Phần 1 cuốn giáo trình Tư pháp quốc tế trình bày các nội dung: Khái niệm về tư pháp quốc tế và nguồn của tư pháp quốc tế, lý luận chung về xung đột pháp luật, chủ thể của tư pháp quốc tế, quyền sở hữu, hợp đồng, thanh toán quốc tế, thừa kế. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
Trang 1T R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C L U Ậ T H À N Ộ I
GIÁO TRÌNH
T ư PHÁP QUỐC TẾ
Trang 2GIÁO TRÌNH
Tư PHÁP QUỐC TÊ
Trang 380-2012/CXB/104-90/CAND
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Giáo trình
Tư PHÁP QUỐC TÊ
NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN
HÀ NỘI - 2012
Trang 5C hủ biên
TS BÙI XUÂN N H ự
T ập th ể tác giả1.TS BÙI XUÂN N H ự
C hương V II Chương XChương XIIChương V , VI, XI
C hương IX
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
N ghiên cícu và học tập T ư pháp quốc t ế đòi hỏi sự kiên
trì, dày công và cũng gập không ít khó khăn Bởi lẽ, trước khi
nghiên cihí và học tập môn T ư pháp quốc t ế học viên phải
nắm khá vững các kiến thức về Lý luận nhà nước và pháp
luật (nhất là hiệu lực của các quy phạm pháp luật trong
không gian và then gian); kiến thức cơ bản của Công pháp
quốc tế, Luật dân sự, Luật thương m ại, Luật hôn nhân và gia
đình, Luật lao động và Luật tô' tụng dân sự M ặt khác, Tư
pháp quốc t ế là m ột ngành khoa học pháp lý còn rất mới,
được hình thành cách đây không lâu không chỉ riêng ở nước
ta mà cả ở các nước khác trên th ế giới D o đó, nó có rất
nhiêu quan điểm và quan niệm khác nhau Cuốn giáo trình
này, tập th ể tác giả chỉ dừng lại nghiên cihi các quan điểm
c ơ bản, khá chính thống về T ư pháp quốc t ế ở Việt Nam
cũng như trên th ế giới, giới thiệu m ột cách cơ bản, có hệ
thông cùa T ư pháp quốc t ế Việt Nam.
G iáo trình này nhằm giúp sinh viên các trường đại học
luật, các cán bộ pháp lý, nghiên cứu sinh và giáo viên luật
dùng làm tài liệu học tập và tham khảo D o điều kiện biên
5
Trang 7soạn và thời gian nghiên cứu có hạn nên tà i liệu không
tránh khỏi những kh iếm k h u yết n h ấ t địn h C h ú n g tô i m ong
nhận được s ự đó n g góp, x â y dựng b ổ ích củ a cá c b ạ n đe
biên soạn lần sau hoàn thiện hơn, đ á p ứng tố t hơn lòng
m ong m ỏi của các bạn.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
TRUỒNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 8CHUƠNGI
K H ÁI NIỆM VỂ T ư PHÁP QUỐC TÊ
VÀ N G UỔ N CỦA T ư PHÁP QUỐC TẾ
I KHÁI NIỆM VỀ TƯPHÁP QUỐC TẾ
l ẻ Đối tư ợ n g đ iều ch ỉn h của T ư p h á p q uốc tế
Sự hợp tác quốc tế về mọi m ặt giữa các quốc gia là hiện
thực tất yếu khách quan trong mọi thời đại Việc củng cố và
tãng cường hợp tác giữa các quốc gia thể hiện trong quan hệ
dưới nhiều hình thức và phương diện: giữa các quốc gia và
đồng thời cũng như giữa công dân và pháp nhân của họ
Quan hệ quốc tế là tổng thể các quan hệ giữa các công dân
và pháp nhân của các nước và giữa các nước với nhau
M ọi lĩnh vực quan hộ pháp lý giữa các quốc gia thuộc đối
tượng điều chỉnh của Công pháp quốc tế Còn các quan hệ
pháp lý giữa công dân và pháp nhân phát sinh trong đời sống
quốc tế thuộc lĩnh vực điều chỉnh của Tư pháp quốc tế
Các quan hệ giữa công dân và pháp nhân của các quốc
gia trên th ế giới rất phong phú, đa dạng và cũng rất phức tạp
Chúng bao gồm những vấn đề như sau:
- Năng lực pháp luật dân sự của thể nhân nước ngoài và pháp nhân nước ngoài;
7
Trang 9- Các quan hệ pháp luật về sở hữu của người nước ngoài,
pháp nhân nước ngoài và thậm chí của các quốc gia nước ngoài;
- Các quan hệ hợp đồng kin h tế ngoại thương;
- Các quan hệ pháp luật về tiền tộ và tín dụng;
- Các quan hệ về quyền lác giả và quyền sở hữu công nghiệp;
- Các quan hệ pháp luật về thừ a kế;
- Các quan hệ về hôn nhân và gia đình;
- Các quan hệ vể lao động củ a người nước ngoài;
- Các quan hệ tố tụng d ân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi
ích của người nước ngoài và p háp n hân nước ngoài
N hư vậy, với các loại đối tượng trên đây T ư p háp q uốc tế
là m ột ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật, m ặt khác
trong khoa học phấp lý nói chung nó cũng lại là m ột ngành
khoa học pháp lý độc lập m à đối tượng nghiên cứu của nó là
lĩnh vực quan hệ pháp luật d ân sự (theo nghĩa rộng )phát
sinh trong đời sống quốc tế C ác quan hệ pháp luật dãn sự
này luôn có đặc trưng là m an g "yếu t ố nước ngoài'' Y ếu tố
nước ngoài đã được khẳng định m ột cách rất rõ ràng trong
Đ iều 758 Bộ luật dân sự 2005 của nước Cộng hòa x ã hội chủ
nghĩa V iệt N am như sau: "Quan hệ dân sự có yếu t ố nước
ngoài lù quan hệ dân sự có ít nhất m ộ t trong các bên tham
gia là c ơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người V iệ t N a m
địnli cư à nước ngoài hoặc là cúc quan hệ dân sự giữa các
bên tham gia lủ công dán tó chức V iệt N a m nhưng căn cứ
đ ể xác lập, thay dổi, chấm cha quan hệ đó theo p h á p luật
nước ngoài, p h á t sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan
đến quan hệ đó ở nước ngoài".
Đ iều này k h ẳn a định rằng: T hứ nhất Tư pháp quốc tế
Trang 10nghiên cứu các quan hộ pháp luật dân sự; Thứ hai, điểm
quan trọng hơn để phân biệt rõ Tư pháp quốc tế với Luật dân
sự và Công pháp quốc tế là Tư pháp quốc tế nghiên cứu chỉ
nhóm quan hê pháp luật dân sự mang "tính chất quốc tê".
