1. TỔNG QUAN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1.1. Nội dung nghiên cứu Trong hai năm cuối cùng của nhiệm kỳ khóa 13, Chính phủ dốc sức cho cuộc chạy đua có tính lịch sử, mang tên “cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước” với mục tiêu đề ra trong hai năm 2014 và 2015, bình quân mỗi năm cổ phần hóa 216 doanh nghiệp. Từ năm 2001, khi nền kinh tế đất nước đi vào chiều sâu của công cuộc đổi mới, vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, tại Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X năm 2006 đã khẳng định: “Đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hóa”. Theo số liệu tại Hội nghị, đến hết năm 2007 tổng số doanh nghiệp cổ phần hóa là 3.756 doanh nghiệp.Có thể thấy, cổ phần hóa hay nói cách khác là tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đang được các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp ráo riết thực hiện nhằm tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ và hiệu quả cho nền kinh tế. Gần hai thập kỷ qua, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã gần như quét qua toàn thế giới, hàng ngàn doanh nghiệp nhà nước từ Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ latinh cùng Đông Âu và Tâu Âu đều tiến hành cổ phần hóa .Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có thể hiểu như là một biện pháp chuyển đổi hình thức sở hữu trong doanh nghiệp từ sở hữu nhà nước sang sở hữu của các cổ đông (trong đó nhà nước có thể tham gia với tư cách cổ đông hoặc không tham gia). Về bản chất, đây là phương thức xã hội hóa đồng vốn thuộc sở hữu nhà nước, chuyển từ doanh nghiệp một chủ sở hữu sang đa sở hữu, tạo nên mô hình doanh nghiệp hoạt động phù hợp với nền kinh tế thị trường. Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và trình độ xã hội hóa sản xuất dẫn đến sự tập trung lớn về vốn xã hội mà không một cá nhân nào có thể đáp ứng được. Chính vì vậy, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay vừa là đòi hỏi khách quan, vừa là điều kiện quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước. Tầm quan trọng của cổ phần hóa đã được phân tích bởi nhiều nhà kinh tế học khác nhau. Các quốc gia như Trung Quốc hay Việt Nam, bằng việc áp dụng mô hình kinh tế theo các nước Liên Xô cũ và Đông Âu Trang 2 khiến quy mô doanh nghiệp nhà nước luôn chiếm đến 8090% tổng tài sản quốc gia. Kinh nghiệm từ quá trình cổ phần hóa ở Việt Nam đã chứng minh rằng việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang hình thức công ty cổ phần không những giúp nhà nước bảo tồn nguồn vốn của mình mà còn tăng đáng kể tỷ suất lợi nhuận trên nguồn vốn trước đây. Nhờ đó hoạt động của doanh nghiệp sau khi thực hiện cổ phần hóa nhạy bén, năng động và tự chủ hơn trước khiến các khoản đóng góp vào ngân sách nhà nước cũng tăng
Trang 1Mã số: ………
TÁC ĐỘNG TÀI KHÓA CỦA CHÍNH SÁCH
CỔ PHẦN HÓA LÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC:
MINH CHỨNG Ở VIỆT NAM
Trang 2TÁC ĐỘNG TÀI KHÓA CỦA CHÍNH SÁCH CỔ PHẦN HÓA LÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC: MINH CHỨNG Ở VIỆT NAM
Tóm lược
Bài nghiên cứu này kiểm định mối tương quan giữa chính sách cổ phần hóa của chính phủ và ngân sách nhà nước mà đặc biệt là doanh thu thuế ở Việt Nam Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên được thực hiện ở Việt Nam, tập trung vào nghiên cứu tác động tài khóa của cổ phần hóa đến ngân sách nhà nước, ảnh hưởng của chúng đến tổng doanh thu thuế ở Việt Nam Vậy giữa chúng sẽ tồn tại mối quan hệ như thế nào, tăng trưởng hay suy giảm ngân sách nhà nước liệu có phải là kết quả của cổ phần hóa? Sử dụng mô hình ARCH/GARCH và VECM, đồng thời tiến hành phân tích định lượng chuỗi số liệu từ quý
4 năm 1995 đến quý 4 năm 2013, chúng tôi kết luận tồn tại một mối tương quan âm không đáng kể giữa cổ phần hóa và ngân sách nhà nước mà đặc biệt là doanh thu thuế ở Việt Nam Điều này được giải thích bởi phần lớn là chính sách miễn giảm và ưu đãi thuế của Chính phủ Việt Nam áp dụng đối với các doanh nghiệp được cổ phần hóa
Từ khóa: cổ phần hóa, doanh nghiệp nhà nước, ngân sách nhà nước, tổng doanh thu thuế
Trang 3MỤC LỤC
1 TỔNG QUAN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1
1.1 Nội dung nghiên cứu 1
1.2 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.3 Cấu trúc bài nghiên cứu 3
2 NỘI DUNG CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 4
2.1 Lý thuyết nền tảng về cổ phần hóa 4
2.1.1 Khái niệm cổ phần hóa 4
2.1.2 Vài nét về cổ phần hóa ở Việt Nam 5
2.1.3 Các hình thức cổ phần hoá 8
2.1.4 Mục tiêu cổ phần hóa 9
2.1.5 Tác động của cổ phần hóa ở các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển 11
2.1.5.1 Tác động tài khóa 11
2.1.5.2 Tác động đến các biến số vĩ mô 13
2.2 Những vấn đề lý luận về thuế 17
2.2.1 Khái niệm và chức năng 17
2.2.2 Chính sách thuế ở các nền kinh tế đang phát triển 19
2.2.3 Vai trò của doanh thu thuế trong nền kinh tế đang phát triển 21
2.3 Mối quan hệ giữa cổ phần hóa và doanh thu thuế ở các quốc gia đang phát triển 24 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Các mô hình nghiên cứu: 30
3.2 Lý thuyết mô hình ARCH/GARCH 31
3.3 Lý thuyết mô hình VECM: 32
3.4 Dữ liệu nghiên cứu và phân tích các biến 34
3.4.1 Phân tích các biến ảnh hưởng trong mô hình 34
3.4.2 Phân tích biến chính 37
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
Trang 44.1.1 Kiểm định tính dừng 41
4.1.2 Tiến trình ước lượng mô hình ARCH/GARCH 42
4.2 Mô hình VECM: 45
4.2.1 Lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình VECM: 45
4.2.2 Ước lượng mô hình VECM cho 10 biến 46
4.2.3 Mô hình VECM cho hai biến thuế và cổ phần hóa: 47
4.3 Giải thích kết quả mô hình thực nghiệm tại Việt Nam: 48
5 KẾT LUẬN 52
PHỤ LỤC HÌNH 54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 5SOE : State Owner Enterprise (Doanh nghiệp nhà nước)
SIP : Share issue privatization (Phát hành cổ phiếu cổ phần hóa)
OECD : Oganization for Economic Co-operation and Development (Tổ chức hợp tác
& phát triển kinh tế)
ARCH : Autoregressive Conditional Heterokadasticity (Mô hình phương sai có điều
kiện thay đổi tự hồi quy)
GARCH : Generalised Autoregressive Conditional Heteroskedasticity (mô hình
phương sai có điều kiện thay đổi tự hồi quy tổng quát)
VAR : Vector autoregression (Mô hình tự hồi quy vector var)
VECM : Vector error correction model (Mô hình Vector hiệu chỉnh sai số VECM)
IMF : International Monetary Fund (Quỹ tiền tệ quốc tế)
GDP : Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm nội địa)
WTO : World Trade Organization (Tổ chức Thương Mại Thế Giới)
Trang 6Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm gần đây về tác động tài khóa và vĩ mô của
cổ phần hóa 14
Bảng 2.2: Đánh giá cải cách chính sách thuế ở những quốc gia đang phát triển 21
Bảng 2.3: Ngân sách nhà nước qua các năm 23
Bảng 3.1: Nguồn dữ liệu thu thập số liệu 36
Bảng 4.1: Kết quả kiểm định tính dừng 41
Bảng 4.2: Kết quả kiểm định hiệu ứng ARCH 43
Bảng 4.3: Kết quả hệ số mô hình GARCH 44
Trang 7Biểu đồ 2.1: Doanh thu thuế khu vực khai thác mỏ ở Zambia 26
Biểu đồ 2.2: Số tiền thu được từ cổ phần hóa giai đoạn 1995-2013 37
Biểu đồ 2.3: Doanh thu thuế Việt Nam giai đoạn 1995-2013 39
Biểu đồ 2.4: Số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa 1990 - 2013 49
Biểu đồ 2.5: Phần trăm doanh thu thuế so với GDP giai đoạn 1995-2013 49
Trang 81 TỔNG QUAN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1.1 Nội dung nghiên cứu
Trong hai năm cuối cùng của nhiệm kỳ khóa 13, Chính phủ dốc sức cho cuộc chạy đua có tính lịch sử, mang tên “cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước” với mục tiêu đề ra trong hai năm 2014 và 2015, bình quân mỗi năm cổ phần hóa 216 doanh nghiệp Từ năm
