Trong khi đó, quan hệ giữa các quốc gia, với đặc trưng là quan hệ giữa những thực thể có chủ quyền, cần được điều chỉnh bởi một hệ thống các quy phạm có bản chất khảc với các quy phạm ph
Trang 2Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHổ Hổ CHÍ MINH
GIÁO TRÌNH & TẬP BÀI GIẢNG
Dùng cho chương trình đào tạo cử nhân đại học luật
Đã phát hành
Giáo trình
01 Bầu cử trong nhà nước pháp quyển (Dùng cho cả sau ĐH)
02 Công pháp quốc tế - Quyển 1
03 Công pháp quốc tế - Quyển 2
04 Kỹ năng nghiên cứu và lập luận
05 Kỹ thuật soạn thảo văn bản
06 Những quy định chung về luật dân sự
07 Luật Hình sựViệt Nam - Phán chung
08 Luật Hình sự Việt Nam - Phẩn các tội phạm - Quyển 1
09 Luật Hình sự Việt Nam - Phẩn các tội phạm - Quyển 2
10 Luật Hôn nhân & gia đình Việt Nam
11 Luật Đất đai
12 Luật Lao động
13 Luật Thuế
14 Luật Ngân hàng
15 Luật Sở hữu trí tuệ
16 Luật Tố tụng dân sự Việt Nam
17 Luật Tố tụng hành chính Việt Nam
18 Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
19 Luật Hành chính Việt Nam
20 Luật Hiến pháp Việt Nam
21 Luật Thương mại quốc tế - Phẩn I
22 Luật Thương mại quốc tế - Phần II
23 Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới
24 Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam
25 Pháp luật đại cương
26 Pháp luật vể hợp đóng và bổi thường thiệt hại ngoài hợp đổng
27 Pháp luật vé tài sản, quyển sở hữu tài sản
và quyển thừa kế
28 Pháp luật vé thương mại hàng hóa và dịch vụ
29 Pháp luật vể cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại
30 Pháp luật về chủ thể kinh doanh
31 Tâm lý học đại cương
- GT Luật Mỏi trường
08 Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới
09 Pháp luật vể công chứng luật sư
10 Pháp luật thanh tra, khiếu nại và tố cáo
11 Tin học đại cương MOS - WORD
Moi chi úeỉ xin Hen /lé Trung tám học liệu, Trường Đại học Luật TP.HCM
l<mcj trét Klui (', sò 0 2 Nguyỏn Tát Thanh, p 1 2 0 4 , Tp Ho Chi Minh - Điện th o ạ i: 02 8 89400989 (149-150)
Trang 3TR Ư Ờ N G Đ ẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ M INH
Trang 4Chủ biên
TS Trần Thị Thùy Dương ThS Nguyễn Thị Yên
Biên soạn
Chương I
TS Trần Thị Thùy Dương
TS Tràn Thăng Long Chương II
TS Ngô Hữu Phước Chương III
TS Trần Thăng Long Chương IV
TS Ngô Hữu Phước Chương V
TS Ngô Hữu Phước Chương VI
TS Trần Thăng Long - CN Hà Thị Hạnh
Chương VIIThS Nguyễn Thị Vân Huyền - ThS Lê Đức Phương
Chương VIII Tràn Thăng Long • ]
TS Trần Việt Dung - TS Tràn Phú Vinh - ThS Lê Tấn Phát
Chương XIII ThS Nguyễn Thị Yên Chương XIV
TS Trần Thăng Long - ThS Nguyễn Thị Yên
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Nhằm mục đích nâng cao chất lượng đào tạo và cải tiến phương pháp giảng dạy tại Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, N hà trường tổ chức biên soạn Giảo trình Công pháp quốc tế.
Nội dung của Giáo trình Công pháp quốc tế bao gồm: lv luận chung về luật quốc tế, nguồn của luật quốc tế, chủ thể cùa luật quốc tế, lãnh thổ và biên giới quốc gia, luật biển quốc tế, dân cư trong luật quốc tế, luật ngoại giao và lãnh sự (Quyển 1), luật về các tổ chức quốc tế liên chính phủ, luật quốc tế về quyền con người, luật hình sự quốc tế, luật môi trường quốc
tế, luật kinh tế quốc tế, giải quyết tranh chấp trong luật quốc
tế, trách nhiệm pháp lý quốc tế (Quyển 2)
Giáo trình Công pháp quốc tế chắc chắn sẽ còn khiếm khuyết; mong bạn đọc góp ý để lần xuất bản tới, giáo trình được hoàn thiện hơn
Thư từ, ý kiến đóng góp xin được gửi tới: Phòng Đào tạo, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, số 2, Nguyễn Tất Thành, Quận 4, TP Hồ Chí Minh; Điện thoại: 08.39400.723 - 08.37266.333
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẶT TP HỒ CHÍ MINH
ỏ
Trang 6MỤC LỤC
(Quyển 1)
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT QUỐC T Ế 16
I Khái niệm luật quốc tế 16
1.1 Định nghĩa luật quốc tế 17
1.2 Thuật ngữ « luật quốc tế » 19
1.3 Phân biệt « công pháp quốc tế » và « tư pháp quốc tế » 20
1.4 Quy phạm pháp luật quốc t ế 22
II Đặc trưng cửa luật quốc t ế 25
2.1 Những khác biệt cơ bản của luật quốc tế so với luật quốc g ia 25
2.2 Bản chất của luật quốc t ế 31
2.3 Tranh luận về sự tồn tại của luật quốc t ế 32
2.4 Vai trò của luật quốc t ế 39
III Lịch sử phát triển của luật quốc tế 41
3.1 Luật quốc tế thời kỳ cổ đ ạ i 41
3.2 Luật quốc tế thời kỳ trung đ ại 44
3.3 Luật quốc tế thời kỳ cận đại 47
3.4 Luật quốc tế thời kỳ hiện đ ạ i 51
3.5 Xu hướng phát triển của luật quốc tế thời kỳ hiện đ ại 60
IV Quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia 62
4.1 Phạm vi điều chỉnh của luật quốc tế và luật quốc g ia 63
4.2 Quan hệ thứ bậc giữa luật quốc tế và luật quốc g ia 66
4.3 Tương tác giữa luật quốc tế và luật quốc g ia 70
5
Trang 7V Một số nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế 76
5.1 Cơ,sở pháp lý và đặc điểm của các nguyên tắc cơ bản của luật quôc tê 76
5.2 Nội dung của một số nguyên tắc cơ bản của luật quốc té 81
CHƯƠNG II: NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ 91
I Lý luận chung về nguồn của luật quốc tế 91
1.1 Khái niệm nguồn của luật quốc t ế 91
1.2 Các loại nguồn của luật quốc tế 92
II Điều ước quốc t ế 94
2.1 Khái niệm điều ước quốc t ế 94
2.2 Phân loại điều ước quốc tế 96
2.3 Tên gọi, ngôn ngữ và cấu trúc của điều ước quốc t ế 97
2.4 Quy trình ký kết điều ước quốc t ế 99
2.5 Gia nhập điều ước quốc t ế 112
2.6 Bảo lưu điều ước quốc t ế 114
2.7 Hiệu lực của điều ước quốc t ế 120
2.8 Giải thích, công bố đăng ký và thực hiện điều ước quốc tế 130
2.9 Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia 135
III Tập quán quốc tế 148
3.1 Khái niệm tập quán quốc t ế 148
3.2 Điều kiên trở thành nguồn luật quốc tế của tập quán quốc tế .! 149
3.3 So sánh điều ước quốc tế với tập quán quốc tế 151
IV Các nguyên tắc pháp luật chung được các dân tộc văn minh thừa nhận ; 155
4.1 Khái niệm các nguyên tắc pháp luật ch u n g 155
4.2 Vai trò cùa các nguyên tắc pháp luật ch ung 156 6
Trang 8V Các phương tiện bổ trợ nguồn luật quốc tế 157
5.1 Các nghị quyết xét xử của Tòa án Công lý quốc t ế 157
5.2 Các học thuyết về luật quốc t ế 158
CHƯƠNG III: CHỦ THÊ CỦA LUẬT QUỐC T Ế 165
I Khái niệm chủ thể của luật quốc t ế 165
II Quốc gia - chủ thể cơ bản của luật quốc tế 170
2.1 Các yếu tố cấu thành quốc gia với tư cách là chủ thể của luật quốc tế 7 172
2.2 Các quyền và nghĩa vụ quốc tế cơ bản của quốc g ia 181
2.3 Công nhận quốc tế đối với quốc g ia 183
2.4 Vấn đề kế thừa của quốc gia trong luật quốc tế 201
III Các dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự q u y ết 212
3.1 Khái niệm dân tộc và nguyên tắc quyền dân tộc tự q u y ết 212
3.2 Quyền năng chủ thể và quyền cơ bản của các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập * 216
IV Tổ chức quốc tế liên chính p h ủ 217
4.1 Khái niệm 217
4.2 Quyền năng cơ bản của tổ chức quốc tế liên chính phủ 219
V Thực thể đặc biệt trong luật quốc tế - Tòa thánh Vatican 220
CHƯƠNG IV: LÃNH THỔ VÀ BIÊN GIỚI QUỐC GIA 225
I Những vấn đề pháp lý cơ bản về lãnh thổ quốc g i a 225
1.1 Khái niệm về lãnh th ổ 225
1.2 Phân loại lãnh thổ trong luật qũổc t ế 227
1.3 Lãnh thổ quốc gia trong luật quốc t ế 228
1.4 Chủ quyền quốc gia đổi với lãnh th ổ 235
7
Trang 91.5 Thay đôi và xác lập chủ quyền quốc gia đối với
lãnh th ổ 243
1.6 Sơ lược về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường S a 251
II Những vấn đề pháp lý cơ bản về biên giới quốc g ia 259
2.1 Khái niệm, các bộ phận cấu thành và kiểu biên giới quốc gia 259
2.2 Hoạch định biên giới quốc g ia 266
2.3 Quy chế pháp lý của biên giới quốc gia 273
2.4 Khái quát về biên giới Việt Nam với các nước láng giềng 277
CHƯƠNG V: LUẬT BIỂN QUỐC T Ế 298
I Khái quát về luật biển quốc t ế 298
1.1 Khái niệm luật biển quốc t ế 298
1.2 Nguồn của luật biển quốc t ế 304
1.3 Các nguyên tắc của luật biển quốc tế 311
II Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia 315