Về "yếu tô' nước ngoài" trong khoa học Tư pháp quốc tế
cũng đã có sự thừa nhận chung là có ba loại yếu tố nước
ngoài (như Đ iều 758 Bộ luật dân sự 2005) m à m ột quan hệ
pháp luật dân sự có sự hiện diện của một trong ba loại yếu
tố nước ngoài đó thì là đối tượng điều chỉnh của Tư pháp
quốc tế Đó là:
Thứ nhất, có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoải
hoặc người Việt Nam ở nước ngoài tham gia Người nước
ngoài là những người mang quốc tịch nước ngoài (không đồng
thời mang quốc tịch Việt Nam) và người không quốc tịch
T hứ hai, khách thể của quan hệ đó ở nước ngoài Ví dụ:
Tài sản là đối tượng của quan hệ nằm ỏ nước ngoài (di sản
thừa kế ở nước ngoài chẳng hạn)
T h ứ ba, sự kiện pháp lý là căn cứ xác lập, thay đổi, chấm
dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài (ví dụ: hai công dân Việt
Nam kết hôn với nhau ớ Pháp )
Như vậy, đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là
những quan hệ dân sự, quan hệ hôn nhân và gia đình, quan
hệ lao động, quan hệ thương mại và tô tụng dân sự có yếu tố
nước ngoài Nói gọn hơn đó là các quan hộ dân sự theo nghĩa
rộng có yếu tố nước ngoài
2 Nội d u n g và bản ch ất p h áp lý của T ư p h á p quốc tê
Các quy phạm của Tư pháp quốc tế điều chinh các quan
Trang 11hệ pháp luật dân sự, thương m ại, gia đình, lao động có yếu to
nước ngoài (hay còn gọi là yếu tố quốc tế) C ác quan hệ này
là các quan hệ nhân thân và các quan hệ tài sản, trong đó các
quan hệ tài sản là chủ yếu Đ ặc điểm của các quan hệ này là
luôn vượt ra khỏi "biên giới" của quốc gia hay còn nói cách
khác là nó luôn luôn liên quan đến m ột hoặc nhiều quốc gia
khác N hư vậy, nó phải liên quan hoặc phụ thuộc vào các
quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia này
Đặc thù của Tư pháp quốc tế là điều chỉnh các q uan hệ
dân sự có yếu tố nước ngoài, cho nên trong T ư pháp quốc tế
cũng có quy phạm đặc thù để điều chỉnh các q uan hệ này, đó
là các quy phạm xung đột (các quy phạm xung đ ộ t sẽ được
xem xét kỹ ở C hương lĩ) Q uy phạm xung đột không trực
tiếp giải quyết các quan hệ cụ thể m à chỉ quy định nguyên
tắc "chọn luật" củ a nước này hay nước kia được áp dụng để
giải quyết m à thôi
V í dụ: M ột công ty A của H à Nội V iệt N am có quyền
tham gia xuất nhập khẩu trực tiếp ký kết m ột hợp đồng m ua
xe gắn m áy (hai bánh) của m ột công ty B củ a N hật Bản Hợp
đồng được ký kết tại Singapo Khi nhận hàng C ông ty A phát
hiện thấy hàng không đủ tiêu chuẩn chất lượng như trong
hợp đồng đã thỏa thuận Để giải quyết tranh chấp này thì
luật nước nào sẽ được áp dụng để giải quyết Trường hợp này
vì hợp đồng được ký kết tại Singapo ncn Luật Singapo sẽ có
thể được áp dụng để giải quyết (áp dụng nguyên tac luật nơi
ký kết hợp đồng)
Các quy phạm xung đột về kỹ thuật pháp lý m à nói thì nó
là các quy phạm khá phức tạp của Tư pháp quốc tế T ổn° thể
các quy phạm xung đột được quốc gia ban hành, hay thỏa
thuận và chấp nhận được gọi là luật xung đột Tư pháp quốc
Trang 12tế không chỉ bao gồm luật xung đột Luật xung đột chỉ là
m ột phần của Tư pháp quốc tế, mặc dù là phần phức tạp và
có thể nói là rất "then chốt" của Tư pháp quốc tế.
T ư pháp quốc t ế là tổng th ể các quv phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự, thương mại, hôn nhân và
gia đình, lao động và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài
Như vậy, chính đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế (nhóm
quan hệ xã hội mà Tư pháp quốc tế điều chỉnh) nó có ý nghĩa
quyết định đến phương pháp điểu chỉnh của Tư pháp quốc tế
Có hai phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế, đó là:
- Phương pháp thực chất;
- Phương pháp xung đột
Cả hai phương pháp cùng được áp dụng đồng thời, nhưng
trong những trường hợp nhất định thì chỉ cần áp dụng
phương pháp thực chất nên có thể nói là nó có ưu thế hơn
Đây là các trường hợp mà quy phạm thực chất đã được nhất
thể hóa trong các điều ước quốc tế Trong quá trình hợp tác
quốc tế về mọi mặt: kinh tế, thương mại, kỹ thuật, văn hóa,
giao thông vận tải v.v Các quốc gia đã nhất thể hóa được rất
nhiều vấn đề và có thể nói rằng đây là quá trình quốc tế hóa
đời sống kinh tế - xã hội giữa các nước
Các quốc gia không chỉ dừng ở việc nhất thể hóa các quy
phạm thực chất m à còn thống nhất hóa các quy phạm xung
đột trong các điều ước quốc tế Trong khi các điều kiện về
lịch sử, dân tộc, trình độ phát triển và lợi ích v.v của các quốc
gia còn khác biệt và thậm chí khác xa nhau thì việc nhất thể
hóa các quy phạm thực chất là khó khăn, nhưng thống nhất
hóa các quy phạm xung đột thì lại dễ hơn và cách này tỏ ra
hữu hiệu và thực tế hơn v ề mặt nào đó, ta có thể nói là
Trang 13thống nhất hóa các quy phạm xung đột nó cũng góp phần
củng cố cho việc nhất thể hóa các quy phạm thực chất
N goài ra còn phải kể đến loại quy phạm thực chất trong
các vãn bản pháp lý trong nước điều ch ỉn h q u an hệ tư p háp
quốc tế m ột cách trực tiếp (tức là khô n g cần bất cứ m ột sự
dẫn chiếu nào của quy phạm xung đ ộ t tới nó) C ác quy
phạm này cũng là m ột phần củ a T ư p háp quốc tế N ó là
nhóm quy phạm ở các văn bản p háp quy củ a n h à nước điều
chỉnh trực tiếp các q uan hệ k in h tế đối ngoại hoặc các q uan
hệ hợp tác k hoa học - kỹ th u ật, văn h ó a giữ a các tổ chức,
đơn vị, cá nhân công dân V iệt N am với các b ên tư ơng ứng
củ a nước ngoài V í dự' C ác quy định tro n g L u ật đ ầu tư
cũng cần nhấn m ạnh rằn g nó là m ộ t n hóm q u y phạm có
tín h ch ất riêng biệt và k h ô n g thể cho nó đồ n g n h ất với các
q u y phạm dân sự và ở m ộ t m ức độ n h ất đ ịn h n ào đó cho
thấy sự kh ác biệt và ran h giới giữ a T ư p háp q u ố c tế với
L uật dân sự
N hư vậy, trong thành phần cơ cấu củ a T ư pháp q uốc tế
bao gồm hai loại quy phạm : quy phạm xung đột và quy
phạm thực chất cùng điều chỉnh các quan hệ T ư pháp q uốc tế
nẩy sinh trong quá trình hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật
văn hóa giữa các quốc gia và các quy phạm quy địn h các
quyền dãn sự, hôn nhân gia đình, lao động thương m ại và tố
tụng dân sự của người nước ngoài Đ ây là nội d u n ° cơ bản
của Tư pháp quốc tế và nó thể hiện đậm nét trong các đăc
thù của ngành luật này
H iện nay về cơ sở lý luận cũng như thực tiễn Tư pháp
quốc tế ở các quốc gia khác nhau còn có nhiều sự khác biét
chẳng hạn như vấn đề đối tượng điều chỉnh của Tư pháp
quốc tế cũng chưa thể thống nhất.
