Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự” . Trong đời sống, chúng ta phải trải qua những giai đoạn khác nhau, những thời điểm có những sự kiện mới xảy ra và cần thực hiện một hoạt động pháp lý để giải quyết vấn đề trong từng tình huống cụ thể. Hợp đồng sẽ giúp các chủ thể có thể thực hiện được mục đích mà mình hướng tới. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, hoạt động vay tài sản là một hoạt động rất phổ biến và tạo ra những hậu quả pháp lí khác nhau cho nhiều chủ thể là nhà nước, tổ chức và cá nhân. Qua hoạt động này trong thực tiễn, có thể coi lãi là một khía cạnh rất điển hình của hợp đồng vay tài sản. Để làm rõ hơn vấn đề này, em xin được tìm hiểu về đề bài “Phân tích về cách tính lãi trong hợp đồng vay tài sản theo BLDS năm 2015. Xây dựng một tình huống về hợp đồng vay tài sản, trong đó xác định cụ thể nghĩa vụ trả nợ của bên vay.” Với vốn kiến thức còn hạn chế, em mong thầy cô sẽ góp ý để bài làm được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn.
Trang 1DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
HĐVTS
Bộ luật Dân sự Hợp đồng vay tài sản
Trang 2Đề 5: Phân tích về cách tính lãi trong hợp đồng vay tài sản theo BLDS năm 2015 Xây dựng một tình huống về hợp đồng vay tài sản, trong đó xác định cụ thể nghĩa vụ trả nợ của bên vay.
“Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự”1 Trong đời sống, chúng ta phải trải qua những giai đoạn khác nhau, những thời điểm có những sự kiện mới xảy ra và cần thực hiện một hoạt động pháp lý để giải quyết vấn đề trong từng tình huống cụ thể Hợp đồng sẽ giúp các chủ thể có thể thực hiện được mục đích mà mình hướng tới Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, hoạt động vay tài sản là một hoạt động rất phổ biến và tạo ra những hậu quả pháp lí khác nhau cho nhiều chủ thể là nhà nước, tổ chức
và cá nhân Qua hoạt động này trong thực tiễn, có thể coi lãi là một khía cạnh rất điển hình của hợp đồng vay tài sản Để làm rõ hơn vấn đề này, em xin
được tìm hiểu về đề bài “Phân tích về cách tính lãi trong hợp đồng vay tài sản theo BLDS năm 2015 Xây dựng một tình huống về hợp đồng vay tài sản, trong đó xác định cụ thể nghĩa vụ trả nợ của bên vay.” Với vốn kiến
thức còn hạn chế, em mong thầy cô sẽ góp ý để bài làm được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Trang 3N I DUNG ỘI DUNG
1 Phân tích v cách tính lãi trong h p đ ng vay tài s n theo B lu t dân ề cách tính lãi trong hợp đồng vay tài sản theo Bộ luật dân ợp đồng vay tài sản theo Bộ luật dân ồng vay tài sản theo Bộ luật dân ản theo Bộ luật dân ộ luật dân ật dân
s năm 2015 ự năm 2015
1.1 Lãi su t trong h p đ ng vay tài s n theo B lu t dân s năm ất trong hợp đồng vay tài sản theo Bộ luật dân sự năm ợp đồng vay tài sản theo Bộ luật dân ồng vay tài sản theo Bộ luật dân ản theo Bộ luật dân ộ luật dân ật dân ự năm 2015 2015
1.1.1 Khái quát v h p đ ng vay tài s n ề hợp đồng vay tài sản ợp đồng vay tài sản ồng vay tài sản ản
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên cho vay giao cho bên vay một số tiền hoặc tài sản để làm sở hữu Hết hạn của hợp đồng, bên vay có nghĩa vụ trả cho bên kia số tiền hoặc hiện vật tương đương với tiền của vật đã vay, đồng thời trả thêm một số lợi ích vật chất nếu các bên
có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định