2001, khi nền kinh tế đất nước đi vào chiều sâu của công cuộc đổi mới, vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, tại Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X năm 2006 đã khẳng định: “Đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hóa” Theo số liệu tại Hội nghị, đến hết năm 2007 tổng số doanh nghiệp cổ phần hóa là 3.756 doanh nghiệp.Có thể thấy, cổ phần hóa hay nói cách khác là tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đang được các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp ráo riết thực hiện nhằm tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ và hiệu quả cho nền kinh tế
Gần hai thập kỷ qua, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã gần như quét qua toàn thế giới, hàng ngàn doanh nghiệp nhà nước từ Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ latinh cùng Đông Âu và Tâu Âu đều tiến hành cổ phần hóa Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có thể hiểu như là một biện pháp chuyển đổi hình thức sở hữu trong doanh nghiệp
từ sở hữu nhà nước sang sở hữu của các cổ đông (trong đó nhà nước có thể tham gia với
tư cách cổ đông hoặc không tham gia) Về bản chất, đây là phương thức xã hội hóa đồng vốn thuộc sở hữu nhà nước, chuyển từ doanh nghiệp một chủ sở hữu sang đa sở hữu, tạo nên mô hình doanh nghiệp hoạt động phù hợp với nền kinh tế thị trường Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và trình độ xã hội hóa sản xuất dẫn đến sự tập trung lớn
về vốn xã hội mà không một cá nhân nào có thể đáp ứng được Chính vì vậy, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay vừa là đòi hỏi khách quan, vừa là điều kiện quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước Tầm quan trọng của cổ phần hóa đã được phân tích bởi nhiều nhà kinh tế học khác nhau Các quốc gia như Trung Quốc hay Việt Nam, bằng việc áp dụng mô hình kinh tế theo các nước Liên Xô cũ và Đông Âu
Trang 9khiến quy mô doanh nghiệp nhà nước luôn chiếm đến 80-90% tổng tài sản quốc gia Kinh nghiệm từ quá trình cổ phần hóa ở Việt Nam đã chứng minh rằng việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang hình thức công ty cổ phần không những giúp nhà nước bảo tồn nguồn vốn của mình mà còn tăng đáng kể tỷ suất lợi nhuận trên nguồn vốn trước đây Nhờ đó hoạt động của doanh nghiệp sau khi thực hiện cổ phần hóa nhạy bén, năng động và tự chủ hơn trước khiến các khoản đóng góp vào ngân sách nhà nước cũng tăng lên
Cổ phần hóa tác động rất nhiều đến nền kinh tế của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như tác động ổn định tài chính (thâm hụt ngân sách, nợ công, doanh thu thuế,…) và gián tiếp ảnh hưởng lên các biến số vĩ mô như tăng trưởng kinh tế,
tỷ lệ thất nghiệp Trong đó vai trò quan trọng nhất của cổ phần hóa là tác động tài khóa của chúng đến ngân sách quốc gia mà đặc biệt là doanh thu thuế của chính phủ Vậy giữa
cổ phần hóa và doanh thu thuế - ngân sách quốc gia tồn tại mối quan hệ như thế nào?
Chúng tôi quyết định thực hiện công trình nghiên cứu với đề tài “Tác động tài khóa của chính sách cổ phần hóa lên ngân sách nhà nước: Minh chứng ở Việt Nam” Có rất nhiều bài nghiên cứu về vấn đề cổ phần hóa ở các quốc gia Nhìn chung, bài nghiên cứu của chúng tôi sẽ theo cách tiếp cận của Ernesto Crivelli (2013), sử dụng các biến vĩ
mô để ước lượng mức độ và tầm ảnh hưởng của cổ phần hóa vào ngân sách quốc gia mà đặc biệt là doanh thu thuế Chúng tôi sử dụng số liệu theo quý từ giai đoạn năm 1995 đến năm 2013 để đi sâu vào phân tích tác động tài khóa của cổ phần hóa thông qua việc sử dụng mô hình ARCH/GARCH và VECM để ước lượng mức độ ảnh hưởng tại Việt Nam
1.2 Câu hỏi nghiên cứu
Bài nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào một câu hỏi nghiên cứu duy nhất: “Có mối quan hệ tồn tại giữa cổ phần hóa và ngân sách nhà nước mà đặc biệt là doanh thu thuế trong nền kinh tế Việt Nam hay không?”
Trang 101.3 Cấu trúc bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu của chúng tôi gồm có 5 phần Phần tiếp theo, chúng tôi sẽ khái quát thuyết cổ phần hóa, một số vấn đề lý luận về thuế và kết quả một số nghiên cứu mối tương quan giữa cổ phần hóa và doanh thu thuế tại các quốc gia đang phát triển Phần 3 của bài, nhóm nghiên cứu sẽ đi sâu hơn về phương pháp, mô hình và cách lựa chọn số liệu nghiên cứu Phần 4 trình bày kết quả nghiên cứu và những nhận định thực tiễn tại thị trường Việt nam Cuối cùng là phần kết luận
Trang 112 NỘI DUNG CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1 Lý thuyết nền tảng về cổ phần hóa
2.1.1 Khái niệm cổ phần hóa
Thuật ngữ cổ phần hóa xuất hiện ở Việt Nam cuối những năm 1980 đầu những
năm 1990, gắn với công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước Cho đến nay, dường như mọi người mặc nhiên sử dụng thuật ngữ cổ phần hóa, mà chưa quan tâm nhiều tới việc định nghĩa hay đưa ra một khái niệm đầy đủ cho thuật ngữ này Đa số mọi người thường
nhầm lẫn thuật ngữ cổ phần hóa và tư hữu hóa, về bản chất hai thuật ngữ này hoàn toàn
khác nhau
Theo định nghĩa của Liên hợp quốc về tư hữu hóa: “Tư hữu hoá là quá trình biến
đổi mối tương quan giữa Nhà nước và thị trường trong đời sống kinh tế của một nước theo hướng ưu tiên thị trường" Theo đó, toàn bộ chính sách, luật lệ và thể chế nhằm khuyến khích mở rộng và phát triển khu vực kinh tế tư nhân, giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, giành cho thị trường vai trò điều tiết ngày càng lớn
Trong khi đó ở Việt Nam, việc cổ phần hóa chỉ mang tính chất là một phương
thức cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước thiếu hiệu quả, làm các doanh nghiệp nhà nước này có nhiều chủ sở hữu, tăng tiềm lực tài chính, vốn và tài sản của nhà nước được
sử dụng hiệu quả hơn và thu hút thêm vốn của xã hội vào phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo thêm động lực và cơ chế quản lý mới, nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Chủ trương của cổ phần hóa một số doanh nghiệp nhà nước là xuất phát từ đường lối kinh tế và đặc điểm kinh tế - xã hội trong giai đoạn chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 122.1.2 Vài nét về cổ phần hóa ở Việt Nam
Năm 1992, Việt Nam bắt đầu thực hiện thí điểm cổ phần hóa Có thể nói cổ phần hóa đã và đang là một trong những vấn đề chính trong tranh luận về chính sách ở Việt Nam trong thập kỷ vừa qua, nhưng dường như thái độ của chính phủ về vấn đề này vẫn còn mâu thuẫn Một mặt, cổ phần hóa được nhấn mạnh trong báo chí và các báo cáo về chính sách Mặc khác, tiến độ cổ phần hóa ở Việt Nam vẫn còn tương đối khiếm tốn và cho tới thời điểm này doanh nghiệp nhà nước vẫn tiếp tục chiếm lĩnh vị trí trọng yếu trong nền kinh tế Việt Nam
Theo tác giả Fredrik Sjoholm (2006), cổ phần hóa ở Việt Nam được nhận thấy chủ yếu nhằm vào các doanh nghiệp nhỏ nhưng không hướng đến các doanh nghiệp lớn, và
nó không giải quyết vấn đề về hiệu quả hoạt động ở các doanh nghiệp nhà nước bởi vì nhà nước vẫn gần như kiểm soát một một phần lớn cổ phần ở các doanh nghiệp đã được
cổ phần hóa Thực tế đã cho thấy sau 22 năm tiến hành cổ phần hóa, các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và việc huy động vốn ngoài xã hội trong quá trình cổ phần hoá còn gặp nhiều hạn chế do chưa khuyến khích việc bán cổ phần ra bên ngoài Chưa có doanh nghiệp nào tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá Thời gian thực hiện cổ phần hoá một doanh nghiệp còn dài, tiến độ cổ phần hoá chậm, đặc biệt là trong giai đoạn năm 2011 - 2012, số doanh nghiệp cổ phần hóa chỉ ở con số 60 và 13 Bên cạnh đó số lượng doanh nghiệp thực hiện sắp xếp cổ phần hóa không thuộc diện nhà nước cần chi phối có tỷ lệ nắm giữ cổ phần của Nhà nước tại các doanh nghiệp trên 51% vốn điều lệ còn rất nhiều, đặc biệt là tại các tập đoàn, tổng công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ, công ty con Nhiều ngành nghề Việt Nam cho là nhạy cảm, như các ngành như dệt may, xi măng, mặc dù trên thế giới lại không được coi là những ngành chiến lược nhạy cảm, không có nắm giữ bí mật
