1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GIÁO TRÌNH TƯ PHÁP QUỐC TẾ

55 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 718,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUYỀN TÁC GIẢ TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ 1.1 Khái niệm Quyền tác giả là một nhóm của quyền SHTT, bao gồm những quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả đối với các tác phẩm văn học, kho

Trang 1

CHƯƠNG 6 QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG TƯ PHÁP QUỐC TÊ

1 QUYỀN TÁC GIẢ TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ

1.1 Khái niệm

Quyền tác giả là một nhóm của quyền SHTT, bao gồm những quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả đối với các tác phẩm văn học, khoa học và nghệ thuật và các quyền đó được nhà nước bảo hộ cho một thời hạn nhất định Quyền tác giả trong TPQT là quyền xuất hiện từ các quan hệ trong lĩnh vực quyền tác giả có yếu tố nước ngoài

Yếu tố nước ngoài trong quan hệ về quyền tác giả đc t.hiện trên 3 trường hợp sau:

- Chủ thể: có ít nhất 1 bên là người nc ngoài, pháp nhân nước ngoài

- Khách thể tồn tại ở nước ngoài

- Sự kiện pháp lý xảy ra ở nước ngoài- công bố, phổ biến, đăng ký, cấp văn bằng bảo hộ ( Tác giả là CD VN đang cư trú ở nước ngoài cho công bố tác phẩm đầu tiên do

mình sáng tác)

Đặc điểm:

- Mang tính chất lãnh thổ triệt để để - Quyền tác giả xuất hiện trên lãnh thổ nước nào chỉ được bảo hộ ở nước đó mà thôi, không được bảo hộ ở nước ngoài Nếu các nước không có ĐƯQT hoặc không chấp nhận nguyên tắc có đi có lại trong bảo hộ quyền tác giả

- Quyền tác giả dễ bị xâm phạm vì đối tượng của quyền tác giả mang tính phi vật thể, do vậy tạo khả năng để khai thác, phổ biến rộng rãi khi được bộc lộ ra dưới một hình thức nhất định trong phạm vi nhiều nước khác nhau

- Quyền tác giả mang tính thời hạn

1.2 Các hình thức bảo hộ quốc tế quyền tác giả

1.2.1 Các điều ước quốc tế đa phương quan trọng về bảo hộ quyền tác giả

Công ước Berner 1886

Là công ước quốc tế đầu tiên về bảo vệ quyền tác giả, được ký tại Berne (Thụy Sĩ) năm 1886 Công ước đã được sửa đổi nhiều lần, lần gần đây nhất là 24/7/1971 và 28/9/1979.VN chính thức gia nhập ngày 26/10/2004, và trở thành thành viên thứ 156 Đến nay công ước có 160 thành viên

Mục đích:

- Là công ước đa phương đầu tiên được kí kết giữa các quốc gia nhằm thiết lập một

khung pháp lý thống nhất trong việc bảo hộ quốc tế quyền tác giả về các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật

Trang 2

- Tiền đề cơ bản của việc bảo hộ tác phẩm là nước xuất xứ tác phẩm phải là một trong những nước tham gia công ước Xác định nước xuất xứ:

+ Tác phẩm chưa công bố thì nước xuất xứ tác phẩm là nước mà tác giả là công dân (quốc tịch)

+ Tác phẩm đã công bố thì nước xuất xứ chính là nước mà tại đó tác phẩm được công bố lần đầu tiên (lãnh thổ)

+ Tác phẩm được công bố cùng một lúc tại nhiều quốc gia thành viên thì nước xuất

xứ chính là nước có thời hạn bảo hộ ngắn nhất Nếu TP đc công bố tại một nước thành viên và tại một nước khác không phải là thành viên thì nước xuất xứ tác phẩm chính là

quốc gia thành viên

Nguyên tắc bảo hộ:

- Đối xử quốc gia: các tác phẩm xuất phát từ mọi nước thành viên đều được bảo vệ ngang nhau trong tất cả các nước thành viên Chính quyền có bổn phận đảm bảo mức bảo

hộ tối thiểu theo các qui định của Công ước (Điều 3.2)

- Bảo hộ tự động: sự thụ hưởng và thực hiện các quyền được bảo vệ, vô điều kiện và không cần phải thông qua thủ tục đăng ký hay thủ tục hành chính khác (Đ 5.2)