Trang 14V í dụ: Ở Séc và Slôvakia thì cho rằng Tư pháp quốc tế
bao gồm các quy phạm xung đột và quy phạm thực chất
Còn một số luật gia ở Bungari lại cho rằng Tư pháp quốc tế
chỉ gồm các quy phạm xung đột Trung Quốc cũng giống
như ở Bungari cho rằng Tư pháp quốc tế là điều chỉnh các
quan hệ dân sự có yếu tô' nước ngoài, nên chỉ nhìn nhận Tư
pháp quốc tê' bao gồm các quy phạm xung đột hoặc luật
xung đột ở Balan, Tư pháp quốc tế được coi như luật xung
đột nhưng lại thêm cả vấn đề tố tụng dân sự quốc tế nữa
Hungari cũng có quan điểm giống như ở Ba Lan Ở Anh -
M ỹ trong các giáo trình của các trường đại học và các tác
phẩm chuyên khảo thì nhìn nhận các vấn đề xung đột pháp
luật dưới góc độ của các vấn đề lựa chọn pháp luật (choice
of law) và các vấn đề thẩm quyền (jurisdiction) của tòa án,
tòa án Anh - M ỹ có thẩm quyền xét xử hay tòa án nước
ngoài có thẩm quyền xét xử Ở đây cũng cần lưu ý rằng các
quan điểm này của Anh - Mỹ thường dẫn tới việc hạn chế
việc áp dụng luật nước ngoài và tăng cường tới mức tối đa có
thể được trong m ọi trường hợp để áp dụng luật Anh - Mỹ
Ở Pháp, quan điểm về Tư pháp quốc tế mang tính chất
điển hình cho Châu Âu lục địa Những vấn đề đầu tiên được
quan tâm thích đáng là các quy phạm về quốc tịch (các quy
chế vể quốc tịch Pháp - Nationalité), sau đó là địa vị pháp lý
của người nước ngoài tại Pháp - Condition des étrangers Các
vấn đề này được nhìn nhận như là các quy phạm luật thực
chất của Pháp như: xuất nhập cảnh, cư trú của người nước
ngoài; các quyền tài sản và các quyền khác của họ Sau khi
các vấn đề trẽn được nghiên cứu tổng thể mới tiếp tục xem
xét vấn đề xung đột pháp luật (conflict des lois) và thẩm
Trang 15quyền xét xử của tòa án (conflict de jurisdiction) Ở Đức, Tư
pháp quốc tế được nghiên cứu như là m ột ngành luật xung
đột, trong đó đề cập cả các vấn đề liên q uan đến tố tụng dân
sự quốc tế
Liên quan đến đối tượng điểu chỉnh của T ư pháp quốc tế
cần phải được nhìn nhận về tên gọi của ngành luật cũng như
ngành k hoa học pháp luật này T huật ngữ T ư pháp q uốc tế
(Private international law) được sử dụng lần đ ầu tiên vào
năm 1834 trong tác phẩm củ a lu ật g ia nổi tiếng người M ỹ
Dj Story Trước đó người ta dùng th u ật ngữ L u ật x u n g đột
(C onflict o f Law) để thay cho Tư pháp quốc tế Ở cấc quốc
gia châu  u th u ật ngữ trên được sử dụng vào những năm 40
của th ế kỷ 19 (D roit international privé - tiếng Pháp,
Internationales Privatrecht - tiếng Đức)
Ngày nay thuật ngữ này được thừa nhận trong rất nhiều
ngôn ngữ, và Tư pháp quốc tế vừa được hiểu với tư cách là m ột
ngành luật độc lập, vừa lại là m ột ngành khoa học pháp lý
Trong hệ thống pháp luật V iệt N am không ch ia ra làm
"luật công" và "luật tư", cho nên thuật ngữ T ư pháp quổc tế
được sử dụng theo quy ước m à thôi
1 Các loại nguồn của T ư pháp quốc tê
Với nghĩa chung nhất thì nguồn của các quy phạm pháp
luật là các điều kiện vật chất của đời sống xã hội Còn riêng
trong khoa học pháp lý thì nguồn của pháp luật là các hình
thức chứa đựng và thể hiện các quy phạm pháp luật
N guồn của T ư pháp quốc tế có những đặc thù riêng biêt
Trang 16nhất định của mình Vì các quan hệ Tu pháp quốc tế rất đa
dạng và phức tạp
Hiện nay, nguồn của Tư pháp quốc tế bao gồm các loại
sau đây:
1 Luật pháp của mỗi quốc gia;
2 Điều ước quốc tế;
3 Thực tiễn tòa án và trọng tài (hay còn gọi là án lệ);
4 Tập quán
Thực tiễn cho thấy rằng mối tương quan và vị trí giữa các
loại nguồn của Tư pháp quốc tế ở mỗi quốc gia là khác nhau
Tiếp đến là phụ thuộc vào các quan hệ pháp luật này hay kia
được điểu chỉnh bằng các quy phạm pháp luật ở các loại
nguồn khác nhau giữa các nước
Khoa học Tư pháp quốc tế Việt Nam đã được kiểm
nghiệm trong những năm vừa qua cho thấy rằng đặc điểm cơ
bản nguồn của Tư pháp quốc tế mang hai tính chất:
T h ứ nhất, nguồn của Tư pháp quốc tế là điều ước quốc tế
và tập quán quốc tế, nó mang tính chất điều chỉnh quốc tế;
T h ứ h a i, nguồn của Tư pháp quốc tế là luật pháp của
mỗi quốc gia, nó m ang tính chất điều chỉnh quốc nội (điều
chỉnh chỉ trong nội bộ quốc gia) Hai tính chất này luôn
thống nhất với nhau trong điều chỉnh các quan hệ Tư pháp
quốc tế - đó là các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình,
lao động, thương mại và tố tụng dân sự có yếu tố nước
ngoài (hay còn gọi là các quan hộ dân sự ‘theo nghĩa rộ n g ’
m ang tính chất quốc tế)
Về mối tương quan giữa hai tính chất trên đây của nguồn
Tư pháp quốc tế thể hiện rất rõ tại Điều 759 về hiệu lực của
Bộ luật dân sự nãm 2005 của nước ta:
Trang 17Khoản 1 quy định: C ác quy định của p h á p lu ậ t dân sự
Cộng hoà x ã hội chủ nghĩa V iệt N a m được áp dụng đối với
các quan hệ dân sự có yếu t ố nước ngoài, trừ trường hợp Bộ
luật này có quy định khác.
Khoản 2 quy định: T rong trường họp điều ước quốc tê
mà Cộng hoà x ã hội chủ nghĩa V iệt N a m là thành viên có
quy định khác vén quy định của Bộ luật này th ì áp dụng qu y
định của điều ước quốc tế.
Vai trò điều chỉnh của điểu ước quốc tế các q uan hệ tư
pháp quốc tế ngày càng phát triển và có g iá trị thực tiễn rất
lớn Việc thống nhất hóa các quy phạm thực ch ất cũng như
các quy phạm xung đột ngày càng được các quốc gia trên
toàn thế giới cũng như ở các khu vực giành cho nó m ột sự
quan tâm thích đáng N ó chứng tỏ việc toàn cầu hóa kinh tế -
xã hội giữa các quốc gia là m ột xu hướng phát triển tất yếu
khách quan như m ột nhu cầu cần thiết và là yếu tố tích cực
thúc đẩy sự phát triển tiến bộ xã hội loài người
2 Luật pháp của mỗi quốc gia - nguồn của T ư pháp quốc tế
Đ ây là loại nguồn khá phổ biến của Tư pháp q uốc tế so
với các loại nguồn khác L uật pháp của m ỗi quốc gia (hay
còn gọi là Luật q uốc nội) - N guồn của Tư pháp q u ố c tể
được hiểu là m ột hệ thống văn bản pháp quy (kể cả luât
không thành văn) của m ột quốc gia bao gồm H iến pháp
luật và các văn bản dưới luật cùng với những tập quán và án
lệ, thực tiễn tư pháp
Ở các nước như: H ungari, Ba Lan, Áo, Thụy Sỹ Séc
Slovakia, Nam Tư v.v ban hành trong hệ thống luật pháp
của m ình Bộ luật tư pháp quốc tế K hác với các nước này ơ
Trang 18V iệt Nam ta các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan
hệ tư pháp quốc te ichông nam ở m ột văn bản mà nằm rải
rác ở các văn bản pháp quy khác nhau ở nhiều ngành pháp
luật khác nhau của V iệt Nam
Hiến pháp năm 1992 là nguồn quan trọng nhất của Tư
pháp quốc tế Việt Nam Khác với các Hiến pháp trước đây,
Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã
ghi nhận rất nhiều nguyên tắc và quy phạm đặt nền tảng cho
lĩnh vực Tư pháp quốc tế Đây là những nhiệm vụ cũng như
trách nhiệm cơ bản của Nhà nước ta trong việc tăng cường
củng cố hòa bình và phát triển sâu, rộng sự hợp tác quốc tế về
mọi mặt, thực hiện tốt chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà
nước ta là đa phương hóa và đa diện hóa hoạt động kinh tế đối
ngoại nhằm củng cố vị trí của nước ta trên thế giới và khu vực
Trong Hiến pháp đã dành một số điều để quy định các nguyên
tắc hoạt động đối ngoại Đó là: Nhà nước thống nhất quản lý
và m ở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển các hình
thức quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc tế
trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi, bảo
vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước (Điều 24) Khuyến khích
các tổ chức, cá nhân đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam
phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế và thông
lộ quốc tế (Đ iều 25); Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam
định cư ở nước ngoài (Điều 75); người nước ngoài ở Việt
Nam phải tuân theo Hiến pháp và luật pháp Việt Nam được
Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính
đáng theo pháp luật Việt Nam (Điều 81)
Các nguyên tấc hiến định điều chỉnh các quan hệ Tư
pháp quốc tế trẽn được pháp điển hóa trong các luật và văn
bản dưới luật sau đáy: Bộ luật dân sự năm 2005 (Phần VII);
Trang 19Luật quốc tịch Cộng hòa xã hội chủ nghĩa V iệt N am năm
1998; Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; L uật đầu tư nãm
2005; Luật thuế xuất khẩu, th u ế nhập khẩu năm 2005; L uật
bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989; Luật hàng hải V iệt
Nam năm 2005; Luật hàng không dân dụng V iệt N am năm
2006; Luật thương m ại V iệt N am năm 2005; Luật hải q uan
năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2005)
Trong các văn bản pháp quy là nguồn của Tư pháp quốc