về khoa học công nghệ, an ninh quốc phòng thì việc Nhà nước nắm giữ 51% vốn điều lệ trở lên là không cần thiết
Do đó, không ngạc nhiên khi thấy rằng cổ phiếu các doanh nghiệp nhà nước được
Trang 13trong nền kinh tế vẫn tiếp tục duy trì ổn định trong suốt những năm qua Điều này có vẻ như không gây tổn hại nghiêm trọng đến sự tăng trưởng nền kinh tế của Việt nam trong ngắn hạn Trong những năm qua, Việt Nam đã thể hiện một mức tăng trưởng kinh tế rất cao mặc dù theo đuổi một chính sách kinh tế không chính thống (Van Arkadie và Mallon, 2003) Trong dài hạn, chính sách kinh tế chủ trương doanh nghiệp nhà nước chiếm đa số
có thể sẽ không mang lại một mức tăng trưởng kinh tế đều đặn được Không một quốc gia nào trở nên giàu có bằng cách chỉ dựa vào các doanh nghiệp nhà nước
So với các nền kinh tế đang phát triển khác, chương trình cổ phần hóa ở Việt Nam được đặc trưng bởi sự “cẩn trọng” Điều này một phần là do chính phủ Việt Nam chần chừ trong việc cổ phần hóa Chính xác hơn, chương trình cổ phần hóa ở Việt Nam mang đầy tính mâu thuẫn và thiếu tính cam kết, dứt khoát Hơn nữa, chiến lược phát triển dường như thiếu sự gắn kết: Một mặt nhà nước cho rằng doanh nghiệp tư nhân là một động lực để tăng trưởng và phát triển nhưng mặt khác lại cho rằng doanh nghiệp nhà nước sẽ tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế (CPV, 2000)
Tuy nhiên, theo đuổi một lượng cổ phần hóa nhỏ có thể tạo cơ hội cho Việt Nam tiếp cận một phương pháp cổ phần hóa các doanh nghiệp SOEs tương đối an toàn và hiệu quả Bởi vì:
Đầu tiên, điều kiện kinh tế và ổn định tăng trưởng tốt tại Việt Nam cung cấp cho
chính phủ cơ hội để thực hiện việc cổ phần hóa từ từ chứ không cần phải theo đuổi một chiến lược cổ phần hóa bùng nổ
Thứ hai, Việt Nam cũng có lợi khi là một trong những nền kinh tế tham gia cổ
phần hóa trễ, nên có thể học tập và rút kinh nghiệp từ những quốc gia đi trước Cổ phần hóa trước đó đã được phổ biến rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới, nên sẽ có nhiều điều để Việt Nam có thể học hỏi được Đặc biệt, cổ phần hóa rất phổ biến trong các nền kinh tế đang phát triển với thu nhập thấp Cụ thể ở những quốc gia này, thị phần của các doanh nghiệp nhà nước đã giảm dần từ 15% vào cuối 1980 đến dưới 5% cho đến thời điểm này (Megginson và Netter, 2001)
Cuối cùng, Việt Nam có thể học hỏi từ những nỗ lực “cổ phần hóa từng bước” của
riêng mình trong các cải cách doanh nghiệp nhà nước và cổ phần hóa: Việt Nam đã bắt
Trang 14đầu chương trình cổ phần hóa vào năm 1992, và các chương trình cổ phần hóa mới đã được đưa ra trong những năm gầy đây Hơn nữa, với những phương pháp cổ phần hóa khác đã được thử nghiệm gần đây ở Việt Nam, điều đó có nghĩa là Việt Nam có thể so sánh kết quả của các chiến lược cổ phần hóa khác nhau mang lại Do đó thay vì cố tìm những phương pháp cổ phần hóa mới, Việt Nam có thể sử dụng các chiến lược đã được chứng minh là hữu ích trong quá khứ của mình cũng như ở các quốc gia khác
Vậy liệu có cần thiết phải tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước?
Cần phải nói rằng, vấn đề doanh nghiệp nhà nước luôn là vấn đề “nóng” Những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp Nhà nước hiệu quả đầu tư thấp, sản phẩm đầu tư có khả năng cạnh tranh không cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường Các doanh nghiệp nhà nước ở lĩnh vực dệt, may, giấy, đường, …phải sử dụng vốn vay ngắn hạn với lãi suất cao, trang thiết bị lạc hậu, trình độ năng lực quản lý hạn chế, dẫn đến kinh doanh thua lỗ không trả được nợ, mất vốn Nhiều lĩnh vực quan trọng do doanh nghiệp nhà nước giữ thị phần lớn nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế như thiếu điện, tham gia điều tiết thị trường chưa hiệu quả Tính chung tỉ suất lợi nhuận trên vốn của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước năm 2010 chỉ đạt 16,5%, tương đương chi phí vay vốn trung bình của các ngân hàng trong cùng thời kỳ Nhưng trong số lợi nhuận đó có đến 80% tập trung ở một số ít tập đoàn như: Dầu khí Quốc gia, Viễn thông Quân đội, Than Khoáng sản, Bưu chính Viễn thông, Công nghiệp Cao su; còn đại bộ phận doanh nghiệp
nhà nước khác đều bị thua lỗ
Theo báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương về kết quả hoạt động của 850 doanh nghiệp được cổ phần hoá đã hoạt động trên một năm cho thấy: vốn điều lệ bình quân tăng 44%; doanh thu bình quân tăng 23,6%; lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76%; trên 90% số doanh nghiệp sau cổ phần hoạt động kinh doanh có lãi; nộp ngân sách bình quân tăng 24,9%; thu nhập của người lao động bình quân tăng 12%
Theo căn cứ trên, có thể thấy cổ phần hoá là giải pháp quan trọng trong cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước và làm cho các doanh nghiệp nhà nước có nhiều chủ sở hữu, vốn
và tài sản của nhà nước được sử dụng có hiệu quả hơn Bên cạnh đó, cổ phần hoá tạo cơ
Trang 15sở thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước cổ đông về hoạt động và kết quả kinh doanh Đặc biệt, cổ phần hoá tạo điều kiện pháp lý và vật chất để người lao động nâng cao vai trò làm chủ trong doanh nghiệp Vì vậy có thể nói, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đang là một giải pháp cấp bách hiện nay
2.1.3 Các hình thức cổ phần hoá
Như ta đã biết, đặc điểm cơ bản của công ty cổ phần là vốn chủ sở hữu do nhiều
cổ đông nắm giữ, đồng sở hữu thông qua việc sở hữu các cổ phiếu của doanh nghiệp Do vậy, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhất thiết phải chào bán cổ phiếu chứng nhận quyền sở hữu doanh nghiệp cho các cổ đông
Chính phủ Việt Nam phân lọai tất cả các doanh nghiệp nhà nước (SOEs) ra thành
3 nhóm dựa vào mức độ quan trọng riêng của mỗi doanh nghiệp Nhóm 1 bao gồm các SOEs quan trọng chiến lược và do đó các doanh nghiệp này được đặt hoàn toàn dưới quyền kiểm soát và sở hữu của nhà nước Nhóm 2 bao gồm các SOEs mà chính phủ muốn giữ quyền biểu quyết, kiểm soát nếu chúng được cổ phần hóa Và nhóm 3 bao gồm các SOE còn lại, các SOE này có thể bị cổ phần hóa theo một trong bốn phương pháp như sau:
Phương án 1: Giữ nguyên giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại Doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp
Phương án 2: Bán 1 phần giá trị thuộc vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp
Phương án 3: Tách và sau đó cổ phần hóa các phần của một doanh nghiệp nhà nước (chủ yếu là áp dụng cho các tổng công ty nhà nước)
Phương án 4: Bán toàn bộ các cổ phần nhà nước cho người lao động và các cổ đông tư nhân (chủ yếu là áp dụng cho doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ)
Trang 162.1.4 Mục tiêu cổ phần hóa
Có thể nói cổ phần hóa làm tăng tính hiệu quả kinh tế bởi vì các doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp tư nhân thì tối thiểu hóa chi phí hiệu quả hơn và tối đa hóa lợi nhuận tốt hơn, trong khi các doanh nghiệp sở hữu công thường phải đối mặt với những hạn chế
do việc thắt chặt ngân sách yếu kém và họ chỉ chú trọng vào các mục tiêu khác hơn là cắt giảm chi phí, chẳng hạn như đảm bảo các mục tiêu về thực hiện các chính sách an sinh xã hội của một doanh nghiệp Nhà nước