2.1 Nội th ủ y 315
2.2 Lãnh h ả i 348
III Các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc g ia 361
3.1 Vùng tiếp giáp lãnh h ải 361
3.2 Vùng đặc quyền kinh t ế 365
3.3 Thềm lục đ ịa 376
3.4 Phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục đ ị a 383
IV Biển quốc tế và đáy đại dương 396
4.1 Biển quốc t ế 396
4.2 Đáy đại dương (La zone) 400 8
Trang 10CHƯƠNG VI: DÂN c ư TRONG LUẬT QUỐC T Ế 409
I Khái niệm và địa vị pháp lý của dân c ư 409
1.1 Định nghĩa dân cư trong luật quốc tế 409
1.2 Quy định địa vị pháp lý của dân c ư 411
II M ột số vấn đề pháp lý về quốc tịch 417
2.1 Khái niệm quốc tịc h 417
2.2 Các cách thức có quốc tịc h 424
2.3 Bằng chứng về việc có quốc tịc h 436
2.4 Chấm dứt mối quan hệ quốc tịc h 436
2.5 Hai quốc tịch 440
2.6 Không quốc tịch (stateless) 444
III Địa vị pháp lý của người nước ngoài, cư trú chính trị và bảo hộ công d â n 447
3.1 Địa vị pháp lý của người nước ngoài 448
3.2 Cư trú chính trị 453
3.3 Bảo hộ công dân (Bảo hộ ngoại giao) 455
CHƯƠNG VII: LUẬT NGOẠI GIAO VÀ LÃNH s ự 480
I Khái quát về luật ngoại giao và lãnh s ự 480
1.1 Khái niệm luật ngoại giao và lãnh s ự 480
1.2 Nguồn của luật ngoại giao lãnh sự 482
1.3 Các nguyên tắc của luật ngoại giao và lãnh s ự 485
1.4 Hệ thống cơ quan quan hệ đối ngoại của nhà n ư ớ c 490
II Cơ quan đại diện ngoại giao 499
2.1 Khái niệm và phân loại cơ quan đại diện ngoại giao 499
9
Trang 112.2 Chức năng của cơ quan đại diện ngoại g ia o 501
2.3 Cấp, hàm và chức vụ ngoại giao 504
2.4 Trình tự bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao 507
2.5 Khởi đầu và kết thúc chức vụ của người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao 509
2.6 Thành viên của cơ quan đại diện ngoại giao 510
2.7 Đoàn ngoại giao 512
2.8 Quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại g ia o 513
III Cơ quan lãnh s ự 525
3.1 Khái niệm, chức năng của cơ quan lãnh s ự 525
3.2 Cấp của cơ quan lãnh sự và người đứng đầu cơ quan lãnh s ự 529
3.3 Bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan lãnh s ự 530
3.4 Cơ cấu tổ chức và thành viên của cơ quan lãnh sự 531
3.5 Khởi đầu và kết thúc chức năng lãnh sự 532
3.6 Lãnh sự danh dự 533
3.7 Đoàn lãnh s ự 535
3.8 Quyền ưu đãi và miễn trừ lãnh sự 536
IV Phái đoàn đại diện của các quốc gia tại các tò chức quốc tế, phái đoàn đại diện cua tổ chức quốc tế tại các quốc g ia 540
4.1 Phái đoàn đại diện của các quôc gia tại các tô chức quốc tế 540
4.2 Phái đoàn đại diện của tổ chức quốc tế tại các quốc g ia 545
10
Trang 12DANH MỤC CÁC TỪ VIÉT TẮT
ADB: Ngân hàng phát triển châu Á (Asia Development Bank)
ALADI: Hội liên kết Mỹ - Latinh {Latin American Intégration Association)
APEC: Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương
(Asia Pacific Economie Coopération)
ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á {Association o f South East Asian Nations)
AU: Liên minh châu Phi {African Union)
CARICOM: Cộng đồng kinh tế Caribe {Caribean Communitỳ)
c AT : Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt và đối
xừ tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục khác {Convention against Torture)
CEDAW: Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xừ chống lại phụ nữ {Committee on the Elimination o f Discrimination against Women)
CEEAC: Cộng đồng kinh tế các nước Trung Phi {Communauté Economique des États d ’Afrique)
CHLB: Cộng hòa liên bang
CHND: Cộng hòa nhân dân
CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
CITES: Công ước về Buôn bán quốc tế các loại động thực vật hoang dã nguy cấp (Convention on International Trade in Endangered Species ofW ild Fauna and Flora)
CMEA: Hội đồng tương trợ kinh tế {Council o f Mutual Economie Assistance)
11
Trang 13COPAL: Liên minh những nước sản xuất ca cao (.Alliance o f Cocoa Producing Countries)
CRC: Công ước về quyền trẻ em (Convention on the Rights o f the Child)
CSCE: Hội nghị về An ninh và Hợp tác ở châu Âu (Conference
on Security and Co-operation in Europe)
CSW: ủ y ban về địa vị phụ nữ (Commission on the Status o f Women)
ĐHĐ: Đại Hội đồng
ĐHĐ: Đại hội đồng
EAEC: Cộng đồng châu Âu về năng lượng nguyên tử {European Atomic Energy Commừnity)
ECOCAS: Cộng đồng Kinh tế Trung Phi {Economic Community
o f Central African States)
ECOSOC: Hội đồng kinh tế xã hội {Economic and Social Council)
ECOWAS: Cộng đồng kinh tế các nước Tầy Phi {Economic Community o f West African States)
ECOWAS: Cộng đồng Kinh té Tây Phi {Economic Community
o f West African States)
ECSC: Cộng đồng châu Âu về than và thép {European Coal and Steel Community)
EEC: Cộng đồng kinh tế châu Âu {European Economic Community)
EFTA: Khu vực thưcmg mại tự do châu Âu {European Free Trade Association)
EU: Liên minh châu Âu {European Union)
FAO: Tổ chức nông lưcmg {Food and Agriculture Organization)
12
Trang 14GATT: Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (General Agreement on Trade and Tariffs)
HĐBA: Hội đồng Bảo an
HĐKTXH: Hội đồng Kinh tế Xã hội
IAEA: Tổ chức Năng lượng Nguyên tử Thế giới (International Atomic Energy Agency)
ICC: Tòa án hình sự quốc tế (International Criminal Court)
ICCPR: Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị
(International Covenant on Civil and Political Rights)
ICERD: Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối
xừ vê chủng tộc (International Convention on the Elimination o f All Forms o f Racial Discrimination)
ICESCR: Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa
{International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights)
ICJ: Tòa án Công lý quốc tế (International Court o f Justice)
ICPPED: Công ước quốc tế về bảo vệ tất cả mọi người khỏi bị đưa đi mất tích {International Convention fo r the Protection o f All Persons from Enforced Disappearance)
ICRMW: Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của mọi người lao động di trú và các thành viên của gia đình họ {Convention on the Protection o f the Rights o f All Migrant Workers and Members o f Their Families)
ICRPD: Công ước về quyền của những người khuyết tật
{Convention on the Rights o f Persons with Disabilities)
ICSID: Trung tâm Quốc tế về Giải quyết các tranh chấp về đầu
tư {International Centre fo r the Settlement o f Investment Disputes)
13
Trang 15ILO: Tô chức lao động quốc tế (International Labor Organization)
IMCO: Tổ chức Tư vấn hàng hải quốc tế {International Maritime Consultative Organization)
IMF: Quỹ Tiền tệ Quốc tế {International Monetary Fund)
IMO: Tổ chức Hàng hải Quốc tế {International Maritime Organization)
ITLOS: Tòa án Quốc tế về Luật biển {International Tribunal fo r the Law o f the Sea)
ITU: Liên minh điện tín thế giới {International Telegraph Union)
IUCN: Liên minh Quốc tế về Bảo tồn thiên nhiên {International Union fo r the Conservation o f Nature)
LHQ: Liên hợp quốc
MARPOL: Công ước về Ngăn chặn ô nhiễm biển từ tàu thuyền
{International Convention fo r the Prevention o f Pollution from Ships)
MERCOSUR: Khối Thị trường chung Nam Mỹ {Mercado Común del Sur)
NATO: Khối Quân sự Bắc Đại Tây Dương {North Atlantic Treaty Organization)
OECD: Tổ chức hợp tác về kinh tế và phát triển {Organisation
fo r Economic Co-operation and Development)
14
Trang 16OPEC: Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (Organization o f Petroleum Exporting Countries)
PCA: Tòa Trọng tài Thường trực của Hội Quốc liên (Permanent Court o f Arbitration)
TACLQT: Tòa án công lý quốc tế
TAQT: Tòa án quốc tế
UDHR: Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948
( Universal Declaration o f Human Rights)
UIC: Liên hiệp vận tải đường sắt quốc tế {International Union o f Raiways)
UNDP: Chưcmg trình phát triển của Liên hợp quốc (United Nations ’ Development Programme)
UNEP: Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (United Nations ’ Environment Programme)
