1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình công pháp quốc tế

268 136 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 268
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, luật quốc tế được khẳng định là một hệ thống pháp luật, tồn tại một cách khách quan trong một tổng thể của các thành phần ràng buộc, liên kết bên trong với nhau như: các nguyên

Trang 1

ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA LUẬT

GIÁO TRÌNH CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

CHỦ BIÊN PGS TS NGUYỄN THỊ THUẬN

Các tác giả

PGS TS NGUYỄN THỊ THUẬN

GVC ĐỖ MẠNH HỒNG

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA CÔNG PHÁP QUỐC TẾ 2

I.Khái niệm luật quốc tế 2

1 Định nghĩa luật quốc tế 2

2 Chức năng của luật quốc tế 4

3 Quy phạm pháp luật quốc tế 6

4 Các đặc trưng của luật quốc tế 9

II Lịch sử hình thành và phát triển của luật quốc tế 13

1 Luật quốc tế thời kỳ chiếm hữu nô lệ 13

2 Luật quốc tế thời kỳ phong kiến 14

3 Luật quốc tế thời kỳ tư bản 14

4 Luật quốc tế hiện đại 15

III Nguồn của luật quốc tế 17

1 Khái niệm 17

2 Các loại nguồn của luật quốc tế 18

3 Các phương tiện bổ trợ nguồn luật quốc tế 22

IV Các vấn đề pháp lý về mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia 25 1 Quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia 25

2 Giải quyết xung đột giữa luật quốc tế và luật quốc gia 28

V Pháp điển hóa luật quốc tế 29

1 Pháp điển hóa không chính thức 30

2 Pháp điển hóa chính thức 30

CHƯƠNG II: CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ 33

I Khái niệm 33

1 Định nghĩa 33

2 Các đặc trưng của hệ thống nguyên tắc cơ bản 35

II Hệ thống nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế 37

1 Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia 37

2 Nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực 39

3 Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế 42

Trang 4

4 Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác 44

5 Nguyên tắc hợp tác quốc tế 46

6 Nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết 48

7 Nguyên tắc tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế (Nguyên tắc pacta sunt servanda) 50

CHƯƠNG III: CHỦ THỂ LUẬT QUỐC TẾ 56

I Khái niệm 56

1 Định nghĩa 56

2 Phân loại chủ thể luật quốc tế 57

3 Quyền năng chủ thể luật quốc tế 58

II Quốc gia – Chủ thể cơ bản của luật quốc tế 59

1 Định nghĩa 59

2 Chủ quyền quốc gia 61

3 Quyền năng chủ thể luật quốc tế 63

III Tổ chức quốc tế liên chính phủ - chủ thể phái sinh của luật quốc tế 65

1 Định nghĩa 65

2 Phân loại tổ chức quốc tế liên chính phủ 66

3 Quyền năng chủ thể của tổ chức quốc tế liên chính phủ 68

IV Dân tộc đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết 69

1 Định nghĩa 69

2 Quyền năng chủ thể luật quốc tế 70

V Chủ thể đặc biệt của luật quốc tế 72

1 Định nghĩa 72

2 Một số chủ thể đặc biệt 73

VI Công nhận và kế thừa trong luật quốc tế 75

1 Công nhận quốc tế 75

2 Kế thừa quốc gia trong luật quốc tế 83

CHƯƠNG IV: LUẬT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ 91

I KHÁI NIỆM LUẬT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ 91

1 Định nghĩa 91

2 Nguồn của luật điều ước quốc tế 91

Trang 5

3 Các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ ký kết và thực hiện điều ước quốc

tế 92

II KHÁI NIỆM ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ 94

1 Định nghĩa 94

2 Về hình thức của điều ước quốc tế 95

3 Về nội dung của điều ước 96

4 Phân loại điều ước quốc tế 97

III KÝ KẾT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ 98

1 Thẩm quyền ký kết 98

2 Ký kết điều ước quốc tế 101

IV HIỆU LỰC CỦA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ 105

1 Hiệu lực của điều ước quốc tế theo không gian và thời gian 105

2 Hiệu lực của điều ước quốc tế và quốc gia thứ ba 106

3 Tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan tới hiệu lực thi hành của điều ước 107

4 Thực hiện điều ước quốc tế 108

CHƯƠNG V: DÂN CƯ TRONG LUẬT QUỐC TẾ 114

I Khái niệm 114

1 Định nghĩa 114

2 Qui chế pháp lý dân cư 115

II Các vấn đề pháp lý về quốc tịch 116

1 Khái niệm 116

2 Các phương thức hưởng quốc tịch 119

3 Các phương thức mất quốc tịch 123

III Quy chế pháp lý dành cho người nước ngoài 127

1 Định nghĩa người nước ngoài 127

2 Quyền cư trú chính trị 130

3 Bảo hộ công dân 133

IV Địa vị pháp lý của người tị nạn và người lao động nhập cư 138

1 Người tị nạn 138

2 Người lao động nhập cư 140

Trang 6

CHƯƠNG VI: LÃNH THỔ TRONG LUẬT QUỐC TẾ 144

I Khái niệm lãnh thổ 144

1 Định nghĩa 144

2 Các loại hình lãnh thổ 146

II Lãnh thổ quốc gia 147

1 Khái niệm 147

2 Các bộ phận lãnh thổ quốc gia 148

3 Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ 150

4 Xác lập chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ 152

5 Giới hạn của quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ 155

III Biên giới quốc gia 157

1 Khái niệm 157

2 Xác định biên giới quốc gia 159

3 Chế độ pháp lý của biên giới quốc gia 163

4 Biên giới Việt Nam 165

IV Quy chế pháp lý của Bắc cực và Nam cực 166

1 Quy chế pháp lý của Bắc cực 166

2 Quy chế pháp lý của Nam cực 167

CHƯƠNG VII: LUẬT BIỂN QUỐC TẾ 169

I Khái niệm 169

1 Định nghĩa 169

2 Các nguyên tắc của luật biển quốc tế 169

II Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia 174

1 Nội thuỷ 174

2 Lãnh hải 177

III Các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia 182

1 Vùng tiếp giáp lãnh hải 182

2 Vùng đặc quyền kinh tế 183

3 Thềm lục địa 186

IV Các vùng biển nằm ngoài phạm vi quyền tài phán quốc gia 188

1 Biển quốc tế (biển cả, biển mở, biển tự do, công hải) 188

2 Vùng 189

Trang 7

V Các vùng biển đặc thù 189

1 Kênh đào quốc tế 189

2 Eo biển quốc tế 190

3 Vùng nước quần đảo 192

CHƯƠNG VIII: LUẬT NGOẠI GIAO VÀ LÃNH SỰ 195

I Khái niệm 195

1 Định nghĩa 195

2 Nguồn của luật ngoại giao và lãnh sự 195

3 Các nguyên tắc của luật ngoại giao và lãnh sự 196

II Cơ quan đại diện ngoại giao 198

1 Khái niệm 198

2 Thành viên của cơ quan đại diện ngoại giao 199

3 Quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao 201

4 Nghĩa vụ của cơ quan đại diện ngoại giao và thành viên của cơ quan 205 III CƠ QUAN LÃNH SỰ 206

1 Khái niệm 206

2 Thành viên của cơ quan lãnh sự 207

IV PHÁI ĐOÀN ĐẠI DIỆN CỦA QUỐC GIA TẠI TỔ CHỨC QUỐC TẾ212 1 Khái niệm 212

2 Quyền ưu đãi và miễn trừ 213

CHƯƠNG IX : GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG LUẬT QUỐC TẾ216 I Khái niệm 216

1 Định nghĩa 216

2 Phân loại tranh chấp quốc tế 217

3 Nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế 218

II Thẩm quyền giải quyết tranh chấp và các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp 219

1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp 219

3 Các biện pháp hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế 221

4 Các đảm bảo cho việc giải quyết tranh chấp trong Luật quốc tế 234

Trang 8

III Các biện pháp báo phục 235

1 Biện pháp trả đũa 236

2 Biện pháp cấm vận 237

CHƯƠNG X : TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ QUỐC TẾ 238

I Khái niệm 238

1 Định nghĩa 238

2 Chủ thể của quan hệ trách nhiệm pháp lý quốc tế 240

3 Các hành vi làm phát sinh quan hệ trách nhiệm pháp lý quốc tế 241

II Trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia 244

1 Trách nhiệm pháp lý quốc tế chủ quan của quốc gia 244

2 Trách nhiệm pháp lý quốc tế khách quan của quốc gia 250

III Trách nhiệm pháp lý quốc tế của tổ chức quốc tế liên chính phủ 252

1 Căn cứ xác định trách nhiệm pháp lý của tổ chức quốc tế 253

2 Hình thức thực hiện trách nhiệm pháp lý của tổ chức quốc tế 254

IV Trách nhiệm hình sự quốc tế đối với tội ác quốc tế 255

1 Định nghĩa tội ác quốc tế 255

2 Trách nhiệm hình sự quốc tế của cá nhân 256

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 259

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

Kiến thức về luật quốc tế trở nên đặc biệt cần thiết trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đang tích cực chủ động hội nhập trong rất nhiều lĩnh vực Cuốn giáo trình Công pháp quốc tế (Luật quốc tế) năm 2019 được biên soạn nhằm phục vụ việc triển khai chương trình đào tạo cử nhân ngành luật và cử nhân ngành luật quốc tế của Trường Đại học Mở Hà nội Môn học Công pháp quốc tế hiện được cơ cấu gồm 3 tín chỉ Vì vậy, các vấn đề được chọn để đưa vào nội dung giáo trình phục vụ giảng dạy, học tập cũng được xem xét, rút gọn đáng kể so với giáo trình Luật quốc tế của Đại học Mở Hà Nội trước đây cũng như của các cơ sở đào tạo luật khác ở Việt nam Đồng thời, Đại học Mở Hà nội cũng đang tiếp tục triển khai việc biên soạn hệ thống học liệu cho các môn học thuộc hệ thống Luật quốc tế như Luật hình sự quốc tế, Luật tổ chức quốc tế…

Giáo trình Công pháp quốc tế năm 2019 được biên soạn nhằm cung cấp cho người học và những người quan tâm những kiến thức lý luận cốt lõi cũng như một số ngành luật, chế định pháp luật cơ bản của luật quốc tế, từ đó có thể tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu các lĩnh vực khác của Luật quốc tế Do tính chất phức tạp, phạm vi rất rộng của các vấn đề thuộc hệ thống pháp luật quốc tế cũng như những tác động trực tiếp của quan hệ quốc tế hiện đại đối với việc xây dựng

và thực thi pháp luật quốc tế nên mặc dù rất cố gắng, nhưng chắc chắn giáo trình Công pháp quốc tế cũng không tránh khỏi những hạn chế nhất định Tập thể tác giả mong nhận được những nhận xét, góp ý của những người quan tâm để giáo trình Công pháp quốc tế có thể hoàn thiện hơn nữa