Một số chính phủ cố gắng cải thiện tình hình tài khóa bằng cổ phần hóa Điều này phổ biến ở những quốc gia mà chính phủ của họ không muốn hoặc không có khả năng tự trợ cấp cho các thâm hụt gây ra bởi các doanh nghiệp Nhà nước (Davis và các cộng sự 2000) Khi tiến hành cổ phần hóa, nghĩa là chính phủ đã quyết định rút ra khỏi sự tham gia điều hành trực tiếp trong hoạt động kinh doanh và do đó gạt bỏ hầu hết quyền lợi, nghĩa vụ của mình cho các doanh nghiệp Nhà nước này có hoạt động thua lỗ hay mang lại lợi nhuận Lúc này các doanh nghiệp Nhà nước sẽ sẵn sàng tiếp nhận dòng vốn góp từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước, và đồng thời phải đối mặt với việc các nhà đầu tư này có thể áp dụng các biện pháp tước bỏ hoặc thanh lý khi cần thiết Điều này tạo áp lực cho các doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả hơn, đồng thời giúp cải thiện ngân sách trong các tổ chức công, phân phối lại thu nhập, nâng cao hiệu quả kinh tế, phát triển thị trường chứng khoáng và đạt được các ảnh hưởng về mặt chính trị
Kết quả nghiên cứu của Perihan và Ozlem (2007) cho thấy những mục tiêu chính thường theo đuổi các chương trình cổ phần hóa thường là:
Đạt được lợi nhuận trong hiệu quả kinh tế, do doanh nghiệp Nhà nước thường tụt hậu phía sau về hiệu suất kinh tế, trong khi những nỗ lực để cải cách của các doanh nghiệp như vậy thường đạt được thành công hạn chế Khi được sở hữu bởi nhiều chủ sở hữu, họ có xu hướng hoạt động để tạo ra lợi nhuận là chủ yếu và cố gắng để cải thiện hiệu suất
Tài trợ thâm hụt ngân sách với số tiền thu được từ cổ phần hóa trong trường hợp chính phủ phải đối mặt với khó khăn thanh khoản nghiêm trọng
Trang 17 Giảm bớt gánh nặng của các doanh nghiệp Nhà nước vào ngân sách của chính phủ Mở rộng vai trò của khu vực tư nhân trong nền kinh tế, cho phép Chính phủ tập trung nguồn lực đóng góp bởi quần chúng vào vai trò chính của Nhà nước đó
là cung cấp các dịch vụ công cơ bản, bao gồm y tế, giáo dục và cơ sở hạ tầng xã hội
Thúc đẩy thị trường vốn phát triển Vì khi cổ phiếu của các doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa phát hành trên thị trường nói chung, thị trường vốn trở nên sôi động hơn do tăng số lượng cổ phiếu trên thị trường chứng khoán đồng thời khuyến khích sự tham gia rộng rãi của người dân vào việc sở hữu và quản lý doanh nghiệp
Cổ phần hóa cũng hướng đến các cải cách thông qua thương mại hóa hoặc tái cơ cấu hiệu suất của hầu hết các doanh nghiệp khu vực công, đảm bảo tính thanh khoản của tất cả các doanh nghiệp Nhà nước không có khả năng chi trả sớm nhất
có thể
Trong chừng mực phù hợp với các mục tiêu chính, cổ phần hóa phải đáp ứng các mục tiêu thứ cấp sau đây:
Tạo ra một nền kinh tế định hướng thị trường
Nâng cao mức độ tiếp cận thị trường vốn nước ngoài và công nghệ Ngược lại có thể thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn và duy trì được tính độc lập
Tuy nhiên, tiến trình thương mại hóa và tái cấu trúc được thiết kết sao cho đảm bảo rằng các doanh nghiệp Nhà nước còn lại trong khu vực công đáp ứng được thị trường, chi phí hợp lý và có xu hướng sinh lợi Hành động như những thực thế kinh doanh khác mà không cần phải thực hiện các hoạt động phi thương mại trừ khi nhận được bồi thường rõ ràng từ chính phủ Không can thiệp vào chính trị trong hoạt động của mình bao gồm cả các ngân hàng; nhận được sự hướng dẫn của các cơ quan giám sát để có thể phù hợp tối thiểu với việc đuổi lợi ích của người tiêu dùng Có hội đồng và ban giám đốc độc lập và có trách nhiệm; và có hệ thống giám sát hoạt động hiệu quả
Trang 182.1.5 Tác động của cổ phần hóa ở các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển 2.1.5.1 Tác động tài khóa
Có rất nhiều bài nghiên cứu về tác động của cổ phần hóa ở các quốc gia đang phát triển, nhìn chung bài nghiên cứu của chúng tôi sẽ theo cách tiếp cận của Yannis Katsoulakos và Elissavet Likoyanni (2002) Tác giả cho rằng tác động về mặt tài chính của cổ phần hóa được phản ánh không chỉ là số lượng tiền thu được từ cổ phần hóa và việc sử dụng số tiền đó như thế nào mà còn là tác động của chúng đến dòng tài chính trong ngân sách nhà nước, đặc biệt là doanh thu thuế Lợi ích ròng mà chính phủ nhận được từ cổ phần hóa là một quá trình đầu tư lâu dài Nếu khu vực tư nhân dự kiến sẽ điều hành doanh nghiệp hiệu quả hơn so với nhà nước thì lợi ích ròng của chính phủ nhận được từ cổ phần hóa sẽ tăng lên, dẫn đến chính phủ sẽ sẵn lòng tiến hành cổ phần hóa và
có thể thu thuế hiệu quả hơn Trong trường hợp này, cổ phần hóa sẽ mang đến một tác động tích cực lâu dài về mặt tài chính công Tuy nhiên, cũng không thể không xét đến trường hợp chính phủ phải đối mặt với khó khăn về mặt thanh khoản nên có thể họ sẽ sẵn lòng bán tài sản của mình ở một mức giá thấp hơn giá trị kinh tế của tài sản để tài trợ cho chi tiêu của mình, lúc này cổ phần hóa chưa chắc sẽ mang lại một tác động tích cực lâu dài về mặt tài chính mặc dù trước mắt chúng giúp chính phủ giải quyết được vấn đề thanh khoản của mình
Yannis và Ellisavet (2002) cho rằng số tiền thu được từ cổ phần hóa phản ánh tác động của chúng lên các biến số vĩ mô cũng như lên lợi ích ròng của chính phủ Mức độ tác động tài chính được tài trợ bởi số tiền thu được từ cổ phần hóa phụ thuộc phần lớn vào nguồn gốc của số tiền thu được (trong hay ngoài nước), mức độ lưu chuyển vốn và
cơ chế quản lý tỷ giá Đặc biệt, nếu số tiền thu được từ cổ phần hóa có nguồn gốc trong nước thì sẽ dẫn đến một sự gia tăng trong cầu tiền cho khu vực tư nhân để mua các tài sản được cổ phần hóa, cũng như khi số tiền thu được đến từ nước ngoài chứng tỏ thị trường tài chính trong nước hoạt động hiệu quả, tác động của chúng giống như việc chính phủ vay nợ nước ngoài dẫn đến áp lực tăng giá thực của đồng tiền
Trang 19Một sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách hoặc do chính phủ chi tiêu nhiều hơn hoặc do chính phủ đánh thuế thấp hơn Nếu thâm hụt này được bù đắp bởi số tiền cổ phần hóa thu được thì sẽ có kết quả giống như chính sách tài chính mở rộng được tài trợ bởi sự gia tăng nợ công (McKenzie, 1998), dẫn đến sự gia tăng cầu trong nước, ngoài ra còn ảnh hưởng đến các biến số vĩ mô khác như lạm phát, tài khoản vãng lai bên ngoài Những ảnh hưởng này còn phụ thuộc vào tình trạng ban đầu của các biến số kinh tế vĩ mô cũng như việc chính phủ gia tăng chi tiêu như thế nào trong nhập khẩu và hàng hóa dịch vụ trong nước Một số bài nghiên cứu được biên soạn dưới danh nghĩa của IMF (2000) để kiểm tra xem liệu có phải số tiền thu được từ cổ phần hóa sau khi chuyển giao cho ngân sách nhà nước sẽ được sử dụng để tài trợ cho các thâm hụt lớn hay được dùng để tài trợ cho các nguồn tài chính khác Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng số tiền thu được từ cổ phần hóa không được sử dụng để tài trợ cho các thâm hụt lớn, bên cạnh đó nó cũng chỉ ra rằng tình hình tài chính có xu hướng tốt hơn nếu cổ phần hóa xảy ra
Các tài khoản tài chính có thể bị ảnh hưởng bởi cổ phần hóa theo nhiều cách: trực tiếp, thông qua các ảnh hưởng của cổ phần hóa lên dòng tài chính ra vào của các doanh nghiệp được cổ phần hóa và gián tiếp, thông qua các quyết định về việc sử dụng số tiền
từ cổ phần hóa như thế nào Nếu các yếu tố khác không đổi, thuế thu được từ các doanh nghiệp được cổ phần hóa phản ánh những thay đổi trong hiệu quả hoạt động Ở cấp độ vĩ
mô, có bằng chứng cho thấy các doanh nghiệp sau khi được cổ phần hóa sẽ trả thuế nhiều hơn so với các thời kỳ trước khi cổ phần hóa Ở nhiều quốc gia, tổng ngân sách nhà nước phân bổ cho khu vực các doanh nghiệp nhà nước có xu hướng giảm xuống sau khi cổ phần hóa được tiến hành, trong khi đó số tiền thu được từ cổ phần hóa cũng được tìm thấy là được sử dụng để giảm nợ
Một trong những nghiên cứu được công bố đầu tiên kiểm tra tác động tài chính của cổ phần hóa là Jeronimo, Pagan và Soydemir (2000) Tác giả sử dụng dữ liệu bảng số tiền thu được từ cổ phần hóa qua các quốc gia và thâm hụt ngân sách ở các nước OECD