UNESCO: Tổ chức Giáo dục, K hoa học và Văn hóa của Liên hợp quôc {United N ations’ Educational, Scientific and Cidtural Organization)
UNICEF: Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc {The United N ations’ Children’s Fund)
UNIDO: Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên hợp quốc
{The United N ations’ Industrial Development Organization)
UPU: Liên minh bưu chính thế giới {Universal Postal Union)
WB: Ngân hàng Thế giới {W orldBank)
WHO: Tổ chức y tế thế giới {W orldHealth Organization)
WTO: Tổ chức thương mại thế giới {World Trade Organization)
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
15
Trang 17CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VÈ LUẬT QUÓC TẾ
Khi các quốc gia hình thành, các quan hệ liên quốc gia cũng đồng thời xuất hiện Những quan hệ này tồn tại song song với các quan hệ phát sinh trong phạm vi lãnh thổ của các quốc gia Các quốc gia sử dụng công cụ pháp luật để điều chinh các quan hệ xã hội phát sinh trong phạm vi lãnh thổ của mình nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị cũng như đảm bảo sự
ổn định của trật tự xã hội Tổng thể các nguyên tắc và quy phạm này tạo thành hệ thống pháp luật quốc gia Trong khi đó, quan hệ giữa các quốc gia, với đặc trưng là quan hệ giữa những thực thể
có chủ quyền, cần được điều chỉnh bởi một hệ thống các quy phạm có bản chất khảc với các quy phạm pháp luật quốc gia Hệ thống các quy phạm này được gọi là hệ thống pháp luật quốc tế
Để nắm bắt những nét chung nhất về hệ thống pháp luật quốc tế, trước hết cần trả lời câu hỏi luật quốc tế là gì (I) và luật quốc tế có những đặc trưng nổi bật nào (II) Những nguyên tắc
và quy phạm của luật quốc tế ngày nay là kết quả của nhiều thế
kỷ hình thành, kế thừa và phát triển (III) Được xây dựng và phát triển dựa trên một số nguyên tắc mang tính cơ bản (V), luật quốc
tế có quan hệ tương tác mạnh mẽ với luật quốc gia (IV)
I KHÁI NIỆM LUẬT QUÓC TÉ
Có nhiều cách để định nghĩa luật quốc tế (1.1) nhưng nhìn chung, thuật ngữ «luật quốc tế» hàm ý luật giữa các quốc gia (1.2) c ầ n chú ý rằng thuật ngữ «công pháp quôc tế» cũng thường được dùng để chỉ luật quốc tế, nhăm phân biệt luật này với «tư pháp quốc tế» (1.3) Luật quốc tế được cấu thành bởi những «hạt nhân», đó chính là các quy phạm pháp luật quốc tể (1.4)
16
Trang 181.1 Định nghĩa luật quốc tế
Luật quốc tế có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào thời điểm, bối cảnh định nghĩa cũng như quan điểm của tác giả định nghĩa N hìn chung, việc xây dựng khái niệm luật quốc tế thường được tiếp cận từ phưong diện đối tượng điều chỉnh, quy trình xây dựng, chủ thể xây dựng và tiêu chuẩn để công nhận quy phạm luật quốc tế
Khi xem xét tranh chấp Lotus giữa Pháp và Thổ N hĩ Kỳ Tòa Công lý thường trực quốc tế đưa ra định nghĩa sau vê luật quốc tế: «Luật quốc tế điều chinh quan hệ giữa các quốc gia độc lập Các quy định của luật có giả trị bắt buộc đổi với các quốc gia bởi chúng bẳt nguồn từ chỉnh ý chí của họ thể hiện trong các công ước (điều ước) hoặc qua các thông lệ được công nhận một cách rộng rãi, thể hiện những quy tắc pháp lý thành lập nhằm điều chinh quan hệ giữa những cộng đồng độc lập cùng tồn tại với nhau hoặc nhằm đạt đến những mục đích chung.».' Định nghĩa trên có ý nghĩa quan trọng khi ra đời (năm 1927) và ngày nay vẫn còn một số giá trị nhất định Tuy nhiên, đây chỉ là một trong rất nhiều định nghĩa khác nhau về luật quốc tế
Căn cứ trên đối tượng điều chỉnh của luật quôc tê, luật quốc tế được định nghĩa « bao gồm các quy định và nguyên tắc
có tỉnh áp dụng chung nhằm điều chinh các hành vi của quôc gia
và tổ chức quốc tế cũng như mồi quan hệ giữa chúng với nhau (ỉnter se), cũng như điều chỉnh một số quan hệ của họ với các cả nhăn hoặc pháp nhân»} Tưong tự, một sô học giả luật quôc tê định nghĩa luật quốc tế là «một ngành luật tổng hợp các nguyên tắc và quy phạm pháp luật điều chỉnh chù yếu các quan hệ chinh
Trang 19trị hoặc các khỉa cạnh chỉnh trị của các quan hệ khác giữa các quôc gia với nhau cũng như giữa các quốc gia và các chủ thế phái sinh và đặc biệt khác của luật quốc tể»} Luật quốc tế còn
có thể được định nghĩa một cách đơn giản là tập hợp các quy tắc điều chỉnh các mối quan hệ giữa các quốc gia và các chủ thể khác3 4 hoặc luật áp dụng cho xã hội quốc tế.5
Nhẩn mạnh quy trình xây dựng, chủ thể xây dựng, đối tượng điều chỉnh và tiêu chuẩn để công nhận quy phạm luật quốc
tế, một số học giả định nghĩa luật quốc tế là «hệ thong các nguyên tẳc và quy phạm pháp luật, được các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tể thỏa thuận xây dựng nên, trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa các quổc gia và các chủ thể khác trong mọi lĩnh vực cùa đời sống xã hội».6 7
Một trong những định nghĩa có thể coi là phản ánh đầy đủ nhất bản chất và những đặc trưng cơ bản của luật quốc tế, giúp phân biệt luật quốc tế với luật quốc gia và hiện được sử dụng rộng rãi trong các giáo trình luật quốc tế của Việt Nam thuộc về giáo sư G.I Tunkin, theo đó luật quốc tế là “Tông thể những quy phạm được tạo ra bởi thỏa thuận giữa những quôc gia thuộc các
hệ thống xã hội khác nhau, phản ánh ý chỉ hòa hợp của các quốc gia và có đặc tỉnh dân chủ chung, điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia với nhau trong quá trình đẩu tranh và hợp tác theo hướng đảm bảo hòa bình và cùng tồn tại hòa bình, tự do và sự độc lập của các dân tộc, và trong trường hợp cân thỉêt được đảm
3 Nguyễn Hồng Thao, Giáo trình luật quốc tế, Nxb Giáo dục, 1999, tr 12.
4 Raymond Guillien & Jean Vincent, Từ vựng thuật ngữ pháp lý (Lexique des termes juridiques), Dalloz, in lần thứ 13, 2001, tr 219.
5 Nguyễn Quốc Định, Patrick Daillier, Alain Pellet, Công pháp quốc tế (Droit international public), LGDJ, Paris, 2002, tr 3.
6 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật quốc tế, Nxb Công an nhân dân,
2007, tr 8.7
, t
18
Trang 20bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế một cách riêng lẻ hoặc tập thể bởi các quốc g ia ’’.1
N hìn dưới góc độ pháp lý, một định nghĩa luật quốc tế nói chung cần thể hiện những vấn đề cơ bản như: chủ thể và đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế, phương thức hình thành các nguyên tăc và quy phạm luật quôc tê, phương thức thực thi và bảo đảm thi hành các nguyên tắc và quy phạm này Dựa trên những tiêu chí này, định nghĩa của giáo sư Tunkin là tương đôi thích hợp, mặc dù còn chưa đầy đủ ở chỗ chỉ đề cập đến quốc gia
là chủ thể của luật quốc tế
N hư vậy, ta có thể đi đến kết luận luật quốc tế là hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật do các chủ thể của luật quôc tê (bao gồm quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tê) thỏa thuận xây dựng nên trên cơ sở tự nguyên và bình đảng nhăm điêu chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thề luật quôc tê với nhau trong mọi lĩnh vực của đời sổng quốc tế và được đảm bảo thực hiện bởi chỉnh các chủ thể đó.
1.2 Thuật ngữ «luật quốc tế»
Vê mặt lịch sử, thuật ngữ «luật quốc tế» được sử dụng ngày naỵ có nguồn gốc từ thuật ngữ tiếng Anh «international ỉaw» xuât hiện năm 1780 trong cuôn sách của Bentham Giới thiệu các nguyên tẩc của đạo đức và pháp luật. Ý nghĩa của từ này là «luật giữa các dân tộc» còn được thể hiện qua những thuật ngữ tương tự được sử dụng trong nhiều ngôn ngữ Chẳng hạn,
droit International (tiếng Pháp), derecho internacional (tiếng
Tây Ban Nha), Meotcòvnapoốìioe npatso (tiếng Nga) Thuật ngữ của Bentham thực tế chính là thuật ngữ có nguồn gốc latin ju s ínter gentes được Vitoria dùng vào thế kỷ XVI và được nhắc lại bởi luật gia người Anh Zouch vào năm 1650, sau này đã được quan chưởng ấn (Chancellor) Aguesseau dịch vào đầu thế kỷ 7
7 G I Tunkin, Lý thuyết về luật quốc tế (Theory o f International Law) (bản dịch và lời giới thiệu cùa William E Butler), London 1974 tr 251.
