Cải cách thể chế kinh tế 1.1 Cải cách chế độ sở hữu - Tại Đại hội XVI 2002, cải cách chế độ sở hữu tiếp tục được đẩy mạnh, cải cách theo chiều sâu với mục tiêu: + Vừa phát huy đầy đủ vai
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- -KINH TẾ THỂ CHẾ
ĐỀ TÀI CẢI CÁCH THỂ CHẾ KINH TẾ TRUNG QUỐC
(2000-2019)
GVHD: TS Nguyễn Quốc Việt
Hà Nội, 11/2019
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
MỤC LỤC
1
7
9
10
Trang 4CẢI CÁCH THỂ CHẾ KINH TẾ TRUNG QUỐC
(2000-2019)
I Cải cách thể chế kinh tế
1.1 Cải cách chế độ sở hữu
- Tại Đại hội XVI (2002), cải cách chế độ sở hữu tiếp tục được đẩy mạnh, cải cách theo chiều sâu với mục tiêu:
+ Vừa phát huy đầy đủ vai trò quyết định của kinh tế thị trường trong phân bổ nguồn lực, vừa phát huy tốt hơn vai trò của nhà nước
+ Còn về mặt chế độ kinh tế, ĐCS Trung Quốc vẫn xác định chế độ kinh tế cơ bản của nước này là: Chế độ công hữu là chủ thể, kinh tế nhiều sở hữu cùng phát triển Kinh tế công hữu và kinh tế phi công hữu đều là bộ phận hợp thành của kinh tế thị trường XHCN, đều là nền tảng quan trọng của sự phát triển kinh tế xã hội Trung Quốc; vừa phải kiên trì củng cố và phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế quốc hữu; vừa phải khuyến khích, hỗ trợ kinh tế phi công hữu phát triển
- Kết quả:
+ Đến năm 2008, sau hơn 30 năm cải cách mở cửa từ năm 1978, thành phần kinh tế phi tập thể trong nền kinh tế đã phát triển với tốc độ nhanh chóng Thành phần kinh tế nhà nước không còn đóng vai trò độc quyền ở Trung Quốc Kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhà nước và nước ngoài cùng tồn tại trong hệ thống kinh tế của Trung Quốc Bên canh đó, kinh tế hỗn hợp đan xen giữa các hình thức sở hữu phát triển mạnh
+ Cụ thể theo số liệu của NBS (Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc) cho thấy, năm 1978,
xí nghiệp quốc doanh chiếm 77,6% tổng sản lượng công nghiệp Trung Quốc Tuy nhiên, đến năm 2007, tỷ lệ này chỉ còn chiếm 29,5% Mặc dù tỷ lệ giảm, nhưng kinh tế quốc doanh vẫn là yếu tố quan trọng trong kinh tế Trung Quốc
+ Kể từ khi gia nhập WTO, khu vực knh tế tư nhân cũng dần được hình thành và phát triển khá nhanh Những năm này Trung Quốc được xem là “công xưởng của thế giới” khi luôn đi đầu trong các loại sản phẩm như tủ lạnh, máy giặt, tivi màu, máy điều hòa…Trải qua nhiều năm phấn đấu Trung Quốc đã thực sự trở thành “ông vua” của các sản phẩm công nghệ với mẫu mã đẹp và giá rẻ, phát huy được lợi thế về 1,4 tỷ dân của mình Nhận
Trang 5thức rõ vai trò quan trọng của khu vực tư nhân, Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra hàng loạt biện pháp như cắt giảm các thủ tục phê duyệt dự án đầu tư đối với các nhà đầu tư tư nhân, khuyến khích những người này tham gia vào các dự án lớn và thúc đẩy cải cách mô hình sở hữu hỗn hợp tại các doanh nghiệp nhà nước
+ Trung Quốc là một trong những quốc gia thành công nhất trên thế giới trong việc thực hiện chính sách đặc khu kinh tế:
• Với đặc khu đầu tiên là Thâm Quyến, thành lập năm 1980, và sau đó là hàng loạt các đặc khu kinh tế khác hình thành, Trung Quốc mở cửa với thế giới bên ngoài, dẫn đến sự phát triển nhảy vọt của kinh tế Trung Quốc trong những năm sau đó
• Nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, các đặc khu kinh tế đầu tiên của Trung Quốc đưa