tế V iệt N am phải kể đến các pháp lệnh do Uỷ ban thường vụ
Q uốc hội ban hành, đó là: Pháp lệnh vể th u ế sử dụ n g tài
nguyên thiên nhiên năm 1990; Pháp lệnh lãnh sự năm 1990;
Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004; Pháp lệnh nhập
cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại củ a người nước ngoài tại Việt
N am năm 2000;
N goài các luật và các pháp lệnh cơ bản nêu trên Chính
phủ V iệt N am đã ban hành hàng loạt các nghị định, quyết
định, điểu lệ, quy c h ế v.v nhằm quy định hoặc chi tiết hóa
và hướng d ẫn việc thi hành các luật và pháp lệnh c ũ n g như
giải quyết các vấn đề về đ ịa vị pháp lý củ a người nước
ngoài, các vấn đề hoạt động ngoại thương, đ ầu tư củ a người
nước ngoài, các vấn để hôn nhân gia đình, vấn đề q u ản lý
ngoại tệ, thanh toán, tín đụ n g , ngân hàng củ a người nước
ngoài tại V iệt N am Vị trí, vai trò và nhiệm vụ c ủ a các vãn
bản này là hết sức quan trọng trong việc điều ch ỉn h các
quan hệ thực tiễn Tư pháp q uốc tế ở nước ta hiện nay Có
thể dẫn m ột vài văn bản làm ví dụ như: Q u y ết đ ịn h số
122/CP n gày 25/4/1977 của Hội đồng chính phủ về chính
sách đối với người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống ở
Việt Nam; Nghị định của C hính phủ số 68/2002/NĐ-*CP
ngày 10/07/2002 quy định về thủ tục kết hốn, nhận con
ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhặn đỡ đầu giữa cỏno (Jan
Trang 20V iệt Nam và người nước ngoài; các Nghị định sô' 28/CP
ngẩy 6/8/1991, Nghị định số 138/2006/NĐ-CP của Chính phủ
ngày 15/11/2006 quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ
luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tô' nước ngoài
Ở các nước tư bản phát triển thì các vãn bản pháp quy là
nguồn của Tư pháp quốc tế có ý nghĩa và giá trị không bằng
so với án lệ (hoặc thực tiễn tư pháp) Những quy phạm Tư
pháp quốc tế được ghi nhận trong các văn bản pháp quy khác
nhau, song các quy phạm đó không nhiều lắm
V í dụ: như ở Pháp trong Bộ luật đân sự năm 1804 (hay
còn gọi là Bộ luật N apôlêông) có một số điều quy định vẻ
quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài và ở m ột sô' văn
bản pháp quy khác
Còn ở Cộng hòa liên bang Đức thì cho tới năm 1986 thi
hành bộ luật dẫn về dân sự quy định một hộ thống các quy
phạm xung đột (từ Điều 7 đến Điều 31), nhưng cũng còn rất
nhiều vấn đề chưa được quy định mà trước hết và trên hết là
lĩnh vực trái vụ Từ 1/9/1986 Bộ luật vể tư pháp quốc tế bất
đầu có hiệu lực (Bộ luật này được thông qua ngày
25/7/1986) nó thay thế cho các điều tương ứng trước đây
trong Bộ luật dẫn về dân sự và rất nhiều điều khoản được bổ
xung cho thiếu sót trước đây như: Các nghĩa vụ về hợp đồng,
hình thức của hợp đồng, kết hôn và ly hôn có yếu tố nước
ngoài các quyền của trẻ em trong quan hệ gia đình, giám hộ
và trợ tá, quyền thừa kế, các quan hệ lao động và các vấn đề
liên quan đến tố tụng dân sự quốc tế
Riêng ở Anh - Mỹ thì vấn đề pháp điển hóa của các viện,
trường đại học và các khoa học gia pháp lý về án lệ và thực
tiễn tư pháp lại có ý nghĩa thiết thực, ví dụ như ở Anh có
Dicey xuất bản cuốn Luật xung đột (Coflict of Laws, 8th ed.,
Trang 21London 1967) và ở M ỹ có J.A B eale x u ất bản A treatise on
the Conflict o f Laws v.v I - III N ew -Y ork 1935 (Luật dẫn
về xung đột luật)
Trong mấy thập niên gần đây, ở A nh nơi m à trước đây án
lệ và thực tiễn tư pháp đóng vai trò ngự trị trong nguồn của Tư
pháp quốc tế, thì nay đã bước đầu ban hành các văn bản phap
quy của N hà nước vé các ván để này Đ iều này chứng tỏ sự
xâm nhập luật châu  u lục địa vào nước A nh, n h ất là trong
các quan hệ kinh tế đối ngoại khi vương quốc A nh là thành
viên chính thức của cộng đồng châu  u, ngày càng rõ nét
3 Đ iều ước quốc tế
Trong các quan hệ củ a V iệt N am với các nước trên thế
giới, nhất là các nước trong khu vực Đ ông N am Á thì điều
ước quốc tế với tư cách là nguồn của T ư pháp quốc tế ngày
càng đóng vai trò q uan trọng và m ang ý n g h ĩa th iết thực
Đ ây là các điều ước q uốc tế về thương m ại và hàng hải quốc
tế; các H iệp định về trao đổi hàng hóa và thanh toán, H iệp
định vể tương trợ tư pháp về dân sự; gia đình và hình sự v.v
Thực tiễn điều ước quốc tế của V iệt N am cho thấy rằng
trong m ột số lĩnh vực quan hệ nhất định các quy phạm điều
ước quốc tế đóng vai trò tích cực trong việc điều chỉnh các
quan hệ Tư pháp quốc tế
Trong quan hệ giữa các quốc gia trẽn th ế giới, để điều
chỉnh các quan hệ T ư pháp quốc tế, hàng loạt các điều ước
quốc tế song phương và đa phương đã dược ký kết
Về điều ước song phương Việt Nam đã ký kết với rất
nhiều nước điều chỉnh các m ối quan hệ đa dạng của nước ta
với nước ngoài
Trước tiên phải kể đến H iệp định tương trợ và hợp tác tư
Trang 22pháp, mà cho tới nay ta đã ký Hiệp định với hàng loạt nưóc
như: với Nga vào năm 1998, Séc và Slovakia (1982), Cuba
(1984), Hungari (1985), Bungari (1986), Balan (1993); với
Lào năm 1998; với Trung Quốc năm 1998 V V và đang tích
cực tiếp tục triển khai ký tiếp với nhiều nước khác Tiêu chí
của các H iệp định này là công nhận và bảo đảm việc thực
hiện tôn trọng các quyền nhân thân và tài sản của công dân
(cũng như của pháp nhân) của quốc gia ký kết này trên lãnh
thổ quốc gia nước ký kết kia trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng
bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia với nhau Các
hiệp định đều chú trọng đến việc hợp tác giữa các cơ quan tư
pháp và bảo vệ pháp luật, quy định thẩm quyền tòa án của
các bên áp dụng luật pháp, các vấn đề liên quan đến tố tụng
của người nước ngoài, các vấn đề ủy thác tư pháp, công nhận
và thi hành án dân sự, dẫn độ tội phạm và các vấn đề tương
trợ tư pháp khác Như vậy, Hiệp định tương trợ tư pháp đã
giải quyết tổng thể hàng loạt vấn đề về hợp tác tư pháp nhằm
đảm bảo quyền và lợi ích của công dân trên lãnh thổ của
nhau, nó tạo tiền đề cho sự hợp tác sâu, rộng tiến tới ký kết
các hiệp định đa phương về vấn đề này
Việt Nam đã ký kết hàng loạt các Hiệp định lãnh sự với
nước ngoài, trong đó có các điều khoản bảo vệ quyền lợi của
công dân và pháp nhân giữa các bèn tham gia Hiện nay Nhà
nước ta đã ký kết các hiệp định lãnh sự với Liên Xô cũ (Nga
kế thừa hiệp định này) vào năm 1978, với Balan năm 1979,
với Bungari năm 1979, với Hungari năm 1979, với M ông c ổ
năm 1979, với Séc và Slovakia năm 1980 với Cuba năm
1981, với Lào năm 1985, với Pháp năm 1981, với Nicaragoa
năm 1985 V V
Việt Nam đã ký kết không ít các Hiệp định thương mại
và hàng hải với các nước khác, nhằm củng cố và tăng cường
Trang 23phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại m ọi m ặt với nưóe ngoậi
trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi-
Ngoài ra, m ục tiêu hàng đầu củ a các hiệp địn h này là các
bên cam kết giành cho nhau được hưởng ch ế độ tối huệ quốc
và những điểu khoản ưu tiên nhất định tạo điểu kiện thuận
lợi cho công dân cũng như pháp n hân hoạt động trên lãnh
thổ của nhau Các hiệp định này là nguồn q u an trọng c ủ a Tư
pháp quốc tế, bởi lẽ nó giống n h u tuyẽn ngôn chung củ a các
nước với nước ta vé công nhận pháp lý các p h áp n hân của
nhau, về lưu thông hàng h ó a và vận chuyển h àng hải, công
nhận về hiệu lực của bản án v à các quyết định trọ n g tài cũng
như việc thi hành chúng C húng ta đã ký các hiệp định
thương m ại với các nước như: L iên X ô cũ (nước N g a k ế thừa
hiệp đ ịn h này); T rung Q uốc, Inđônêxia, Balan, Ai cập, I rắc,
Ấ n Đ ộ, Pháp, I - Ê - m e n , Cu Ba v à H oa K ỳ V.V
V ề lao động, nưốc ta cũng đ ã ký kết m ột sô' các hiệp định
thay đổi trong lĩnh vực này tạo nển tảng cho sự hợp tác lao
động giữa nước ta với nước ngoài T rong các hiệp định này
có các quy định về q uyền và nghĩa vụ của công dân V iệt
N am lao động và làm việc ở nước ngoài, các nguyên tắc giải
quyết các tranh chấp về hợp đổng lao động, bảo hiểm V V
Các hiệp định về hợp tác khoa học, kỹ thuật, đào tạo
chuyên gia và các vấn đề liên quan giữa V iệt N am với nước
ngoài m à trong đó có các quy định riêng liên q uan đến điều
chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế
Trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại Việt N am , nước ta
cũng đã ký kết các Hiệp định về bảo hộ và khuyến khích đầu
tư cũng như các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với các
nước ngoài có hợp tác về đầu tư với Việt Nam thực hiện chính
sách kinh tế đối ngoại "m ở cử a" của Đảng và Chính phù ta.