19
Trang 21XVII là «luật giữa các dân tộc» Vào năm 1795, học giả người Đức Kant đã thay thế từ «dân tộc» bằng «quốc gia» trong thuật ngữ «luật quốc tế» Từ đó, «luật giữa các dân tộc» được hiểu như luật điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia, hay luật liên quốc gia.8 Ý nghĩa này thể hiện trong thuật ngữ S3 |ỉõ\ 'ìíz W- được sử dụng ngày nay trong tiếng Trung Quốc ( H (quo): quốc gia, đất nước; PÊF (ji): giữa (các sự vật với nhau); ÌẾ # (fa lu): pháp luật)
và «luật quốc tế» ở tiếng Việt
Cần thêm rằng, trước khi Bentham giới thiệu thuật ngữ luật quốc tế, một thuật ngữ khác, Jus gentium (luật của các dân tộc) cũng được sử dụng và thậm chí vẫn được đề cập cho đến ngày nay Thậm chí, thuật ngữ ju s gentium còn được một số người hiểu là đồng nghĩa với ju s inter gentes hay luật quốc tế Tuy nhiên, nội hàm 'của hai thuật ngữ trên không trùng hợp, bởi
lẽ ju s inter gentes được hiểu là «luật giữa các dân tộc» trong khi
ju s gentium thể hiện ý « luật chung của các dân tộc »
1.3 Phân biệt «công pháp quốc tế» và «tư pháp quốc tế»
Từ những năm đầu thế kỷ XIX, tính từ « công» {public)
bắt đầu được thêm vào trước cụm từ « luật quốc tế » để phân biệt giữa hệ thống luật quốc tế hay còn được gọi là « công pháp quốc
tế » với « tư pháp quốc tê »,9 Việc đưa từ « công » hay « công pháp » trước từ « quốc tế » nhằm mục đích nhấn mạnh sự khác biệt giữa « công pháp quốc tế » và « tư pháp quốc tế » Điểm khác biệt thứ nhất và cơ bản giữa công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế là đối tượng điều chỉnh Công pháp quốc tế điều chỉnh quan hệ (chủ yêu) giữa các quôc gia, trong khi đó tư pháp quôc
tế điều chỉnh quan hệ giữa các cá nhân và pháp nhân Quan hệ điêu chỉnh bởi công pháp quôc tê mang tính chât « công » trong khi các quan hệ điêu chỉnh bởi tư pháp quôc tê lại mang tính chât
8 Nguyễn Quốc Định, Patrick Daillier, Alain Pellet, Công pháp quốc tế (Droit international public), LGDJ, Paris, 2002, tr 36.
9 Thuật ngữ « tư pháp quốc tế » được dùng lần đầu năm 1843 tại Pháp bời Foelix trong cuốn Điều ước về tư pháp quốc tế.
20
Trang 22« tư » bao gồm các quan hệ dân sự mang yếu tố nước ngoài, liên quan đến sự khác biệt về quốc tịch của các chủ thể liên quan, địa điểm diễn ra quan h ệ N goài ra, m ột số điểm khác biệt cơ bản khác giữa công pháp và tư pháp quốc tế là: về chủ thể, chủ thể chủ yếu của công pháp quốc tế là các quốc gia, tổ chức quốc tế, vùng lãnh thổ có quy chế đặc biệt ; trong khi chủ thể chủ yếu của
tư pháp quốc tế là các cá nhân và pháp nhân (quốc gia chỉ là chủ thệ đặc biệt) Vê phương pháp điêu chỉnh, công pháp quôc tê điêu chỉnh băng phương pháp thỏa thuận, bình đăng trong khi tư pháp quốc tế áp dụng phương pháp thực chất và phương pháp xung đột về biện pháp thực thi luật, các biện pháp áp dụng trong công pháp quốc tế có thể m ang tính chính trị, kinh tê, vũ lực trong khi biện pháp áp dụng trong tư pháp quốc tế thường là các bôi thường thiệt hại mang tính tài sản.10
Ngoài ra, trong khoa học luật quốc tể tồn tại sự tranh luận
vê vị trí của « công pháp quốc tế» và « tư pháp quốc tế » Chẳng hạn, có quan điểm cho rằng tư pháp quốc tế chỉ là một nhánh của luật quôc gia, còn công pháp quốc tế mới thật sự là luật quôc tê Trên thực tê, hai ngành luật trên không hoàn toàn tách biệt và việc tách bạch giữa công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế là thiếu
cơ sở Thậm chí, chúng có khuynh hướng tương tác với nhau ngày càng nhiêu Trong nhiều trường họp, công pháp quôc tê có
sự đan xen với tư pháp quốc tế Điều này thể hiện ờ chỗ các điêu ước quôc tê, các tập quán quốc tê điêu chỉnh quan hệ tư pháp quôc tế Bên cạnh đó, các cá nhân, pháp nhân cũng có khuynh hướng ngày càng phát triển những quan hệ với các quốc gia nước ngoài Một số tác giả, như Georges Scelle, còn cho ràng chỉ có một luật quôc tê, được chia ra thành hai nhánh: luật quôc tê tư (quốc tế tư pháp) và luật quốc tế công (quốc tế công pháp).11
10 Xem các tác giả Lê Thị Nam Giang, Tư pháp quốc tế, Nxb Đại học quốc gia
TP Hồ Chí Minh, 2007, tr 38; Ngô Hữu Phước, Luật quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, 2010, tr 22 — 23.
11 Georges Scelle, trích bởi Nguyễn Quốc Định, Patrick Daillier, Alain Pellet,
Công pháp quốc tế (Droit international public), LGDJ, Paris, 2002, tr 37.
21
Trang 23Điều này dẫn đến việc thuật ngữ «quốc tế công pháp » được sử dụng trong một số văn bản; Hiến pháp Cộng hòa Pháp 1946 là một ví dụ Tuy nhiên, nhìn chung trong khoa học pháp lý quốc tế
có sự phân biệt rõ rệt giữa công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế.Hiện nay, ngoài chủ thể chủ yếu là quốc gia, còn có ngàỵ càng nhiều những chủ thể khác, nổi bật nhất là các tổ chức quốc té, tham gia vào các quan hệ quôc íê Do đó, luật quôc tê không còn đon thuân là luật điêu chỉnh quan hệ giữa các quôc gia Mặc dù vậy, thuật ngữ « luật quốc tế » vẫn còn tiếp tục được áp dụng do vai trò trung tâm của các quốc gia trong hoạt động của xã hội quốc tế
1.4 Quy phạm pháp luật quốc tế
Quy phạm pháp luật quốc tế là bộ phận cấu thành nhỏ nhất của luật quôc tê (1.4.1) Các quy phạm này có thê được chia thành nhiều nhóm khác nhau, dựa trên những tiêu chí khác nhau (1.4.2)
1.4.1 Khải niệm quy phạm pháp luật quốc tế
Quy phạm pháp luật quốc tế được hiểu như là những quy tắc xử sự do các chủ thể của luật quốc tế thỏa thuận xây dụng nên hoặc cùng nhau thừa nhận giá trị pháp lý Các quy tắc đó ghi nhận các quyền và nghĩa vụ pháp lý cũng như khả năng gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế của các chủ thế của luật quốc
tế Chúng có giá trị ràng buộc đổi với các chủ thể luật quốc tế và
là công cụ để điều chỉnh các quan hệ quốc tế
Các quy phạm quốc tế là cơ sở pháp lý để đánh giả tính hợp pháp của các hành vi của các chủ thể của luật quốc tế khi tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế Sự vi phạm các quy phạm luật quốc tế là cơ sở để xác định trách nhiệm pháp lý quốc tế Quy phạm luật quốc tế được xem là thành tố nhỏ nhất, hạt nhân của hệ thống luật quốc tê Trên cơ sở các quy phạm luật quốc tế, các chế định luật quốc tế và các ngành cúa luật quốc tế được hình thành căn cứ vào từng loại quan hệ pháp luật quốc tế cụ thể mà những quy phạm trong chế định, ngành luật
đó điều chỉnh
22
Trang 24Trong quan hệ quốc tế, ngoài các quy phạm luật quốc tế còn có các quy tắc ứng xử, thông lệ, lễ nhượng quốc tế, các quy phạm đạo đức, chính trị quốc tế Những quy tắc này có vai trò tích cực trong việc góp phần điều chỉnh hoạt động của các chủ thể luật quốc tế với nhau và thường tồn tại trong các quan hệ quốc tế về nghi lễ ngoại giao hoặc các quan hệ đối ngoại khác Khác với các quy phạm luật quốc tế, chúng không có hiệu lực bắt buộc đối với các chủ thể của luật quốc tế.
1.4.2 Phân loại quy phạm pháp luật quốc tế
Các quy phạm luật quốc tế có thể được phân loại dựa vào các tiêu chí sau đây:
Thứ nhắt, căn cứ vào nội dung và vị trí trong hệ thống luật quốc tế, có các nguyên tắc và quy phạm thông thường Trong đó các nguyên tăc là những quy phạm chứa đựng nội dung cô đọng,
có vai trò quan trọng nhất và có giá trị pháp lý cao hom so với các quy phạm thông thường
Thứ hai, căn cứ vào phạm vi tác động của các quy phạm (không gian tác động) có quy phạm luật quốc tế phổ cập và quy phạm luật quốc tế khu vực Các quy phạm phổ cập được ghi nhận trong các điều ước đa phưomg mang tính toàn cầu, trong đó
có sự tham gia của đại đa số các quốc gia và các chủ thê khác của luật quốc tế trên toàn thế giới Những quy phạm này có hiệu lực pháp lý bắt buộc chung, và việc xây dựng và thay đổi chúng được cả cộng đồng quốc tế tham gia thực hiện Các quy phạm khu vực do một nhóm các quốc gia, chủ thể nhất định của luật quốc tế xây dựng hoặc tham gia Chúng chỉ có giá trị pháp lý băt buộc đối với các quốc gia, chủ thê đó
Thứ ba, căn cứ vào giá trị pháp lý có quy phạm mệnh lệnh
(Jus cogens) và quy phạm tùy nghi Trong đó các quy phạm ju s cogens tồn tại dưới dạng điêu ước và cả tập quán Các quy phạm
ju s cogens có giá trị hiệu lực tuyệt đôi trong tât cả các lĩnh vực của quan hệ quốc tế, có giá trị pháp lý trên phạm vi toàn cầu và
23
Trang 25là thước đo giá trị pháp lý cho các loại quy phạm khác Tính chất tối cao vê giá trị pháp lý của những quy phạm này còn thê hiện ở việc các chủ thể của luật quốc tế không có quyền loại bỏ chúng ngay cả khi có sự thỏa thuận giữa họ với nhau.