Trang 10

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA CÔNG PHÁP

QUỐC TẾ I.Khái niệm luật quốc tế

1 Định nghĩa luật quốc tế

Lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người gắn liền với sự xuất hiện và thay đổi có tính kế thừa các cơ cấu tổ chức xã hội cộng đồng, khởi đầu

là chế độ công xã nguyên thủy Cùng với thời gian, các quốc gia và quan hệ liên quốc gia đã xuất hiện với tất cả sự đa dạng và phức tạp của nó Quốc gia – hạt nhân chủ yếu của quan hệ quốc tế với những đặc trưng điển hình là lãnh thổ xác định, dân cư thường xuyên, chính phủ, khả năng tham gia vào các quan hệ với các quốc gia khác đã ngày càng gia tăng về số lượng cũng như có nhiều thay đổi

về cơ cấu, tổ chức và thể chế Cùng với đó là sự phát triển mối quan hệ giữa các quốc gia, cả về hình thức lẫn nội dung đã dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của pháp luật quốc tế Có thể nói các quan hệ quốc tế về kinh tế, chính trị, quân sự

và các vấn đề khác là tiền đề xây dựng và phát triển pháp luật quốc tế và sau đó

là sự tác động ảnh hưởng của pháp luật quốc tế đối với các quan hệ theo cả hai chiều; tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của chúng hoặc hạn chế sự tiêu cực của các quan hệ này Trong mỗi giai đoạn lịch sử phát triển, pháp luật quốc

tế đều phản ánh khách quan các yếu tố phát triển xã hội

Tuy nhiên, trong công pháp quốc tế (luật quốc tế), cho dù không thể phủ nhận vai trò quan trọng có tính quyết định của các quốc gia trong đời sống quốc

tế, nhưng các chủ thể khác như tổ chức quốc tế liên chính phủ hay dân tộc đấu tranh giành quyền tự quyết cũng thể hiện vai trò và vị thế đặc biệt trong quan hệ quốc tế toàn cầu, khu vực cũng như song phương Mối quan hệ giữa quốc gia và các chủ thể này, cũng như mối quan hệ giữa chúng với nhau cũng được điều chỉnh bằng các qui phạm pháp luật và các qui phạm này không thể chỉ là qui phạm luật quốc gia Trong khoa học luật quốc tế đã xuất hiện và tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về luật quốc tế (công pháp quốc tế) Tuy nhiên, căn cứ vào

đặc trưng của luật quốc tế, có thể định nghĩa về luật quốc tế như sau: Luật quốc

tế (công pháp quốc tế) là hệ thống pháp luật độc lập bao gồm tổng thể các

Trang 11

nguyên tắc, quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các quốc gia, các chủ thể khác của luật quốc tế trong các lĩnh vực của đời sống quốc tế

Như vậy, luật quốc tế được khẳng định là một hệ thống pháp luật, tồn tại một cách khách quan trong một tổng thể của các thành phần ràng buộc, liên kết bên trong với nhau như: các nguyên tắc được công nhận chung của luật quốc tế, các qui phạm điều ước và tập quán quốc tế, các ngành luật và chế định luật quốc

tế Trong lý luận luật quốc tế, đã có sự phân biệt rõ giữa ngành và chế định luật quốc tế Theo các học giả luật quốc tế, ngành luật quốc tế được xác định là tổng thể các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế với nhau trong một lĩnh vực quan hệ cụ thể mà lĩnh vực này đã xác lập đối tượng điều chỉnh đặc thù (chuyên biệt) của luật quốc tế, đồng thời có mức độ pháp điển hóa toàn cầu một cách sâu rộng, cũng như có các nguyên tắc đặc trưng đối với lĩnh vực quan hệ pháp luật cụ thể này Còn chế định luật quốc tế được hiểu

là nhóm các nguyên tắc, các qui phạm pháp luật điều chỉnh một lĩnh vực cụ thể của quan hệ pháp luật, như chế định công nhận quốc gia, chế định trách nhiệm pháp lý quốc tế…1 Ngành luật và chế định pháp luật quốc tế là những bộ phận

cơ bản không thể tách rời của hệ thống luật quốc tế Bên cạnh đó, khi nghiên cứu luật quốc tế, cần phân biệt và không được đồng nhất hệ thống luật quốc tế với khoa học luật quốc tế Luật quốc tế là một hiện tượng xã hội tồn tại một cách khách quan, còn khoa học luật quốc tế là thành quả khoa học trong nghiên cứu của các học giả, hay nhóm chuyên gia về luật quốc tế, là luật quốc tế được hiểu, được đánh giá và trình bày từ góc độ chủ quan của các học giả này

Từ góc độ lý luận cũng như thực tiễn, việc phân biệt giữa công pháp quốc

tế (luật quốc tế) với tư pháp quốc tế là rất cần thiết Hiện nay có hai quan điểm học thuật về vấn đề này, quan điểm thứ nhất cho rằng công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế là hai ngành của một hệ thống luật quốc tế thống nhất, còn quan điểm hai lại khẳng định: tư pháp quốc tế là ngành luật nằm trong hệ thống luật quốc gia Cho dù còn chưa có sự thống nhất về quan điểm, nhưng thực tế đã

Trang 12

chỉ rõ mối quan hệ tương tác phức tạp giữa các qui phạm công pháp và tư pháp quốc tế, sự chuyển dịch quan hệ pháp luật từ lĩnh vực tư pháp quốc tế thành quan hệ công pháp quốc tế không phải là ít, như quyền của mỗi cá nhân được bảo hộ ngoại giao các quyền và lợi ích của mình, các nguyên tắc cơ bản trong công pháp và tư pháp quốc tế; quá trình phát triển việc pháp điển hóa các qui phạm tư pháp quốc tế vào trong các điều ước quốc tế song phương và đa phương…

2 Chức năng của luật quốc tế

Trong thế giới đương đại, luật quốc tế có những nhiệm vụ quan trọng và

cơ bản như sau: duy trì hòa bình và an ninh quốc tế; đảm bảo sự chung sống hòa bình và ổn định giữa các quốc gia và các dân tộc; đảm bảo sự phát triển tiến bộ các loại hình quan hệ xã hội trên phạm vi toàn cầu; thúc đẩy sự tăng trưởng của các nền kinh tế, qua đó góp phần nâng cao đời sống và xóa bỏ dần sự cách biệt

về mọi mặt giữa các nước phát triển với nhóm nước đang phát triển, kém phát triển, và chậm phát triển Dựa trên cơ sở các nhiệm vụ này và đánh gia từ góc độ của mỗi quốc gia đối với tác động luật quốc tế trong quan hệ đối nội cũng như đối ngoại của mình, khoa học luật quốc tế xác định hai chức năng cơ bản sau của luật quốc tế:

+ Chức năng điều chỉnh quan hệ đối ngoại, đây là chức năng có tính truyền thống và bao gồm các vấn đề được điều chỉnh tương đối rộng và đa dạng như: xác định địa vị pháp lý của chủ thể luật quốc tế qua việc qui định các quyền, nghĩa vụ cụ thể của các loại chủ thể; các nguyên tắc xử sự chung quan trọng nhất trong quan hệ quốc tế; điều chỉnh các vấn đề hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực hoạt động của cộng đồng quốc tế, như kinh tế tài chính, quốc phòng, ngoại giao, văn hóa… các vấn đề trong trình tự xác lập biên giới và lãnh thổ quốc gia…

+ Chức năng điều chỉnh quan hệ đối nội được thể hiện thông qua tác động của luật quốc tế lên quan hệ đối nội của quốc gia, đảm bảo điều chỉnh các quan

hệ này hình thành và diễn tiến với nội dung phù hợp với các chuẩn mực quốc tế

mà quốc gia đã cam kết Thông qua chức năng này, quốc gia phải hiệu chỉnh lại

Trang 13

quan hệ đối nội cho phù hợp bằng các biện pháp áp dụng trực tiếp hoặc chuyển hóa các qui phạm luật quốc tế đảm bảo sự hài hòa giữa luật quốc tế và luật quốc gia Trong thực tế, việc thực hiện chức năng này của luật quốc tế góp phần làm cho hệ thống luật trong nước ngày càng hoàn thiện hơn

Mặt khác, tiếp cận từ góc độ tác động của luật quốc tế đối với các quan hệ quốc tế thuộc phạm vi điều chỉnh của mình thì luật quốc tế được xác định có các chức năng như sau:

+ Chức năng điều phối (phối hợp) được thực hiện qua việc luật quốc tế ấn định những chuẩn mực, tiêu chuẩn quốc tế chung được chấp nhận rộng rãi nhất cho các quốc gia trong các lĩnh vực khác nhau của quan hệ tương tác giữa chúng, như các qui định sử dụng tần số vô tuyến cho phép tránh được sự nhiễu

âm trong thông tin liên lạc; các quy định trong vận chuyển hàng không dân dụng, các quyền cơ bản của con người…

+ Chức năng điều chỉnh của luật quốc tế được thể hiện trong việc các quốc gia thiết lập các qui tắc xử sự rõ ràng trong các lĩnh vực tác động qua lại tương ứng, mà nếu không có các qui tắc như vậy sẽ không có sự tồn tại và phát triển giữa các quốc gia như trình tự, thủ tục thiết lập và chấm dứt quan hệ ngoại giao, lãnh sự…

+ Chức năng bảo vệ của luật quốc tế được thực hiện bằng cách xây dựng

và thực thi, tuân thủ các qui phạm cảnh báo các quốc gia cần tuân thủ, chấp hành các nghĩa vụ quốc tế, như các qui định về trách nhiệm pháp lý quốc tế hoặc các

cơ chế giám sát việc tuân thủ điều ước quốc tế; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia, như quyền tự về hợp pháp; thiết lập các hệ thống liên minh quân sự, nghiêm cấm việc chế tạo hoặc sử dụng một số loại vũ khí…2

Lịch sử phát triển xã hội loài người và thực tiễn của đời sống quốc tế cũng

đã khẳng định, các chức năng của luật quốc tế có thể thay đổi theo thời gian và không gian do sự tác động của các yếu tố kinh tế, chính trị, ngoại giao

Trang 14

3 Quy phạm pháp luật quốc tế

a Khái niệm

Quy phạm pháp luật quốc tế thường được xác định là các quy tắc xử sự được xây dựng hoặc thừa nhận có hiệu lực pháp luật đối với các chủ thể luật quốc tế trong quá trình tham gia vào quan hệ quốc tế Về nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế được các chủ thể luật quốc tế thoả thuận xây dựng nên, vì vậy chúng chỉ có hiệu lực đối với các bên hữu quan Bên cạnh các quy phạm có tính phổ cập giành cho tất cả các chủ thể (thường là các quy phạm quốc tế đa phương toàn cầu), còn tồn tại các quy phạm có tính chất khu vực, chỉ có hiệu lực đối với một nhóm quốc gia (như quy định về thương mại quốc tế của Liên minh Châu

âu chỉ có hiệu lực đối với 28 quốc gia thành viên) hoặc các điều ước song phương chỉ có giá trị hiệu lực đối với 2 chủ thể hữu quan Tính chất của quy phạm pháp luật quốc tế được thể hiện rất rõ trong các điều ước quốc tế, bởi vì điều ước quốc tế chỉ có hiệu lực đối với các quốc gia là thành viên của điều ước quốc tế

Tính ràng buộc của quy phạm luật quốc tế là đặc điểm quan trọng để phân biệt quy phạm pháp luật quốc tế với các quy phạm xã hội khác cùng tồn tại trong đời sống của cộng đồng quốc tế như quy phạm chính trị hay quy phạm đạo đức quốc tế Tính chất quan trọng này của quy phạm luật quốc tế còn được khẳng định thông qua các biện pháp chế tài được quy định trong luật quốc tế Các biện pháp chế tài sẽ được áp dụng đối với các chủ thể luật quốc tế có hành vi xâm hại tới các nguyên tắc và quy định pháp luật quốc tế Ví dụ Irac đã bị áp dụng biện pháp chế tài trong thời kỳ cuối thế kỷ XX, do các hành vi vi phạm luật quốc tế của mình Các biện pháp chế tài được thực hiện rất khác nhau phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tế Các quốc gia có thể tự mình áp dụng biện pháp trừng phạt quốc gia có hành vi vi phạm luật quốc tế, gây ra thiệt hại vật chất hoặc tinh thần cho mình Ngoài ra, việc sử dụng các biện pháp chế tài cũng có thể được thực hiện thông qua tổ chức quốc tế có thẩm quyền, như Liên hợp quốc trong việc áp dụng các biện pháp trừng phạt Iran trong thập niên đầu của thế kỷ XXI Hiện nay, thực tiễn quan hệ quốc tế đã cho thấy, cộng đồng quốc tế có khuynh hướng

