Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của giáo dục đối với sự hưng thịnh của đất nước, với nhiệm vụ cực kỳ trọng đại là mở mang dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, là động lự
Trang 1Tưtuởng HCM
ĐỀ: Phântíchtưtưởnghồchí minh
vềvănhóagiáodụcvàsựvậndụngtưtưởngdótrongviệcxâydựngnềngiáodục ở
việtnamhiện nay ( víêttay 10 – 15 trang)
Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người anh hung dân tộc ,một danh nhân văn hóa thế giới, luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục Người luônquan niệm: “Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích tram năm trồng người”.Luôn nhận thức sâu sắc vai trò của giáo dục trong sự nghiệp dựng nước và giữnước, Hồ Chí Minh để lại cho dân tộc ta một tư tưởng lớn, những quan điểm mớivề giáo dục
Để tìm hiểu kĩ hơn về điều đó, em chon đề tài “phân tích tư tưởngHồ Chí Minh về văn hóa giáo dục và sự vận dụng tư tưởng đó trong viêc xâydựng nền giáo dục Việt Nam hiện nay” Bài làm còn nhiều sai sót, mong quýthầy cô góp ý để hoàn thiên hơn Em xin chân thành cảm ơn
Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng là nhân tố chìa khóa, là động
lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết
các quốc gia khác trên thế giới, các chính phủ đều coi giáo dục là quốc sách
hàng đầu Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm việc mở mang dân trí, chăm lo cho sự nghiệp giáo dục Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của giáo dục đối với sự hưng thịnh của đất nước, với nhiệm vụ cực kỳ trọng đại là
mở mang dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, là động lực của sự
phát triển, đưa nước nhà tiến tới giàu mạnh, dân chủ, văn minh, sánh vai với
các cường quốc năm châu Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đã được thể
hiện qua nhiều bài nói, bài viết, và đặc biệt là những việc làm, tấm gương học tập suốt đời của Hồ Chí Minh Tư tưởng về giáo dục của Người là sự tiếp nối
và nâng cao những giá trị tinh túy của truyền thống Việt Nam và thế giới Đây cũng là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng giáo dục của chủ
Trang 2nghĩa Mác – Lê Nin vào trong điều kiện cụ thể của nước ta Tư tưởng về giáo dục của Hồ Chí Minh còn góp phần to lớn vào việc nâng cao dân trí, bồi
dưỡng đào tạo cho Cách Mạng Việt Nam những con người đủ đức, đủ tài để
lãnh đạo cách mạng Việt Nam Trong thời đại ngày nay, tư tưởng và những
chủ trương chính sách đối với giáo dục của Hồ Chí Minh đã góp phần quyết
định tới thắng lợi sự nghiệp giáo dục của nước ta
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục/ GS.TS Phan Ngọc Liên (biên soạn): Hồ Chí Minh về giáo dục, NXB Từ điển bách khoa, 2007, tr13-40
Trong quá trình đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh rất chú trọng đến giáo dục- tố cáo giáo dục thực dân và xây dựng một nền giáo dục mới, cách mạng
Điều này được thể hiện trong tư tưởng của Người về giáo dục – một bộ phận hữu
cơ của tư tưởng HCM Việc học tập, nghên cứu, vận dụng tư tưởng giáo dục HCM
có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng giáo dục dân chủ nhân dân tiến lên giáo dục xã hội chủ nghĩa Vì vậy, việc tìm hiểu sự hình thành, phát triển và nội dung tư tưởng giáo dục HCM sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn tình hình giáo dục cách mạng Việt Nam và tạo cơ sở nhận thức, tư tưởng cho đổi mới giáo dục một cách hiệu quả
Chương 1: Nguồn gốc, quá trình hình thành và tư tưởng cơ bản của chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa giáo dục
Khái niệm: Tư tưởng giáo dục HCM là một hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của giáo dục Việt Nam, từ giáo dục dân chủ nhân dân tiến lên giáo dục xã hội chủ nghĩa
1 Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa giáo dục