từ 1990-1997 để phân tích những vấn đề về thâm hụt ngân sách ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý, Hy Lạp trong những năm 1990 và những thay đổi khi cổ phần hóa đóng vai trò như một công cụ tái cơ cấu kinh tế so với việc cổ phần hóa đóng vai trò như một công cụ
Trang 20quy tụ tiền tệ Châu Âu Tác giả đã dẫn chứng một mối quan hệ nghịch chiều giữa các số tiền thu từ cổ phần hóa và thâm hụt trong bốn quốc gia này, nhưng điều này lại không đúng cho các thành viên còn lại của EU Đối với các nước miền Nam Châu Âu, cổ phần hóa dường như được hưởng ứng nhiều hơn như một phương tiện để đáp ứng các tiêu chuẩn quy tụ Maastricht hơn là một công cụ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.1.5.2 Tác động đến các biến số vĩ mô
Các tài liệu nghiên cứu vĩ mô ủng hộ mạnh mẽ rằng các doanh nghiệp tư nhân thì hoạt động hiệu quả hơn các doanh nghiệp được điều hành bởi nhà nước Kết quả này cũng được hỗ trợ bởi một số nghiên cứu khác về thành quả hoạt động của các doanh nghiệp ở các quốc gia phát triển và đang phát triển (Davis, 2000) cũng như trong các nền kinh tế chuyển đổi (Havrylyshyn và McGettigan, 1999)
Aziz và Westcott (1997) và Salai-Martin (1997) nhận thấy rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế có xu hướng nhanh hơn trong các nền kinh tế có phần đóng góp của khu vực tư nhân trong GDP cao hơn Theo các bằng chứng thực nghiệm của Davis (2000), có một mối quan hệ tích cực rõ ràng giữa cổ phần hóa và tốc độ tăng trưởng, điều này rõ nhất ở các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển Một số nghiên cứu thực nghiệm cho rằng cổ phần hóa không liên quan đến thất nghiệp ở quy mô lớn nhưng theo Davis (2000) cổ phần hóa lại có ảnh hưởng đến tỷ lệ thất nghiệp hiện thời và trước đó Bởi theo tác giả các kết quả như thế này xuất phát từ kết hợp của nhiều chính sách khuyến khích tăng trưởng và giảm thất nghiệp
Trang 21Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm gần đây về tác động tài khóa và
vĩ mô của cổ phần hóa
Nghiên cứu của tác giả
Mô tả mẫu, thời gian nghiên cứu, và phương pháp nghiên cứu
Tóm tắt kết quả thực nghiệm và kết luận
Jeronimo, Pagan, và
Soydemir (2000)
Đầu tiên kiểm tra tác động tài chính của cổ phần hóa là Jeronimo, Pagan và Soydemir (2000) Tác giả
sử dụng dữ liệu bảng số tiền thu được từ cổ phần hóa qua các quốc gia và thâm hụt ngân sách ở các nước OECD từ 1990-1997 để phân tích những vấn đề về thâm hụt ngân sách ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý,
Hy Lạp trong những năm
1990 và những thay đổi khi
cổ phần hóa đóng vai trò như một công cụ tái cơ cấu kinh tế so với việc cổ phần hóa đóng vai trò như một công cụ quy tụ tiền tệ Châu
Âu
Kết quả chỉ ra rằng có một mối quan hệ nghịch chiều giữa các số tiền thu từ cổ phần hóa và thâm hụt trong bốn quốc gia này, nhưng điều này lại không đúng cho các thành viên còn lại của EU Đối với các nước miền Nam Châu Âu, cổ phần hóa dường như được hưởng ứng nhiều hơn như một phương tiện để đáp ứng các tiêu chuẩn quy tụ Maastricht hơn là một công
cụ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Macedo (2000) Nghiên cứu tác động tài
chính của các chương trình
cổ phần hóa ở Brazil Các
Kết luận rằng số tiền thu được từ chương trình cổ phần hóa cơ bản đã bị lãng
Trang 22chương trình này đã huy động được hơn 71 tỷ USD thông qua việc bán 115 doanh nghiệp từ 1991 đến
1998 Ông đặc biệt hướng đến việc liệu số tiền thu được đã được sử dụng hợp
lý chưa để cải thiện tình hình tài chính các khoản nợ của chính phủ Brazil, hay được dùng để giảm việc bất bình đẳng trong thu thập của người dân Brazil
phí Các khoản thu được
bù đắp cho việc thắt chặt ngân sách lỏng lẻo và góp phần làm chậm lại( nhưng không ngăn chặn) giảm giá thực tế Thay vì sự sử dụng
số tiền thu được này để trả
nợ, số tiền này chỉ kéo theo
nợ công càng lúc càng nhiều và mở rộng hơn và cuối cùng chính phủ đành phải kết thúc chương trình trong sự vỡ nợ, bất bình đẳng gia tăng, bởi vì thực
tế chỉ có những người dân với thu nhập ở mức cao hoặc ở mức trung bình mới mua được cổ phần của các doanh nghiệp thoái vốn
Ghi nhận rằng số tiền thu được trên trung bình tương đương với 1.75% GDP (2% đối với các quốc gia chuyển đổi) cho toàn bộ 18 quốc gia trong giai đoạn cổ phần hóa được tiến hành
Họ cũng chứng minh được rằng số tiền thuần thu được
Trang 23được từ cổ phần hóa được
sử dụng như thế nào ở 8 nền kinh tế chuyển đổi và 10 nền kinh tế không chuyển đổi từ đó đưa ra các trình cổ phần hóa khá lớn từ 1987-
1998 Đặc biệt, các tác giả cũng đặt câu hỏi liệu số tiền
cổ phần hóa thu được có được “tiết kiệm” (sử dụng
để trả nợ hoặc giảm các khoản vay mới) hay “chi tiêu” cho các chương trình mới hoặc duy trì các chương trình cổ phần hiện
có ở các cấp độ không bền khác nhau
đạt trên trung bình ít hơn một nữa số tiền thu được
từ phát hành cổ phần Các bằng chứng kinh tế chỉ ra rằng doanh thu từ cổ phần hóa đã được tiết kiệm chứ không phải dùng cho chi tiêu, và cũng chỉ ra được rằng tình hình tài chính của các nước nghiên cứu có xu hướng được cải thiện khi nhấn mạnh đến sự cần thiết phải minh bạch công khai trong quá trình cổ phần hóa
và đề nghị nên xem xét số tiền thu được từ cổ phần hóa như một mục trong tài khoản tài chính của quốc gia chứ không đơn thuần là doanh thu nói chung
Katsoulakos and Likoyanni
(2002)
Nghiên cứu tác động của cổ phần hóa lên thâm hụt ngân sách, nợ công, thất nghiệp
và tăng trưởng bằng cách tiến hành phân tích bằng kinh tế lượng dữ liệu cấp quốc gia của 23 quốc gia ở OECD giai đoạn 1990-
Ghi nhận có mối quan hệ nghịch chiều đáng kể giữa
số tiền cổ phần hóa thu được và nợ công cho toàn thể các nước OECD, nhưng điều này lại không đúng đối với các quốc gia
có số công nợ quá cao (Bỉ,
Trang 242000 Và họ cũng tiến hành xem xét lại ở mẫu 4 quốc gia Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý, Hy Lạp để có thể xác nhận hay bác bỏ các bằng chứng mà Jeronimo, Pagan, và Sovdemir (2000)
đã đưa ra
Hy Lạp, Ý) Số tiền cổ phần hóa thu được không tương quan đáng kể với thâm hụt ngân sách đối với toàn bộ các quốc gia OECD và cho cả bốn quốc gia phía Nam Châu Âu Họ cũng tìm thấy rằng doanh thu từ cổ phần hóa hiện hành có mối quan hệ nghịch biến với tỷ lệ thất nghiệp hiện tại nhưng lại
có một mối quan hệ đồng biến với tỷ lệ thất nghiệp trước đó
2.2 Những vấn đề lý luận về thuế
2.2.1 Khái niệm và chức năng
2.2.1.1 Khái niệm
Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của Nhà nước, vì Nhà nước
và do Nhà nước Thuế là một công cụ quan trọng mà bất kỳ Nhà nước nào cũng sử dụng
để hoàn thành chức năng của mình Tuy nhiên, cho đến nay có nhiều cách nhìn nhận khác nhau và người ta vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế cũng như nhìn chung chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế Chẳng hạn theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản : “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khóa…” (Mác - Ăng ghen)
Trang 25Càng về sau, khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn Hai nhà kinh tế Mỹ Makkhell và Bruy –M.(1993) lại đưa ra khái niệm mới rằng “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ)”
Ở Việt Nam, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế mà tùy theo cách nhìn nhận ở các góc độ khác nhau, người ta có thể hiểu khác nhau về thuế Nhưng
hiện nay các nhà kinh tế đều nhất trí kết luận rằng: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc đối với các thể nhân và pháp nhân, được nhà nước quy định thông qua hệ thống pháp luật Sự ra đời của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và
sự xuất hiện của Nhà nước
Chức năng điều tiết kinh tế của thuế: Thuế thực hiện chức năng điều chỉnh thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và nộp thuế, xây dựng chính xác các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế
Hai chức năng của thuế tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ Chức năng phân phối
và phân phối lại là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của chức năng điều tiết kinh tế, nhưng chức năng điều tiết kinh tế của thuế cũng có tác động ngược lại đến chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập (Theo ThS Châu Thành Nghĩa)
Trang 262.2.2 Chính sách thuế ở các nền kinh tế đang phát triển
Trong thời đại ngày nay, toàn cầu hóa kinh tế đang trở thành xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các khu vực vừa thúc đẩy hợp tác vừa tăng sức ép cạnh tranh giữa các nền kinh tế Trong điều kiện như vậy, một quốc gia có chính sách thuế thích hợp sẽ nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh, đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước và đảm bảo độ an toàn trong quá trình hội nhập
Theo tài liệu nghiên cứu của Martinez – Vazquez và McNab (2000), các quốc gia mới nổi và đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia hướng đến việc liên kết với nền kinh
tế quốc tế, chính sách thuế vô cùng nhạy cảm Các quốc gia đang phát triển thường được đặc trưng bởi sản phẩm nông nghiệp - chiếm phần lớn tổng thu nhập đầu vào của đất nước, rất nhiều doanh nghiệp nhỏ - đa số là các khu vực hoạt động kinh tế không chính thức, tiền lương tương đối thấp trên tổng thu nhập quốc gia, Tất cả những đặc trưng này làm giảm đảng kể khả năng thu thuế của Nhà nước như thuế thu nhập cá nhân đến một mức thấp hơn nhiều là thuế giá trị gia tăng, như vậy cũng làm giảm khả năng nâng cao mức đánh thuế Chính vì vậy, ở các quốc gia này, hệ thống thuế nên: (1) nâng cao doanh thu thuế đủ để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng thiết yếu mà không cần trông cậy quá mức vào việc vay mượn khu vực công, (2) nâng cao doanh thu theo nhiều cách – công bằng, tối thiểu hóa các tác động tiêu cực lên hoạt động kinh tế và bằng các cách không làm đi chệch đáng kể các định mức kinh tế sẵn có
Với cấu trúc nền kinh tế đang phát triển đi cùng nền dân trí và nguồn lực con người thấp, đội ngũ quản lý thuế học vấn không cao và được đào tạo tốt, nguồn lực để chi trả tiền công và mua các thiết bị thiết yếu không sẵn có, thật khó khăn để tạo nên một hệ thống quản lý thuế tốt và hiệu quả (Vito Tanzi và Howell H Zee, 2000) Chính vì những
lý do này, các quốc gia thường phát triển hệ thống thuế mà cho phép họ khai thác các nguồn lực sẵn có hơn là phát triển hệ thống thuế hiện đại như ở các quốc gia phát triển Hậu quả là các quốc gia đang phát triển có rất nhiều nguồn thuế nhỏ, phụ thuộc khá nhiều vào thuế ngoại thương và tận dụng không đáng kể nguồn thuế thu nhập cá nhân
Trang 27Một tài liệu nghiên cứu có giá trị khác về hệ thống thuế ở các quốc gia đang phát triển là của George Tsibouris và Vivo Tanzi (2000), ở những nền kinh tế đang phát triển, phần lớn doanh thu thuế được thu thập từ ba nguồn lực chính: thuế doanh thu, thuế đánh trên thu nhập doanh nghiệp và thuế lương bổng Các quốc gia luôn cố gắng nỗ lực sửa đổi thể chế cũ để tạo ra một thể chế mới tốt đẹp và hoàn thiện hơn nhưng trở ngại lớn nhất mà các quốc gia này gặp phải chính là đội ngũ quản lý thuế – những người được giáo dục và đào tạo theo các phương pháp cũ gặp rất nhiều khó khăn trong việc thay đổi
tư duy và những người có liên quan, chịu trách nhiệm về những thể chế này thường không đủ kiến thức và kinh nghiệm để hiểu hệ thống quản lý thuế vận hành như thế nào trong nền kinh tế thị trường Chính vì vậy, đội ngũ quản lý thuế cảm thấy thoải mái hơn khi vẫn tiếp tục duy trì hệ thống cũ Rất nhiều chính phủ cảm thấy khó khăn và khó chấp nhận rằng, trong nền kinh tế thị trường, hệ thống thuế nên là công cụ với mục tiêu tăng cường doanh thu thuế một cách hiệu quả và công bằng Thay vì vậy, hệ thống thuế lại được xem như công cụ làm giảm số lượng doanh nghiệp trong nền kinh tế, đồng thời duy trì việc làm khi cho phép các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trả lương thay vì đóng thuế cùng các hoạt động kích thích nền kinh tế khác Bằng những cách như vậy, hệ thống thuế
đã dần thay thế cho các công cụ trong nền kinh tế cũng như những chính sách an sinh xã hội khác Cuối cùng có thể thấy rằng, ở những quốc gia này, chính phủ luôn dành nhiều thời gian giải quyết các vấn đề của cá nhân nộp thuế hơn là tiến hành cải cách lại hệ thống thuế quốc gia (Tanzi, 1998) Điều này có thể làm tăng gánh nặng thuế lên nền kinh
tế hơn là thu lợi từ những lợi ích của chúng
Tuy vậy, quy trình cải cách thuế cũng rất đa dạng ở những nền kinh tế đang phát
triển Bảng dưới đây là nghiên cứu được tiến hành bởi đội ngũ IMF được hướng dẫn bởi Ebril và Havrylyshyn (1999), đưa ra sự đánh giá cho quy trình cải cách hệ thống thuế ở các quốc gia Baltics, Russia và các quốc gia khác trong Liên bang Xô-viết (Soviet Union (BRO)) từ năm 1992 đến giữa năm 1998 Chỉ số xếp hạng các quốc gia BRO từ 1 (thấp) đến 5 (cao) Chỉ số xếp hạng này không tránh khỏi những đánh giá chủ quan, tuy nhiên, vẫn phản ánh được những điểm cơ bản nhất của việc cải cách chính sách thuế Tanzi
Trang 28(2000) kỳ vọng rằng có mối tương quan giữa cải cách chính sách thuế và thành quả doanh thu Tuy nhiên, cần chú ý rằng việc cải cách thuế diễn ra tương đối khá nhiều trong các giai đoạn đó, nhưng vẫn chưa thật sự hiệu quả, việc cải cách (như loại trừ thuế xuất khẩu và thuế trên tiền công dư thừa) đã làm giảm doanh thu trong ngắn hạn Hơn nữa, nhiều cải cách chính sách thuế gặp khó khăn bởi đội ngũ quản lý thuế
Bảng 2.2: Đánh giá cải cách chính sách thuế ở những quốc gia đang phát triển
giai đoạn 1992 đến giữa năm 1998
Nguồn: Đội ngũ IMF, hướng dẫn bởi L.Ebrill và O.Havrylyshyn (1999)
2.2.3 Vai trò của doanh thu thuế trong nền kinh tế đang phát triển
Quan điểm về thời kỳ chuyển đổi đến nền kinh tế thị trường hiện nay rất khác nhau Sau sự sụp đổ của nhà nước một đảng, hầu hết các nền kinh tế Đông Âu và các nước Liên bang Xô-Viết dường như đã có thời kỳ chuyển đổi nhanh chóng
Daniel Berkowitz và Wei Li (2000) tiến hành nghiên cứu tác động của doanh thu thuế đến nền kinh tế ở hai quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi vào thời điểm đó là Trung Quốc và Nga Tác giả nhận thấy rằng số lượng cơ quan thuế độc lập ở Trung Quốc ngày càng giảm và doanh thu thuế đã trở nên rõ ràng hơn, trong khi đó lại có bằng chứng cho thấy số lượng cơ quan thuế độc lập ở Nga (bao gồm các cấp độ khác nhau của chính phủ) tăng lên nhưng lợi ích thu được từ thuế lại kém rõ ràng hơn hẳn
Trang 29Trường hợp ở Trung Quốc, giai đoạn từ năm 1978 đến năm 1993, doanh thu thuế chính phủ ở Trung Quốc tăng hơn 40%, đây là kết quả từ việc mở rộng nhanh chóng các
cơ sở thuế cùng tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ Từ đây, chính phủ Trung Quốc ở các cấp khác nhau có điều kiện tăng cường chi tiêu vào hàng hóa công và cơ sở hạ tầng như giáo dục, sức khỏe, giao thông vận tải và thông tin liên lạc Tuy nhiên đến giai đoạn nhà nước đặt mục tiêu thúc đẩy đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước, chính phủ ra quyết định tiến hành cắt giảm thuế Hoãn thuế, miễn, giảm thuế được liên tục áp dụng cho các doanh nghiệp từ địa phương - xã, phường, thị trấn cho đến cả các công ty nước ngoài Kết quả là, các doanh nghiệp này tăng trưởng rất nhanh Từ giữa năm 1990 đến năm 1998, khu vực phi chính phủ của Trung Quốc, bao gồm các doanh nghiệp tập thể, tư nhân và đầu tư nước ngoài, tăng trưởng với tốc độ trung bình hằng năm là 26%, tăng hơn hẳn so với giai đoạn trước đó Cổ phần của khu vực phi chính phủ trên tổng sản lượng đầu ra ngành công nghiệp cũng tăng đáng kể từ 24% năm 1990 đến 68% năm