Các quy phạm tùy nghi là những quy phạm cho phép các chủ thể luật quốc tế có khả năng tự mình xác định phạm vi quyền
và nghĩa vụ giữa các bên và khả năng áp dụng riêng phù hợp với hoàn cảnh thực tê, ví dụ như các quy phạm vê xác định chiêu rộng lãnh hải của một quốc gia ven biển trong Công ước về luật biển 1982 Các quy phạm loại này nêu nhiêu cách xử sự khác nhau để các chủ thể áp dụng cho từng điêu kiện, hoàn cảnh cụ thể và do đó, các chủ thể có khả năng áp dụng linh hoạt hơn so với các quy phạm ju s cogens. >
Thứ tư, căn cứ vào phương thức hình thành và hình thức tồn tại có quy phạm điều ước và quy phạm tập quán
Lý luận về quy phạm luật quốc tế cũng đông thời giúp phân biệt giữa chúng với các quy phạm chính trị quôc tê và quy phạm đạo đức quốc tế
Các quy phạm chính trị quốc tế cũng là kết quả của sự thỏa thuận, thống nhât ý chí giữa các chủ thê luật quôc tê trên cơ sở hiểu biết, tin cậy, tôn trọng lẫn nhau Những quy phạm chính trị thường được quy định trọng các tuyên bố của các quốc gia hoặc trong các văn kiện chính trị của hội nghị, tô chức quôc tê.12 Khác với các quy phạm luật quốc tế, các quy phạm chính trị không có tính chất bắt buộc, do đó việc thực hiện chúng mang tính mềm dẻo và linh hoạt hơn và phụ thuộc rất nhiêu vào thiện chí của các bên khi tuân thủ Một quốc gia có thể đông thời ràng buộc mình với các quy phạm chính trị và quy phạm luật quôc tê, tuy nhiên khi có sự xung đột giữa các quy phạm này thì áp dụng quy phạm luật quốc tế để xác định quyền và nghĩa vụ cụ thê của quôc gia,
12 Ví dụ như Tuyên bố hòa hợp ASEAN ký tại Bali năm 1976, Tuyên bố về cách ứng xù của các bên ở biển Đông năm 2002.
24
Trang 26căn cứ vào đó để xác định trách nhiệm pháp lý quốc tế trong trường hợp có sự vi phạm.
Quy phạm đạo đức quốc tế là những quy phạm hình thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế dựa trên các chuẩn mực đạo đức quốc tế Các quy phạm đạo đức thường thể hiện trong các lĩnh vực như y tế, nhân đạo, giáo dục được các quốc gia thừa nhận
và tuân thủ trên tinh thần tự nguyện và thiện chí Cũng như các quy phạm chính trị, các quy phạm loại này không có giá trị pháp
lý bắt buộc Mặc dù vậy, các quy phạm đạo đức cũng có khá năng trở thành quy phạm luật quốc tế một khi các chủ thể thỏa thuận và thống nhất thừa nhận giá trị và vai ừò ảnh hưởng của chúng trong quan hệ quốc tế
II ĐẶC TRƯNG CỦA LUẬT QUÓC TÉ
Với tư cách là một hệ thống pháp luật độc lập, luật quốc tế
có những diêm khác biệt rõ ràng nêu lây những đặc diêm của luật quốc gia làm chuân mực để xem xét và đánh giá Chính vì vậy, hệ thống pháp luật quốc tế có thể được coi là một hệ thống luật rất
« khác biệt » hay « đặc biệt » so với hệ thống pháp luật quốc gia (2.1) Những khác biệt đó, cũng như bản chất thỏa thuận của luật quốc tế (2.2) là lý do khiến một số người có thể nhận định rằng luật quốc tế không tồn tại (2.3) Dù sao đi nữa, ngày nay, không ai còn có thê phủ nhận vai trò quan trọng của luật quốc tê (2.4)
2.1 Những khác biệt cơ bản của luật quốc tế so vói luật quốc gia
Thứ nhất, về đổi tượng điều chỉnh, nếu đối tượng điệu chỉnh của luật quốc gia là quan hệ giữa các chủ thê của luật quôc gia thì đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế là quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế Luật quốc gia thường được hiêu là luật điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể: nhà nước, cá nhân, pháp nhân ở trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia Trong khi đó, luật quốc tế chủ yếu điều chỉnh quan hệ quốc tế, giữa các quôc gia, các tổ chức quốc tế và các chủ thế khác của luật quốc tê ơ
25
Trang 27đây cần phân biệt quan hệ này với các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được thiết lập giữa các cá nhân, pháp nhân có quốc tịch khác nhau được điều chỉnh bởi tư pháp quốc tế.
Khi đề cập sự khác biệt giữa hai hệ thống pháp luật quốc tế
và pháp luật quốc gia thì tính chất « liên quốc gia » thương được nhắc đến như một tiêu chí cơ bản Đặc trưng về đối tương điều chinh của luật quốc tế hàm chứa hai yếu tố chính Môt là, các quan hệ thuộc điêu chỉnh của luật quốc tế là những quan hệ phát sinh ương mọi lĩnh vực chính trị, kinh tê, xã hội vượt khỏi phạm
vi lãnh thổ của các quốc gia Hai là, những quan hệ này là những quan hệ chỉ phát sinh giữa các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế mà thôi
Thứ hai, về phương thức'xây dựng pháp luật, nếu như luật quốc gia thường được xây dựng bởi một cơ quan làm luật là cơ quan quyền lực cao nhất của quốc gia, đại diện cho ý chí của nhân dân thì luật quốc tế được xây dựng thông qua sự thỏa thuận
và thừa nhận của các chủ thể của luật quốc tế trển cơ sở tự nguyện, bình đăng Điêu này cũng có nghĩa là không tồn tại một
cơ quan lập pháp quốc tế chung giống như cơ quan lập pháp quôc gia Cơ sở của vân đê này^ là quan hệ quôc tế trước tiên và
cơ bản là quan hệ giữa các quôc gia, đây là những thực thể có chủ quyền và bình đăng vê phương diện pháp lý Chính vì lẽ đó không thể có sự tôn tại của một cơ quan tập trung có chức năng lập pháp quốc tế để ban hành, ấn định các quy phạm pháp luật ràng buộc các chủ thê của luật quôc tê Sự tôn tại của một cơ quan lập pháp quốc tế như vậy không phản ánh được bản chất của luật quốc tế lả sự thỏa thuận, thống nhất về ý chí giữa các chủ thể luật quốc tế
Ngoài ra, việc không tồn tại một cơ quan lập pháp quốc tế chung có thể dẫn đến những sỵr khác biệt về cấu truc của hai hệ thống pháp luật Trong luật quốc gia, các quy phạm pháp luật có thể được sắp xêp theo thứ bậc tương đối rõ ràng Ví dụ, hiến pháp có giá trị cao nhât trong hệ thống văn bản luật, kế đến là26
Trang 28các luật và văn bản dưới luật Hay trong các quốc gia theo hệ thông thông luật, các quy định xuât phát từ án lệ của tòa cấp càng cao sẽ có giá trị càng lớn Trong khi đó, các quy phạm trong luật quôc tê không được ban hành bởi một cơ quan lập pháp quôc tê, do đó hệ thống pháp luật quốc tế là một tổng thể các quy phạm mà trong đó không có sự sắp xếp một cách hệ thông, có thứ bậc, vị trí rõ ràng như trong hệ thống pháp luật quôc gia Bản thân khoản 3 Điều 38 Quy chế của Tòa án Công lý quôc tê vê các loại nguồn của luật quốc tể cũng không xác đ ịn h
một cách rõ ràng thứ bậc của các loại nguồn
Mặc dù vậy, trong luật quốc tế vẫn có sự phân chia thứ bậc dựa trên những nguyên tắc cơ bản của luật điều ước quốc tế như nguyên tăc « luật sau ưu tiên hơn luật trước» (/ex posterior derogat priori), hoặc « luật riêng ưu tiên hơn luật chung » (lex specialis derogat generali), hoặc việc áp dụng một cách ưu tiên quy phạm điêu ước so với quy phạm tập quán quốc tế Thêm vào đó, theo Điêu 53 và 62 của Công ước Vienna về luật điều ước quốc tê, những quy phạm ju s cogens là các « quy phạm bắt buộc cua pháp luật quôc tê không thể vi phạm » và làm cho các điều ước vi phạm nó trờ nên vô hiệu Sở dĩ giải pháp này được đưa ra là vì dựa trên ý chí của các quốc gia, các điều ước quốc tế được xây dựng trên nhiêu lĩnh vực, tại nhiều thời điểm khác nhau, có phạm vi điêu chỉnh nhiều lúc chồng lấn nhau Điều này dẫn đến khả năng xung đột trong việc lựa chọn, áp dụng và giải thích luật cũng như tạo khó khăn khi xét xử tranh chấp giữa các chủ thể của luật quốc tế
Thứ ba, về chủ thế của luật, nếu chủ thể của pháp luật quôc gia là nhà nước (đại diện bởi các cơ quan công quyền), các cá nhân, pháp nhân thì chù thể cùa pháp luật quốc tế là các quốc gia,
tổ chức quốc tế liên chính phủ, các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết và một sổ vùng lãnh thổ có quy chế đặc biệt Sự khác biệt rõ rệt giữa hai hệ thống pháp luật này còn được thể hiện qua vị trí và vai trò của từng loại chủ thể tham gia quan hệ pháp
27
Trang 29luật mà mỗi hệ thống điều chỉnh Trong pháp luật quốc gia, cá nhân và pháp nhân là hai chủ thể cơ bản và chủ yếu nhất có khả năng tham gia vào hầu hết các quan hệ pháp luật Quốc gia/nhà nước trong luật quốc gia chỉ có sự tham gia nhất định vào một số quan hệ pháp luật đặc thù như hành chính, hình sự hoặc thậm chí trong quan hệ pháp luật dân sự với tư cách là một chủ thể đặc biệt Trong pháp luật quốc tế, quốc gia là một chủ thể cơ bản và chủ yếu tham gia vào tất cả các quan hệ pháp luật quốc tế Cho đến nay, về nguyên tắc, luật quốc tế hiện đại vẫn không thừa nhận tư cách chủ thể luật quốc tế của các cá nhân và pháp nhân.
