương mại chủ yếu được thực hiện dưới các hình thứcchiết khấu, tái chiết khấu, cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá
Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu ngày càng được điều hành linh hoạt, phù hợpvới mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Từ năm 2003 đến nay, lãi suất tái cấpvốn và lãi suất tái chiết khấu được điều chỉnh dần để hình thành khung lãi suất định hướnglãi suất thị trường Cùng với việc điều chỉnh lãi suất chiết khấu để trở thành lãi suất sàn,ngân hàng nhà nước đã thực hiện phân bổ hạn mức chiết khấu cho từng ngân hàng Qua
đó, nghiệp vụ chiết khấu được điều hành như một kênh thường xuyên với giá rẻ từ ngânhàng nhà nước Hoạt động tái cấp vốn của ngân hàng nhà nước đã đóng góp không nhỏtrong việc đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản của các ngân hàng thương mại, nhất làvào các thời điểm cuối năm và gần Tết nguyên đán
Cơ sở pháp lý cho các hoạt động nghiệp vụ tái cấp vốn hoàn thiện; thủ tục, quy trìnhnghiệp vụ tái cấp vốn được cải tiến theo hướng tinh giản và thuận lợi Thời gian xử lý đềnghị xin vay giảm xuống còn 2 ngày (trước đây 5 ngày)
16
Trang 18 Nghiệp vụ thị trường mở
Thị trường mở được chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7/2000 và vận hành theo quychế hoạt động thị trường mở được ban hành kèm theo Quyết định số 85/2000/QĐ-NHNNngày 09/3/2000 Qua quá trình hoạt động, ngân hàng nhà nước đã không ngừng hoàn thiện
cơ sở pháp lý để thị trường mở ngày càng phát huy vai trò, tác dụng trong sự phát triểncủa thị trường tiền tệ
Các công cụ tài chính được phép giao dịch trên nghiệp vụ thị trường mở bao gồm cácloại giấy tờ có giá phát hành bằng đồng Việt Nam như: tín phiếu ngân hàng nhà nước, tráiphiếu chính phủ (tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình trung ương,trái phiếu đầu tư do Quỹ hỗ trợ phát hành công trái) và trái phiếu chính quyền địa phương
Số thành viên tham gia tăng lên hàng năm Tần suất và khối lượng trúng thầu tăng dầnqua các năm Từ tháng 11/2004, ngân hàng nhà nước đã tăng định kỳ giao dịch lên 3phiên/tuần và đến nay mỗi ngày có từ 2 đến 3 phiên giao dịch Ngân hàng nhà nước còn
mở các phiên giao dịch đột xuất hoặc các phiên giao dịch hàng ngày vào những dịp giápTết để đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán, không để xảy ra tình trạng mất khả năng thanhtoán cũng như chậm trả đối với khách hàng Nhờ đó, hoạt động ngân hàng được diễn rabình ổn, củng cố uy tín của hệ thống ngân hàng
Số lượng các phiên giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở
Năm
Số phiên
Số phiên mua Số phiên bán
Tần suất giao dịch
Mua hẳn
Mua có kỳ hạn Bán hẳn
Bán có kỳ hạn
Thị trường ngoại hối
Quy chế hoạt động giao dịch hối đoái được ban hành nhằm tạo cơ sở pháp lý cho cáchoạt động kinh doanh hối đoái, đa dạng hoá các loại hình giao dịch trên thị trường; tạo cáccông cụ phòng ngừa rủi ro trước những biến động của tỷ giá và lãi suất trên thị trườngtrong tương lại; giúp cho các nhà xuất khẩu, nhập khẩu, các đơn vị kinh tế chủ động trongkinh doanh; thúc đẩy và phát triển các giao dịch hối đoái để góp phần hoàn thiện thịtrường hối đoái ở Việt Nam