1998 Có bằng chứng còn cho thấy rằng các doanh nghiệp nhà nước thậm chí đã cắt giảm một phần gánh nặng thuế, căn cứ trên bảng khảo sát 769 doanh nghiệp nhà nước (Li (1997)), doanh thu thuế giảm từ 48% năm 1990 đến 33% năm 1998 Tuy nhiên, chính quyền địa phương vẫn chỉ khuyến khích cắt giảm thuế cho doanh nghiệp trong phạm vi cho phép Gordon và W.Li (1991) tranh luận rằng, khi chính quyền địa phương khai nộp thuế thu với chính quyền trung ương, có thể họ sẽ không báo cáo chính xác, thậm chí lấy
đi một phần doanh thu thuế của các doanh nghiệp họ kiểm soát Qua hai sự kiện trên ở Trung Quốc, chúng tôi có thể kết luận rằng, doanh thu thuế đóng một vai trò vô cùng to lớn trong việc điều hành chính sách ở mỗi quốc gia
Đối với trường hợp ở Nga, việc đóng thuế ở các doanh nghiệp thật sự là một gánh nặng Các nhà quản lý doanh nghiệp than phiền rất nhiều về gánh nặng thuế cũng như những vấn đề phức tạp liên quan đến việc chi trả thuế cho chính phủ Có bằng chứng ủng
hộ cho giả thiết của tác giả rằng việc đóng thuế quá mức ở Nga đã buộc nhiều doanh nghiệp không muốn hoạt động công khai (Johnson, Kaufman và Shleifer (1997)) Cũng
có bằng chứng (theo Shleifer và Treisman (1999)) cho rằng việc đăng ký thành lập doanh
Trang 30nghiệp của các doanh nghiệp nhỏ - động lực tăng trưởng của Trung Quốc cũng như ở các nền kinh tế mới nổi khác – đã bị trì trệ ở Nga Các doanh nghiệp nhỏ thường xuyên báo cáo về việc thất thu ngân sách cũng như tình trạng kinh tế tồi tệ nhiều hơn các doanh nghiệp trung bình và lớn Dựa trên bảng khảo sát được tiến hành năm 1998, Shleifer và Treisman (1999) đưa đến kết luận rằng các doanh nhân trong giao dịch thương mại bán lẻ cho rằng việc đóng thuế cao được xem là gánh nặng lớn nhất của họ so với các yếu tố khác (81% câu trả lời) để giải thích cho việc phát triển bị giới hạn ở các doanh nghiệp nhỏ Từ đây, có thể kết luận rằng thuế tác động rất lớn đến chiến lược phát triển kinh tế, tăng trưởng hay sụt giảm số lượng doanh nghiệp lớn nhỏ tùy thuộc rất nhiều vào chính sách thuế ở mỗi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển
Việt Nam là quốc gia có nền kinh tế đang phát triển đáng chú ý Trong những năm gần đây, nhiều tổ chức quốc tế đã giới thiệu các nền kinh tế đang nổi và sắp xếp theo nhóm, Việt Nam là quốc gia được đưa vào một số nhóm nước đang nổi rất đáng chú ý do sức phát triển khá nhanh Chính vì vậy, để tận dụng cơ hội và giảm thiểu những thách thức, Nhà nước phải sử dụng có hiệu quả những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô, trong đó thuế là một công cụ hết sức quan trọng
Thuế là nguồn thu chủ yếu và quan trọng nhất của Ngân sách nhà nước: Nhà nước
có thể thu ngân sách từ nhiều nguồn khác nhau nhưng không có nguồn thu nào ổn định và bền vững bằng thuế Hàng năm, thuế luôn đóng góp khoảng trên 90% vào tổng thu ngân sách nhà nước
Bảng 2.3: Ngân sách nhà nước qua các năm
Đơn vị: tỷ đồng
Trang 31Với việc đóng góp một tỷ trọng cao và ngày càng tăng lên trong tổng thu ngân sách nhà nước, thuế đang ngày càng chứng tỏ vai trò chủ đạo của mình trong việc huy động tài chính công phục vụ chi tiêu cho cả quốc gia
Thuế là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô nền kinh tế của Chính phủ: Thông qua pháp lệnh về thuế, Nhà nước chủ động tác động đến cung – cầu của nền kinh tế góp phần phân bổ lại nguồn lực Bên cạnh đó, thuế còn là công cụ điều chỉnh giá
cả thị trường và kiềm chế lạm phát
Thuế góp phần điều hòa thu nhập và thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội: Nhà nước sử dụng công cụ thuế để đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập giữa những người có thu nhập cao và thấp hay tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả thông qua các chính sách miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp mới thành lập
Thuế là công cụ kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh
2.3 Mối quan hệ giữa cổ phần hóa và doanh thu thuế ở các quốc gia đang phát triển
Một thực tế không thể phủ nhận là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có tác động đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế, phân tích của các nhà kinh tế cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ cổ phần hóa tỷ lệ thuận với nhau Có rất ít quan điểm nghi ngờ việc tiến hành cổ phần hóa ở các doanh nghiệp nhà nước sẽ tạo ra tác động chủ yếu lên vị thế tài chính của chính phủ (David cùng các cộng sự (2000) và Barnett (2000)) Các quốc gia thực sự quan tâm đến tác động tiềm năng của cổ phần hóa lên cân đối ngân sách và sâu hơn là sự ổn định kinh tế vĩ mô nước nhà
Cơ sở lí luận của đa số các nghiên cứu này là công trình nghiên cứu của Helena Beddari (2011) cùng phân tích thực nghiệm tại Zambia, kết quả nghiên cứu của Helena cho thấy rằng có rất nhiều nguyên nhân cho việc tiến hành cổ phần hóa ở các doanh nghiệp nhà nước nhưng đối với Zambia, mục tiêu được đặt ra là nâng cao hiệu quả kinh
tế, thúc đẩy khu vực tư nhân phát triển và đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế (Zambian Authorities et al 1999) Để hiểu được tác động tài khóa của việc cổ phần hóa, ông đi phân
Trang 32tích tác động lên dòng chảy thu nhập vào và giá trị tài sản của chính phủ Mối quan hệ tài chính giữa chính phủ và các doanh nghiệp nhà nước bao gồm thuế và cổ tức và các giao dịch khác có cả trợ cấp Sau khi cổ phần hóa, thay đổi trong giá trị tài sản chính phủ sẽ cân bằng với tổng lợi nhuận thu được từ cổ phần hóa và giá trị ròng của thuế thu được từ các doanh nghiệp cổ phần hóa, trừ đi giá trị ròng các khoản trợ cấp cho các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước và giá trị ròng các khoản thuế mất đi từ các doanh nghiệp này Nếu khu vực tư nhân điều hành công ty hiệu quả hơn nhà nước, giá trị tài sản ròng của chính phủ được kỳ vọng sẽ còn tăng cao hơn Điều này hoàn toàn có thể xảy ra nếu chính phủ có thể cổ phần hóa và thu thuế hiệu quả, cổ phần hóa sẽ đem đến các tác động tích cực đến khu vực tài chính công (Davis cùng các cộng sự, 2000) Vậy thì liệu tiền thuế phải trả của các doanh nghiệp cổ phần hóa sẽ thay đổi như thế nào? Doanh thu thuế hay nói cách khác là ngân sách quốc gia có được thu lợi từ lợi nhuận doanh nghiệp? Galal cùng cộng sự (1994) đã đưa ra bằng chứng cho thấy các doanh nghiệp cổ phần hóa sẽ trả nhiều thuế hơn hẳn trước khi cổ phần hóa Kết quả thu thập từ Zambia, doanh thu thuế của chính phủ tăng đáng kể từ sau khi cổ phần hóa khu vực quặng mỏ Trước khi cổ phần hóa, chính phủ phải thực hiện chính sách trợ cấp rất lớn để duy trì hoạt động khu vực khai thác quặng này, nhưng ngày hôm nay, công ty khai thác quặng Kansanshi Mining PLC trở thành đối tượng đóng thuế lớn nhất Zambia Năm 2010, doanh thu nội địa của Zambia đạt 1,8%, chính là nhờ phần lớn thu nhập thuế từ các công ty khai thác quặng khu vực tư nhân hóa (Theo IMF 2011)
Trang 33Biểu đồ 2.1: Doanh thu thuế khu vực khai thác mỏ ở Zambia
Nguồn: ZRA2011
Ngoài ra trong các bài nghiên cứu khác, các tác giả đều đưa ra những nhận định riêng của mình về tác động tài khóa của cổ phần hóa cũng như cung cấp các bằng chứng ủng hộ quan điểm như cho rằng cổ phần hóa dẫn đến sự thay đổi trong cấu trúc GDP, các khu vực được cổ phần hóa trả thuế nhiều hơn, bên cạnh đó tác giả còn thấy rằng quy trình
cổ phần hóa đi cùng với sự cải thiện chính sách quản lý vĩ mô, bao gồm chính sách thuế
và quản trị của chính phủ Một bằng chứng thuyết phục hỗ trợ quan điểm của tác giả là kết quả nghiên cứu từ các dữ liệu thu thập qua các năm khi cổ phần hóa tăng 1% trên GDP thì doanh thu thuế tăng vào khoảng ¼% trên GDP
Tuy vậy, một câu hỏi được đặt ra là liệu giữa cổ phần hóa và doanh thu thuế có tồn tại mối tương quan nào khác?