Cũng cần phải thấy ràng, quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc gia có sự bất bình đẳng: quốc gia là chủ thể đặc biệt, có quyền quan trọng trong việc cíii phối, xác lập địa vị pháp lý của các chủ thể còn lại, thông qua việc thiết lập các quy tắc pháp lý
mà các chủ thể này buộc phải tuân thủ Đây chỉnh là quyền tối cao của quốc gia trong việc tổ chức, quản lý xã hội Trong khi
đó, các chủ thể chù yếu của luật quốc tế - các quốc gia - có quan
hệ bình đẳng, không phụ thuộc vào chế độ chính trị, diện tích, dân số, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Trong luật quốc tế, không chủ thể nào có vai trò giống như nhà nước trong luật quốc gia Do đó, các quy phạm của luật quốc tế chỉ có thể được ra đời và thực hiện nếu chính các chủ thể của luật quốc tế
tự nguyện xây dựng hoặc thông qua
Thứ tư, về phương thức thực thi pháp luật, việc thực thi pháp luật quốc gia được thực hiện một cách tập trung, thống nhất, thông qua hoạt động và phối họp của hệ thống các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như quân đội, cơ quan kiểm sát, cơ quan tòa án, cảnh sát, nhà tù Hệ thống các cơ quan này được lập
ra nhằm đảm bảo thi hành pháp luật cũng như đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng bởi tất cả các cá nhân và tổ chức trong quốc gia đó Hệ thống cơ quan với những đặc điểm như trên không tồn28
Trang 30tại trong quan hệ pháp luật quốc tế Nói cách khác, trong luật quốc tế không có một hệ thống các cơ quan chuyên biệt và tập trung làm nhiệm vụ đảm bảo thi hành luật quốc tế về mặt lý luận, quan hệ quốc tế trước tiên và chủ yếu là quan hệ giữa các quốc gia độc lập có chủ quyền và bình đẳng với nhau về pháp lý,
do đó việc tồn tại một hệ thống cơ quan đảm bảo thi hành hoặc cưỡng chế thi hành luật quốc tế tập trung sẽ được hiểu như vi phạm đến sự bình đẳng giữa các quốc gia Mặt khác, hệ thống các nguyên tắc và quy phạm của luật quốc tế là do chính các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế xây dựng nên trên
cơ sở tự nguyện, thông qua đấu tranh và thương lượng, chính vì vậy, việc tuân thủ các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quôc tê này cũng dựa trên cơ sở tự nguyện Sự cưỡng chế thi hành luật quốc tế nếu có cũng phải do chính các quốc gia và các chủ thê khác của luật quốc tế thực hiện Do đó, không thể cho rằng trong luật quốc tế không tồn tại các biện pháp chế tài Điểm khác biệt
so với luật quốc gia là ở chỗ, các biện pháp chế tài cá thể (như tự
vệ, trả đũa hợp pháp, trừng phạt) hoặc tập thể (như trừng phạt phi vũ trang hoặc vũ trang) là do chính các chủ thể luật quôc tê
tự thực hiện
Trường hợp việc cưỡng chế thực hiện pháp luật quôc tê được tiến hành bời một cơ quan chuyên biệt, ví dụ như LHQ, cũng không thể được xem là một bằng chúng cho thây sự tôn tại của một cơ quan cưỡng chế tập trung, bởi lẽ khi này, tô chức LHQ thực thi nhiệm vụ đó trên cơ sở sự cho phép/trao quyên của chính các quốc gia thành viên để nhằm đạt đến mục tiêu cao cả là bảo vệ hòa bình và an ninh thế giới.13
13 Điều 24 Hiến chương LHỌ quy định :
« Đê đảm báo cho LHQ hành dộng nhanh chóng và có hiệu quà, các thìmh viên LHQ trao cho Hội đồng Bão an trách nhiệm chinh trong sự nghiệp duy trì hòa bình và an ninh quốc tế và thừa nhận rằng, khi lctm những nghĩa vụ do
29
Trang 31Luật quốc tế thông thường ghi nhận quyền của quốc gia bị thiệt hại trong việc khởi kiện một quốc gia khác do có hành vi vi phạm pháp luật quốc tế Quyền khởi kiện được thừa nhận không chỉ đối với quốc gia bị thiệt hại mà còn đối với tất cả các quôc gia nếu sự vi phạm đó làm phương hại đến lợi ích chung của nhân loại Đây được coi là một quyền lợi chung của mọi quôc gia
(ergơ omnes).u Hiện nay, chức năng đảm bảo tuân thủ pháp luật quốc tế có thể được thực hiện thông qua những kênh khác nhau Chẳng hạn, các quy định của Hiến chương LHQ được đảm bảo thực hiện bời các cơ chế quy định tại chính Hiến chương Đặc biệt, Hội đồng Bảo an có chức năng hành động trong những trường hợp có vi phạm nghiêm trọng và kéo dài đối với quyền con người Việc Hội đồng thông qua các nghị quyết thành lập hai tòa hình sự quốc tế đối voi các trường hợp Nam Tư cũ và Rwanda nhàm trừng phạt các hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyên con người là ví dụ thê hiện vai trò tích cực của Hội đồng Bảo an trong lĩnh vực này vào thời kỳ sau chiến tranh lạnh Bên cạnh đó, nhiều điều ước quốc tế cũng quy định những cơ chế xét
xử bắt buộc để giải quyết tranh chấp liên quan đến điều ước Có thể kể đến Cơ quan giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương 14
trách nhiệm ấy đặt ra, thì Mội đồng Bảo an hành động với tư cách thay mặt cho các thành viên cùa LHQ;
Trong khi thực hiện những nghĩa vụ đó, Hội đồng Bảo an hành động theo đúng những mttc đích và nguyên tặc cùa LHQ Những quyền hạn nhat định được trao cho Hội đông Bảo an đê Hội đông Báo an có thế làm tròn những nghĩa vụ ẩy, được quy định ớ các chương VI, Vlỉ VIII và XII »
14 Quyền này được khẳng định tại phán quyết của Tòa án Quốc tế trong vụ
Công ty máy kéo, đèn và năng lượng Barcelona (Barcelona Traction, Light and Power Company) giữa Bi và Tây Ban Nha năm 1972 nhu sau: « cần phân biệt giữa nghĩa vụ cùa các quôc gia đôi với cộng đông quác tê nói chung
và nghĩa vụ phát sinh đối với một quôc gia khác trong lĩnh vực bảo hộ ngoại giao Bới về mặt bàn chất, những nghĩa vụ chung đôi với cộng đồng quốc tế là môi quan tâm cùa tất cà các quôc gia Vê tâm quan trọng của các quyên liên quan, tất cà các quốc gia được coi là đểu có một lợi ích pháp lý trong sự bào
vệ cùa họ, chúng là những quyên lợi chung ("erga omnesj ».
30
Trang 32mại thế giới (World Trade Organization, WTO), Tòa công lý của châu Âu, Tòa công lý của các quốc gia Caribean và một số cơ quan giải quyết tranh chấp khác Ngoài ra, có thể kể đến Tòa án hình sự quốc tế, có trách nhiệm xét xử và trừng phạt những cá nhân chịu trách nhiệm về những vi phạm nghiêm trọng nhất đối với luật nhân quyền và nhân đạo quốc tế.
N hư vậy, liên quan đến vấn đề đảm bảo thi hành pháp luật, điểm quan trọng nhất là hệ thống các nguyên tắc và quy phạm của luật quốc tế trong đa số trường hợp được thực thi bởi sự tự nguyện của các quốc gia v ấ n đề đặt ra là: hậu quả từ việc không tuân thủ luật quốc tế là gì? Có thể thấy, việc không thực thi luật quốc tế có thể dẫn đến những hậu quả rất bất lợi cho quốc gia như: (i) danh dự của quốc gia bị ảnh hưởng; (ii) trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại, các quốc gia bị thiệt hại sẽ không áp dụng nghĩa vụ của mình đối với quốc gia bị vi phạm; (iii) các quôc gia bị thiệt hại có thể sẽ áp dụng hành vi trả đũa Dư luận của nhân dân trên thế giới (trong và ngoài quốc gia có hành vi liên quan) cũng góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự tôn trọng luật quốc tế các của quốc gia.15
2.2 Bản chất của luật quốc tế
Bản chất của luật quốc tế chính là sự thỏa thuận ý chí giữa các chủ thể của luật quốc tế, chủ yếu là các quốc gia độc lập, bình đẳng về chủ quyền Sự thỏa thuận giữa các quốc gia sụy cho cùng đều nhằm hướng đến và phục vụ cho lợi ích của quôc gia, cũng chính là của giai cấp cầm quyền Vì vậy, có thê nói răng luật quốc tế luôn phản ánh sự đấu tranh và nhân nhượng, thỏa hiệp và thương lượng giữa các quốc gia mà mục đích chính là nhàm phục V Ị I cho lợi ích của giai' cấp cầm quyền ở mỗi quôc gia Bất kỳ vấn đề nào cần được điều chỉnh bằng các quy phạm
15 Xem chương Trách nhiệm pháp !ý quốc tể của giáo trình này.
31
Trang 33luật quốc tế đều là kết quả của quá trình đấu tranh và thương lượng đó Điều này được phản ánh một cách rõ nét thông qua việc ghi nhận và xây dựng những quy phạm điều chỉnh những lĩnh vực mới của quan hệ quốc tế như việc đàm phán và thông qua Công ước của LHQ về luật biển năm 1982;16 quá trình ghi nhận những nguyên tắc của luật môi trường quốc tế 17 cũng như các quy tắc điều chỉnh hoạt động hàng không dân dụng và chinh phục khoảng không vũ trụ Thực tê cho thây trong hệ thông các nguyên tắc và quy phạm luật quốc tế, các quy phạm tùy nghi chiếm đa số Đây cũng là cơ sở để khẳng định bản chất của luật quốc tế là sự thỏa thuận.