Hợp đồng vay tài sản là quan hệ tương đối phồ biến trong cuộc sống hằng ngày Nó có tác dụng giúp cho bên vay giải quyết những khó khăn kinh
tế trước mắt; giúp các doanh nghiệp khắc phục khó khăn khi thiếu vốn để sản xuất và lưu thông hàng hóa, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của con người, nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp Hợp đồng vay tài sản trong nhân dân thường mang tính chất tương trợ giúp đỡ lẫn nhau để giải quyết những khó khăn tạm thời trong cuộc sống, trong sản xuất, kinh doanh
Thông thường, đối tượng của hợp đồng vay tài sản là một khoản tiền Tuy nhiên, trong thực tế, đối tượng của hợp đồng cho vay có thể là vàng, kim khí, đá quý hoặc một số lượng tài sản khác Đối tượng của hợp đồng vay tài sản được chuyển từ bên cho vay sang bên vay làm sở hữu Bên vay có quyền định đoạt đối với tài sản vay Khi hết hạn của hợp đồng vay tài sản, bên vay
có nghĩa vụ trả cho bên kia một tài sản khác cùng loại với tài sản đã vay hoặc
số tiền đã vay
Trang 41.1.2 Khái quát chung v lãi su t trong h p đ ng vay tài s n ề hợp đồng vay tài sản ất trong hợp đồng vay tài sản ợp đồng vay tài sản ồng vay tài sản ản
1.1.2.1 Khái ni m lãi su t ệm lãi suất ất trong hợp đồng vay tài sản theo Bộ luật dân sự năm
Lãi suất trong hợp đồng vay tài sản là tỉ lệ nhất định mà bên vay phải trả thêm vào số tài sản hoặc số tiền vay đã tính theo đơn vị thời gian Lãi suất thường được tính theo tuần, tháng hoặc năm do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định Căn cứ vào lãi suất, số tiền vay và thời gian vay mà bên vay phải trả một số tiền nhất định (tiền lãi) Số tiền này tỉ lệ thuận với lãi suất,
số tiền đã vay và thời gian vay.2
Quy định về lãi suất được phản ánh ở Điều 468 BLDS:
“1 Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
2 Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”
1.1.2.2 Phân lo i lãi su t ại lãi suất ất trong hợp đồng vay tài sản theo Bộ luật dân sự năm
Để phân loại lãi suất, có thể dựa trên một số tiêu chí như sau:
1.1.2.2.a Phân loại lãi suất theo ý chí của các chủ thể có liên quan
Căn cứ vào ý chí của các chủ thể có liên quan, lãi suất được chia thành:
2017, tr 167.
Trang 5- Lãi suất theo thỏa thuận: Là lãi suất do bên vay và bên cho vay tự bàn bạc, thương lượng, tự do ý chí và bày tỏ ý chí với nhau rồi thống nhất về lãi suất Lãi suất thỏa thuận có thể áp dụng đối với lãi suất cho vay (trong hạn), lãi suất chậm trả (quá hạn), lãi trên nợ gốc, lãi trên nợ lãi… Sự thỏa thuận này không được tùy tiện và lãi suất theo thỏa thuận chỉ được chấp nhận nếu mức lãi suất đó nằm trong khuôn khổ cho phép của pháp luật Lãi suất thỏa thuận
có thể xuất hiện khi giao kết hợp đồng vay, trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, thậm chí cả khi có sự vi phạm nghĩa vụ trả tiền hoặc có tranh chấp xảy ra
- Lãi suất do luật định: Đây là loại lãi suất được pháp luật ấn định theo lãi suất cơ bản (LSCB), lãi suất huy động vốn, lãi suất trần cấp tín dụng hay lãi suất trên nợ gốc Loại lãi suất này được áp dụng khi: (i) Các bên không có thỏa thuận cụ thể về lãi suất và có tranh chấp về lãi suất; (ii) Các bên có thỏa thuận về lãi suất nhưng sự thỏa thuận bị vô hiệu toàn bộ hoặc một phần do trái quy định của pháp luật; (iii) Lãi suất hoàn toàn theo ý chí của Nhà nước trong một số trường hợp đặc biệt