Trang 15

mở rộng phạm vi áp dụng biện pháp cưỡng chế thông qua các tổ chức quốc tế, đồng thời hạn chế việc trừng phạt do các quốc gia riêng lẻ thực hiện Khuynh hướng này nhằm đảm bảo tính hiệu quả của quy phạm luật quốc tế được tập trung hơn và đồng thời nâng cao giá trị pháp lý của quy phạm luật quốc tế

b Phân loại quy phạm luật quốc tế

Việc phân loại quy phạm pháp luật quốc tế được thực hiện dựa trên các tiêu chí khác nhau

Thứ nhất, căn cứ vào tiêu chí phạm vi hiệu lực của quy phạm pháp luật Quy phạm luật quốc tế được chia làm quy phạm phổ cập, quy phạm khu vực và quy phạm song phương Quy phạm phổ cập là loại quy phạm có hiệu lực ràng buộc đối với tất cả các quốc gia, thường loại quy phạm này là quy phạm tập quán quốc tế Quy phạm có tính khu vực chỉ có hiệu lực chỉ đối với một số quốc gia có mối quan hệ gần gũi về địa lý, về ý thức hệ và chế độ xã hội, hay cùng chung quyền và lợi ích Thuật ngữ “khu vực” chỉ được sử dụng với tính chất quy ước, ví dụ như ASEAN là tổ chức quốc tế khu vực, các quy phạm luật quốc tế của ASEAN chỉ có hiệu lực đối với 10 quốc gia thành viên ASEAN Bên cạnh

đó, các quốc gia cũng có thể thoả thuận xây dựng các quy phạm luật quốc tế về việc đánh bắt hải sản ở một khu vực biển nào đó, hoặc bảo vệ môi trường ở sông quốc tế như sông Đanuyp, sông Ranh Các quy phạm này có tính khu vực, vì chỉ

có hiệu lực đối với các quốc gia cam kết vì quyền và lợi ích chung giữa các quốc gia này Nhóm quy phạm song phương chỉ có hiệu lực đối với hai chủ thể luật quốc tế đã ký kết các điều ước quốc tế song phương, loại quy phạm này tồn tại trong các điều ước quốc tế song phương về thương mại, văn hoá, ngoại giao, lãnh sự, tương trợ tư pháp, dẫn độ

Một chủ thể luật quốc tế có thể bị ràng buộc bởi quy phạm luật quốc tế đa phương toàn cầu, đa phương khu vực hoặc song phương về cùng một lĩnh vực của quan hệ quốc tế, Trong trường hợp như vậy, nguyên tắc lex specialis derogat legi generali (luật riêng thay thế luật chung) sẽ được áp dụng để giải quyết trường hợp cụ thể nêu trên

Trang 16

Thứ hai, căn cứ vào tiêu chí mức độ hiệu lực của quy phạm

Quy phạm luật quốc tế được chia làm quy phạm mệnh lệnh có hiệu lực chung (quy phạm jus cogen) và quy phạm tuỳ nghi Quy phạm Jus cogens là quy phạm đặc biệt của luật quốc tế, có hiệu lực cao hơn quy phạm tuỳ nghi, loại hình quy phạm này có hiệu lực tuyệt đối, các quốc gia không có quyền huỷ bỏ quy phạm này trong mối quan hệ giữa chúng Quy phạm Jus cogens chỉ có thể bị thay đổi hoặc loại bỏ trên cơ sở thoả thuận của các chủ thể luật quốc tế, bởi vì chúng thể hiện quyền lợi của toàn thể cộng đồng quốc tế, quan điểm này đã được thể hiện trong điều 53 của Công ước Viên 1969 về luật điều ước quốc tế giữa các quốc gia Việc xác định có bao nhiêu quy phạm Jus cogens trong luật quốc tế là vấn đề còn chưa được giải quyết, kể cả trong khuôn khổ Uỷ ban luật quốc tế của Liên hợp quốc, tuy nhiên cộng đồng quốc tế thừa nhận quy phạm jus cogens gồm: cấm chiến tranh xâm lược, không can thiệp vào công việc nội bộ, quyền dân tộc tự quyết, nghiêm cấm diệt chủng, không được giết hại tù binh chiến tranh và một số các quy phạm jus congens khác Khác với quy phạm jus congens, quy phạm tuỳ nghi mặc dù cũng là quy phạm luật quốc tế, có hiệu lực ràng buộc đối với các chủ thể luật quốc tế, nhưng trong quá trình áp dụng các quy phạm tuỳ nghi, các chủ thể có liên quan của luật quốc tế có thể thay đổi nội dung để sử dụng nhưng với điều kiện sự thay đổi nội dung không được trái với các quy phạm jus cogens và không được gây thiệt hại cho các chủ thể khác của luật quốc tế Về thứ bậc, quy phạm tuỳ nghi có hiệu lực thấp hơn so với quy phạm jus cogens Quy phạm tuỳ nghi chỉ được coi là hợp pháp và có hiệu lực khi chúng có nội dung phù hợp với quy phạm jus cogens Trong hệ thống luật quốc tế, loại hình quy phạm tuỳ nghi chiếm đại đa số Có thể đưa ra một loạt các quy phạm tuỳ nghi hiện hành trong lĩnh vực luật biển, luật hàng không, luật kinh

tế quốc tế cũng như các ngành luật khác nằm trong hệ thống luật quốc tế Ví

dụ trong luật biển quốc tế có quy phạm quy định chiều rộng của các vùng biển như vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế , trong Luật ngoại giao, lãnh sự có quy chế lãnh sự danh dự theo Công ước Viên năm 1963

Trang 17

Thứ ba, căn cứ vào tiêu chí hình thức tồn tại, quy phạm luật quốc tế được phân chia thành quy phạm điều ước quốc tế và quy phạm tập quán quốc tế Quy phạm điều ước quốc tế là quy phạm luật quốc tế được ghi trong điều ước quốc tế (quy phạm thành văn), quy phạm tập quán là quy phạm pháp luật thể hiện trong tập quán quốc tế (quy phạm bất thành văn) Về hiệu lực pháp luật, cả hai loại hình quy phạm này có hiệu lực ngang bằng nhau đối với các chủ thể luật quốc

tế Về nguyên tắc, quy phạm điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc chỉ đối với các quốc gia tham gia điều ước, còn các quy phạm tập quán quốc tế (cụ thể là tập quán quốc tế đa phương toàn cầu) có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các quốc gia cũng như các chủ thể khác của luật quốc tế

4 Các đặc trưng của luật quốc tế

Từ góc độ so sánh với luật quốc gia, luật quốc tế có những đặc trưng khác biệt thể hiện bản chất pháp lý của hệ thống pháp luật này Cơ sở lý luận và thực tiễn của sự khác biệt này là luật quốc tế điều chỉnh chủ yếu quan hệ giữa các quốc gia độc lập có chủ quyền, đây là những chủ thể hoàn toàn bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ pháp lý, nhưng đồng thời có sự phụ thuộc lẫn nhau Trong quan hệ quốc tế, không thể tồn tại nguyên tắc quốc gia này thống trị, ra mệnh lệnh đối với quốc gia khác, không thể có bất kỳ quyền lực nào đứng trên quốc gia Các đặc trưng của luật quốc tế gồm :

a Chủ thể của luật quốc tế

Hiện nay, lý luận cũng như thực tiễn quốc tế đều thừa nhận rằng, chủ thể của luật quốc tế gồm: các quốc gia độc lập, có chủ quyền; các tổ chức quốc tế liên chính phủ; các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết Vai trò, vị trí của mỗi chủ thể trong hệ thống chủ thể cũng như trong quan hệ quốc tế có sự khác nhau nhất định Tuy nhiên, ở bất cứ giai đoạn phát triển nào của luật quốc

tế, quốc gia đều là chủ thể cơ bản của luật quốc tế Chính vì có các quốc gia, có quan hệ giữa các quốc gia nên mới có sự ra đời, tồn tại và phát triển của luật quốc tế So với tổ chức quốc tế liên chính phủ và các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết, quốc gia là thực thể có đủ khả năng, điều kiện tham gia vào hầu hết các lĩnh vực hợp tác quốc tế Ngoài ra, thực tiễn quốc tế còn thừa

Trang 18

nhận cho một vài thực thể như Toà thánh Va ti căng, Đài loan, Hông kông có thể có quyền năng chủ thể luật quốc tế trong một số lĩnh vực nhất định như ký kết điều ước quốc tế, tham gia các tổ chức quốc tế

b Đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế

Luật quốc tế có đối tượng điều chỉnh rất rộng Các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống quốc tế giữa các chủ thể của luật quốc tế đều thuộc đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế Về tính chất, các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế phải là quan hệ có tính chất liên quốc gia Về nội dung, các quan hệ liên quốc gia này thuộc tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Sự mở rộng đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế như hiện nay chính là hệ quả tất yếu của xu thế quốc tế hoá nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống Ranh giới giữa đối tượng điều chỉnh của luật quốc gia và luật quốc tế ngày càng bị thu hẹp lại Nếu như trong luật quốc tế cũ, đối tượng điều chỉnh chủ yếu của luật quốc tế là quan hệ ngoại giao, quan hệ lãnh sự, quan hệ ký kết và thực hiện điều ước quốc tế trong lĩnh vực kinh tế thương mại thì ngày nay, cùng với những thành tựu vượt bậc của khoa học kỹ thuật, nhu cầu của các quốc gia đã dẫn đến sự ra đời của nhiều văn bản pháp lý quốc tế điều chỉnh quan hệ hợp tác trong các lĩnh vực như khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ, bảo vệ môi trường, lĩnh vực giải trừ quân bị, chống khủng bố quốc tế

c Xây dựng luật quốc tế

Luật quốc tế được xây dựng không phải dựa trên cơ sở quyền lực của một quốc gia hay của một quyền lực siêu quốc gia nào Chính vì vậy, trong quá trình xây dựng luật quốc tế, hoàn toàn không tồn tại một cơ quan lập pháp quốc tế có tính chuyên trách theo đúng nghĩa đen của thuật ngữ này Về nguyên tắc, tất cả các chủ thể Luật quốc tế đều có quyền tham gia bình đẳng, độc lập, tự nguyện, vào trong quá trình xây dựng luật quốc tế (điều ước quốc tế và tập quán quốc tế), chấp nhận quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế phát sinh từ các quy phạm luật quốc tế thuộc lĩnh vực mà họ quan tâm Như vậy, luật quốc tế có cơ chế xây dựng riêng biệt và khác hẳn so với cơ chế xây dựng luật quốc gia tại các nước trong cộng đồng quốc tế