Bản chất thỏa thuận, thống nhất ý chí, hài hòa lợi ích của các quốc gia giúp làm sáng’tỏ thực tế rằng pháp luật quốc tế có
sự liên hệ với pháp luật quốc gia mà ờ đó luật quốc gia đóng vai trò xuất phát điểm Chính vì vậy, không thể phủ nhận quan điểm cho rằng nhiều quy phạm pháp luật quốc tế có nguồn gốc từ pháp luật quốc gia bởi chính các quốc gia khi xây dựng pháp luật quốc
tế đã cố gắng đưa tư tưởng pháp lý chỉ đạo, nguyên tắc và quy định của pháp luật nước mình vào trong quá trình đàm phán Và điều này cũng giúp làm sáng tỏ thực tế là ảnh hưởng của những nước lớn, mạnh đến quá trình hình thành và phát triển luật quốc
tế dường như khó tránh khỏi
2.3 Tranh luận về sự tần tại của luật quốc tế
Những đặc trưng của luật quốc tế khiến cho đến tận hôm nay, nhất là khi khủng hoảng trong quan hệ liên quốc gia diễn ra trên nhiều bình diện, câu hỏi « Luật quốc tế - tồn tại hay không tồn tại? » tưởng như đã được giải quyết dứt khoát, đôi khi vẫn bị đặt ra Điều này xuất phát từ câu hỏi liệu « quốc gia » - một chủ
16 Xem chuơng Luật Biển quốc tế của giáo trình này.
17 Xem chương Luật Môi trường quôc tê cùa giáo trình này.
32
Trang 34thể hùng mạnh với chủ quyền của mình có thể bị ràng buộc bởi các quy phạm « luật quốc tế » hay không? Thêm vào đó, thực tiễn tồn tại của các cuộc chiến tranh, của bạo lực và khủng hoảng trên phạm vi quốc tế khiến cho sự ngờ vực về hiệu lực, thậm chí
sự tồn tại của hệ thống quy phạm điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia dường như có cơ sở Cuối cùng, sự thiếu vắng của cấu trúc quy phạm tương đương với cấu trúc luật quốc gia khiến người ta nghi ngờ liệu luật quốc tế có phải là một hệ thống quy phạm thực sự?
Một số học giả luật quốc tế đưa ra quan điểm cứng nhắc để giải quyết những câu hỏi trên Theo đó, một xã hội điều chỉnh bởi pháp luật phải thỏa mãn 3 điều kiện: có một cơ quan làm luật, có
hệ thống tòa án để áp dụng luật nhằm điều chỉnh các tranh chấp và
có cơ quan cảnh sát để trừng phạt mỗi khi có vi phạm pháp luật xảy ra Pháp luật quốc gia tồn tại và được tôn trọng bởi trong mọi quốc gia đều có những yếu tố nói trên Từ đó, các học giả này nghi ngờ sự tôn tại của luật quốc tế, bởi trong xã hội quốc tế không tôn tại bộ ba: nhà làm luật - tòa án - cảnh sát.18
M ột số khác, như tác giả A dolf Lasson và Hans J
M orgenthau người Đức, Lundstedt người Thụy Điển, Raymond Aron người Pháp lại cho ràng: quan hệ giữa các quốc gia được giải quyết dựa trên sức mạnh và chủ quyền quốc gia, do đó khi muốn, quốc gia có quyền tuyên bố chiến tranh Các điều ước quôc tê không tạo nên một hành lang pháp lý ổn định mà chỉ thê hiện một cách tạm thời tương quan sức mạnh giữa các quôc gia Mọi quốc gia, nếu có sức mạnh đủ để áp đặt ý chí của mình, đêu
có thể phá bỏ một cách đơn phương những điều ước quốc tế đi ngược lại lợi ích của mình Dè dặt hơn, có tác giả, như John
18 Georges Scelle là một trong những tác già thuộc trường phái này Xem tông hợp cùa Nguyễn Quốc Định, Patrick Dail'ier, Alain Pellet, Công pháp quốc tê (Droit international public), LGDJ, Paris, 2002, tr 85 — 86.
33
Trang 35Austin người Anh, cho rằng cái gọi là « luật quốc tế » chỉ là một tập hợp những quy tắc đạo đức quốc tể.19
Trái lại, một số học giả20 lại cho rằng luật quốc tế chỉ là một bộ phận của luật quốc gia áp dụng trong quan hệ đối ngoại Nói cách khác, luật công chia ra làm hai nhánh: ngoài luật công điều chỉnh quan hệ quốc nội còn có một bộ phận luật công khác
áp dụng cho quan hệ đôi ngoại và đây chính là « luật quốc tế » Những người theo trường phái này (trường phái Bonn của Seyden, cha con Zorn, Jauffmann, Wendel và của Decencière - Ferrandière, Georges Burdeau của Pháp) lập luận công pháp áp dụng cho quan hệ đôi ngoại do quốc gia xây dựng nên bởi lẽ không có chủ thê nào cao hơn quốc gia Hơn nữa, công pháp áp dụng cho quan hệ đôi ngoại còn có thể được xếp vào một bộ phận của luật hiên pháp Luật này quy định các cơ quan nhà nước có thâm quyên đại diện quôc gia trong quan hệ với các quốc gia khác, ký kết các điều ước quốc tế và điều chỉnh các thủ tục để khiến các điều ước này có giá trị bắt buộc
Mặc dầu vậy, khoa học pháp lý quốc tế khẳng định sự tồn tại của hệ thống luật quốc tế Quan điểm này được lý giải bởi một số lý do:
Thứ nhất, sự tồn tại của luật quốc tế được chứng minh trên thực tiễn Chính sự tôn tại của hệ thống luật quốc tế cho đến ngày nay là kết quả của quá trình xây dựng, phát triển và áp dung luật quốc tế một cách lâu dài và liên tục Sự tồn tại của luât quốc
tế còn được thể hiện ờ chồ nó được các quốc gia, cũng như các nhà chính trị, các tổ chức quốc tế thừa nhận và viện dẫn Thưc tế cho thấy các quốc gia ngày nay thường rất quan tâm đến luật quốc tế khi thực hiện các chính sách đối ngoại của mình Sự tồn tại của các nguyên tăc và quy phạm pháp luật quốc tế làm giảm