Trang 24Đối với các Điều ước quốc tế đa phương, nước ta đang
dần dần từng phần, từng bước hội nhập vào đời sống quốc tế,
tham gia vào sự phân công lao động quốc tế sâu rộng hơn,
nên trong m ột số lĩnh vực chúng ta đã gia nhập vào các công
ước quốc tế điểu chỉnh lĩnh vực quan hệ tư pháp quốc tế
Nãm 1981, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập
Công ước Pari năm 1883 vé bảo hộ quyển sở hữu công
nghiệp và Hiệp định M ađrít năm 1891 vể đăng ký quốc tế
nhãn hiệu hàng hóa Năm 1995 gia nhập Công ước New
York nãm 1958 về công nhận và thi hành các quyết định của
trọng tài nước ngoài Năm 1980 Việt Nam gia nhập Công
ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao và Công ước Viên
1963 về q u a n h ệ lãnh s ự V.V
Trong lĩnh vực bảo vệ quyển con người Việt Nam đã gia
nhập Công ước nãm 1966 về quyển kinh tế, xã hội vãn hóa
của Liên hợp quốc; Công ước quốc tế năm 1966 của Liên
hợp quốc về các quyển dân sự, chính trị, Công ước Liên hợp
quốc về chống phân biệt chủng tộc, Công ước Liên hợp quốc
năm 1973 về chống chủ nghĩa APacThai, Công ước Liên hợp
quốc n ãm l948 về chống tội ác diệt chủng, 4 công ước
Giơnevơ năm 1949 về bảo hộ nạn nhân chiến tranh, Công
ước quốc tế năm 1989 vê quyền trẻ em
Tất cả các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương
nêu trên đây chứng tỏ rằng ờ chừng mực ít, nhiểu nhất định
chứa đựng các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hộ Tư pháp quốc tế; Nó có thể là các quy
phạm thực chất thống nhất hoặc là các quy phạm xung đột
thống nhất Tuỳ thuộc vào mức độ cam kết giữa các quốc gia
mà các điểu ước này thể hiện được những vai trò nhất định
của mình trong việc củng cố và phát triển sự hợp tác về mọi
mặt giữa các quốc gia nói chung và giữa Việt Nam với các
nước nói riêng
Trang 254 Thực tiễn tòa án và trọng tài (án lệ)
Thực tiễn tòa án và trọng tài là m ột loại nguồn khá phô
biến ở một số nước tư bản phát triển, nó có ý nghĩa thiết thực
trong việc phát triển hệ thống luật pháp trong nước của cac
nước này Thực tiễn tòa án (hay còn gọi là án lệ hoặc tiền lệ
án) được hiểu là các bản án hoặc quyết định của tò a án m à
trong đó thể hiện các quan điểm cua các thẩm phán đối với
các vấn đê pháp lý có tính chất quyết định trong việc giải
quyết các vụ việc nhất định và m ang ý nghĩa giải quyết đối
vói các quan hệ tương ứng trong tương lai
Ở A nh - M ỹ th ì thực tiên tòa án là nguồn c ơ bản của
pháp luật Ở vương quốc A nh thực thi m ộ t hệ thống tiển lệ
pháp - đó là m ột hộ thống các quyết định và bản án của tòa
án có tính chất chỉ đạo giải quyết và thi hành pháp luật,
nhưng đồng thời cũng là quy trình hình thành pháp luật mới
Để giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực T ư pháp quốc tế,
thẩm phán của tòa án A nh hay M ỹ thường áp dụng tiền lệ án
hơn là áp dụng quy phạm luật Đ ây là m ột xu hướng chung
trong hệ thống luật pháp các nước này: Đ iều chỉnh các quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài bằng các quy phạm tiền lệ
pháp, hơn là bằng các quy phạm văn bản pháp quy Đ iều này
chứng tỏ là hầu như tất cả các quy phạm luật pháp là quy
phạm được ghi nhận ở án lệ, còn các quy phạm được ghi
nhận ở văn bản pháp quy thì rất hiếm hoi
N hư vậy hệ thống các án lệ ở các nước này đóng vai trò
quyết định và cơ bản trong hệ thống luật pháp
Ở nước ta thực tiễn tư pháp (án lệ) không được nhìn nhân
với tư cách là nguồn của pháp luật nói chung và là nguổn cua
Tư pháp quốc tế nói riêng Chỉ có các văn bản pháp quy của
N hà nước mới là nguồn của luật pháp Điều này khảng định
Trang 26quan điểm là tòa án của Việt Nam là cơ quan xét xử và khi xét
xử chỉ tuân theo luật pháp, nó không có quyền ban hành văn
bản pháp quy, cũng như các án lệ không thể là nguồn của
pháp luật Việt Nam nói chung và nguồn của Tư pháp quốc tế
Việt Nam nói riêng Nhưng trong quá trình giải thích pháp
luật và hướng dẫn áp dụng pháp luật thì án lệ lại có những giá
trị nhất định m à không ai có thể phủ nhận được điều này
5 Tập quán
Tập quán quốc tế là những quy tắc xử sự được hình thành
trong một thời gian dài, được áp dụng khá liên tục và một
cách có hệ thống, đồng thời được sự thừa nhận của đông đảo
các quốc gia Tập quán quốc tế đôi khi vừa là nguồn của
Công pháp quốc tế và của cả Tư pháp quốc tế
Các luật gia nổi tiếng trên thế giới đều cho rằng: Điểm
khác biệt cơ bản giữa tập quán với luật pháp là ở chỗ quá
trình hình thành tập quán, việc áp dụng có hệ thống và tính
thừa nhận rộng rãi, nhưng lại không được ghi nhận ớ đâu cả
(thường được gọi là luật bất thành vãn)
Phụ thuộc vào tính chất và giá trị hiệu lực của tập quán
quốc tế mà có thể chia tập quán ra làm các loại sau:
- Tập quán mang tính chất nguyên tắc;
- Tập quán mang tính chất chung;
- Tập quán mang tính chất khu vực
Tập quán nguyên tắc là nền tảng, là cơ bản và có tính
chất bao trùm (có thể nói nó mang tính chất mệnh lệnh - Jus
cogens), nó là các cơ sở của chủ quyền và bình đảng giữa
các quốc gia và nó có giá trị bắt buộc chung đôi với các
quốc gia
Tập quán quốc tế chung là tập quán được nhiều nước
Trang 27thừa nhận và áp dụng ở rộng rãi m ọi nơi trên th ế giới C ó thê
ví dụ như các điều kiện giao dịch thương m ại quốc tế m a
Phòng thương m ại quốc tế tập hợp và soạn thảo từ năm 1936
rồi các năm tiếp theo là 1953; 1980 và mới đây là năm 2000
(gọi tắt là Incoterms - International Com m ercial T erm s)
Incoterm s là tập hợp các tập quán thuơng m ại quốc tế khác
nhau trong đó quy định các điều kiện m ua bán, bảo hiêm ,
cước vận tải, trách nhiệm giữa các bên tham gia hợp đông,
như FOB, C IF, C FR v.v được rất nhiều quốc gia trên khắp
th ế giới thừa nhận và sử dụng trong hoạt động thương m ại
T ập quán khu vực (hay còn gọi là tập q u án đ ịa phương)
là các tập quán được sử dụng ở tùmg khu vực, từng nước,
thậm -chí từng cảng biển riêng biệt hoặc cảng hàng không
riêng biệt (cảng thương m ại) ở m ỗi quốc gia
Tập quán quốc tế chung và tập quán khu vực chỉ có giá
trị pháp lý ràng buộc các quốc gia khi được các quốc gia đó
thừa nhận hoặc chấp nhận ràng buộc đối vói mình.