- Lãi suất theo quyết định của Tòa án: Trong một số trường hợp, Tòa án vận dụng linh hoạt pháp luật, căn cứ vào quy định của pháp luật, căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của các bên tranh chấp, căn cứ vào bối cảnh kinh tế - xã hội, căn cứ vào công lý, lẽ công bằng mà Tòa án có thể ấn định mức lãi suất cho từng vụ việc cụ thể để dung hòa lãi suất theo thỏa thuận và lãi suất theo luật định
1.1.2.2.b Phân loại theo tình trạng pháp lý của việc áp dụng lãi suất
Lãi suất có thể được phân loại thành lãi suất đúng hạn (trong hạn) và lãi suất quá hạn:
- Lãi suất trong hạn không được quy định cụ thể về khái niệm trong văn bản pháp luật, nhưng có thể hiểu là lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng, dùng làm căn cứ để tính giá trị lãi mà bên vay phải trả cho bên cho vay tính trên số tiền đã vay tương ứng với thời hạn mà các bên đã thỏa thuận
Trang 6- Lãi suất quá hạn là tỉ lệ phần trăm tính trên nợ gốc mà bên vay phải trả cho bên cho vay tương ứng với thời gian chậm trả Lãi suất quá hạn thường cao hơn lãi suất đúng hạn do được áp dụng đối với người vay vi phạm nghĩa
vụ về thời hạn Sau thời hạn mà bên vay hoặc trả không hết số tiền vay thì bên cho vay có quyền tính lãi dựa trên lãi suất quá hạn theo đúng như thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật
Tuy nhiên, việc trả lãi sau thời hạn vẫn có thể coi là đúng hạn trong một
số trường hợp Ví dụ: đến hạn trả lãi nhưng do sự kiện bất ngờ hay sự kiện bất khả kháng mà bên vay không thể thực hiện nghĩa vụ trả lãi của mình hoặc được bên cho vay chấp nhận không phải trả lãi quá hạn khi quá thời hạn vay…
1.1.2.2.c Phân loại dưới góc độ lãi suất tín dụng Ngân hàng
Lãi suất tín dụng Ngân hàng áp dụng trong quan hệ giữa Ngân hàng với
cá nhân và doanh nghiệp trong việc thu hút tiền gửi và cho vay, trong hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàng Trung ương cho các Ngân hàng và trong quan hệ giữa các Ngân hàng với nhau trong thị trường liên Ngân hàng Trong đó:
- Lãi suất cơ bản: là lãi suất mà các Ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ấn định mức lãi suất kinh doanh của mình
- Lãi suất kinh doanh: Là lãi suất trong các hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (TCTD) như huy động vốn, cấp tín dụng
Ngoài 3 cách phân loại trên thì lãi suất còn có thể được phân loại theo các tiêu chí khác như: Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất, lãi suất gồm: lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực; Căn cứ vào phương thức đo lường, lãi suất gồm: lãi suất đơn, lãi suất kép, lãi suất hiệu quả và lãi suất hoàn vốn; Căn cứ vào độ ổn định của lãi suất, lãi suất gồm: lãi suất cố định, lãi suất thả nổi và lãi suất kết hợp; Căn cứ vào thời hạn áp dụng lãi suất thì lãi suất gồm: lãi suất ngắn hạn, lãi suất trung hạn và lãi suất dài hạn
Trang 71.1.2.3 Vai trò c a lãi su t ủa lãi suất ất trong hợp đồng vay tài sản theo Bộ luật dân sự năm
Dưới góc độ kinh tế, có thể kể ra một số tác động cơ bản của lãi suất tới