19 Idem, tr 86-87.
20 Idem.
34
Trang 36tại của các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế làm giảm thiêu khả năng lợi dụng sức mạnh hoặc cố tình vi phạm của một
số quốc gia Mặc dù tính hiệu quả và khách quan của việc áp dụng luật quốc tế là vấn đề còn tranh cãi, thực tiễn quan hệ quốc
tế, đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh lạnh, cho thấy sự tồn tại tích cực của luật quốc tế Điều này được m inh chứng qua việc luật quốc tế ngăn chặn các nguy cơ chiến tranh hoặc xung đột vũ trang, các thảm họa hạt nhân cũng như giúp dàn xếp các mâu thuẫn, bất đồng thông qua các phương thức giải quyết tranh chấp quốc tế sẵn có trong luật quốc té.21 N ói cách khác, luật quốc tế tồn tại bởi nó được thừa nhận bởi các quốc gia, những chủ thể phải tuân theo luật quốc tế; và các thẩm phán quốc gia hay quốc
tế, những người phải đảm bảo sự thực hiện luật quốc tế
Sự thừa nhận luật quốc tế của các quốc gia được biểu hiện qua nhiêu phương thức khác nhau Hiến pháp của nhiều quôc gia thê hiện sự thừa nhận này.22 Trong các quan hệ quôc tê, các quôc gia đêu sử dụng những quy tắc của luật quốc tế làm cơ sờ cho quan diêm của mình Trong Bộ ngoại giao các nước đêu có bộ phận chuyên về pháp luật quốc tế
M ột thực tế khác là các quốc gia tham gia ngày càng đông đảo vào các tổ chức quốc tế và nhất là vào hệ thống LHQ Một trong những nghĩa vụ nền tảng có ý nghĩa bắt buộc đối với thành viên của các tổ chức này, đó là tôn trọng luật quốc tế Lời m ờ
21 Những tranh chấp quốc tế trong thời kỳ chiến tranh lạnh điển hình là cuộc khùng hoàng Cuba 1962, chiến tranh Á Rập — Israel 1967, xung đột biên giới Liên Xô — Trung Quốc 1969, chiến tranh biên giới Trung Quôc — An Độ 1962
22 Ví dụ, Điều 25 cùa Hiến pháp CHXHCN Việt Nam năm 1992 quỵ định :
«Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp vớt pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế » Lời mờ đầu cùa Hiến pháp CH Pháp ghi nhận: « Cộng hòa Pháp, trung thành với truyền thống cùa mình, tuân thủ quốc tế công pháp » Điêu
10 Hiến pháp Ý khăng định: « Trật tự pháp lý cùa Ỷ tuân thú các quy tắc cĩta luật quốc tế được công nhận rộng rãi »
35
Trang 37đầu của Hiến chương LHQ 1947 ghi nhận: « Chúng tôi, nhân dân các nước liên hiệp lại quyết tâm ( ) tạo mọi điều kiện cần thiết để giữ gìn công lý và tôn trọng những nghĩa vụ do những điêu ước và các nguồn khác của luật quôc tê đặt ra ( ) » Sự thừa nhận luật quốc tế của các quốc gia dẫn đến việc luật quốc tế được áp dụng bởi các tòa án quốc nội, và việc áp dụng luật quốc
tế là lý do tồn tại của các tòa án quốc tế Ví dụ, Điều 38 Quy chế Tòa án công lý (TACL) của LHQ khẳng định Tòa án có chức năng « giải quyết phù hợp với luật quốc tế các vụ tranh chấp được chuyển đến Tòa án »
Thứ hai, về lý luận, quan điểm cho rằng luật quốc tế không tồn tại bởi không có cơ quan làm luật và hệ thống đảm bảo thi hành luật như tòa án, quân đội, cảnh sát trong quan hệ quốc tế mang tính thiển cận và cứng nhắc Mặc dù không có một cơ quan thống nhất và chuyên biệt để ban hành luật quốc tế, cũng như bất
cứ hệ thống quy phạm luật nào khác, luật quốc tế vẫn được xây dựng thông qua một quá trình chính thức với sự tham gia cùa các quốc gia trong tư cách vừa là chủ thể xây dựng, vừa là đổi tượng điều chỉnh của luật quốc tế Đông thời, ở những mức độ khác nhau, việc đảm bảo áp dụng luật quôc tế vẫn được thực hiện bởi các cơ quan giải quyết tranh chấp Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO là một trong những ví dụ điên hình của sự hiệu quả trong việc đảm bảo áp dụng luật quôc tê Cuối cùng, quan điểm cho rằng chỉ có luật khi có cơ quan làm luật và hệ thống cơ quan đảm bảo thi hành là không vững chăc Trước kia, trong xã hội phong kiến, luật cũng không được làm ra bời một cơ quan lập pháp có quyền lực cao nhất mà được xây dựng thông qua thỏa thuận giữa các lãnh chúa Chưa kê đên việc ngày nay, nhiều quy phạm luật quốc tế cũng được bảo đảm thi hành thông qua những
cơ chế rất hiệu quả Luật của Liên minh châu Âu là một ví dụ
Thứ ba, quan điểm theo đó, quan hệ giữa các quốc gia chỉ được điều chỉnh bời sức mạnh rõ ràng mang tính phiến diện Mặc36
Trang 38dù tương quan sức mạnh đóng vai trò quan trọng trong thực tiễn quan hệ giữa các quốc gia, điều này cũng không đủ tạo cơ sở để kết luận rằng luật quốc tế không tồn tại Trên thực tiễn, sự tồn tại
và phát triển của hệ thống pháp luật quốc tế, đặc biệt là luật quốc
tê hiện đại cho thấy, không phải lúc nào những nước lớn cũng có thê dễ dàng áp đặt ý chí của m ình đối với các nước nhỏ Điều này được thể hiện qua kết quả của m ột số vụ kiện trong đó các nước nhỏ đã vận dụng luật quốc tế để bảo vệ quyền lợi của mình, góp phần đem lại sự công bằng trong quan hệ quốc tế Vụ Nicaragua kiện Mỹ năm 1986 là m ột minh chứng cụ thể M ột minh chứng nữa là sự tham gia tích cực của các quốc gia đang phát triển vào quá trình giải quyết tranh chấp tại WTO Trong nhiêu vụ kiện, các quốc gia này đã giành thắng lợi trước những cường quốc kinh tế hàng đầu như Mỹ và Liên m inh châu Âu
Thứ tư, nhìn vào quá trình phát triển của luật quốc tế, khăng định sự thiếu vắng của cơ chế cảnh sát và trừng phạt trong quan hệ quốc tế cũng ngày càng trở nên lỗi thời Luật quốc tế hiện đại cấm các quốc gia đơn phương sử dụng vũ lực để tự thi hành luật Đồng thời, một số cơ chế trừng phạt trong luật quôc tê
đã được ra đời và có hiệu lực nhất định Có thể kể đến các quỵ định tại Chương VII của Hiến chương LHQ, tại Bản ghi nhớ vê thủ tục và cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO hay trong luật của một số tổ chức khu vực Cũng cần khẳng định ràng, mặc dù một quốc gia vi phạm luật quốc tế không thể bị trừng phạt theo các cách thức như trong pháp luật quốc gia, ví dụ như kết án và
áp dụng hình phạt tù, nhưng sự vi phạm này hoàn toàn có thê dân đên hậu quả quốc gia vi phạm đó sẽ bị lên án tẩy chay, thậm chí
bị cấm vận trong các quan hệ quốc tế Điều này rõ ràng ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định của quốc gia trong việc tuân thủ luật quốc tế Cuối cùng, vê mặt lý luận, việc tôn tại cơ chê trìmg phạt là nhằm góp phần đảm bảo hiệu lực của các quy phạm pháp luật quốc tế mà không phải là điều kiện cho sự tồn tại của các quy phạm này Một số ngành luật quốc gia, chẳng hạn như
37
Trang 39luật hiến pháp, hầu như không có quy định về cơ chế trừng phạt Tuy nhiên, không ai bàn cãi về sự tồn tại của các ngành luật này.Vấn đề đặt ra là làm thế nào để dung hòa giữa sự tồn tại của luật quốc tế và chủ quyền của các quốc gia? Trong xã hội quốc tế, các quốc gia có chủ quyền cùng tồn tại một cách bình đẳng và mỗi quốc gia đều mong muốn sử dụng tối đa mọi quyền chủ quyền của mình Trong bối cảnh này, những quy phạm để điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia là vô cùng cần thiết Thậm chí, có thể nói, sự ra đời củạ các quy phạm đó là hệ quả của việc thực thi chủ quyền quốc gia Bởi lẽ một quốc gia không thể thực hiện đầy đủ chủ quyền của mình nếu hoàn toàn bị cô lập Một quốc gia có chủ quyền có nghĩa là quốc gia đó không thể bị chi phối bời quốc gia khác, tuỳ nhiên quốc gia phải tuân theo một số quy tắc tối thiểu để đảm bảo rằng các quốc gia khác cũng được hưởng những quyền lợi của mình.23 Như vậy, sự tồn tại của chủ quyền quốc gia không loại trừ sự tồn tại của luật quốc tế mà sẽ trở thành một yếu tố không thể bỏ qua khi nghiên cứu luật quốc
tế Sự tồn tại của chủ quyền chỉ khiến cho quan hệ quốc tế ngày nay mang đậm tính hợp tác thay vì phụ thuộc
Nói tóm lại, luật quốc tế có những đặc trưng khác biệt với luật quốc gia Những điểm khác biệt giữa luật quốc tế và luật quốc gia đều khởi nguồn từ yếu tố chủ quyền của các quốc gia Việc áp đặt những đặc trưng của luật quốc gia và dùng chúng làm thước đo để đánh giá luật quốc tế và sự tồn tại của luật quốc
tế là hoàn toàn khập khiễng và không phù hợp Nếu như có một
cơ quan đứng trên các quốc gia, làm và thực thi luật điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia thì luật quốc tế sẽ không còn tồn tại: khi đó, luật quốc tể lại đóng vai trò của một loại luật liên bang Chính những điểm khác biệt của luật quốc tế so với luật quốc gia
23 Nguyễn Quốc Định, Patrick Daillier, Alain Pellet, Công pháp quốc tế (Droit international public), LGDJ, Paris, 2002, tr 83.
38
Trang 40như đã phân tích ở trên tạo ra những đặc trưng của hệ thống pháp luật này.
2.4 Vai trò của luật quốc tế
N hư đã trình bày ở trên, việc luật quốc tế ra đời, tồn tại và phát triển là hệ quả quan trọng của việc thực thi chủ quyền quốc gia Để đảm bảo sự cùng tồn tại của các quốc gia có chủ quyên ngang nhau, cần có luật quốc tế Để các quốc gia có thể cùng tôn tại trong hòa bình và thịnh vượng, chủ quyền quốc gia không thể được thực hiện một cách tuyệt đối và quốc gia không thể không chịu phục tùng bất cứ trật tự nào Quốc gia phải tuân thủ những quy định tối thiểu để đảm bảo tôn trọng quyền của các quốc gia khác Việc đưa ra những quy định tối thiểu này chính là mục tiêu
và cũng là vai trò của luật quốc tế
Vai trò của luật quốc tế có thể được tóm gọn ở ba nội dung
cơ bản24:
Thír nhất, luật quốc tế điều chỉnh hành vi của các quôc gia trong quan hệ quốc tế, đặc biệt khi có ưanh chấp phát sinh giữa các quốc gia liên quan đến những lĩnh vực mà luật quốc tế điêu chỉnh Những nguyên tắc và quy phạm của luật quốc tê là do chính các quốc gia và các chủ thể khác không ngừng xây dựng và hoàn thiện Những quy định của luật quốc tế có giá trị như những chuần mực chung có tính bắt buộc để các quốc gia tuân thủ và kiêm chê những hành vi đi ngược lại lợi ích chung của cộng đông quôc tê Luật quốc tế đưa ra các quy định về việc giải quyêt các tranh châp, giảm thiểu các tranh chấp, cấm sử dụng vũ lực, do đó nó chính là công cụ, nhân tố quan trọng nhất để bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế Trong trường hợp xấu nhất, khi có chiến tranh xảy ra, luật quốc tế cũng dự trù các quy tắc về hành vi của các bên, nhăm
24 Xem Alina Kaczorowska, Công pháp cptốc tế (Public international law), 4 lh édition, Routledge, London, New York, 2010, tr 19.
39