Nguồn gốc tư tưởng HCM về văn hóa giáo dục theo em xuất phát từ những vấn đề chủ yếu sau: truyền thống văn hóa Việt Nam, tinh hoa văn hóa nhân loại và chủ nghĩa Mác – Leenin ; truyền thống hiếu học của quê hương gia đình; phẩm chất, ý chí tự lực của HCM
Trang 3Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ những truyền thống văn hóa tốt đẹp củadân tộc Đó là truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo,… đã tồn tại ngàn đời naytrong đời sống nhân dân ta Không chỉ vậy, người còn ảnh hưởng sâu sắc từ nhữngquan điểm mới mẻ của giáo dục phương Tây như tinh thần tư học là chính, là quanniện
“học đi đôi với hành”…Nguồi gốc quan trọng nhất của Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa giáo dục vẫnlà chủ nghĩa Mác- Lênin và những tấm gương sáng của các ông Mác và Ăngghenđã tuyên bố trong “Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản” là: “Sự phát triển tự do của mỗingười là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” Tại diễn đàn Đạihội giáo dục toàn Nga lần thứ nhất( 28-8-1918), Lênin đã khẳng định vai trò to lớncủa công tác giáo dục, coi đó là một điều kiện đảm bảo thắng lợi trong sự nghiệpxây dựng chủ nghĩa xã hội Khẩu hiệu nổi tiếng của Lênin: “Học, học nữa, họcmãi” đã trở thành triết lý sống của hàng triệu, hàng triệu con người trong các thế
hệ Uỷ ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI đã đưa giáo dục suốt đời thành
mộtnguyên lý của nền giáo dục mở đầu thiên niên kỷ mới.Ngoài ra, trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Bác đã học tập được rấtnhiều, trong nhân dân, trong lao động, tự học là chủ yếu Bác nhận ra phương pháphọc mới gắn liền với thực tiễn khác xa với cách học truyền thống.Đúc kết giá trị truyền thống và hiện đại, tiếp thu tư tưởng Mác- Lênin và vậndụng trong trải nghiệm của mình, Hồ Chí Minh có những qun niệm mới mẻ về vănhóa giáo dục, phù hợp với “nội tạng” của người Việt Nam ta
2 Quá trình hình thành tư tưởng HCM về văn hóa giáo dục
Quá trình này gắn liền với các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỉ 20 đến nay Tuy nhiên, việc phân chia giai đoạn trong quá trình hình thành
và phát triển tư tưởng giáo dục HCM còn căn cứ vào các thời điểm, sự kiện chủ yếu phản ánh sự chuyển biến lớn, rõ rệt tư tưởng của Người về giáo dục
Theo đó, chúng ta có thể tìm hiểu mấy thời kì chủ yếu trong sự hình thành và phát triển của tư tưởng giáo dục HCM
Thời kỳ 1890- 1910: Thời kỳ được giáo dục trong gia đình,ở nhà trường (Nho học, Tây học), làm thầy giáo và nảy sinh ý tưởng tìm hiểu nội dung một số vấn đề đang học tập, gắn với thực tế cuộc sống, trong học tập và giảng dạy
Trang 4Thời kì 1911-1930: Hình thành tư tưởng giáo dục theo chủ nghĩa Mác – Lênin HCM từ nhận thúc thực tiễn đã tiếp thu quan điểm giáo dục Mác xít – Lenin nít, làm cơ sở quan trọng để xây dựng quan điểm của Đảng trong việc xây dựng một nền giáo dục cho toàn dân, theo đường lối của giai cấp công nhân, phục vụ quyền lợi chủ yếu cho công nông Từ đây, tư tưởng giáo dục HCM đã trở thành đường lối giáo dục của ĐCS VN và chỉ đạo trong suốt quá trình cách mạng VN
Thời kì 1930-1941: Thời kì phát triển phong phú tư tưởng giáo dục HCM
Có thể nói, việc học tập và nghiên cứu trong thời gian này làm phong phú nhận thức của Người về những quan điểm lí luận Mác xít – Lenin nít, về nhiều vấn đề nội dung và phương pháp của khoa học cơ bản và khoa học giáo dục và tư tưởng giáo dục của Người càng thêm sâu sắc
Thời kì 1941-1945; Thời kì khẳng định và thắng lợi của tư tưởng giáo dục HCM
Tư tưởng giáo dục HCM thời kì này tập trung vào những điểm cơ bán sau đây:
- Chống giáo dục thực dân nô dịch để đòi quyền được học tập của mọi tầng lớp nhân dân
- Vạch ra một đường lối, chủ trương, chính sách để thực hiện giáo dục toàn dân