Ở V iệt Nam hiện nay với tư cách là nguồn của Tư pháp
quốc tế là: Luật pháp trong nước; điều ước quốc tế và tập
quán quốc tế (thông lệ quốc tế) Còn thực tiễn tòa án và
trọng tài (án lệ) chưa được coi là nguồn của Tư pháp quốc tế
như ở các nước A nh - M ỹ V V
Trang 28LÝ LUẬN CHUNG VỂ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT
I KHÁI NIỆM CHUNG VỀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT
1 Thê' nào là xung dột pháp luật
Mỗi một quốc gia trên thế giới có một hệ thống pháp luật
riêng của m ình và các hộ thống pháp luật đó khác nhau,
thậm chí trái ngược nhau
Xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay nhiểu hệ thống
pháp luật đồng thời đều có thể áp dụng để điều chỉnh một
quan hệ pháp luật này hay quan hệ pháp luật khác Vấn đề
cần phải giải quyết là chọn một trong các hệ thống pháp luật
đó để áp dụng giải quyết quan hệ pháp luật trên
Các ngành luật quốc nội nhu là: Luật dân sự, Luật
thương m ại, L uật hôn nhân và gia đình, Luật lao động v.v
điều chỉnh các quan hệ của m ình một cách trực tiếp và đơn
giản Ví như chỉ cần tìm các quy định cụ thể áp dụng giải
quyết đúng “địa chỉ” của quan hệ pháp luật cụ thể Nhưng
nếu các quan hệ trên đây lại có một hoặc vài yếu tố nước
ngoài tham gia, tất yếu các quan hệ đó đã phụ thuộc (liên
đới) tới điều chỉnh của hai hay nhiều hệ thống pháp luật và
đương nhiên vấn đề “lựa chọn" một hệ thống pháp luật điều
chỉnh là rất cần thiết Như vậy, xung đột pháp luật có thể
27
Trang 29được hiểu là trong m ột tình th ế (trạng thái) nhất định m à hai
hay nhiều hệ thống pháp luật đều có thể điều chỉnh m ột quan
hệ pháp luật nhất định
Chọn luật phải dựa trên những nguyên tắc nhất định, chứ
không thể tự do, tùy ý, tùy tiện Đ iều này có nghĩa là việc
lựa chọn hệ thống pháp luật nào để áp dụng sẽ không phụ
thuộc vào chủ quan ý chí của toà án có thẩm quyền, hoặc sẽ
không phụ thuộc vào ý chí của các bên tham gia quan hệ
M ục đích của Tư pháp quốc tế là điểu chỉnh các q u an hệ Tư
pháp quốc tế (đó là các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
theo nghĩa rộng) T ất yếu dẫn đ ến việc “đụng độ ” giữa các
hệ thống pháp luật liên đới khác nhau Đ é giải quyết vấn đẻ
này không thể không tính tới việc bảo đảm sự bình đẳng và
lợi ích của các hệ thống pháp lu ật liên q uan, nghĩa là loại
trừ các hệ thống pháp luật khác không ấp dụng m à chỉ biết
áp dụng luật củ a m ình, lợi ích củ a m ình hay chỉ m ột hệ
thống có lợi N gược lại, cách giải quyết trọn vẹn nhất là
củng cố sự hợp tác bình đẳng và bảo đảm lợi ích hài hoà
giữa các quốc gia
Tư pháp quốc tế có m ục đích và cấc khái niệm riêng
của m ình, tất yếu cũng có phương pháp điều chỉnh rất riêng
của m ình H iện nay ở V iệt N am cũng như ở các nước khác
trên th ế giới, Tư pháp quốc tế có hai phương pháp điều
chình, đó là:
- Phương pháp xung đột;
- Phương pháp thực chất
Hai phương pháp này luôn phối hợp và tác động bổ sung
cho nhau để giải quyết các quan hệ Tư pháp quốc tế
Phương pháp xung đột được xây dựng trên nền tảng của m ôt
Trang 30hệ thống tổng thể của các quy phạm xung đột, đó là hệ thống
tổng thể các quy phạm xung đột của nước mà toà án ỏ đó có
thẩm quyẽn giải quyết (theo nguyên tắc Lex fori)
Hiện nay, sự phát triển của khoa học Tư pháp quốc tê' cho
thấy rằng không tồn tại Tư pháp quốc tế chung cho tất cả các
quốc gia, có nghĩa là các quy phạm của nó có giá trị chung
cho các nước M ỗi quốc gia có Tư pháp quốc tế riêng của
mình, và tất nhiên có một hệ thống các quy phạm xung đột
riêng và rất đặc thù của mình được xây dựng trên nền tảng
xã hội của mình
Chính vì vậy, một vụ việc hay một quan hệ pháp luật
được giải quyết rất khác nhau bởi nó phụ thuộc vào toà án
nước nào giải quyết vụ việc đó hoặc cơ quan tư pháp có thẩm
quyền giải quyết quan hệ pháp luật đó
Chúng ta có thể dẫn một ví dụ lấy từ thực tiễn để thấy
vấn đẻ trên rõ hơn: M ột cô gái Pháp kết hôn với một nam
thanh niên Việt Nam tại Việt Nam mà không có sự đồng ý
chấp thuận của bố mẹ cô ta ở Pháp Tương tự như vậy, cô gái
Pháp kết hôn với m ột nam thanh niên Nga tại Nga cũng
không có sự chấp thuận của bô' mẹ cô ta ở Pháp
Để giải quyết vấn đẻ này cần xem xét luật pháp Việt
Nam và luật liên bang Nga về kết hôn của công dân của họ
với người nước ngoài
Luật pháp của mỗi nước đều có các quy phạm xung đột
riêng của mình Ớ Việt Nam để giải quyết điều kiện kết hôn
giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài thì mỗi
bên tuân theo luật nước mình về điều kiện kết hôn (Điều 103
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) Như vậy công dân
Việt Nam xét theo luật Việt Nam về điều kiện kết hòn còn
Trang 31công dân Pháp xét theo luật Pháp về điều kiện k ết hồn m à
theo luật dân sự của Phấp vê điểu kiện kết hôn thì q u y định
m ột điều kiện là cần có sự đồng ý của cha m ẹ D o thiếu điều
kiện này nên việc đăng ký kết hôn giữa công dân nam Việt
N am với cô gái Pháp không thể tiến hành được
Còn ở Liên bang N g a việc xét điều kiện kết hôn giữa
công dân N ga với công dân nước ngoài tại N g a được giải
quyết theo luật của L iên bang Nga D o đó cả công dân Nga
và Phấp đều xét theo luật pháp của N ga và trong luật của
N ga thì điều kiện kết hôn lại không cần phải có sự đồng ý
của cha m ẹ C ho nên việc tiến hành kết hôn giữa công dân
N ga và Pháp trên lãnh thổ của L iên bang N g a được đăng ký
và tiến hành thuận tiện
N hư vậy, cùng là m ột quan hệ kết hôn với công dân nước
ngoài thì ở V iệt N am giải quyết khác ở nước N ga do ở hai
nước có hai quy phạm xung đột về điều kiện kết hôn quy
định khác nhau
Q uy phạm xung đột không trực tiếp giải quyết quan hệ
pháp luật N ó chỉ có nhiệm vụ dẫn chiếu tới luật thực chất
của quốc gia m à ở đó có các quy định thực tế giải quyết
quyển và phân định nghĩa vụ của các bên trong quan hệ Các
quy định đó cũng là nền tảng để giải quyết các tranh chấp
khi chúng phát sinh
Xung đột pháp luật chỉ xảy ra trong các quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài (theo nghĩa rộng) Còn trong các lĩnh vực
