Trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng với nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự tham gia tố tụng. Cùng với đó, pháp luật đã quy định cụ thể về quyền được ra các quyết định của Tòa án trong quá trình thực hiện thẩm quyền của Tòa án. Trong số đó, Tòa án có quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án ở tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm. Đây là một trong những quy định đóng vai trò quan trọng và nhằm đảm bảo quyền lợi của đương sự một cách trực tiếp. Tuy nhiên, còn có những bất cập trong quy định của pháp luật về vấn đề này. Vì vậy, tiểu luận xin được trình bày vấn đề “Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm.” Do còn hạn chế về mặt nhận thức, bài làm không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong thầy cô xem xét và đánh giá để em có thể hoàn thiện bài làm của mình hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 1DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS 2015 BLTTDS 2015
Bộ luật dân sự năm 2015
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
MỞ ĐẦU
Trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng với nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự tham gia tố tụng Cùng với đó, pháp luật đã quy định cụ thể về quyền được ra các quyết định của Tòa án trong quá trình thực hiện thẩm quyền của Tòa án Trong số đó, Tòa án
có quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án ở tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm Đây là một trong những quy định đóng vai trò quan trọng và nhằm đảm bảo quyền lợi của đương sự một cách trực tiếp Tuy nhiên, còn có những bất cập trong quy định của pháp luật về vấn đề này Vì vậy, tiểu luận xin được trình bày vấn đề
“Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm.” Do còn hạn chế
về mặt nhận thức, bài làm không tránh khỏi thiếu sót Rất mong thầy cô xem xét và đánh giá để em có thể hoàn thiện bài làm của mình hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2NỘI DUNG
1 Khái niệm tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Trong quá trình chuẩn bị xét xử, quyết định tạm đình chỉ xét xử sẽ được đưa
ra bởi tòa án khi có một trong các căn cứ do pháp luật quy định
Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc tòa án quyết định tạm ngừng việc giải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ do pháp luật quy định 1
Theo đó, tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự không phải là ngừng hẳn mà chỉ tạm thời dừng việc giải quyết vụ án dân sự Sau khi các căn cứ tạm đình chỉ không còn, việc xét xử vụ án sẽ được tiếp tục thực hiện
2 Phân tích quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm
2.1 Tạm đình chỉ giải quyết vụ án ở tòa án cấp sơ thẩm
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án có quyền xem xét và ra một trong các quyết định, trong đó có quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án (khoản 3 Điều 203 BLTTDS 2015)
2.1.1 Căn cứ tạm đình chỉ vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015, có 8 căn cứ để tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự dưới đây:
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb CAND, Hà Nội, 2017, tr 270
Trang 3a Căn cứ thứ nhất: Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó (điểm a khoản 1 Điều
214 BLTTDS 2015)
- Về căn cứ đương sự là cá nhân đã chết mà chưa có chủ thể kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân đó:
Trước hết, trong vụ án dân sự, đương sự chết có thể là một trong những chủ thể như nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ
án chết
Theo căn cứ tại khoản 1 Điều 74 BLTTDS 2015, trường hợp đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng Người thừa kế tham gia tố tụng theo quy định này phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 69 BLTTDS 2015 Thời điểm cá nhân chết theo BLDS 2015 là thời điểm chết trên thực tế, dựa trên thời gian khai tử hoặc ngày chết được Tòa án xác định trong bản án, quyết định tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật hay còn gọi
là cái chết pháp lý Quy định về việc người thừa kế tham gia tố tụng này cũng thể hiện rằng nếu như chưa xác định được người thừa kế hoặc người thừa kế chưa thể tham gia tố tụng vì chưa đủ điều kiện hay vì một lý do nào đó thì Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để đảm bảo quyền tham gia tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án đã chết