- Xác định những nguyên tắc “dân tộc, đại chúng, khoa học” cho văn hóa giáo dục Thời kì 1945-1969: Thời kì thắng lợi của tư tưởng giáo dục HCM trong thực tiễn cách mạng của đất nước
Tư tưởng giáo dục HCM từ sau cách mạng tháng tám 1945 đã trở thành hiện thực trên đất nước ta và được tiếp thu sáng tạo và phát triển ngày một phong phú hơn
3 Tư tưởng cơ bản của chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa giáo dục
Nếu nội dung tư tưởng HCM là một hệ thống quan điểm lý luận về cách mạng VIệt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, chính trị, quân sự, văn hóa giáo dục, đạo đức…thì tư tưởng giáo dục HCM thể hiện sự quan tâm dặc biệt, coi trọng con người, khẳng định mục tiêu đấu tranh vì lợi ích của con người và cho con người Thương yêu, tôn trọng, tin tưởng con người, vì con người là chủ nhân của lịch sử, sáng tạo ra mọi giá trị tinh thần và vật chất Để phát hay sức mạnh tiềm
Trang 5ẩn của con người, cần phải giáo dục, bồi dưỡng, phát triển mọi tài năng của con người
Thực hiện mục tiêu như vậy, tư tưởng HCM về giáo dục đề cập đến nhiều vấn đề
mà ở đây chỉ nhấn mạnh một số nội dung cơ bản sau:
- Tthcm về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của giáo dục
- Tthcm về giáo dục cho mọi ngừoi
- Những quan điểm tthcm về lý luận giáo dục
- Tthcm về mục tiêu, nội dung giáo dục
- Tthcm về phương pháp giáo dục
- Tthcm về người dạy, người học, về tổ chức và quản lí giáo dục, về dân chủ trong nhà trường
Những vấn đề này tạo thành một hệ thống lý luận về ông tác giáo dục, về khoa học giáo dục, có quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện nội dung cơ bản của tư tưởng HCM về giáo dục, xuất phát từ những vấn đề cốt lõi trong tư tưởng cúa Người
Chương 2: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng nền giáo dục ở Việt Nam hiện nay
I Bối cảnh thế giới và trong nước
TTHCM về giáo dục thanh niên/ Đoàn Nam Đàn//Nxb Chính trị quốc gia/tr 132
1 Bối cảnh thế giới
Chúng ta đang chứng kiến cuộc cách mạng khoa học và công nghệ diễn ra với tốc
độ nhanh và quy mô ngày càng rộng lón trên phạm vi toàn thế giới Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, cuộ cách mạng khoa họ kĩ thuật bắt đầu được triển khai mạnh mẽ với những xu hướng khác xa cuộc cách mạng công nghiệp trước đây Nếu như trong thời đại cách mạng công nghiệp, thafnhtuju của khoa học kĩ thuật
đã cho phép nối dài thêm cánh tay con người trong sản xuất, thì trong điều kiện hiện nay, khoa học kỹ thuật đã chuyển trọng tâm sang hướng thay thế nhiều chức năng của con người, bao gồm không chỉ các chức năng cơ học, mà còn cả chức năng thuộc về bộ não như kiểm tra, quản lý, xử lí thông tin, quyết định, v.v với
Trang 6quá trình sản xuất, tạo thành một chu trình khép kín từ nghiên cứu – triển khai – sản xuất thử đến sản xuất – tiêu thụ - bảo hành, tạo thành một quá trình thóng nhất, biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp Trên thực tế ngày càng có nhiều lĩnh vực khoa học kĩ thuật mới xuất hiện và nhanh chóng được ứng dụng trong sản xuất Các lĩnh vực khoa học – công nghệ mũi nhọn như: ccoong nghệ vi sinh, điện
tử, chất dẻo, vật liệu mới,v.v đang có xu hướng đưa nền kinh tế thế giới phát triển theo những hướng mới
Cuộc cách mạng đó, trong khi thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở mỗi nước cũng như trên thế giới, quốc tế hóa nền sản xuất và sự phân công lao động xã hội, sẽ góp phần tổ chức lại đòei sống vật chất và tinh thần của nhân loại Đồng thời nó cũng đang phá vỡ nhiều quan niệm cũ, phương pháp tư duy cũ, thể chế cũ và quan hệ cũ trên tất cả cá bình diện: chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội,… ở phạm vi quốc gia cũng như quốc tế Mặt khác, nó đang và sẽ tạo ra cho nhân loại những hệ thống sản xuất, giao lưu, trao đổi cho đến cách thức tiêu dùng
và lối sống hoàn toàn mới, làm thay đổi căn bản không chỉ các xã hội công nghiệp