Trang 19

Luật quốc tế do các quốc gia và các chủ thể khác thoả thuận xây dựng nên dựa trên cơ sở phù hợp với nguyên tắc bình đẳng và tự nguyện Sự đồng ý của các chủ thể này chính là cơ sở làm phát sinh hiệu lực ràng buộc của quy phạm luật quốc tế trong mối quan hệ với một quốc gia cụ thể Sự đồng ý chấp thuận nêu trên của chủ thể luật quốc tế được thể hiện rất đa dạng, phong phú Nó có thể được thực hiện một cách rõ ràng, công khai và chính thức như việc ký kết hoặc gia nhập các điều ước song phương hoặc đa phương hoặc mặc nhiên chấp nhận các quy tắc, hành vi xử sự nhất định (tập quán) Khía cạnh tích cực của cách thức xây dựng luật quốc tế là ở chỗ nếu lợi ích cơ bản của các bên liên quan đã được dung hoà, các quy phạm pháp luật quốc tế ra đời thì tính khả thi của chúng cũng được đảm bảo tối đa Mặc dù không có thẩm quyền ban hành luật quốc tế, nhưng một số tổ chức quốc tế liên chính phủ và các quốc gia như Hoa kỳ, Nga…cũng có đóng góp không nhỏ trong việc đưa ra sáng kiến lập pháp quốc tế, bảo trợ cho các hoạt dộng xây dựng luật quốc tế

d Cưỡng chế trong luật quốc tế

Bản chất của luật quốc tế là sự thoả thuận trước tiên và chủ yếu là giữa các quốc gia, sau đó là các chủ thể khác của luật quốc tế Yếu tố cơ bản chi phối sự thoả thuận của các chủ thể chính là lợi ích trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế Sự thoả thuận này xuyên suốt toàn bộ quá trình xây dựng, thực thi và tuân thủ luật quốc tế cũng như trong việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế để đảm bảo hiệu quả của luật quốc tế Do vậy, vấn đề cưỡng chế trong luật quốc tế được hình thành và vận hành không giống như trong luật quốc gia Trong luật quốc tế hoàn toàn không có bộ máy cưỡng chế tập trung mặc dù vẫn tồn tại các biện pháp cưỡng chế Nhưng trong các trường hợp cần thiết, khi lợi ích hợp pháp của chủ thể luật quốc tế bị xâm hại thì biện pháp cưỡng chế thông qua hình thức riêng lẻ hoặc tập thể vẫn được tiến hành nhằm chấm dứt hành vi vi phạm, buộc bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại đã gây ra

Cùng với sự phát triển của luật quốc tế, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong quan hệ quốc tế cũng thay đổi theo hướng dân chủ và tiến bộ hơn Trong thời kỳ luật quốc tế cũ (từ năm 1917 trở về trước), chiến tranh đã từng

Trang 20

được công nhận là một trong các biện pháp cưỡng chế hợp pháp và được các quốc gia sử dụng trong quan hệ quốc tế Nhưng hiện nay, trong luật quốc tế hiện đại, việc sử dụng chiến tranh như là biện pháp cưỡng chế đã bị lên án như là phương tiện thực hiện chính sách bành trướng và bị nghiêm cấm sử dụng Trong khuôn khổ chức năng và thẩm quyền hoạt động của mình, Liên hợp quốc là tổ chức quốc tế sử dụng quyền thực hiện các biện pháp cưỡng chế trên cơ sở quyết định của Hội đồng bảo an – một trong các cơ quan chính của tổ chức quốc tế này đối với các chủ thể luật quốc tế đã có hành vi đe doạ hoà bình, vi phạm nghiêm trọng trật tự pháp lý quốc tế như tiến hành chiến tranh xâm lược, phân biệt chủng tộc Phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm mà Hội đồng bảo an sẽ quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế vũ trang hoặc phi vũ trang

Có thể phân loại các biện pháp cưỡng chế thành các nhóm sau đây:

- Biện pháp chính trị ngoại giao: thường là các hành vi tố cáo, lên án đối với chủ thể vi phạm, cắt đứt quan hệ ngoại giao, trục xuất viên chức ngoại giao, huỷ bỏ hoặc tạm đình chỉ quy chế thành viên tại tổ chức quốc tế

- Biện pháp kinh tế: Các biện pháp thuộc nhóm này nhìn chung rất đa dạng như phong toả kinh tế, cấm vận đường sắt, đường biển, tẩy chay hàng hoá Chủ thể bị hại có thể tự mình hoặc cùng tham gia với các quốc gia khác sử dụng các biện pháp này trong việc trừng phạt quốc gia gây hại cho mình hoặc có hành vi

vi phạm cam kết quốc tế

- Biện pháp quân sự : các biện pháp quân sự có thể được thực hiện thông qua hình thức riêng lẻ hoặc tập thể với những điều kiện chặt chẽ Ví dụ: Quốc gia có thể sử dụng lực lượng vũ trang nhằm thực hiện quyền tự vệ hợp pháp của mình trong trường hợp bị xâm lược vũ trang

Có thể thấy, dù sử dụng biện pháp cưỡng chế nào thì chủ thể thực hiện cũng chính là chủ thể của luật quốc tế mà chủ yếu là bên bị hại Chính vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, hiệu quả của cơ chế thực hiện các biện pháp cưỡng chế của luật quốc tế còn rất hạn chế, đặc biệt khi bên bị hại lại là quốc gia nhỏ, yếu, chưa có vị thế nhất định trong đời sống quốc tế Mặt khác, các biện pháp cưỡng

Trang 21

chế khi được áp dụng trong thực tế cũng có những hạn chế nhất định và có thể đưa lại kết quả không mong muốn như những tác động tiêu cực đối với đời sống vật chất, tinh thần của dân chúng tại các quốc gia bị cấm vận kinh tế hoặc trừng phạt vũ trang đã được chứng minh trong thực tiễn quan hệ quốc tế

II Lịch sử hình thành và phát triển của luật quốc tế

Luật quốc tế là sản phẩm của một quá trình phát triển có tính lịch sử và cũng mang đậm dấu ấn của từng thời kỳ lịch sử Hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế là đảm bảo pháp lý không thể thiếu cho thế giới tồn tại

và phát triển một cách hoà bình, ổn định và công bằng Chính sự hình thành các quốc gia đã dẫn đến việc xuất hiện các quan hệ liên quốc gia và luật quốc tế Lịch sử hình thành và phát triển luật quốc tế cũng như khoa học luật quốc tế luôn có quan hệ chặt chẽ và là một bộ phận của lịch sử hình thành và phát triển của nhà nước và pháp luật nói chung Có thể phân kỳ lịch sử phát triển của luật quốc tế như sau:

- Luật quốc tế thời kỳ chiếm hữu nô lệ (cổ đại);

- Luật quốc tế thời kỳ phong kiến (trung đại);

- Luật quốc tế thời kỳ tư bản (cận đại);

- Luật quốc tế hiện đại

Những đặc trưng của từng giai đoạn lịch sử, những biến động trong đời sống xã hội quốc tế luôn tác động trực tiếp và dẫn đến những thay đổi nhất định trong luật quốc tế Chính vì vậy, luật quốc tế trong từng thời kỳ đều mang đậm những dấu ấn và phản ánh đặc thù về kinh tế, xã hội của chính thời kỳ đó

1 Luật quốc tế thời kỳ chiếm hữu nô lệ

Đặc trưng nổi bật của quan hệ quốc tế thời kỳ chiếm hữu nô lệ là tính khu vực hạn hẹp và các cuộc xung đột vũ trang triền miên Nhu cầu mở rộng lãnh thổ của nhiều quốc gia đã dẫn đến những cuộc chiến tranh nhằm thôn tính đất đai, cướp bóc nô lệ Quan hệ quốc tế chủ yếu liên quan đến quan hệ chiến tranh

Sự lạc hậu về khoa học kỹ thuật, những cản trở do yếu tố tự nhiên làm cho quan hệ quốc tế bị bó hẹp trong những khu vực địa lý nhất định và cơ hội hợp tác trong những lĩnh vực khác hầu như không phát triển Các quy phạm pháp

Trang 22

luật quốc tế thời kỳ này chủ yếu là quy phạm tập quán Mặc dù mới ở giai đoạn

sơ khai, nhưng luật quốc tế thời kỳ chiếm hữu nô lệ cũng đã có những khía cạnh, những quy định có tính chất tiến bộ và tạo tiền đề cho sự ra đời của những quy định và ngành luật sau này thuộc hệ thống luật quốc tế như nguyên tắc Pacta sunt servanda, quy định về ưu đãi miễn trừ ngoại giao, quy định về cấm sử dụng một số loại vũ khí trong chiến tranh

2 Luật quốc tế thời kỳ phong kiến

Sang thời kỳ trung đại, ngoài việc tiếp tục điều chỉnh quan hệ chiến tranh, pháp luật quốc tế thời kỳ này còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của sự phát triển mạnh mẽ của tôn giáo Minh chứng cho điều này chính là những quy định như: đình chiến theo ý Chúa, vai trò chủ thể của các liên đoàn chính trị tôn giáo, quyền bất khả xâm phạm của nhà thờ Khoa học kỹ thuật cũng có bước phát triển nhất định, nhu cầu hợp tác của các quốc gia được mở rộng những yếu tố này đã phá vỡ tính khu vực của quan hệ quốc tế thời kỳ chiếm hữu nô lệ Số lượng các điều ước quốc tế được ký kết ngày càng nhiều Với sự xuất hiện của

cơ quan đại diện thường trực ở nước ngoài, luật ngoại giao lãnh sự đã ra đời

3 Luật quốc tế thời kỳ tư bản

So với những thời kỳ trước, luật quốc tế thời cận đại đã có bước phát triển vượt bậc Những thành tựu của khoa học kỹ thuật, nhu cầu, lợi ích hợp tác của mỗi quốc gia đã góp phần mở rộng phạm vi điều chỉnh và hoàn thiện các nguyên tắc, quy phạm của luật quốc tế Nhiều nguyên tắc, quy phạm và chế định mới đã

ra đời như nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ, chế định quốc tịch số lượng các điều ước quốc tế song phương và đa phương gia tăng nhanh chóng Tổ chức quốc tế liên chính phủ với tính chất là trung tâm phối hợp hành động vì lợi ích của mỗi thành viên cũng đã được thành lập Tuy nhiên, những phát triển tiến bộ của luật quốc tế không phải đều được dành cho mọi quốc gia một cách công bằng, bình đẳng Hơn nữa, sự tồn tại của chế độ thực dân, chế độ

tô giới, quyền tài phán lãnh sự chính là những sản phẩm tiêu cực của các luận điểm, học thuyết và quy chế pháp lý quốc tế phản động

Trang 23

4 Luật quốc tế hiện đại

Thế kỷ XX với hàng loạt các sự kiện trọng đại đã tác động ở những mức độ khác nhau tới sự phát triển của luật quốc tế Điển hình là cuộc Cách mạng tháng

10 Nga vào năm 1917; Đại chiến thế giới lần thứ nhất và sự ra đời của Hội quốc liên vào năm 1919; Đại chiến thế giới lần thứ 2 và việc thành lập Liên hợp quốc năm 1945; quá trình thủ tiêu hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc – thực dân và sự ra đời của các quốc gia độc lập dân tộc trẻ tuổi; chấm dứt chiến tranh lạnh và sự sụp đổ của Liên bang xô viết

Các nguyên tắc, đường lối đối ngoại của nước Nga xô viết sau cách mạng tháng 10 năm 1917 đều hướng tới mục tiêu cùng chung sống hoà bình giữa quốc gia không phụ thuộc vào chế độ chính trị, xã hội và kinh tế, thể hiện nội dung bình đẳng giữa các quốc gia trên nhiều lĩnh vực của đời sống quốc tế Pháp luật quốc tế đã ghi nhận những nguyên tắc, quy định tiến bộ này như: nguyên tắc cấm chiến tranh xâm lược, công nhận quyền tự quyết của các dân tộc, công bố

và đăng ký điều ước quốc tế Sau khi Đại chiến thế giới lần thứ nhất kết thúc, Hội quốc liên được thành lập Đây là tổ chức quốc tế chung đầu tiên có nhiệm

vụ duy trì hoà bình an ninh quốc tế Một trong những biểu hiện của sự phát triển của luật quốc tế chính là các quy định hạn chế quyền của các quốc gia sử dụng chiến tranh và ấn định khả năng áp dụng các biện pháp trừng phạt quốc gia vi phạm được ghi nhận trong Hiến chương Hội quốc liên Đặc biệt, với sự ra đời và hoạt động của Liên hợp quốc sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, hàng loạt các nguyên tắc, quy phạm mới dân chủ, tiến bộ đã ra đời điều chỉnh hiệu quả hơn quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa các quốc gia như Hiến chương Liên hợp quốc