quan hệ pháp luật khác như hình sự, hành chính V V (theo
luật pháp của các nước phát triển gọi các ngành luật này là
luật cóng) thì tuy pháp luật của các nước khác nhau cũng quy
định khác nhau nhưng không xảy ra xung đột pháp luật bởi vì:
Trang 32- Luật hình sự, Luật hành chính v.v mang tính hiệu lực
theo lãnh thổ rất nghiêm ngặt (người ta thường gọi là quyền
tài phán công có tính lãnh thổ chặt chẽ)
- Trong Luật hình sự, Luật hành chính không bao giờ có
các quy phạm xung đột và tất nhiên cũng không bao giờ cho
phép áp dụng luật nước ngoài
Ngoài ra, xung đột pháp luật cũng có thể xảy ra ở các
nhà nước liên bang khi ở giữa các bang (hoặc các nước Cộng
hoà ờ Liên xô cũ) pháp luật cũng quy định khác nhau
Nhưng ở đó lại có cách giải quyết khác bởi ở đấy đều có luật
toàn liên bang và lại có cả các cơ quan có thẩm quyền giải
quyết ở mức toàn liên bang Mọi xung đột pháp luật giữa các
bang sẽ giải quyết bàng luật chung của cả liên bang và do
các cơ quan của liên bang ra quyết định
2 P hư ơ ng p h á p giải quyết xung đột
Hiện nay, Tư pháp quốc tế Việt Nam cũng như Tư pháp
quốc tế của đa số các nước trên thế giới đều có những cách
thức và biện pháp rất riêng và đặc thù của m ình để điều
chỉnh và phân định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia
vào các quan hệ pháp luật dân sự m ang tính chất quốc tế
Đó là hai phương pháp xung đột và thực chất và sự kết hợp
hài hoà, cũng như sự tác động tương hỗ giữa hai phương
pháp này trong việc thiết lập một cơ chế điều chỉnh các
quan hệ Tư pháp quốc tế và bảo đảm một trật tự pháp lý
dàn sự quốc tế
a Pliương pháp xung đột
Có thể nói ràng phương pháp xung đột trong Tư pháp quốc tế
là phương pháp được hình thành khá sớm, bời lẽ ngay từ khi
bắt đầu hình thành ngành luật này người ta đã gọi nó là
Trang 33“L uật xung đ ộ t” (vào th ế k ỷ X V II do lu ật gia H à Lan
H upiera sử dụng) H iện nay L uật xung đột (C onflict o f laws)
ở A nh - M ỹ vẫn còn s ử dụng đồng thời như T ư pháp q u ố c tế
Phương pháp xung đột được hình thành và x ây dựng trên
nền tảng hệ thống các quy phạm xung đột của quốc g ia (kê
cả các quy phạm xung đột trong các điều ước quốc tế m à
quốc gia đó là thành viên) Đ iều này có nghĩa là cơ q uan có
thẩm quyển giải quyết phải chọn pháp luật của nước này hay
nước kia có liên đới tới các yếu tô' nước ngoài để x ác định
quyền và nghĩa vụ giữa các bên đương sự C ông việc tiến
hành lựa chọn hệ thống pháp luật nưốc nào được áp dụng để
giải quyết phải dựa trên cơ sở quy định của các quy phạm
xung đột K hoa học T ư pháp quốc tế coi việc xây dựng và
thực hiện các quy phạm xung đột là phương pháp giải quyết
xung đột Phương pháp này được áp dụng chủ yếu và rộng
rãi hiện nay trong Tư pháp quốc tế của các nước trên thế
giới N ó cũng là công cụ chủ yếu để thiết lập và bảo đảm
m ột trật tự pháp lý trong quan hệ pháp luật dân sự quốc tế
Hơn th ế nữa, phương pháp xung đột được sử dụng cả ở các
nước theo hệ thống luật thực định (như ở các nước châu Âu
lục địa điển hình là Đức Pháp), cũng như ở các nước theo hệ
thống luật thực hành (điển hình như ở Anh - Mỹ)
Toà án khi giải quyết một vụ việc mà các bẽn trong tranh
chấp lại có quốc tịch hoặc nơi cư trú ở các nước khác nhau
chảng hạn thì việc đầu tiên phải giải quyết là toà án đó cần
thiết chọn luật thực chất của nước nào để áp dụng “Giai
đ o ạ n ' chọn luật này toà án chưa thể đưa ra phán quyết đươc
mà chỉ đưa ra quyết định luật thực chất của nước nào được
áp dụng và các nguyên tắc về quy phạm thực chất nào sẽ
được thực thi
Trang 34Đôi khi xảy ra những trường hợp toà án cũng không chọn
được luật thực chất để áp dụng bởi chưa có quy phạm xung
đột trong lĩnh vực đó, lúc này toà án cần xem xét hệ thống
luật pháp của nước mình để tìm ra các quy định cần thiết để
giải quyết vụ việc
Những điều đã dẫn trên đây cho thấy rằng tính chất rất
đặc thù và riêng biệt của quy phạm xung đột Tính chất này
sẽ không bảo đảm được một quyết định nhất quán đối với
một vụ việc nếu toà án của các nước khác nhau giải quyết
Như vậy, phương pháp xung đột cũng có những hạn chế
của nó Mặt khác, phương pháp xung đột lại rất trừu tượng,
bởi lẽ phải có chuyên môn rất sâu trong lĩnh vực pháp luật
mới có thể hiểu được Tính chất không nhất quán đối với
một vụ việc nếu giải quyết ở toà án có thẩm quyền ở các
nước khác nhau trong Tư pháp quốc tế đã dẫn đến việc các
bên khi ký kết các hợp đồng (nhất là hợp đổng mua bán
ngoại thương) cần phải thấy trước luật nước nào sẽ có khả
năng áp dụng hoặc phải chọn sẵn luật nước nào để áp dụng
cho hợp đồng đó
Phương pháp xung đột pháp luật được áp dụng trong hệ
thống luật Anh - Mỹ còn phức tạp hơn nhiều Ớ đãy toà án
có thẩm quyền rất rộng, còn các quv phạm xung đột lại được
hình thành trên cơ sở án lộ (thực tiễn toà án và trọng tài); do
đó sẽ có rất nhiều khả năng xảv ra trong việc giải quyết các
tranh chấp trong quan hệ hợp đồng mà các bên khi tham gia
các quan hệ đó không thể lường trước được hết
Cuối cùng có thể nói là phương pháp xung đột một mặt nó
luôn được hoàn thiện và pháp điên hóa trone điều kiện quốc tế
hóa đời sống quốc tế mặt khác nó cũng lại luôn được bổ sung
và hoàn thiện hóa trons luật pháp của mỗi quốc gia
Trang 35b Phương ph á p thực chất
Phương pháp thực chất được xây dựng trên cơ sở hệ thống
các quy phạm thực chất trực tiếp giải quyết các quan hệ dân
sự quốc tế, điều này có ý nghĩa là nó trực tiếp phân đinh
quyền và nghĩa vụ rõ ràng giữa các bên tham gia quan hệ
Các quy phạm thực chất có thể được xây dựng trong các
điểu ước quốc tế người ta gọi là các quy phạm thực chất
thống nhất, còn các quy phạm thực chất xây dựng trong các
văn bản pháp quy của m ỗi nhà nước được gọi là quy phạm
thực chất trong nước (quy phạm thực chất trong nước)
Chúng ta sẽ xem xét hai loại quy phạm này cùng ý nghĩa và
vai trò của chúng trong việc điều chỉnh các quan hệ của Tư
pháp quốc tế
b l C ác quy p h ạ m thực chất thống nhất trong các điều
ước quốc tế, tập quán quốc tế.