Theo căn cứ tại điểm a khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015 thì Tòa án chỉ tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi Đương sự là cá nhân đã chết nhưng chưa có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng Như vậy, đây là quan hệ mà người đã chết xác lập yêu cầu Tòa án giải quyết là quan hệ tài sản Vì đối với quan hệ nhân thân, quyền
và nghĩa vụ không thể chuyển giao cho người khác
Trang 4Từ đó, Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án nếu như trong quá trình giải quyết vụ án mà chưa tìm đươc người kế thừa quyền và nghĩa vụ về tài sản để tham gia tố tụng
- Về căn cứ cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan,
tổ chức đó
Theo quy định tại khoản 2 Điều 74 BLTTDS năm 2015 thì trong trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng bị hợp nhất, sáp nhập, chia, tách thì việc kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của cơ quan, tổ chức do cá nhân, cơ quan, tổ chức tiếp nhận quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó tham gia
tố tụng
Theo đó, trường hợp này được hiểu là đã có quyết định của cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền về việc hợp nhất, sáp nhập, chia, tách cơ quan, tổ chức đó, nhưng cơ quan, tổ chức mới chưa được thành lập hoặc đã được thành lập nhưng chưa có đầy
đủ điều kiện để hoạt động theo quy định của pháp luật đối với loại hình cơ quan, tổ chức đó Theo thủ tục pháp luật quy định, người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp sẽ tham gia tố tụng và cũng cần có thời gian để doanh cơ quan, tổ chức có thời gian để đi vào hoạt động và có người đại diện theo pháp luật
b Căn cứ thứ hai: Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật
Người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của BLDS năm 2015 là người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự Vì lẽ đó, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện (khoản
4 Điều 69 BLTTDS 2015) Trong những trường hợp này, đương sự chỉ bị xác định
là mất năng lực hành vi dân sự sau khi Tòa án đã thụ lý giải quyết vụ án Do đó, Tòa án phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ người đại diện hợp pháp tham gia
tố tụng
Trang 5Về người chưa thành niên, pháp luật hiện hành quy định là người chưa đủ mười tám tuổi (khoản 1 Điều 21 BLDS 2015) Cùng với đó, căn cứ theo khoản 4, 5,
6 Điều 69 BLTTDS 2015, người chưa đủ sáu tuổi, từ đủ sáu tuổi đến dưới 15 tuổi
và từ 15 đến dưới 18 tuổi thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những chủ thể này tại Tòa án sẽ do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện Người đại diện hợp pháp của đương sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền (Điều 136, 137, 138 BLDS 2015) Ngoài ra, người đại diện phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện
c Căn cứ thứ ba: Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế
Người đại diện hợp pháp của đương sự gồm có người đại diện theo pháp luật
và đại diện theo ủy quyền Việc chấm dứt quan hệ đại diện có nhiều căn cứ khác nhau, tùy theo tính chất mỗi loại đại diện Tuy nhiên, hậu quả pháp lý chung của việc chấm dứt quan hệ đại diện đó là kết thúc quan hệ pháp luật giữa người đại diện
và người được đại diện Vì vậy, khi chưa có người đại diện thay thế tham gia tố tụng, Tòa án phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án Trong trường hợp đương sự hoặc người thừa kế của đương sự lại tiếp tục tham gia hoặc ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng thì Tòa án tiếp tục giải quyết mà không tạm đình chỉ giải quyết vụ án
d Căn cứ thứ tư: Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án
Thứ nhất, trường hợp Tòa án cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan là trường hợp vụ án mà Tòa án đang giải quyết có liên quan đến vụ án hình
sự, hành chính, dân sự, lao động hay hôn nhân hay sự việc được pháp luật quy định
Trang 6phải là sự việc có ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết vụ án, và nếu không được
cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước thì việc giải quyết của Tòa án là vi phạm pháp luật Vụ án, vụ việc được giải quyết toàn diện, chính xác và đúng pháp luật chỉ khi dựa vào kết quả giải quyết của vụ án, vụ việc có liên quan