đã trở thành điều ước quốc tế chứa đựng các quy phạm nền tảng của luật quốc tế hiện đại

Chiến tranh lạnh căng thẳng và kéo dài sau Đại chiến thế giới lần thứ hai đã tác động không nhỏ tới quan hệ quốc tế và luật quốc tế, một loạt điều ước quốc

tế về quân sự đã được ký kết giữa các quốc gia cùng khối hoặc các điều ước quốc tế về giải trừ quân sự song phương giữa các cường quốc (Liên Xô - Mỹ)

Hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc - thực dân sụp đổ dẫn đến việc ra đời

Trang 24

của nhiều quốc gia dân tộc độc lập tại Châu Á, Châu Phi và Châu mỹ La tinh Phong trào không liên kết – diễn đàn của các quốc gia dân tộc độc lập ra đời cũng tích cực đấu tranh nhằm khẳng định vai trò của họ trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế quan trọng như chủ quyền quốc gia đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vấn đề trật tự kinh tế quốc tế mới đồng thời các quốc gia này tham gia rất tích cực vào quá trình phát triển tiến bộ của Luật quốc tế nói chung Những vấn đề của xã hội hiện đại như: ô nhiễm môi trường, sự biến đổi khí hậu của trái đất, nhu cầu nghiên cứu và khai thác sử dụng các vùng lãnh thổ quốc tế đòi hỏi luật quốc tế phải có sự thay đổi tương ứng để có thể điều chỉnh kịp thời Sự tan vỡ của Liên xô và hệ thống XHCN, sự chấm dứt chiến tranh lạnh cũng dẫn đến những thay đổi nền tảng xã hội quốc tế và luật quốc tế

Như vậy, luật quốc tế hiện đại đã có những bước phát triển mạnh mẽ, vượt bậc theo hướng ngày càng dân chủ, công bằng hơn Sự phát triển này được biểu hiện qua việc hàng loạt các điều ước quốc tế được ký kết (ví dụ: Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao, Hiệp ước về vũ trụ năm 1967, Công ước Viên

về Luật điều ước quốc tế năm 1969, Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 ) Bằng những nguyên tắc, quy phạm tiến bộ, luật quốc tế hiện đại ngoài việc loại bỏ nhiều nguyên tắc và định chế của luật quốc tế cũ như quyền của quốc gia được sử dụng chiến tranh, quy chế tô giới, chế độ thực dân cũng đồng thời kế thừa những nguyên tắc và quy phạm dân chủ của luật quốc tế cũ, như nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, nguyên tắc tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế (Pacta sunt servand) với những điều chỉnh phù hợp với sự phát triển mới của quan hệ quốc tế thời kỳ hiện đại Mặt khác, sự phát triển của luật quốc tế còn được thể hiện thông qua việc nhiều tổ chức quốc tế khu vực và toàn cầu được thành lập, sự ra đời một số ngành luật mới như luật hàng không quốc tế, luật tổ chức quốc tế

Tuy nhiên, để luật quốc tế thực sự là công cụ pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia và giải quyết công bằng, hiệu quả những vấn đề mà xã hội hiện đại đặt ra, cộng đồng quốc tế cần có nhiều nỗ lực hơn nữa trong việc hoàn thiện các định chế pháp lý quốc tế cũng như thực thi tuân thủ triệt để khuôn khổ pháp lý quốc tế hiện hành

Trang 25

III Nguồn của luật quốc tế

1 Khái niệm

Nguồn của pháp luật là một khái niệm rộng, có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Trong khoa học luật quốc tế, hiểu theo nghĩa pháp lý (nghĩa hẹp), nguồn của luật quốc tế được xác định là những hình thức pháp lý chứa đựng, ghi nhận các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế Đây là những hình thức thể hiện ý chí của các quốc gia hoặc của các chủ thể khác của luật quốc tế Một trong những cơ sở pháp lý thường được viện dẫn khi đề cập đến nguồn của luật quốc tế là khoản 1 điều 38 Quy chế toà án công lý của Liên hợp quốc Điều khoản này quy định các căn cứ pháp lý mà Toà công lý quốc tế viện dẫn khi giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia Đó là: điều ước quốc tế, tập quán quốc tế và các nguyên tắc pháp luật chung được các dân tộc văn minh thừa nhận Ngoài ra, thực tiễn cũng như Quy chế toà án công lý quốc tế còn thừa nhận một số nghị quyết của tổ chức quốc tế, phán quyết của toà án quốc tế, học thuyết của các chuyên gia danh tiếng là những phương tiện có tác động hỗ trợ nhằm xác định, giải thích quy phạm luật quốc tế, trong nhiều trường hợp các phương tiện này còn là tiền đề để hình thành quy phạm luật quốc tế Tất cả các phương tiện bổ trợ nêu trên không được công nhận là nguồn pháp lý của luật quốc tế, bởi vì chúng không thể hiện ý chí của các quốc gia hoặc các chủ thể khác của luật quốc tế, chúng không có hiệu lực pháp luật ràng buộc các quốc gia trong quan hệ quốc tế như điều ước quốc tế hay tập quán quốc tế

Trong khoa học luật quốc tế hiện nay, nguồn của luật quốc tế còn được xác định rộng hơn, các tổ chức quốc tế liên chính phủ trong quá trình hoạt động của mình đã ban hành các văn bản, nghị quyết, quyết định có hiệu lực pháp luật đối với các quốc gia thành viên của mình Các văn bản pháp lý như vậy của tổ chức quốc tế cũng trực tiếp điều chỉnh các quan hệ giữa các nước thành viên, ràng buộc chúng với các cam kết phát sinh từ các văn bản này như một số văn bản của Liên minh Châu âu; một số nghị quyết của các cơ quan thuộc Liên hợp quốc… Trong khoa học luật quốc tế hiện nay, các hình thức văn kiện như vậy (nghị quyết, quyết định, chỉ thị, thông tư ) cũng được coi là nguồn của luật

Trang 26

quốc tế, cụ thể chúng là nguồn đặc thù của luật tổ chức quốc tế – một ngành luật độc lập của hệ thống pháp luật quốc tế mới được hình thành sau Đại chiến II

2 Các loại nguồn của luật quốc tế

a Điều ước quốc tế

Cùng với tập quán quốc tế, điều ước quốc tế là nguồn cơ bản, quan trọng nhất của luật quốc tế So với tập quán quốc tế thì điều ước quốc tế có những ưu thế nổi trội như: có thể được hình thành nhanh chóng; thông qua hình thức thành văn, các quy phạm điều ước được thể hiện chính xác, rõ ràng; việc áp dụng thuận tiện, dễ dàng Cùng với việc gia tăng số lượng điều ước quốc tế, nhiều tập quán quốc tế cũng đã được pháp điển hoá nên có thể thấy, đa số quy phạm luật quốc tế hiện nay là quy phạm điều ước Theo Điều 2 Công ước Viên về luật

điều ước quốc tế năm 1969, điều ước quốc tế là thoả thuận quốc tế được ký kết

bằng văn bản giữa các quốc gia và được luật quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thoả thuận đó được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất, hay hai hoặc nhiều văn kiện có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những văn kiện đó Lý luận cũng như thực tiễn quốc tế đều khẳng

định ký kết điều ước không chỉ thuộc về các quốc gia Do giới hạn của phạm vi điều chỉnh nên định nghĩa về điều ước quốc tế trong Công ước Viên năm 1969 chỉ đề cập đến điều ước quốc tế được ký kết giữa các quốc gia

Tuy nhiên, không phải bất kỳ điều ước quốc tế nào cũng là nguồn của luật quốc tế Một điều ước quốc tế muốn có hiệu lực pháp luật ràng buộc các chủ thể tham gia kí kết và là nguồn của luật quốc tế phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

- Nội dung pháp lý của điều ước quốc tế phải phù hợp với các nguyên tắc

cơ bản của luật quốc tế

- Phải được ký kết trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng

Điều ước quốc tế sẽ có thể vô hiệu tương đối hoặc vô hiệu tuyệt đối và không tạo ra quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế cho các bên kết ước nếu không thoả mãn một trong các điều kiện nêu trên

b Tập quán quốc tế

Tập quán quốc tế là các quy tắc xử sự chung (thực tiễn xử sự) được hình thành trong thực tiễn đời sống quốc tế và được các quốc gia và các chủ thể khác

Trang 27

của luật thừa nhận rộng rãi là các quy phạm có tính chất pháp lý bắt buộc (quy phạm luật quốc tế) đối với các chủ thể khi tham gia vào các lĩnh vực của đời sống quốc tế

Trong quan hệ quốc tế, tập quán quốc tế là nguồn luật truyền thống của luật quốc tế Thông qua nội dung định nghĩa, ta có thể thấy một tập quán quốc tế chỉ

có thể được coi là nguồn của luật quốc tế khi tích hợp đủ 2 điều kiện sau:

Thứ nhất là sự hiện diện của thực tiễn xử sự chung, thống nhất của các chủ thể luật quốc tế trong các trường hợp cụ thể của đời sống quốc tế

Thứ hai là niềm tin pháp lý của các chủ thể luật quốc tế rằng: các quy tắc

xử sự như vậy là bắt buộc phải tuân thủ trong một hoàn cảnh xác định Điều này thể hiện sự thừa nhận chung của các chủ thể luật quốc tế đối với các quy tắc xử

sự chung là các quy phạm có tính pháp lý bắt buộc

Đối với điều kiện đầu tiên, luật quốc tế yêu cầu các quy tắc xử sự (thực tiễn

xử sự) của các chủ thể phải nhất quán, giống nhau trong cùng một quan hệ quốc

tế Ví dụ các quốc gia trong các cuộc xung đột vũ trang đều áp dụng quy tắc không giết hại tù binh, hay khi tiếp đón các sứ thần của nước ngoài, luôn đối xử trọng thị, tôn trọng giá trị, nhân phẩm và sự bất khả xâm phạm của các sứ thần Tuy nhiên, những quy tắc xử sự như vậy phải được các quốc gia sử dụng nhiều lần trong một khoảng thời gian dài Thực tiễn quan hệ quốc tế gần đây cho thấy, thời gian dẫn đến sự ra đời của một tập quán quốc tế có xu hướng ngày càng được rút ngắn

Đối với điều kiện thứ hai (trong khoa học luật quốc tế được gọi tên bằng thuật ngữ La tinh opinio juris sive necessitatis) được hiểu là niềm tin của các quốc gia trong những trường hợp cụ thể của đời sống quốc tế, các chủ thể phải

xử sự như những quy tắc đã được áp dụng chung trong quan hệ giữa chúng, nếu

xử sự khác đi sẽ là hành vi vi phạm và sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế

Ví dụ như các bên trong xung đột vũ trang nhận thức rằng không giết hại tù binh

là quy tắc xử sự hợp pháp và họ thực hiện điều đó như một nghĩa vụ Như vậy, đối với tập quán quốc tế buộc phải có 2 yếu tố cấu thành: yếu tố khách quan chính là quy tắc xử sự chung và yếu tố chủ quan là nhận thức, niềm tin của chủ