mà cả các xã hội nông nghiệp truyền thống
Trong hệ thống các công nghệ hiện đại, thì công nghệ thông tin, đặc biệt là công nghệ tin học, có vai trò then chốt trong việc mở ra một thời đại kinh tế mới, thời đạicách mạng công nghệ thông tin, lực lượng sản xuất, cơ cấu kinh tế sẽ có sự thay đổi căn bản Dựa trên những thành tựu công nghệ tin học, công nghệ người máy – một nhân tố quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, sẽ tạo ra những chuyển biến cách mạng trong nền sản xuất vật chất Sản xuất công nghiệp sẽ trải qua những biến đổi sâu sắc nhờ hệ thống tự động hóa quá trình chế tạo sử dụng người máy thay thế dần chức năng trí tuệ, cảm giác và chế lực của con người
Do tác động của cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là cách mạng tin học,
cơ cấu các nền kinh tế chuyển dịch theo chiều hướng gia tăng của các ngành có hàm lượng trí tuệ cao và mở rộng khu vực dịch vụ hiện đại Ở các nước có trình độ phát triển cao như Mỹ, hơn 2/3 lực lượng lao dộng làm việc thông tin, sáng tạo và dịch vụ trí tuệ Lao động trực tiếp trong khu vực nông nghiệp ở các nước tư bản phát triển chỉ còn dưới 10% ( ở Mỹ là 2,6 %, ở Pháp là 6%): xu hướng sử dụng nhân lực trong nền kinh tế cũng thay đổi Trí tuệ là nhân tố ngày càng quan trọng
để tạo ra năng suất lao động mới, là nhân tố quyết định tạo ra tiềm lực cạnh tranh Việc có được những nhà chuyên môn, những nhà quản lý có trình độ nghề nghiệp
Trang 7cao là nhân tố quyết định chứ không phải là nhân công rẻ, trình độ tay nghề thấp như trước đây
Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, xu thế toàn cầu hóa kinh tế lôi kéo các nước và bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức
ép cạnh tranh và tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế Quan hệ song
phương, đa phương giữa các quốc gia ngày càng sâu rộng cả trong kinh tế, văn hóa, xã hội Các công ti xuyên quốc gia tiếp tục cấu trúc lại, hình thành những tập đoàn khổng lồ chi phối nhiều lĩnh vực kinh tế
Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình vừa hợp tác để phát triển, vừa đấu tranh rất phức tạp, đặc biệt là cuộc đấu tranh của các nước đang phát triển nhằm bảo vệ lợi ích của mình, vì một trật tự kinh tế quốc tế công bằng, chống lại những áp đặt phi lý của các cường quốc kinh tế, các công ti xuyên quốc gia Đối với nước ta, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế,đòi hỏi chúng ta phải
ra sức nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng độc lập tự chủ của nền kinh
tế, tham gia có hiệu quả vào phân công lao động quốc tế
Trước bối cảnh đó, mỗi con người tham gia vào quá trình phân công lao động phải
có kiến thức mới kỹ năng mới và phẩm chất mới Do đó, đòi hỏi tất cả các nước, nhất là các nước chậm phát triển và đang phát triển phải có cuộc cách mạng mới trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, phải có chiến lược về con người
Trong đời sống xã hội nhân loại luôn luôn thừa nhận và khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục Chính phủ các quốc gia đều có sự quan tâm đối với giáo dục Trong vài thập niên vừa qua, do cuộc cash mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, làm cho trào lưu phát triển kinh tế - xã hội diễn ra ở hầu hết các nước, tạo nên sự cạnh tranh quốc tế gay gắt đang và càng ngày đòi hỏi chính phủ của nhiều quốc gia quan tâm nhiều hơn tới đầu tư cho phát triển giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực
Theo UNDP thì tăng trưởng và phát triển nhân lực có 5 nguồn năng lượng: giáo dục, sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm, tự do chính trị và kinh tế năm nguồn nhân lực này liên kết và phụ thuộc lẫn nhau, nhưng giáo dục là yếu tố cơ bản đối với các yếu tố khác, là yếu tố thiết yếu để cải thiện sức khỏe và dinh