Thứ hai, trường hợp sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án là trường hợp Tòa án sau khi thụ lý mới phát hiện vụ án phải do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết trước
mà đương sự chưa yêu cầu hoặc yêu cầu nhưng chưa có kết quả giải quyết Ví dụ như Luật đất đai năm 2013 quy định về tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất phải hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã trước khi khởi kiện ra Tòa án Như vậy, trong các trường hợp này, Tòa án phải tạm đình chỉ để chờ kết quả giải quyết của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền liên quan
e Căn cứ thứ năm: Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án
Vấn đề ủy thác tư pháp được quy định cụ thể tại Điều 6 và Điều 13 Luật tương trợ tư pháp năm 2007 Việc ủy thác thu thập chứng cứ được quy định tại khoản 1 Điều 105 BLTTDS 2015 Tài liệu, chứng cứ là căn cứ quan trọng để Tòa án xem xét và giải quyết vụ án Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp các đương sự
có thể tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ để cung cấp cho Tòa án Vì vậy, khi có yêu cầu của đương sự và xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan,
tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án (khoản 3 Điều 106 BLTTDS 2015) Như vậy, trong trường hợp cần thời gian để Tòa án có thêm tài liệu, chứng cứ cho vụ án, Tòa sẽ ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án
f Căn cứ thứ sáu: Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của
Trang 7Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị
cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ;
Trong trường hợp này, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải xem xét nếu như đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp dưới là có căn cứ, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị, phải ra văn bản kiến nghị gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật và thông báo cho Tòa án đã đề nghị để ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án (Điều 221 BLTTDS 2015)
g Căn cứ thứ bảy: Theo quy định tại Điều 41 của Luật phá sản
Trường hợp này thực chất cũng thuộc vào các trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015 Việc tạm đình chỉ này là để chờ Tòa án thụ lý yêu cầu mở thủ tục phá sản xem xét quyết định về việc mở hay không mở thủ tục phá sản
h Căn cứ thứ tám: Các trường hợp khác mà pháp luật quy định
Đây như một quy định dự phòng, có tính mở, giúp đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
2.1.2 Thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án ở tòa án cấp sơ thẩm:
Điều 219 BLTTDS năm 2015 quy định về thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết
vụ án dân sự như sau:
Trong vụ án dân sự, tại tòa án cấp sơ thẩm trước khi mở phiên tòa, thẩm phán
là người có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Còn tại phiên tòa, thẩm quyền này sẽ thuộc về Hội đồng xét xử
2.1.3 Hậu quả pháp lý:
Trang 8Điều 215 BLTTDS 2015 quy định cụ thể về hậu quả pháp lý của tạm đình chỉ
vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm Theo đó, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự của tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Tạm đình chỉ vụ án có thể gây ra sự trì hoãn và ngừng trệ trong quá trình giải quyết vụ án Do vậy, để hạn chế tình trạng ban hành các quyết định tạm đình chỉ chưa chính xác, thiếu căn cứ hợp pháp, pháp luật đã quy định quyền kháng cáo và kháng nghị, góp phần đảm bảo vụ án được giải quyết nhanh chóng và chính xác Ngoài ra, khi căn cứ tạm đình chỉ không còn, BLTTDS 2015 quy định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 214 BLTTDS 2015 không còn thì Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự và gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp Quyết định này chính là căn cứ để Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án
2.2 Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp phúc thẩm
Quy định về tạm đình chỉ giải quyết vụ án ở tòa án cấp phúc thẩm nằm ở Điều
288 BLTTDS 2015 Căn cứ tạm đình chỉ cũng tương tự như căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án ở tòa án cấp sơ thẩm được quy định tại Điều 214, 215, 216 như trên Tuy nhiên, có điểm khác so với ở sơ thẩm đó là quyết định tạm đình chỉ ở phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay và được gửi ngay cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp
3 Đánh giá các quy định hiện hành về tạm đình chỉ vụ án ở tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm
3.1 Về căn cứ tạm đình chỉ
Thứ nhất, căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015 thể hiện rằng chỉ có quyền, nghĩa vụ về tài sản của đương sự đã chết sẽ được người thừa kế kế thừa, còn đối với các quan hệ nhân thân sẽ không có sự kế thừa quyền
Trang 9và nghĩa vụ Bởi vì trên thực tế, một vụ án dân sự có thể tồn tại nhiều quan hệ pháp luật, vừa có quan hệ tài sản, vừa có quan hệ nhân thân thì nếu như quyền và nghĩa
vụ của đương sự là quyền nhân thân mà một trong các đương sự chết thì vụ án liệu
có bị chấm dứt hay chỉ đình chỉ giải quyết yêu cầu đối với quan hệ nhân thân, tạm đình chỉ đối với quan hệ tài sản mà không đình chỉ giải quyết vụ án Đây vẫn là một vấn đề chưa có sự hướng dẫn và làm rõ
Thứ hai, điểm b khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015 quy định chưa đầy đủ về trường hợp người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Theo đó, nếu như người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chưa có người đại diện tham gia tố tụng sẽ khó có thể đảm bảo được quyền lợi của nhóm chủ thể này trong vụ
án Vì vậy, việc tạm đình chỉ vụ án cũng cần phải xem xét
Thứ ba, về việc ủy thác tư pháp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015, bất cập vẫn còn tồn tại Trước hết là thời gian thực hiện có thể kéo dài, chậm trễ Thậm chí có nhiều trường hợp ủy thác tư pháp không đạt được kết quả Vấn đề này thường xuất phát từ lý do khách quan, do tính chất và hiệu quả của
cơ quan được ủy thác Tòa án khó có thể kiểm soát hoạt động này, dẫn tới việc kéo dài thời hạn tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Thứ tư, đối với các căn cứ thuộc các trường hợp khác quy định tại điểm h khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015, khoản 18 Điều 70 BLTTDS 2015 có quy định rằng đương sự có quyền đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ việc theo quy định của Bộ luật này Tuy nhiên, việc này có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể khác trong vụ án Như vậy, căn cứ này khá mơ hồ và chưa thực sự hợp lý
Từ đó có thể dẫn tới nhiều trường hợp áp dụng không chính xác và hiệu quả trong giải quyết vụ án
3.2 Về thời điểm và thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Trang 10Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015 Như vậy, phải có một trong các căn
cứ đó thì Tòa án mới có thể ra quyết định tạm đình chỉ Tuy nhiên, trên thực tế có một số trường hợp quy trình này không được tuân thủ, đó là trong trường hợp quyết định tạm đình chỉ vụ án được ban hành trước sau đó mới có quyết định ủy thác tư pháp thu thập chứng cứ
Bên cạnh đó, BLTTDS 2015 không quy định về thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Theo đó, ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, theo khoản
3 Điều 203, Tòa án có thể ra một trong các quyết định bao gồm quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Điều này sẽ dẫn tới hai hướng áp dụng khác nhau của các Thẩm phán đó là: ra quyết định tạm đình chi ngay khi có căn cứ và ra quyết định khi phải chờ thời hạn chuẩn bị xét xử gần hết Việc này sẽ dẫn tới sự lúng túng
và khó khăn trong công tác xem xét và giải quyết vụ án.2
4 Một số kiến nghị về tạm đình chỉ giải quyết vụ án
Trước hết, cần khắc phục các hạn chế về căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên Cụ thể:
- Nếu vụ án có nhiều quan hệ pháp luật trong đó vừa có quan hệ, tài sán, vừa
có quan hệ nhân thân có tranh chấp, thì Tòa án tiến hành đình chỉ giải quyết yêu cầu đối với quan hệ nhân thân, tạm đình chỉ đối với việc giải quyết quan hệ tài sản
mà không tiến hành đình chỉ giải quyết vụ án
- Đối với những trường hợp cần đợi kết quả ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ… thì các Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải đặc biệt có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân có văn bản trả lời trong thời gian ngắn nhất để đảm bảo thời gian hợp lý để đưa vụ án ra xét xử
2 Nguyễn Đình Thị Linh, Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự và thực tiễn thi hành, Luận văn thạc sĩ luật
học, Hà Nội, 2019, tr 20 - 40