T rong quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế giữa các
quốc gia trên th ế giới, nhất là sự liên kết kinh tế cũng như
nhất thể hóa nền kinh tế trên từng khu vực và nhất thể hóa
nền kinh tế toàn cầu thì vai trò và vị trí của Tư pháp quốc tế
ngày càng quan trọng Q uá trình này luôn được tiến hành
song song đồng thời với việc nâng cao vị trí, vai trò của các
quy phạm thực chất được hình thành và xây dựng trong các
điều ước quốc tế (kể cả song phương và đa phương)
Việc xây dựng và hình thành các quy phạm thực chất
thống nhất trong các điều ước quốc tế điều chỉnh các quan
hệ thương m ại, sản xuất, dịch vụ, khoa học kỹ thuật giao
thông V V và các quan hệ khác giữa các công dán pháp
nhân của các quốc gia khác nhau là điều rất cần thiết nó làm
giảm hoặc thậm chí triệt tiêu sự khác biệt trong luật pháp
Trang 36của các quốc gia và có tính chất đơn giản hóa và hữu hiệu
hóa trong điểu chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế (thậm chí
giải quyết được cả các quan hệ rất phức tạp mà nếu giải
quyết bàng phương pháp xung đột không thể được) Ở đây
được hiểu là nếu cứ ấp dụng luật trong nước để điều chỉnh
thì rất khó giải quyết và thậm chí có trường hợp không thể
giải quyết nổi
Khi đã có các điểu ước quốc tế mà trong đó có các quy
phạm thực chất thống nhất, cơ quan có thẩm quyền giải
quyết cũng như các bên tham gia quan hệ Tư pháp quốc tế sẽ
chiếu theo đó để xem xét và giải quyết thực chất vấn đề trên
cơ sở áp dụng ngay các quy phạm đó Nó cũng loại trừ việc
phải chọn luật và áp dụng luật nước ngoài nữa, mà áp dụng
ngay các quy phạm điều ước đó
Từ những năm 20 của thế kỷ XX này của chúng ta đã có
rất nhiều điều ước loại trên đây được ký kết và thực hiện,
trước đó cũng có nhưng không phải nhiều Có thể nói đây là
một xu hướng phát triển rất tích cực trong Tư pháp quốc tế
Chúng ta có thể dẫn ra đây một số điểu ước quan trọng V í
dụ: Công ước Pari 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp:
Công ước Bécnơ 1886 về bảo hộ quyền tác giả; Công ước Giơ-
ne-vơ; Công ước La hay về mua bán quốc tế vể động sản
1955; Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán
quốc tế (Công ước Viên 1980); Côna ước 1980 của Liên hợp
quốc về vận tải hàng hóa đa phương thức quốc tê V V
Rất nhiều vấn đề được đề cập trong các công ước trên
đây được giải quvết trực tiếp thực chất một cách chóng
vánh và dứt điểm Đâv cũng chính là mục đích chính của
các công ước này
Trang 37Các quy phạm thực chất thống nhất còn được ghi nhận
trong ởác tập quán quốc tế (nhất ỉà trong lĩnh vực thương m ại
và hàng hải quốc tế) Có thể lấy các quy tắc tập quán trong
Incoterm s (International com m ercial term s) 1990 làm ví dụ,
đó là các điều kiện m ua bán, vận chuyển, bảo hiểm và các
phương thức giao hàng như FO B (free on board) giao hàng
trên tầu, CIF (cost, insurance and freight) tiền hàng, phí bảo
hiểm và cước phí, CFR (cost and freight) tiền hàng và cước
phí, FA S (free alongside ship) g i a o dọc m ạn tàu V.V
Hệ thống các quy phạm thực chất thống nhất dù là trong
điểu ước quốc tế hay trong tập q uán quốc tế không phải là
“luật p h á p " đứng trên luật quốc gia bởi lẽ chính các quốc
gia xây dựng hoặc chấp thuận cấc quy phạm đó và chúng tỏ
rõ khả năng thuận tiện và hữu hiệu trong việc điều chỉnh các
quan hệ của Tư pháp quốc tế Các nước trong m ột khu vực về
địa lý hay kinh tế thường tăng cường ký kết các hiệp định
quốc tế trong đó xây dựng các quy phạm thực chất thống
nhất nhằm thiết lập m ột trật tự kinh tế khăng khít hỗ trợ lẫn
nhau trên cơ sở phân công lao động quốc tế một cách hợp lý
Có thể lấy các nước thuộc khối EU hoặc ASEAN để chứng
m inh cho điều trôn đây
N goài ra, có thể nói trong m ột chừng mực nào đó các
quy phạm thực chất thống nhất được hình thành trên cơ sở
của các quyết định của trọng tài thương m ại quốc tế Luật
pháp của các nước đều thừa nhận trọng tài là công cụ giải
quyết hữu hiệu các tranh chấp thương m ại quốc te và các
nước cũng ban hành các văn bàn pháp quy để cóng nhận và
thi hành các quyết định cùa trọng tài nước ngoài (trọno tài
quốc tế), thám chí các quyết định đó là quyết định hoà «lài
Trang 38b.2 Các quy phạm thực chất trong luật của quốc gia
(luật quốc nội)
Đã từ lâu trong luật pháp của không ít quốc gia cũng như
ở nước ta quy chế pháp lý của người nước ngoài được nhà
nước ban hành trong các vãn bản pháp quy trực tiếp quy định
quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài Các quy phạm này
là quy phạm thực chất của Tư pháp quốc tế, chúng trực tiếp
điều chỉnh các quan hệ đã được ấn định và tất nhiên xung
đột pháp luật không tồn tại trong việc giải quyết các vấn đề
này Điều này cũng có nghĩa là các quy phạm thực chất của
luật quốc nội hoàn toàn được áp dụng để điều chỉnh các
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
Trong giai đoạn hiện nay, ờ các nước đang phát triển
cũng như ở nước ta quy phạm thực chất thường được quv
định trong Luật đầu tư, Luật về chuyển giao công nghệ V.V
Trong Luật đầu tư hầu như hoàn toàn là các quy phạm thực
chất điều chỉnh các quan hệ đầu tư có yếu tố nước ngoài
Trong rất ít trường hợp còn quy định các quy phạm xung
đột như là cho phép các bên tham gia hợp đồng cụ thổ nào
đó được phép thỏa thuận chọn luật áp dụng, cũng như thỏa
thuận chọn trọng tài giải quyết
Ưu thế của phương pháp thực chất ta có thể thấy như sau:
- Phương pháp thực chất là giải quvết trực tiếp quan hệ,
nó chi áp dụng trong các quan hệ đặc biệt (lĩnh vực đặc biệt
cụ thể), còn phương pháp xung đột có tính chất bao quát và
toàn diện hơn (m ang tính chất chung hơn):
- Phươns pháp trực tiếp thực chất chì sử dụng dôi với các
bên tham sia quan hệ cụ thê trong các khôns HŨin giới hạn và
Trang 39đôi khi chỉ áp dụng với các chù thể cụ thể; hơn thế các chủ thê
đó lại thường biết trước các điều kiện pháp lý đó;
điều ước quốc tế m à trong đó có các quy phạm thực chat
thống nhất đ ã tăng khả năng điều chỉnh hữu hiệu củ a luật
pháp, tính k hả thi cao hơn N ó loại bỏ sự knác biệt, thậm chí
m ầu thuẫn trong luật pháp giữa các nước với nhau
V iệc vận dụng và tăng cường k hả năng áp dụng phương
pháp thực chất thống nhất giữa các quốc gia sẽ thúc đẩy hợp
tác vê m ọi m ặt giữa các quốc gia, bảo đảm m ột trật tự kinh
tế m ới trên quy m ô toàn cầu
II QUY PHẠM XUNG ĐỘT
1 K hái niệm
Chúng ta đã đề cập đến vấn đề khi có quan hệ dán sự có
yếu tố nước ngoài thì thường là đồng thời cũng nảy sinh
xung đột pháp luật X ung đột pháp luật thể hiện trong việc
quy định ở nội dung luật dân sự của nước có toà án (hoặc cơ
quan có thẩm quyền giải quyết) với luật dân sự của nước liên
quan đến các “yếu tô' nước ngoài” thể hiện cụ thể thực tế
trong các quan hệ pháp luật đó Toà án phải đứng trước việc
là “chọn luật” được quy định bằng các quy phạm xung đột.
Quy phạm xung đột không trực tiếp giải quyết quvền và
nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ, nó chỉ ấn định luật
nước nào sẽ là luật được áp dụng để giải quyết
N h ư vậy, q uy p h ạ m xung đ ộ t là q uy p h ạ m ấn định luật
pliáp nươc nao can phai áp dụng đẽ g idi quyết quan hê
p h á p luật dân sự có yếu tô nước ngoài trong m ộ t tình
huống thực tế.
Trang 40Cụ thể hơn, có thể nói là quy phạm xung đột luôn mang
tính chất “dẫn chiếu" Khi quy phạm xung đột dẫn chiếu tới
m ột hệ thống pháp luật cụ thể mà các quy phạm thực chất
được áp dụng để giải quyết quan hệ một cách dứt điểm, thì ở
đ â y t a lạ i t h ấ y t ín h c h ấ t “song hành " g iữ a q u y p h ạ m x u n g
đột với quy phạm thực chất trong điều chỉnh pháp luật Cùng
với các quy phạm thực chất mà quy phạm xung đột dẫn
chiếu tới, quy phạm xung đột đã thể hiện khả năng quy định
nào đó đối với những quy tấc xử sự nhất định cho các bên
khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế cụ thể
Như vậy, có thể nói nội dung của Tư pháp quốc tế là bao
gồm các quy phạm xung đột và cả các quy phạm thực chất
Sự thống nhất trong cơ cấu hệ thống các quy phạm xung đột
và quy phạm thực chất của Tư pháp quốc tế là nền tảng cần
thiết của hai phương pháp điều chỉnh để giải quyết một loại
quan hệ pháp luật, đó là quan hệ dân sự quốc tế (quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài)
Chúng ta có thể dẫn một quy phạm xung đột trong Bộ
luật dân sự Việt Nam năm 2005 để minh chứng cho các
khảng định trên V í dụ: Khoản 1 Điều 766 quy định: “Việc
xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dĩa quyền sở hữii tài sản,
nội dung quyền sở hữu đối với tài sản được xác định tlieo
pliáp luật của nước nơi có tài sản đó Ớ đây đã cho thấy rõ
là tài sản (tài sản là động sản hay bất động sản) đang ớ đâu
thì luật pháp ờ nước đó sẽ được áp dụng để giải quyết các
quan hệ về sở hữu Nếu tài sản đang ờ Việt Nam thì luật
pháp Việt Nam sẽ được áp dụng giải quyết các quan hệ sờ
hữu liên quan đến tài sản đó