dưỡng, để duy trì một môi trường có chất lượng cao, để mở rộng và cải thiện nguồn lao động và hỗ trợ tính trách nhiệm chính trị, kinh tế Chính vì thế mà hầu
Trang 8như các nước đều nhấn mạnh chính sách giáo dục là chính sách ưu tiên quốc gia, trong khi thiết lập các kế hoạch để tạo gia tốc cho sự phát triển
Phân tích vị trí của giáo dục và đào tạo, nhiều nhà lãnh đạo các nước cho rằng: giáo dục – đào tạo là nhân tố chủ yếu của sự hùng mạnh và phồn vinh của đất nước Một đất nước không biết coi trọng trí thức thì ắt sẽ đi tới diệt vong Còn chúng ta muốn hiện đại hóa thì mấu chốt là phải đưa khoa học – kỹ thuật tiến lên Muốn phát triển khoa học – kỹ thuật thì không thể không quan tâm tới giáo dục, chỉ nói suông thì không thể nào thực hiện được hiện đại hóa Cần phải có trí thức,
có nhân tài
Ngày nay, hầu hết các nước đều hướng sự nghiệp phát triển và mở rộng giáo dục nhằm bảo đảm yêu cầu cơ bản là bình đẳng, chất lượng và hiệu quả cao Nghĩa là giáo dục phải đảm bảo quyền lợi học tập cho đông đảo mọi người trên cơ sở bình đẳng, không phân biệt đẳng cấp, giàu nghèo, nam nữ, dân tộc, tôn giáo,… Bình đrng nghĩa là phải tạo nên số lượng lớn người được giáo dục và đào tạo ở mọi cấp, phát huy được năng lực sáng tạo của con người, tạo tiềm năng phấn đấu vươn lên của từng cá nhân, từng cộng đồng, từng địa phương, cũng như toàn đất nước Và cũng nhờ đó sẽ tạo ra những điều kiện cơ bản để xây dựng sự bình đẳng về chính trị, xã hội và kinh tế giữa con người với con người, đó chính là mục tiêu của tất cả các quốc gia hiện đang phấn đấu
Trong quá trình giáo dục, song song với sự gia tăng nhanh chóng về số lượng, hầu hết các nước đang phát triển còn đẩy mạnh đa dạng hóa về loại hình và cơ sở giáo dục, bằng cách thành lập nhiều loại hình trường lớp và nhiều loại hình giáo dục Nhờ đó mà các nước ngày càng đáp ứng được tốt hơn nhu cầu của xã hội và thị trường nhân lực; cải thiện tốt hơn sự công bằng trong nhập học và những cơ hội trong giáo dục của cộng đồng Hố sâu ngăn cách bởi sự không bình đẳng giữa giới tính, giữa các vùng dân cư, giữa các tầng lớp xã hội và các nhóm dân tộc khác nhau của mỗi quốc gia trong giáo dục ngày càng được bồi lấp dần
Tuy có nhiều bước tiến vượt bậc, song sau ba thập niên phát triển nhanh chóng về
số lượng, giao dục của các nước trên thế giới ngày càng bộc lộ dấu hiệu khủng hoảng, chủ yếu gây ra bởi sự giảm sút về chất lượng giáo dục Nhiều hệ thống giáo dục của các nước phải đương đầu với tốc dộ tăng trưởng về số lượng người học không kiểm soát nổi, trong khi đó các nguồn tài chính hỗ trợ cho nó ngày càng
Trang 9giảm sút Kết quả là các trường học phải hoạt động trong điều kiện cơ sở vật chất quá tải và xuống cấp, thiếu thầy giáo giỏi và có trình độ cao, thư viện thiếu sách báo, tài liệu và giáo trình học tập, khong đủ thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập
Từ những yếu tố trên làm cho chất lượng giáo dục bị suy giảm
Chính vì vậy, trong vòng ba thập niên gần đây, hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia phát triển đã chú ý đầu tư đáng kể để xây dựng hệ thống giáo dục bằng nhiều con đường thích hợp Theo thống kê của UNESCOtừ năm 1965 đến 990, tỷ
lệ thanh niên tham gia học tại các trường lớp ngày càng tăng cao Cụ thể số thanh niên tham gia học các trường đại học tăng nhanh ở hầu hết các khu vực trên thế giới: từ 1% lên đến 9% ở khu vực Bắc Phi, từ 3% lên đến 16% ở khu vực Trung Đông, từ 7% lên đến 21% ở khu vực Mỹ Latinh Khu vực châu Á, tuy các nước có mức tăng khác nhau, nhưng tỷ lệ tăng truorng hành năm trung bình trên 10% Khu vực Đông Nam Á mức tăng từ 8% lên đến 17% Mặt khác, các nước đã rất chú trọng việc nâng cao chất lượng giáo dục bằng các biện pháp: hính phủ đầu tư kinh phí hằng năm cao hơn cho giáo dục, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đưa những tiến bộ khoa học và công nghệ mới vào trong quá trình đào tạo,… nhằm tạo