ra nhiều ưu đãi, chẳng hạn như: nguyên liệu và các bộ phận sản phẩm được miễn thuế khi nhập khẩu và không phải thông qua thủ tục hành chính, các sản phẩm xuất khẩu cuối cùng được xuất ra khỏi đặc khu mà không phải chịu thuế xuất khẩu hay thuế kinh doanh, các doanh nghiệp còn được miễn thuế thu nhập từ ba cho đến 10 năm
• Các đặc khu này đã giúp thu hút đầu tư nước ngoài, đem về nguồn ngoại tệ vốn rất cần thiết cho Trung Quốc, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, đa dạng hóa cơ cấu kinh tế và nhất là giúp Trung Quốc tiếp nhận những công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới mà sau đó lan tỏa đến các địa phương khác trong cả nước và lan đến những công ty nội địa
1.2 Xây dựng đồng bộ khung thể chế kinh tế thị trường XHCN
- Từ HNTW 3 khoá XVI, 2003: khẳng định “nền kinh tế thị trường XHCN” Đi liền với
sự khẳng định này là việc xác định khung thể chế cơ bản của nền kinh tế thị trường XHCN ở Trung Quốc Trung Quốc đã từ bỏ mô hình kinh tế kế hoạch tập trung chuyển sang kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Với những đặc trưng: đa dạng hoá hình thức sở hữu, trong đó quốc hữu giữ vai trò chủ thể (Trung Quốc), nhiều chế độ sở hữu khác cùng phát triển
- Hình thức cơ bản của chế độ công hữu là chế độ cổ phần:
+ Người lao động tự chủ lựa chọn việc làm, thị trường điều tiết việc làm và chính phủ thúc đẩy việc làm
+ Phân phối theo lao động là chủ thể; nhiều hình thức phân phối cùng tồn tại, chú trọng giải quyết vấn đề chênh lệch thu nhập
Trang 6+ Nhà nước kiểm soát vĩ mô, chức năng quản lý kinh tế của chính phủ chủ yếu là phục vụ chủ thể thị trường và sáng tạo môi trường phát triển tốt đẹp
- Đa dạng hoá hình thức phân phối, xem trọng phân phối theo lao động, đảm bảo quyền kinh doanh bình đẳng cho mọi loại hình doanh nghiệp không phân biệt đối xử; giá cả, tỷ giá, lãi suất do thị trường xác định có sự điều tiết của Nhà nước; phát triển đồng bộ các loại thị trường từ hàng hoá đến dịch vụ, thị trường chứng khoán; thực hiện các chương trình phúc lợi xã hội rộng lớn, xoá đói giảm nghèo, giữ gìn môi trường,
- Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo hướng xây dựng hệ thống luật pháp ngày càng tương đồng với hệ thống luật pháp hiện đại, đặc biệt là phù hợp với những cam kết quốc tế, giảm dần sự can thiệp vi mô, sự can thiệp vào hoạt dộng kinh doanh của các doanh nghiệp, gia tăng quản lý vĩ mô, gia tăng sự phân quyển cho các địa phương: thực hiện chế độ dân chủ nói chung, đặc biệt là ở các cơ sở theo hướng công khai, minh bạch, gia tăng sự giám sát của các cấp, của công luận, của Quốc hội, của Hội đồng nhân dân các cấp, của các tổ chức xã hội, tinh giản bộ máy và biên chế, V.V
- Thay đổi sự can thiệp của Chính Phủ vào hoạt động các doanh nghiệp Từ 1993 đến nay Trung Quốc bước vào xây dựng “thể chế kinh tế thị trường XHCN”, Nhà nước dần rút lui
và không còn can thiệp sâu vào hoạt động của các doanh nghiệp, để các doanh nghiệp tự hoạt động và để thị trường tự điều tiết thông qua các hình thức tư nhân hóa, công ty hóa, chứng khoán hóa, còn Nhà nước sẽ quản lý chung và sẽ can thiệp, hỗ trợ khi cần thiết
1.3 Cải cách thể chế kinh tế ở nông thôn
Trung Quốc là một quốc gia đông dân nhất thế giới (gần 1,422 tỷ người năm 2019), với 40,85% dân số sống ở khu vực nông thôni Vấn đề phát triển nông nghiệp, tăng thu nhập