sự phát triển của nền kinh tế như: (i) Lãi suất là một công cụ kích thích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiền tiết kiệm của các chủ thể kinh tế; (ii) Lãi suất là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô; (iii) Lãi suất là công cụ phân phối vốn và kích thích sử dụng vốn có hiệu quả; (iv) Lãi suất là công cụ đo lường tình trạng sức khỏe của nền kinh tế; (v) Lãi suất là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia…3
Dưới góc độ pháp lý, các quy định về lãi suất trong BLDS năm 2015 đã tạo ra hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể khi tham gia vào quan hệ vay tài sản Một mặt, các quy định này giúp bảo vệ người đi vay, giúp họ không bị chèn ép với mức lãi suất quá cao, nhất là khi đang gặp khó khăn Mặt khác, việc quy định mức lãi suất rộng giúp cho các bên dễ dàng hơn trong việc ký kết hợp đồng, bên cho vay cũng có điều kiện đạt được mục đích kinh tế của mình sinh lời cao mà không vi phạm pháp luật Mặt khác, những quy định về lãi suất đã minh bạch hóa cách xác định lãi trong HĐVTS, qua đó khuyến khích các quan hệ vay tài sản diễn ra phổ biến, giúp phát triển kinh tế, đáp ứng nhu cầu của các chủ thể trong xã hội Các quy định về lãi suất trong HĐVTS cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các tranh chấp phát sinh khi thực hiện hợp đồng vay nợ trong xã hội.4
Cuộc thi sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.15.
định của pháp luật Việt Nam,Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2017, tr 16.
Trang 81.2 Phân tích v cách tính lãi trong h p đ ng vay tài s n theo B ề cách tính lãi trong hợp đồng vay tài sản theo Bộ luật dân ợp đồng vay tài sản theo Bộ luật dân ồng vay tài sản theo Bộ luật dân ản theo Bộ luật dân ộ luật dân
lu t dân s năm 2015 ật dân ự năm 2015
1.2.1 Lãi trong tr ường hợp các bên có thỏa thuận ng h p các bên có th a thu n ợp đồng vay tài sản ỏa thuận ận
1.2.1.1 Lãi trong tr ường hợp trả đúng hạn ng h p tr đúng h n ợp đồng vay tài sản theo Bộ luật dân ản theo Bộ luật dân ại lãi suất
Trong trường hợp các bên có thỏa thỏa thuận về lãi suất vay, nếu bên vay trả lãi đúng hạn thì lãi sẽ được tính dựa trên lãi suất vay cụ thể do các bên
đã thỏa thuận Chỉ có một loại lãi suất cho vay áp dụng trong trường hợp này
đó là lãi suất cho vay áp dụng trên nợ gốc trong thời hạn vay và lãi sẽ được tính theo lãi suất đó Tuy nhiên, nhằm ngăn ngừa hiện tượng cho vay nặng lãi, bên cho vay lợi dụng lãi suất để thu lời bất chính thì mức lãi suất thỏa thuận
bị giới hạn Khoản 1 Điều 468 quy định về lãi suất giới hạn:
“Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác…”
cho nên nếu các bên cho vay vượt quá lãi suất quy định thì phần vượt quá không có hiệu lực, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác (Luật các tổ chức tín dụng) Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất nhưng không cụ thể, nếu có tranh chấp thì tính bằng 10%/năm của khoản tiền vay tương ứng với thời hạn vay (Khoản 2 Điều 468 BLDS)
1.2.1.2 Lãi trong tr ường hợp trả đúng hạn ng h p quá h n ợp đồng vay tài sản theo Bộ luật dân ại lãi suất
Trong trường hợp bên vay chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền, thì hậu quả pháp lí chính là phát sinh trách nhiệm được quy định tại Điều 357 BLDS 2015:
“1 Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả
2 Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1
Trang 9Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”