ra nguồn nhân lực có chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu phát triển của mỗi nước
2 Bối cảnh trong nước – cơ hội và thách thức
Đất nước ta đang ở thời kỳ chuyển đổi từ nển kinh tế lạc hậu, với cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của đất nước, Đảng ta đã xác định tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa như là một phương hướng chiến lược quan trọng Để thực hiện thắng lợi mục tiêu, yêu cầu đề ra cần phải phát huy mạnh mẽ các nguồn lực, bao gồm: nguồn lực con người, đất đai, tài nguyên, vốn, kỹ thuật trong nước và ngoài nước,… trong đó nguồn lực con nguwofi là quan trọng nhât,
có vai trò quyết định trong các nguồn lực Để tạo ra bước ngoặt của sự phát triển kinh tế - xã hội, vấn đề mấu chốt là phải tạo ra nguồn nhân lực đạt chất lượng cao Điều đó cũng có nghĩa là, muốn thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa chúng ta phải có một đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn và tay nghề cao, năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh với điều kiện lao động mới
Trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hoojil chúng ta đang đứng trước những cơ hội lớn được tạo ra do những thắng lợi đã dành được từ
Trang 10trước; những thành tựu to lớn và rất quan trọng của hơn 15 năm đổi mới làm cho thế và lực của nước ta lớn mạnh lên nhiều Cơ sở vật chất – kỹ thuật của nền kinh
tế nói chung và của ngành giáo dục và đào tạo nói riêng được tăng cường Đất nước ta có tiềm năng về nguồn lao độgn Tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định Nhân dân ta có phẩm chất tốt đẹp và rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục Môi trường hòa bình, sự hợp tác, hội nhập quốc tế và những xu thế tích cực trên thế giới, nhất là xu thế tích cực về giáo dục đã tạo điều kiện để chúng ta tiếp tục phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Bên cạnh đó là những thách thức rất lớn Đến nay nước ta vẫn là một nước nông nghiệp với 70 % là lao động nông nghiệp Công cuộc đổi mới đã làm cho nền kinh
tế đất nước có nhiều chuyển biến, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên, song đến nay nước ta vẫn là một trong những nước nghèo và kém phát triển nhất trên thế giới Trình độ phát triển kinh tế, năng suất lao động, hiệu quả sarnxuaast kinh doanh thấp, cơ sở vật chất- kỹ thuật còn lạc hậu, nợ nần nhiều Thu nhập bình quân đầu người còn quá thấp so với các nước trên thế giới
Trong khi nền kinh tế còn kém phát triển thì dân số lại tăng nhanh Năm 1945 nước
ta có 23 triệu dân, năm 1975 là 48 triệu, năm 1995 là 74 triệu và đến ngày
22-3-2017 là hơn 95 triệu dân Hiện nay nước ta đứng thứ 14 về quy mô dân số so với các nước trên thế giới, đứng thứ 3 trong khối các nước ASEAN (sau Indonesia và Phillipines) Như vậy vấn đề giải quyết việc làm là một vấn đề lớn được đặt ra hiện tại Cùng với đó là sức ép về nhu cầu đào tạo nghề nghiệp ở nước ta hiện nay là rất đáng quan tâm
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy rằng: nếu không có kiến thức thì không thể tham gia tốt vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Từ thực tiễn nước ta và kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy, muốn phát triển đất nước, muốn đưa dân tộc tiến lên không có con đường nào khác là phải quan tâm đầu tư cho giáo dục
II Thực trạng việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục ở nước ta hiện nay
http://hochiminh.vn/news/pages/news.aspx?ItemID=2050&CateID=1
Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về giáo dục - đào tạo luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam Đối với sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" ở nước ta hiện nay, tư tưởng đó của Người càng có ý nghĩa thiết thực.