và cải thiện đời sống người dân nông thôn ảnh hưởng to lớn đến nền kinh tế Trung Chính phủ Trung Quốc luôn coi đây là một vấn đề quan trọng, có ý nghĩa chiến lược Tiến trình cải cách chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn đã được chính phủ Trung Quốc thực hiện trong một quá trình lâu dài
- Chính sách cải cách chế độ hộ khẩu
+ Chính sách hộ khẩu của Trung Quốc được thực thi từ năm 1958 với mục tiêu kiểm soát quá trình di dân từ nông thôn lên thành thị Vì chính phủ Trung Quốc ưu tiên phát triển công nghiệp ở các thành phố lớn, hệ thống phúc lợi xã hội của nước này cũng dành ưu tiên cho dân thành thị Chính sách kiểm soát cư trú theo mô hình hộ khẩu vô hình chung
đã tạo ra hai tầng lớp: dân thành thị và dân nông thôn
+ Năm 2001 chính phủ Trung Quốc thực hiện cải cách chế độ hộ khẩu Nhân dân được đổi từ hộ khẩu nông nghiệp sang hộ khẩu phi nông nghiệp Vì chính phủ muốn hạn chế
Trang 7dòng người nhập cư đến các thành phố lơn và khuyến khích lực lượng lao động đến với những khu vực kém phát triển hơn nên tại các đô thị lớn quá trình cấp “hộ khẩu thành thị” diễn ra khó khăn hơn với việc người nhập cư sẽ phải từ bỏ một số quyền lợi như quyền sử dụng đất ở quê Đó cũng là một lý do khiến những người di cư không muốn từ bỏ trạng thái "dân nông thôn" trong hộ khẩu của mình Do đó việc xoá bỏ hộ khẩu không đạt hiểu quả mà phải giải quyết một cách toàn diện bằng cách xoá bỏ sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn
- Xóa bỏ thuế nông nghiệp
+ Từ những năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ 10 (2000 – 2005), Trung Quốc bắt đầu chú trọng giảm gánh nặng của người dân nông thôn bằng cách giảm và xóa thuế trong nông nghiệp Lần lượt nhiều loại phí ngoài thuế và các loại thuế trong nông nghiệp được miễn, giảm
+ Năm 2004, cải cách thuế nông nghiệp đi vào chiều sâu Nhiều loại thuế được xóa bỏ như thuế chăn nuôi, thuế đặc sản nông nghiệp (trừ thuốc lá), thuế nông nghiệp ở một số vùng Chính phủ thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực
+ Năm 2005, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa X đã quyết định xóa bỏ hoàn toàn thuế nông nghiệp, thuế đặc sản và miễn thu thuế chăn nuôi
+ Kết quả của quá trình này là năm 2006, nông dân Trung Quốc giảm chi hơn 100 tỷ Nhân Dân tệ (NDT), trung bình 120 NDT/người Từ năm 2001 đến 2004, Trung Quốc đã miễn giảm 23,4 tỷ NDT thuế nông nghiệp
- Trợ cấp trực tiếp cho nông dân
+ Đồng thời với việc miễn trừ thuế nông nghiệp, Trung Quốc thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân Từ khi gia nhập WTO (2001) đến nay, Trung Quốc lần lượt đưa ra hàng loạt chính sách trợ cấp nông nghiệp như mở rộng thị trường mua bán lương thực, cho phép điều chỉnh giá thu mua lương thực theo sự điều tiết của thị trường, điều chỉnh trợ cấp Chính phủ cho nông dân
+ Trung Quốc chuyển từ hình thức hỗ trợ gián tiếp cho nông dân thông qua khâu lưu thông, bán sản phẩm trên thị trường sang hình thức hỗ trợ trực tiếp cho nông dân bằng cách bù phần chênh lệch khi giá bán trên thị trường thấp hơn so với mức giá bảo hộ của nhà nước
Trang 8+ Trong bối cảnh sản lượng lương thực giảm liên tiếp 5 năm (2004- 2009) vì biến đổi khí hậu, Chính phủ Trung Quốc có thêm nhiều chính sách hỗ trợ trực tiếp nông dân như hỗ trợ giống, cho vay mua máy móc thiết bị nông nghiệp
- Chính sách xây dựng nông thôn xã hội chủ nghĩa mới