Trang 28

thể đối với quy tắc đó (opinio juris sive necesstatis) Tuy nhiên, để một tập quán quốc tế được coi là hợp pháp và là nguồn của luật quốc tế hiện đại thì nội dung của tập quán quốc tế đó hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế

Mặc dù đều có vị trí độc lập trong hệ thống nguồn của luật quốc tế, nhưng giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế luôn tồn tại mối quan hệ chặt chẽ trong quá trình xây dựng, hiệu lực cũng như viện dẫn áp dụng trong quan hệ quốc tế Tập quán quốc tế và điều ước quốc tế đều thể hiện sự thoả thuận ý chí của các chủ thể luật quốc tế, điểm khác biệt chỉ ở hình thức thoả thuận Nếu điều ước quốc tế là sản phẩm của sự thoả thuận công khai, rõ ràng thì thoả thuận trong tập quán quốc tế mang tính mặc định (ngầm định), biểu hiện bằng các hình thức chấp nhận, không phản đối Mặt khác, một điều ước quốc tế hoàn toàn có thể được hình thành từ những tập quán quốc tế theo con đường pháp điển hoá, hoặc ngược lại, một tập quán quốc tế cũng có thể ra đời từ chính thực tiễn ký kết hoặc thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ điều ước

Tuy hình thành muộn hơn, nhưng vai trò, vị trí và số lượng điều ước quốc

tế ngày càng tăng so với tập quán quốc tế Tuy nhiên, tập quán quốc tế vẫn tiếp tục duy trì vị trí nguồn cơ bản trong hệ thống nguồn luật quốc tế Cơ sở của khẳng định này là:

- Các quy phạm tập quán quốc tế vẫn tiếp tục được hình thành từ thực tiễn;

- Tập quán quốc tế vẫn duy trì vai trò của mình (ngay cả khi đã được pháp điển hoá) đối với quốc gia không bị ràng buộc bởi điều ước quốc tế, vì theo nguyên tắc điều ước quốc tế chỉ có hiệu lực với các bên thành viên;

- Xuất phát từ bản chất của mình, tất cả các quy phạm jus cogens chính là các quy phạm tập quán quốc tế đa phương toàn cầu

Dưới góc độ giá trị hiệu lực thì tập quán quốc tế và điều ước quốc tế có hiệu lực pháp luật ngang bằng nhau Vai trò quan trọng của điều ước quốc tế cũng như mức độ viện dẫn, áp dụng thường xuyên điều ước quốc tế trong thực tiễn xuất phát từ chính những ưu thế và phạm vi điều chỉnh của điều ước quốc tế chứ không có nghĩa là giá trị hiệu lực của điều ước cao hơn tập quán.Trật tự áp

Trang 29

dụng các loại nguồn này dựa trên cơ sở của nguyên tắc: Điều ước quốc tế chỉ có hiệu lực thi hành đối với các bên thành viên tham gia ký kết, còn tập quán quốc

tế có hiệu lực phổ cập thi hành đối với tất cả các chủ thể của luật, đương nhiên tập quán quốc tế ở đây là tập quán quốc tế đa phương toàn cầu Nếu có sự xung đột giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế thì áp dụng nguồn luật nào là do các chủ thể liên quan thoả thuận lựa chọn

c Các nguyên tắc pháp luật chung

Đây là loại nguồn luật thường được sử dụng trong trường hợp không có điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế tương ứng để điều chỉnh, giải quyết một quan hệ, sự kiện, vấn đề quốc tế Loại hình nguồn này của luật quốc tế có vai trò quan trọng nhất định trong đời sống xã hội quốc tế Theo khoa học luật quốc tế, các nguyên tắc pháp luật chung được hiểu là các nguyên tắc pháp luật được tất

cả các hệ thống pháp luật cùng thừa nhận và áp dụng chúng để điều chỉnh các mối quan hệ pháp lý thuộc phạm vi đối tượng điều chỉnh của mình Như vậy, luật quốc tế cũng như luật quốc gia đều thừa nhận và sử dụng các nguyên tắc pháp luật chung để điều chỉnh các mối quan hệ pháp lý tương ứng của chúng Ngoài ra, các nguyên tắc pháp luật chung phải đạt tới mức phổ cập cao nhất, phải được luật pháp và thực tiễn của tất cả các nước trên thế giới thừa nhận Trong quan hệ quốc tế, các nguyên tắc pháp luật chung được thừa nhận tại tất cả các hệ thống pháp luật không phụ thuộc vào nguồn gốc xuất xứ, thậm chí không lệ thuộc vào tính chất giai cấp của các hệ thống pháp luật đó Có thể liệt

kê một số các nguyên tắc pháp luật chung như nguyên tắc không ai có thể chuyển giao số lượng quyền nhiều hơn mà họ sở hữu, không một ai có thể nhận được lợi ích từ hành vi bất hợp pháp của mình, nguyên tắc luật riêng thay thế luật chung Thuộc về các nguyên tắc pháp luật chung còn là các nguyên tắc tố tụng như nguyên tắc không thể là quan toà trong chính các vụ việc cuả mình, một người không thể bị xét xử hai lần về cùng một hành vi phạm tội

Việc xác định các nguyên tắc pháp luật chung như là loại nguồn của luật quốc tế nhằm đảm bảo các quan hệ quốc tế sẽ được điều chỉnh hoặc giải quyết

có hiệu quả tích cực trong trường hợp không có các điều ước hoặc tập quán quốc

Trang 30

tế tương ứng, qua đó đảm bảo sự ổn định và phát triển vững chắc của các quan

hệ hợp tác trong đời sống quốc tế Hiện nay, nhiều nguyên tắc pháp luật chung

đã được pháp điển hóa trong các điều ước quốc tế

3 Các phương tiện bổ trợ nguồn luật quốc tế

Đặc trưng cơ bản của các phương tiện bổ trợ này là không có hiệu lực pháp luật quốc tế giống như nguồn điều ước và tập quán quốc tế.Tác động và ảnh hưởng của các phương tiện bổ trợ nguồn được thể hiện ở khía cạnh góp phần xác định quy phạm luật quốc tế, hoặc là tiền đề để hình thành quy phạm luật quốc tế, hay giải thích làm rõ nội dung pháp lý của quy phạm luật quốc tế Nếu như đối với điều ước hoặc tập quán quốc tế, các chủ thể luật quốc tế viện dẫn các quy phạm điều ước hoặc tập quán để trực tiếp điều chỉnh, giải quyết các quan hệ phát sinh thì các phương tiện bổ trợ nguồn như nghị quyết, phán quyết thường được viện dẫn nhằm làm rõ hoặc khẳng định giá trị của quy phạm điều ước hoặc tập quán sẽ được áp dụng chứ không thể trực tiếp điều chỉnh vấn

đề liên quan Việc sử dụng các phương tiện bổ trợ nguồn luật quốc tế là đặc biệt cần thiết trong trường hợp phát sinh những quan hệ xã hội cần điều chỉnh nhưng lại thiếu luật thực định hoặc mặc dù đã có nhưng chưa đầy đủ, rõ ràng

a Các phán quyết của toà án quốc tế

Từ góc độ luật quốc tế, phán quyết của toà án quốc tế không thể được coi là nguồn (theo nghĩa pháp lý) của luật quốc tế, bởi vì chúng không phải là hình thức thể hiện ý chí của các quốc gia Các phán quyết của toà án được ban hành

là hoàn toàn dựa trên các nguyên tắc, quy phạm hiện hành Nói cách khác, phán quyết là kết quả của việc áp dụng pháp luật chứ không phải là văn bản làm luật Trong thực tiễn hoạt động của Toà án công lý quốc tế, các phán quyết không chỉ chứng minh sự tồn tại của các quy phạm luật quốc tế mà còn góp phần xây dựng các quy phạm mới của luật quốc tế Phán quyết của Toà công lý quốc tế về vụ tranh chấp giữa Anh với Nauy trong việc xác định các vùng biển đã khẳng định phương pháp đường cơ sở thẳng mà Na uy sử dụng để xác định vùng biển của mình là hoàn toàn phù hợp với luật quốc tế Chính phán quyết này là tiền đề xây dựng quy phạm mới về xác định đường cơ sơ theo phương pháp đường cơ sở

Trang 31

thẳng trong luật biển quốc tế và nhiều nước (trong đó có Việt Nam) đã sử dụng

để xác định đường cơ sở của mình

b Các học thuyết về luật quốc tế

Đây là những kết quả nghiên cứu của các học giả danh tiếng, có uy tín trong khoa học luật quốc tế Các học thuyết khoa học luật quốc tế không phải là nguồn luật quốc tế, vì chúng chỉ là hệ thống các quan điểm, ý kiến hoặc bình luận/đánh giá… của các nhà khoa học về một vấn đề quan trọng nào đó của quan hệ quốc tế và pháp luật quốc tế Cũng giống như vai trò của phán quyết toà

án quốc tế, các học thuyết góp phần tạo cơ sở khẳng định sự hiện diện của một quy phạm luật quốc tế nào đó trong quan hệ quốc tế, đặc biệt khi các quan điểm được sự thừa nhận rộng rãi của các nhà khoa học thuộc các quốc gia có chế độ chính trị và xã hội khác nhau Các công trình này có thể giải thích các quy phạm luật quốc tế, góp phần làm sáng tỏ nội dung pháp lý của chúng, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các quy phạm này trong thực tiễn đời sống xã hội quốc tế Sự giải thích các quy phạm luật quốc tế do các học giả thực hiện trong các công trình khoa học không phải là giải thích chính thức, nhưng trong thực tế, nhiều quốc gia vẫn viện dẫn như một trong các căn cứ để bảo vệ quyền

và lợi ích quốc gia Mặt khác, những học thuyết này còn tác động tích cực tới quá trình xây dựng luật quốc tế thông qua những nghiên cứu, đánh giá thực tiễn quan hệ quốc tế và pháp luật quốc tế hiện hành, các học giả có thể đề xuất, thiết

kế những quy phạm hoặc văn bản Sự ra đời của nguyên tắc tự do biển cả - một trong những nguyên tắc cơ bản của luật biển quốc tế có sự đóng góp rất quan trọng của công trình nghiên cứu của học giả người Hà lan Hugô Grotiuyts

c Các nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ

Trong quá trình hoạt động, các tổ chức quốc tế liên chính phủ thường thông qua hai loại nghị quyết Một loại có hiệu lực pháp luật ràng buộc các quốc gia thành viên (nghị quyết về tài chính, nhân sự, tổ chức hành chính) và một loại chỉ

có tính khuyến nghị (định hướng, không bắt buộc) Việc thực thi hay không hoàn toàn do quốc gia tự quyết định, hành vi không thực hiện không bị coi là hành vi vi phạm luật quốc tế, ví dụ một loạt nghị quyết của Đại hội đồng Liên