Nhìn chung, nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ (không trả, trả không đầy đủ) khi đến hạn trả nợ sẽ phải gánh chịu một khoản lãi tăng thêm để có ý thức hơn trong việc trả nợ và bảo vệ quyền lợi của bên cho vay Khoản 5 Điều
466 BLDS 2015 quy định cụ thể, rõ ràng về lãi suất quá hạn trong trường hợp bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ về thời hạn:
“Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Như vậy, trong bối cảnh các bên có sự thỏa thuận sẽ dẫn tới hệ quả pháp lý mà bên vay vi phạm nghĩa vụ phải gánh 04 nhóm lãi sau đây: (i) Lãi trên nợ gốc trong hạn; (ii) Lãi trên nợ gốc quá hạn; (iii) Lãi đối với tiền lãi trong hạn chậm trả và (iv) Lãi chậm trả khác Trước khi xác định cụ thê lãi suất trong 04 khoản lãi này, chúng ta phải xác định:
- Thứ nhất, có sự chậm thanh toán:
Để buộc bên có nghĩa vụ trả lãi quá hạn thì cần phải xác định là có sự
chậm trễ trong thanh toán Khoản 1 Điều 353 BLDS 2015 quy định: “Chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự là nghĩa vụ vẫn chưa được thực hiện hoặc chỉ được thực hiện một phần khi thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã hết” Như vậy, chậm
thanh toán trong HĐVTS là việc bên vay chưa trả nợ hoặc chi trả được một phần nghĩa vụ thanh toán (trả nợ) khi đến thời hạn
- Thứ hai, thời điểm bắt đầu chịu lãi chậm trả:
BLDS 2015 không quy định cụ thể và rõ ràng về thời điểm bắt đầu tính lãi chậm trả và chỉ quy định chung chung là “tương ứng với thời gian chậm
Trang 10trả” – nghĩa là pháp luật quy định một khoảng thời gian nhưng không xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc Thực tiễn áp dụng pháp luật của Việt Nam
sẽ tính thời điểm bắt đầu gánh lãi quá hạn kể từ ngày tiếp theo sau ngày nghĩa
vụ đến hạn Quy định cứng như vậy góp phần thúc đẩy ý thức trả nợ của bên
vi phạm và giúp các cơ quan tài phán dễ dàng xác định thời điểm bắt đầu tính lãi chậm trả hơn là thời điểm bên cho vay yêu cầu thanh toán Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn linh hoạt khi tôn trọng ý chí của bên cho vay khi đến hạn thanh toán mà bên cho vay điều chỉnh thời hạn trả nợ cho bên vay thì thời hạn thanh toán được tính lại theo lần chấp nhận điều chỉnh cuối cùng của bên
có quyền.5
1.2.1.2.a Lãi trên n g c trong h n ợp đồng vay tài sản ốc trong hạn ạn
Trong trường hợp nợ quá hạn, thì khoản lãi đầu tiên mà bên vay phải trả là lãi trên nợ gốc trong hạn Lãi này được tính theo quy định tại đoạn đầu
Điểm a Khoản 5 Điều 466 BLDS 2015: “5 Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau: a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả” Quy định này thể hiện sự tôn trọng
của pháp luật đối với thỏa thuận của các bên về lãi suất cho vay (thỏa thuận này chỉ phải tuân thủ Khoản 1 Điều 468 về trần lãi suất cho vay) vì tiền lãi trên nợ gốc trong hạn nằm trong khuôn khổ thỏa thuận của các bên ngay từ khi giao kết hợp đồng vay và cần được tôn trọng
1.2.1.2.b Lãi trên n g c quá h n ợp đồng vay tài sản ốc trong hạn ạn
Khoản lãi thứ hai mà bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ phải trả cho bên cho vay là khoản lãi trên nợ gốc quá hạn Khoản lãi này được tính theo quy
định tại Điềm b Khoản 5 Điều 466 BLDS: “Trường hợp vay có lãi mà khi đến
định của pháp luật Việt Nam,Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2017, tr 36.