+ Hội nghị Trung ương Khóa 17 (2007) của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thông qua chiến lược “Đẩy mạnh phát triển cải cách nông thôn”: “Lấy xây dựng nông thôn mới Chủ nghĩa Xã hội làm nhiệm vụ chiến lược” Quyết định này nêu rõ nhiệm vụ cải cách nông thôn toàn diện sâu sắc trong thời kỳ mới, lấy hạt nhân là cải cách chế độ đất đai nông thôn + Việc xây dựng nông thôn XHCN mới có mục tiêu tăng sản lượng lương thực và tăng thu nhập của nông dân, giảm bớt khoảng cách giữa đô thị - nông thôn và tạo một sự phát triển bền vững
+ Những chính sách tích cực của Trung Quốc đã góp phần đưa sản xuất nông nghiệp tăng trưởng liên tục, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, cung cấp đủ lương thực cho hơn 1,3 tỷ dân Kinh tế nông thôn Trung Quốc phát triển nhanh, mức thu nhập của nông thôn tăng mạnh Chất lượng cuộc sống ở nông thôn ngày càng được cải thiện rõ rệt
Trong bối cảnh phát triển hiện nay, Chính phủ Trung Quốc tiếp tục điều chỉnh chiến lược phát triển, ban hành các chính sách mới để thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn
1.4 Cải cách doanh nghiệp nhà nước
- Giai đoạn 1998 – 2002: Tiếp tục đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước
+ Nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước : Kinh tế Nhà nước chiếm vị trí chi phối, điều khiển, dẫn dắt, thúc đẩy sự phát triển của toàn nền kinh tế
+ Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ
+ Tăng cường cải thiện quản lý doanh nghiệp
- Giai đoạn 2003 – 2016: Giai đoạn đẩy mạnh cải cách mạnh mẽ doanh nghiệp nhà nước, xây dựng các tập đoàn kinh tế lớn, thực thi cải cách quản lý tài sản nhà nước
+ Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc XVI (11/2002) khẳng định tiếp tục cải cách mạnh
mẽ doanh nghiệp nhà nước Năm 2003, Trung Quốc đã soạn thảo 2 luật “Luật quản lý tài sản nhà nước” và “Luật phá sản” mới, thay thế luật cũ năm 1986
+ Hội nghị Trung ương 3 khóa XVI (2003) đã nêu rõ: “Xí nghiệp cổ phần là một trong những hình thức sở hữu xã hội chủ yếu đối với phương tiện sản xuất” Trung Quốc đã đẩy
Trang 9mạnh cổ phần hóa, cho phép sáp nhập, phá sản các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ Bởi vậy, số doanh nghiệp nhà nước đã có xu hướng giảm dần, đảm bảo tính hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh
+ Về vấn đề “cải cách quản lý tài sản nhà nước”, Trung Quốc đã thực hiện dựa trên nguyên tắc: “3 kết hợp”: quản lý tài sản, quản lý con người, quản lý công việc Và dựa vào “3 thống nhất”: về quyền lợi, về nghĩa vụ, về trách nhiệm Đồng thời tiến hành “3 tách bạch”: chính phủ với các doanh nghiệp, chính phủ với tài sản, chính phủ với công việc hành chính
+ Năm 2003, Quốc vụ viện Trung Quốc đã lập Uỷ ban quản lý và giám sát tài sản nhà nước các doanh nghiệp nhà nước (SASAC) Năm 2003, Trung Quốc có 196 tập đoàn, tổng công ty nhà nước do SASAC quản lý Sau quá trình cải cách đến nay còn 119 tập đoàn doanh nghiệp nhà nước (không bao gồm các ngân hàng thương mại nhà nước) do
Ủy ban trực tiếp quản lý Sau 8 năm hoạt động (2003 – 2011), Ủy ban đã đưa ra nhiều cải cách trong hoạt động quản lý, giám sát tài sản doanh nghiệp nhà nước, đem lại nhiều thành tựu vượt bậc
+ Năm 2011, Trung Quốc có 38 doanh nghiệp nhà nước nằm trong 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới Trung Quốc vẫn tiếp tục sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước
+ Trong cuộc tọa đàm về cải cách doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc ngày 4/7/2016 tại Bắc Kinh, chủ tịch nước Trung Quốc - Tập Cận Bình đã nhấn mạnh: “Doanh nghiệp nhà nước là lực lượng quan trọng tăng cường thực lực tổng hợp quốc gia, đảm bảo lợi ích chung của nhân dân, cần phát triển mạnh mẽ Và Trung Quốc đã xác nhận, trong thời gian tới sẽ thúc đẩy điều chỉnh kết cấu, phát triển sáng tạo, làm cho các doanh nghiệp
1.5 Cải cách thể chế tài chính
- Về ngân sách các cấp, Chính phủ vẫn đảm bảo chi các khoản mang tính toàn quốc như
an ninh quốc gia, ngoại giao, bảo hiểm, y tế, văn hóa, giáo dục, Trung Quốc đang tiếp tục có những nỗ lực tăng ngân sách quốc phòng và một phần của chính sách này là cải thiện sức mạnh các lực lượng hạt nhân và các lực lượng hoạt động ở nước ngoài
- Chi tiêu ngân sách ở tất cả các cấp cần được thực hiện theo nguyên tắc siêng năng và tiết kiệm, và kiểm soát chặt chẽ chi phí hoạt động của các bộ phận, đơn vị khác nhau và chi tiêu vốn như các tòa nhà Chính quyền các cấp, sở, ngành và đơn vị nên tiến hành đánh giá hiệu quả chi tiêu ngân sách
- Chi ngân sách chung được phân loại theo chức năng của chúng, bao gồm chi tiêu chung cho dịch vụ công, đối ngoại, an ninh công cộng, chi tiêu quốc phòng, chi tiêu bảo vệ môi
Trang 10trường, giáo dục, công nghệ, văn hóa, y tế, thể thao, an sinh xã hội và chi tiêu việc làm và các chi tiêu khác
- Cải cách thuế giá trị gia tăng đang tiến tới một mục tiêu sâu rộng: các thử nghiệm cải cách VAT tại những địa phương Trung Quốc được triển khai từ đầu năm 2012 và mở rộng
ra toàn quốc từ 5/2016 Năm 2018, Trung Quốc cắt giảm VAT với nhóm doanh nghiệp chịu thuế 17% còn 16% và nhóm chịu thuế 11% còn 10%, tập trung vào việc giảm thuế suất trong ngành sản xuất và vận tải
1.6 Cải cách thể chế tiền tệ
- Cải cách hệ thống ngân hàng:
Hệ thống Ngân hàng được Chính phủ TQ tiến hành cải cách trên hai phương diện: cải cách đối với từng ngân hàng và cải thiện cơ sở hạ tầng của toàn hệ thống
+ Đối với từng ngân hàng, đặc biệt là ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước, Chính phủ Trung Quốc tập trung vào:
• Tăng cường năng lực tài chính, thông qua Bộ Tài Chính bơm vốn cho các ngân hàng này, sau đó khuyến khích các ngân hàng chủ động tăng vốn thông qua việc tạo điều kiện cho các ngân hàng được niêm yết trên thị trường chứng khoán và huy động vốn
từ các tổ chức, ngân hàng nước ngoài dưới hình thức mua cổ phần hoặc thực hiện liên minh liên kết
• Xử lý nợ xấu: tất cả các khoản nợ xấu từ ngân hàng sẽ được bán cho một hoặc một vài công ty quản lý tài sản mới được thiết lập (AMC) với một tỷ lệ chiết khấu nhất định Khoản tiền để trả cho các tài sản đó sẽ được quy đổi thành giá trị phần vốn góp của công ty quản lí tài sản đầu tư vào ngân hàng
• Tái cơ cấu hoạt động quản lí
+ Để hoàn thiện cơ sở hạ tầng của hệ thống, TQ tập trung vào:
• Tư nhân hóa và giảm quy mô
• Ban hành, đổi mới các quy định điều tiết hoạt động ngân hàng và tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát
• Chấp nhận sự hiện diện của các ngân hàng nước ngoài Xuyên suốt quá trình tái cơ cấu ngân hàng TQ, các ngân hàng nước ngoài thực sự đã được Chính phủ nước này xem trọng Trong một số trường hợp đặc biệt, sự tham gia của các đối tác nước ngoài có thể xem là đối tác “kép” Điều đó có nghĩa là họ vừa cung cấp vốn vừa giúp cho các ngân hàng yếu kém xác định và thực hiện những thay đổi trong hoạt động quản lý của mình