Trang 32

hợp quốc yêu cầu Ixrael rút quân ra khỏi các vùng lãnh thổ mà họ chiếm đóng của các nước Arập Loại nghị quyết này chính là một trong những phương tiện

bổ trợ nguồn của luật quốc tế

Mặc dù không phải là nguồn cơ bản của luật quốc tế, nhưng một số nghị quyết của tổ chức quốc tế có vai trò rất quan trọng trong quan hệ quốc tế nói chung cũng như pháp luật quốc tế nói riêng Ngoài việc góp phần xác định sự tồn tại của các quy phạm pháp luật, giải thích các quy phạm (Tuyên bố về quyền độc lập của các dân tộc thuộc địa năm 1960, về các nguyên tắc của luật quốc tế năm 1970), tác động rõ ràng nhất của các nghị quyết là ở chỗ có thể “rút ngắn” quá trình làm luật Nói cách khác, thông qua các nghị quyết, các quy phạm pháp luật được hình thành nhanh chóng hơn.Trong thực tiễn hoạt động của mình, các

tổ chức quốc tế liên chính phủ đã thông qua nhiều nghị quyết trong đó có những nghị quyết là cơ sở, nền tảng của điều ước quốc tế đa phương phổ cập Điển hình như Tuyên bố toàn thế giới về quyền con người năm 1948 là khởi điểm cho quá trình soạn thảo 2 công ước về quyền con người được thông qua tại Đại hội đồng Liên hợp quốc vào năm 1966, hay Tuyên bố về thủ tiêu tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc được Liên hợp quốc thông qua vào năm 1963 là xuất phát điểm quan trọng để soạn thảo và thông qua Công ước quốc tế cùng tên vào năm 1979

d Các hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia

Các hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia được coi là phương tiện bổ trợ nguồn của luật quốc tế phải là các hành vi pháp lý độc lập thể hiện ý chí của các quốc gia thực hiện liên quan tới quan hệ, sự kiện hoặc một vấn đề quốc tế và nhằm mục đích tạo ra các kết quả nhất định trong quan hệ đối ngoại của quốc gia Hành vi đơn phương của quốc gia có thể là ban hành các văn bản khẳng định hoặc thể hiện quan điểm chính trị – pháp lý của quốc gia như chỉ thị, sắc lệnh, tuyên bố Sự phù hợp chung về mặt nội dung của các hành vi pháp lý đơn phương của nhiều quốc gia cùng với các phương tiện bổ trợ khác đã góp phần xác định sự tồn tại của quy phạm nhất định của luật quốc tế Trong những trường hợp nhất định, hành vi pháp lý đơn phương cũng có thể được sử dụng

Trang 33

như một trong những cơ sở xem xét, đánh giá trách nhiệm của quốc gia trong quan hệ quốc tế

IV Các vấn đề pháp lý về mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia

1 Quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia

Trong khoa học luật quốc tế, đây là vấn đề được các quốc gia và học giả luật quốc tế rất quan tâm Vấn đề mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia bắt đầu được tập trung nghiên cứu vào cuối thế kỷ XIX Các cuộc tranh luận kéo dài giữa các nhà khoa học pháp lý đã góp phần hình thành hai trường phái khác nhau cơ bản về quan điểm xác định mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia Thứ nhất là trường phái theo học thuyết nhất nguyên luận mà đại diện là các học giả danh tiếng về luật quốc tế, như: H.Kelsen và A.Verdross (Áo), G.Scelle (Pháp) Theo học thuyết này, luật quốc tế và luật quốc gia cùng nhau tạo dựng một hệ thống pháp luật, đa số các học giả theo quan điểm này còn nhấn mạnh: về thứ bậc, luật quốc gia phải phục tùng, tuân thủ theo luật quốc tế Với nội dung quan điểm như vậy, rõ ràng các học giả nhất nguyên luận (H Kelsen

và A.Verdross) đã thủ tiêu nguyên tắc chủ quyền quốc gia, và công nhận một khái niệm “chủ quyền” của luật quốc tế Các đại diện của học thuyết nhất nguyên luận coi luật quốc gia bắt nguồn từ luật quốc tế và được hình thành dựa trên cơ sở “định hướng” của luật quốc tế Các quy phạm luật quốc gia được ban hành từ sự “uỷ quyền” của luật quốc tế Rõ ràng cách quan niệm như vậy là trái với thực tiễn lịch sử, với luật quốc tế hiện hành và thực tiễn của các quốc gia Với những đặc trưng hoàn toàn khác biệt của luật quốc tế và luật quốc gia, việc tập hợp luật quốc tế và luật quốc gia vào cùng một hệ thống pháp luật là hoàn toàn không có cơ sở Ngoài ra, trong học thuyết nhất nguyên luận còn có quan điểm cho rằng luật quốc gia có ưu thế hơn luật quốc tế, đứng cao hơn về thứ bậc hiệu lực pháp luật so với luật quốc tế Trong trường hợp chấp nhận quan điểm này thì luật quốc tế không còn là một hệ thống pháp luật thống nhất theo đúng nghĩa, mà sẽ trở thành “luật đối ngoại của các quốc gia” Đại diện cho quan điểm này là các học giả Ph.Zorn, A.Zorn và E.Kaufmann tại Đức

Trang 34

Thứ hai là trường phái theo học thuyết nhị nguyên luận Đại diện của học thuyết này là H.Tricpel (Đức) và D.Anzldti (Italia) Các nhà nhị nguyên luận cho rằng: Luật quốc tế và luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật hoàn toàn độc lập và khác nhau, giữa hai hệ thống này hoàn toàn không có mối quan hệ, không

có sự giao thoa Luật quốc tế vận hành trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, còn luật quốc gia hoạt động trong lĩnh vực quan hệ trong nước Các học giả của trường phái này không công nhận khả năng áp dụng được luật quốc tế trong phạm vi quốc gia với tư cách là luật quốc tế Nhưng họ khẳng định để luật quốc tế có thể được áp dụng tại các quốc gia thì luật quốc tế bắt buộc phải biến đổi thành luật quốc gia, như vậy luật quốc tế cần phải chuyển hoá mới được áp dụng tại các quốc gia Đây chính là điểm yếu của học thuyết này, vì thực tiễn đã công nhận, khả năng sử dụng luật quốc tế tại các quốc gia mà về bản chất pháp lý nó vẫn tiếp tục là luật quốc tế theo đúng nghĩa

Quan điểm của khoa học pháp lý xã hội chủ nghĩa khẳng định luật quốc tế

và luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật riêng biệt, độc lập với nhau, nhưng giữa chúng có mối quan hệ biện chứng, tác động ảnh hưởng qua lại trong quá trình xây dựng và áp dụng Hơn thế nữa, luật quốc tế với bản chất của mình có thể được áp dụng trong phạm vi quốc gia Đây là quan điểm hoàn toàn khoa học

và có đầy đủ cơ sở để chứng minh trong thực tiễn đời sống xã hội của quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế Tính tất yếu của sự tồn tại mối quan hệ biện chứng giữa luật quốc tế với luật quốc gia xuất phát từ những cơ sở sau:

- Quốc gia vừa là chủ thể xây dựng chính sách đối nội cũng như đối ngoại của mình, đồng thời cũng là chủ thể thực hiện các chính sách này trong cuộc sống;

- Quốc gia vừa là chủ thể xây dựng và thực thi, tuân thủ luật trong nước cũng như luật quốc tế trong quá trình thực hiện chính sách đối nội cũng như chính sách đối ngoại;

- Trong quá trình tham gia quan hệ quốc tế, các quốc gia với tư cách là chủ thể chủ yếu và cơ bản của luật quốc tế, bắt buộc phải tuân thủ nghiêm chỉnh nguyên tắc tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế (nguyên tắc Pacta sunt servanda)

Trang 35

Bất kỳ một quốc gia nào khi được hình thành, đều xây dựng cho mình chính sách đối nội và đối ngoại phù hợp, đồng bộ và thống nhất Các chính sách này được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công cụ khác nhau, trong đó có luật pháp Vì vậy, luật quốc gia và luật quốc tế phải có sự hài hoà, tương thích với nhau Việc xuất hiện và tồn tại với những khác biệt rõ ràng của hai hệ thống pháp luật là khách quan và tất yếu, đồng thời mối quan hệ biện chứng, tác động

và ảnh hưởng qua lại giữa chúng là không thể phủ nhận Đồng thời, khi tham gia quan hệ quốc tế các quốc gia phải có nghĩa vụ tuân thủ nguyên tắc pacta sunt servanda, muốn vậy các thành viên của cộng đồng quốc tế phải đảm bảo sự tương thích của các văn bản pháp lý quốc gia với luật quốc tế Nội dung của mối quan hệ biện chứng sẽ có sự biến động tuỳ thuộc vào mức độ tham gia của quốc gia vào quan hệ pháp luật quốc tế Như vậy, họ phải có sự điều chỉnh thích hợp các văn bản pháp luật quốc gia để đảm bảo cho việc thực thi và tuân thủ nghiêm chỉnh các cam kết mà các quốc gia tự nguyện gánh vác

Nội dung pháp lý của mối quan hệ biện chứng giữa luật quốc gia với luật quốc tế bao gồm:

+ Luật quốc gia có tác động và ảnh hưởng quyết định tới sự hình thành và phát triển của luật quốc tế Trong lịch sử nhân loại, Tuyên ngôn về dân quyền và nhân quyền của cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789), Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1776) đã trở thành giá trị chung của nhân loại, có tác động, ảnh hưởng to lớn trong quan hệ quốc tế, dẫn đến việc hình thành các điều ước quốc tế về quyền con người Một số nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế như nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác cũng có xuất xứ từ chính các quy định trong đường lối, chính sách và pháp luật của một số quốc gia

+ Luật quốc tế có tác động và ảnh hưởng ngược trở lại đối với luật quốc gia, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật của quốc gia, nhất là hệ thống pháp luật của các nước đang phát triển Với sự tham gia quan hệ quốc tế và nghĩa vụ thực thi và tuân thủ luật quốc tế, việc ban hành, chỉnh lý, sửa đổi hoặc bổ sung các văn bản thuộc hệ thống pháp luật quốc gia là điều bắt buộc phải làm Chính

Trang 36

từ quá trình này, pháp luật của quốc gia có thể được hoàn thiện đáng kể Công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Việt Nam trong những năm gần đây là minh chứng điển hình Việc ban hành hoặc sửa đổi những văn bản quy phạm pháp luật như Luật điều ước quốc tế năm 2016, Luật sở hữu trí tuệ, Luật môi trường, Luật hàng không dân dụng, Luật biển Việt Nam đều phải tính tới sự hài hoà với các văn bản pháp luật quốc tế tương ứng mà Việt Nam là thành viên

2 Giải quyết xung đột giữa luật quốc tế và luật quốc gia

Do nhiều nguyên nhân, sự xung đột giữa các quy phạm pháp luật có thể xuất hiện ngay trong khuôn khổ của hệ thống pháp luật quốc gia cũng như giữa các quy phạm của luật quốc tế và các quy phạm của luật quốc gia

Trừ một số điều ước quốc tế cụ thể, nhìn chung, luật quốc tế không quy định những phương thức áp dụng luật quốc tế mà các quốc gia phải sử dụng trong phạm vi quốc gia Như vậy, mỗi quốc gia đều có quyền tự do lựa chọn các phương thức phù hợp để áp dụng luật quốc tế tại các quốc gia Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, có quốc gia sử dụng phương thức áp dụng trực tiếp các quy phạm luật quốc tế khi xuất hiện yêu cầu Cũng có quốc gia áp dụng luật quốc tế trên cơ sở có sự dẫn chiếu đến luật quốc tế từ các quy phạm pháp luật quốc gia

Sử dụng phương thức này, quốc gia không ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật mà chỉ đưa ra quy phạm dẫn chiếu cho phép sử dụng luật quốc tế để điều chỉnh các quan hệ cụ thể theo một công thức đã được quy định trong các quy phạm luật quốc tế Ngoài ra, nếu quốc gia chỉ áp dụng luật trong nước để điều chỉnh một quan hệ cụ thể thì để thực thi và tuân thủ các cam kết quốc tế, việc áp dụng luật quốc tế sẽ chỉ được tiến hành khi các quy phạm tương ứng của luật quốc tế đã được nội luật hoá (chuyển hoá)