Tác giả Ernesto Crivelli (2013) lại có quan điểm đi ngược với các nghiên cứu trước đây, tác giả nhận định rằng cổ phần hóa có liên quan đến sự suy giảm trong ngân sách nhà nước, mà đặc biệt là doanh thu thuế ở các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển Tác giả thu thập số liệu và thực hiện công trình nghiên cứu ở 29 quốc gia ở Đông
Âu và Liên Bang Xô Viết, kết quả cho thấy dấu hiệu về một tác động tiêu cực mạnh mẽ của việc cổ phần hóa đến các nguồn thu thuế khi số tiền thu được từ doanh thu thuế có thể xấu đi đáng kể bởi cơ sở căn cứ tính thuế có thể bị thu hẹp và các phương pháp tính
Trang 34thuế đặc biệt cho một số khu vực kinh tế thường được áp dụng có sự thay đổi Mặc dù trong hai thập kỷ qua, các cải cách trong hệ thống thuế liên tục được thực hiện, bao gồm
cả việc áp dụng thuế giá trị gia tăng thì số tiền thu được từ doanh thu thuế vẫn mờ nhạt ở các quốc gia đang phát triển sau sự sụt giảm đáng kể trong doanh thu thuế trong những năm đầu 1990 Một ngoại lệ nổi bật nhất có lẽ là kinh nghiệm trải qua của một số nước Đông Âu khi thực hiện cải cách thuế và thành công rất sớm trong tiến trình quá độ và tiến tới hiện đại hóa nền kinh tế - ở một chừng mực nào đó việc quản lý doanh thu thuế có sự cải thiện rõ rệt Tác giả nhận thấy rằng doanh thu thuế đặc biệt bị ảnh hưởng ở các nền kinh tế đang phát triển trong giai đoạn đầu của quá trình thực hiện tự do hóa, cổ phần hóa
và các cải cách ổn định (Ebrill và Havrylyshyn (1990), Martinez – Vazquez và McNab (2000)) Trước khi chuyển đổi, các nguồn doanh thu thuế chính chủ yếu gần như đến từ thuế thu từ các doanh nghiệp nhà nước, thuế đánh trên lợi nhuận (tax on profits) và thuế đánh trên doanh số (the turnover tax) là nguồn doanh thu thuế lớn và quan trọng nhất Thuế đánh trên lợi nhuận được thu chủ yếu dựa vào cơ sở thương lượng giữa các doanh nghiệp với các quan chức chính phủ, với mức thuế suất được điều chỉnh thường xuyên và gánh nặng thuế thông thường khác nhau tùy thuộc vào từng ngành công nghiệp (Buiter, 1997) Thuế đánh vào doanh số được đánh chủ yếu trên hàng hóa, thu từ các đại lý bán buôn hoặc bán lẻ và thường được sử dụng như một cơ chế để điều tiết giá cả và hỗ trợ cho việc phân bổ các nguồn lực trong kế hoạch Cơ sở tính thuế thường là chênh lệch giữa giá bán lẻ (được cố định bởi chính phủ) và chi phí sản xuất
Bài nghiên cứu của Ernesto Crivelli (2013) cho rằng với việc đóng vai trò như một kết quả của cấu trúc hệ thống thuế trong giai đoạn nền kinh tế đang phát triển, cổ phần hóa dẫn đến một sự sụt giảm đáng kể trong số tiền doanh thu thuế thu được, điều này có
thể là do ba nguyên nhân chính sau:
Sự suy giảm trong các căn cứ tính thuế truyền thống
Suy giảm năng lực quản lý thuế
Việc áp dụng rộng rãi các chính sách miễn giảm thuế và ưu đãi thuế khác để thu hút đầu tư
Trang 35Cụ thể, cổ phần hóa gây ra một tác động tiêu cực đáng kể lên các căn cứ tính thuế
đáng tin cậy trước đó, như là một sự sụt giảm trong sản xuất, lợi nhuận trong các doanh
nghiệp nhà nước và tiền lương thực tế Năng lực quản lý thuế đã bị suy yếu trầm trọng vì
các lý do khác nhau (Tanzi và Tsibouris, 2000) Cổ phần hóa bỏ qua hầu hết các thông tin
về số lượng sản xuất và giá cả mà tại đó sản lượng được bán, số lượng người nộp thuế tăng lên đáng kể và những hạn chế trước đây về các phương pháp thanh toán giữa các người nộp thuế với nhau, bằng cách này các khoản thanh toán thuế được chuyển giao cho chính phủ đã được gỡ bỏ Cổ phần hóa cũng có thể tác động đến doanh thu thuế trên phạm vi mà các chính phủ nhằm mục đích thu hút các nhà đầu tư nên đã cung cấp một số
ưu đãi về thuế như giảm thuế suất, một số trường hợp miễn thuế, thành lập các khu kinh
tế đặc biệt và miễn giảm các loại thuế khác (Cass, 2007) Một điều rõ ràng là tác động lên các nguồn thu thuế khác nhau có thể khác nhau, chẳng hạn như căn cứ tính thuế của họ thu hẹp ở những mức độ khác nhau Ví dụ, thuế đánh trên thương mại quốc tế không phải
là nguồn thu chính của doanh thu thuế và ở một số nước thậm chí còn mở rộng việc bảo
hộ cho các ngành công nghiệp quốc gia thông qua việc áp dụng các mức thuế cao hơn trong giai đoạn nền kinh tế đang phát triển Tác động của việc thu thuế trong giai đoạn nền kinh tế chuyển đổi vẫn còn là một vấn đề có liên quan mật thiết Trong khi một số nền kinh tế đã tiến xa trong quá trình cổ phần hóa với tiến trình tích lũy cổ phần hóa chiếm trên 30% GDP, đối với những nền kinh tế khác, đặc biệt là ở nhóm các nước Liên
Xô cũ, cổ phần hóa vẫn đang trong giai đoạn mới bắt đầu Điều quan trọng nhất là phần lớn các nước trong giai đoạn nền kinh tế chuyển đổi vẫn còn phải đối mặt với những thử thách trong việc áp dụng các cải chính sách thuế có căn cứ và hợp lý, tăng cường việc quản lý doanh thu thuế, đến một mức độ lớn hơn là liên quan đến cấu trúc của hệ thống thuế
Vậy một câu hỏi được đặt ra là làm cách nào cổ phần hóa có ảnh hưởng đến cân đối ngân sách ở các quốc gia đang phát triển và mức độ mà doanh thu thuế đóng góp vào ngân sách nhà nước (và doanh thu thuế nào có đóng góp nhiều nhất) Davis cùng các cộng sự (2000) đã tìm thấy một số bằng chứng thực nghiệm chứng minh rằng cổ phần hóa cải thiện cân đối ngân sách và doanh thu thuế Ngược lại, các tài liệu nghiên cứu mô