Trên cơ sở chủ quyền, quốc gia quyết định nguyên tắc áp dụng pháp luật và cách thức hạn chế cũng như loại bỏ hiện tượng xung đột giữa các quy phạm của

2 hệ thống pháp luật này Ví dụ: Theo Điều 25 đạo luật cơ bản của Cộng hoà Liên bang Đức, các quy phạm được thừa nhận chung của luật quốc tế là bộ phận cấu thành của luật Liên bang và có ưu thế trước các đạo luật trong nước, Khoản

4 Điều 15 Hiến pháp nước Liên bang Nga quy định nếu điều ước quốc tế mà

Trang 37

Liên bang Nga tham gia có quy định khác với luật trong nước thì áp dụng các quy định của điều ước quốc tế Nguyên tắc hiệu lực ưu tiên của quy phạm luật quốc tế so với các quy phạm tương ứng của luật quốc gia cũng được ghi nhận trong pháp luật của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam Quy định và thực tiễn

áp dụng luật quốc tế nói trên hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc Pacta Sunt Servanda Luật quốc tế không chấp nhận hành động viện dẫn pháp luật quốc gia

để biện minh cho việc không thực hiện pháp luật quốc tế Xuất phát từ lợi ích về kinh tế, chính trị , trên cơ sở tự nguyện bình đẳng, các chủ thể tham gia xây dựng các quy phạm pháp luật quốc tế Chính vì vậy, họ đều phải có nghĩa vụ thực thi, tuân thủ pháp luật quốc tế Để có thể hạn chế cũng như giải quyết hiệu quả tình trạng xung đột giữa luật quốc gia và luật quốc tế, ngoài việc không ban hành những văn bản quy phạm pháp luật trái với các cam kết quốc tế mà quốc gia là thành viên, trong quá trình thực thi pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế, quốc gia cần có sự điều chỉnh kịp thời hiện tượng xung đột này bằng cách thực hiện những sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ những quy định không tương thích trong luật quốc gia Căn cứ vào thực tiễn áp dụng cũng như quy định của pháp luật hiện hành, phụ thuộc vào nội dung điều chỉnh cũng như mức độ cụ thể, chi tiết của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, các quy phạm pháp luật quốc tế có thể được áp dụng trực tiếp hoặc áp dụng sau khi đã được nội luật hoá

V Pháp điển hóa luật quốc tế

Trong lý luận luật quốc tế, pháp điển hóa luật quốc tế được hiểu là việc hệ thống hóa các qui phạm luật quốc tế do chủ thể luật quốc tế thực hiện Pháp điển hóa không chỉ đơn giản là việc sắp xếp các qui phạm luật quốc tế hiện hành vào một hệ thống duy nhất, mà còn thể hiện nội dung của chúng rõ ràng hơn, cũng như phản ánh các tập quán quốc tế bằng hình thức điều ước Mặt khác, pháp điển hóa không giới hạn trong việc chỉnh lý hoặc làm mới các qui phạm hiện hành mà còn xây dựng các qui phạm mới Nói cách khác, pháp điển hóa luật quốc tế luôn song hành cùng với quá trình phát triển luật quốc tế

Trang 38

1 Pháp điển hóa không chính thức

Đây là công việc chuyên môn được thực hiện bởi các cá nhân học giả, các viện nghiên cứu chuyên ngành quốc gia, các hiệp hội và tổ chức phi chính phủ Trong đó thành quả pháp điển hóa của các tổ chức có ý nghĩa quan trọng hơn so với công việc của các cá nhân học giả luật quốc tế Có vai trò quan trọng đối với quá trình pháp điển hóa và phát triển tiến bộ luật quốc tế chính là Hiệp hội luật quốc tế và Viện luật quốc tế Các tổ chức phi chỉnh phủ này đã thực hiện nhiều hoạt động nghiên cứu, khảo sát và chuẩn bị dự thảo các điều ước quốc tế về các lĩnh vực khác nhau của đời sống quốc tế Hiệp hội luật quốc tế được thành lập năm 1873, đóng trụ sở tại London (Anh), đồng thời có chi nhánh tại nhiều quốc gia, các báo cáo của Tổ chức này được in trong tạp chí Report về hoạt động của mình Còn Viện luật quốc tế cũng thành lập năm 1873 bao gồm các học giả danh tiếng, có uy tín về luật quốc tế, dự thảo nhiều tài liệu quan trọng, trong đó có những dự thảo là nguồn hỗ trợ hiệu quả cho pháp điển hóa chính thức3

2 Pháp điển hóa chính thức

Từ góc độ lý luận, đây là hoạt động có tính chuyên môn sâu, chuyên nghiệp cao, được thực hiện bởi các quốc gia riêng lẻ, các tổ chức quốc tế toàn cầu hoặc khu vực Giá trị của pháp điển hóa chính thức do các quốc gia riêng lẻ thực hiện, có tính hạn chế và chỉ ràng buộc đối với chính quốc gia đó

Trong pháp điển hóa do các tổ chức quốc tế thực hiện thì Liên hợp quốc

có vai trò quan trọng đặc biệt Hiến chương Liên hợp quốc đã ghi nhận quyền hạn đặc biệt của Tổ chức trong lĩnh vực này, đồng thời qui định rõ nhiệm vụ pháp điển hóa và phát triển từng bước luật quốc tế4 Để thực thi quá trình pháp điển hóa có tính chuyên nghiệp, Đại hội đồng đã thành lập Ủy ban luật quốc tế vào năm 1947 như là cơ quan giúp việc có nhiệm vụ khuyến khích quá trình phát triển tiến bộ của luật quốc tế cũng như pháp điển hóa luật quốc tế Ủy ban bao gồm 34 thành viên được Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu chọn với nhiệm kì

5 năm Mặc dù các quốc gia là chủ thể đưa ứng cử viên của mình vào bầu chọn,

3 Trụ sở của Viện luật quốc tế tại Brucxen (Bỉ)

4 Điều 13 Hiến chương Liên hợp quốc

Trang 39

nhưng các ứng cử viên sau khi đã trúng cử hoạt động với tư cách cá nhân Thành phần của Ủy ban phải đáp ứng nguyên tắc đảm bảo tính đại diện của các nền văn minh và các hệ thống luật pháp cơ bản trên thế giới Các báo cáo về công việc của Ủy ban được đăng trong niên giám luật quốc tế Trong suốt quá trình tồn tại của mình, Ủy ban luật quốc tế đã chuẩn bị nhiều dự thảo điều ước quốc tế mà dựa trên các dự thảo này các hội nghị quốc tế đã được triệu tập dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc và thông qua các công ước quốc tế tương ứng Điển hình như các công ước Giơnevơ về luật biển được kí kết năm 1958, Công ước Viên

về quan hệ ngoại giao năm 1961, Công ước Viên về quan hệ lãnh sự năm 1963, Công ước Viên về luật điều ước năm 1969, Công ước Viên về đại diện quốc gia tại tổ chức quốc tế phổ cập năm 1975, Công ước Viên về kế thừa quốc gia đối với điều ước năm 1978, đối với tài sản, tài liệu lưu trữ và công nợ quốc gia năm

1983, Công ước Viên về luật điều ước giữa quốc gia với tổ chức quốc tế hoặc giữa các tổ chức quốc tế năm 1986…

Các dự thảo do Ủy ban biên soạn thể hiện một trình độ xây dựng pháp luật rất cao, các công việc và tài liệu của Ủy ban đã góp phần giải thích nhiều vấn đề pháp lý quốc tế còn tranh cãi Ngoài ra, trong khuôn khổ Liên hợp quốc, nhiệm vụ pháp điển hóa và phát triển tiến bộ luật quốc tế còn được các cơ quan

và ủy ban chuyên trách của Liên hợp quốc tiến hành, như Ủy ban Liên hợp quốc

về quyền con người, Ủy ban sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình…Những cơ quan này đã dự thảo các văn kiện quốc tế mà sau này là nền tảng để cộng đồng quốc tế xây dựng các công ước quốc tế tương ứng Bên cạnh

đó, các tổ chức quốc tế khác, trước hết là các tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc như ICAO, FAO, UNESCO cũng có vai trò quan trọng trong tiến trình pháp điển hóa và phát triển tiến bộ luật quốc tế

Trang 40

Câu hỏi ôn tập

1 Phân tích khái niệm và các đặc trưng cơ bản của Luật quốc tế

2 Trình bày các chức năng của Luật quốc tế

3 Hệ thống nguồn luật quốc tế và vai trò, vị trí của các loại nguồn

4 Trình bày cơ sở, nội dung của mối quan hệ giữa Luật quốc tế và Luật quốc

5 Trình bày vấn đề pháp điển hóa luật quốc tế

Định hướng thảo luận

1 Phân biệt quy phạm pháp luật quốc tế với quy phạm chính trị

2 Tác động của luật quốc tế đối với việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam

3 Quan hệ giữa các loại nguồn của luật quốc tế

Tài liệu tham khảo

1 Giáo trình Công pháp quốc tế, Đại học Mở Hà Nội năm 2019

2 Quy chế Tòa án công lý của Liên hợp quốc năm1945

Ngày đăng: 05/05/2020, 23:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Văn bản pháp luật - Một số văn bản pháp luật Việt Nam 1. Luật điều ước quốc tế năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: - Một số văn bản pháp luật Việt Nam
7. Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 8. Luật Biển Việt Nam năm 2012 - Một số văn bản pháp luật quốc tế 1. Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 Sách, tạp chí
Tiêu đề: - Một số văn bản pháp luật quốc tế
1. Luật quốc tế – tác giả: Peter Malanczuk. NXB Routledge năm 1997 Khác
2. Luật quốc tế – tác giả Rebeca M.M. NXB Thomson năm 2002. * Sách tiếng Nga Khác
1. Luật quốc tế - tác giả V.ILixôpski. NXB Đại học - Matxcơva 1970 Khác
2. Luật quốc tế - Đại học hữu nghị giữa các dân tộc. NXB luật học năm 1999 Khác
3. Luật quốc tế - Đại học MGIMO – NXB Quan hệ quốc tế năm 2000 Khác
4. Luật quốc tế – tác giả C.A. Bekasev. NXB Prospekt năm 2003 Khác
5. Từ điển Luật quốc tế. NXB Quan hệ quốc tế năm 1986 Khác
6. Luật quốc tế - Đại học MGIMO – Matxcơva năm 2007 * Sách tiếng Ba lan Khác
1. Luật quốc tế – tác giả J.Gillas. NXB trường Đại học Torun năm 1976 Khác
2. Luật quốc tế – tác giả W. Grurachuk. NXB Khoa học quốc gia Vacsava năm 1992 Khác
3. Khủng bố hàng không quốc tế – tác giả Z.Garliski. NXB Đại học tổng hợp Vacsava năm 1982 Khác
4. Chức năng của Tổ chức quốc tế – tác giả W.Môravieski. NXB Kiến thức 1971 Khác
5. Vấn đề khoa học Luật quốc tế – tác giả M.Lachs. Vacsava – Cracốp năm 1986. * Sách tiếng Việt Khác
1. Giáo trình Luật quốc tế – Tập 1 và 2. NXB Công an nhân dân. Hà Nội 1986 Khác
2. Giáo trình Luật quốc tế – Đại học Luật Hà Nội. NXB Công an nhân dân. Hà Nội năm 1998 Khác
3. Giáo trình Luật quốc tế – Đại học Luật Hà Nội. NXB Công an nhân dân. Hà Nội năm 2009 Khác
4. Một số vấn đề cơ bản Luật quốc tế. Chủ biên Đào Trí Úc. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội năm 1994 Khác
5. Từ điển Luật học – NXB Từ điển bách khoa và NXB Tư pháp Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w