- Bảo hộ tối thiểu: các quyền qui định theo Công ước đuợc thực thi và hưởng độc lập với mọi quyền khác đang được hưởng tại nước xuất xứ tác phẩm (VD: CDVN sống ở

Mĩ hưởng các quyền theo PL Mĩ, công ước Berne độc lập với quyền CDVN được hưởng tại Mĩ) (Đ 5.3)

Đối tượng bảo hộ của Công ước

- Tất cả các sản phẩm văn học, khoa học và nghệ thuật, được biểu hiện dưới bất kỳ hình thức nào và theo phương thức nào Tức là :

+ Tác phẩm viết

+ Các bài giảng, bài phát biểu;

+ Tác phẩn, kịch, nhạc kịch, biên đạo múa, tiểu phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm điện ảnh, tác phẩm nhiếp ảnh

+ Các bức họa đồ, bản vẽ, sơ đồ có liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;

Nói tóm lại, mọi sản phẩm của trí tuệ dưới mọi hình thức

- Các tác phẩm dịch, mô phỏng, chuyển thể từ một tác phẩm gốc đều được bảo vệ như tác phẩm gốc, miễn là không phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc ( VD: tác phẩm dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chủ giải, tuyển tập, hợp tuyển)

- Công ước không bảo hộ các tin tức thời sự hay sự việc vụn vặt chỉ mang tính chất thông tin báo chí Ngoài ra các quốc gia có thể lập qui định riêng hay giới hạn chế độ bảo

hộ đối với các văn kiện hành chính luật pháp, các tác phẩm mỹ thuật ứng dụng hay các

mô hình thiết kế công nghiệp

Trang 3

Tác giả được bảo hộ:

- Các tác giả là công dân của những nước hoặc cư trú tại những nước có tác phẩm công bố hoặc chưa công bố

- Tác giả là công dân của những nước hoặc cư trú tại những nước không phải là thành viên của công ước nhưng có tác phẩm lần đầu tiên công bố tại một nước là thành viên của Công ước

Công ước Berne 1886 về bảo hộ quyền tác giả được áp dụng để bảo hộ quyền tác giả cho cả công dân và pháp nhân các nước không phải là thành viên của công ước Vì: Theo khoản 2 và 3 điều 3 Công ước Berne thì: tác giả không là thành viên của công ước vẫn có thể đc bảo hộ quyền tác giả trong 2 trường hợp:

+ Tác phẩm của họ công bố lân đầu tiên ở một trg những nước là thành viên của công ước Hay đồng thời công bố ở một nước là thành viên và một nước ko là thành viên của công ước

+ Tác giả có nơi cư trú thường xuyên ở một trg những nước là thành viên của công ước

- Đối với các tác phẩm nhiếp ảnh và mỹ thuật ứng dụng, thời gian bảo hộ có thể ngắn hơn nhưng ít nhất phải là 25 năm

- Đó là qui định tối thiểu theo Công ước Các nước thành viên có thể ấn định thời gian dài hơn, như khuynh hướng hiện nay Liên Hiệp Châu Âu, chẳng hạn, qui định là kể

từ 1.7.1995, thời gian bảo vệ bản quyền là 70 năm sau khi tác giả qua đời

Tính chất: Công ước bao gồm các quy phạm thực chất thống nhất, quy định quyền

và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả

Những điều lệ giới hạn sự bảo hộ:

Sự bảo hộ tuy nhiên không tuyệt đối Để dung hoà quyền lợi của tác giả và nhu cầu chính đáng của người dùng, Công ước dự trù hai biệt lệ chính giới hạn sự bảo hộ :

- Một tác phẩm có thể được khai thác tự do (free use), không cần xin phép người giữ bản quyền và không phải phí tác quyền, để trích dẫn hay minh hoạ (nhưng phải ghi rõ tên tác giả, xuất xứ), sử dụng cho việc nghiên cứu, giảng dạy hoặc thông tin công chúng, miễn là một cách công minh chính trực (fair use) và theo một số điều kiện nhất định

- Để tránh việc không cho phép sử dụng có thể cản trở sự phát triển của một công

Trang 4

nghệ mới, cơ quan hữu trách có thể áp dụng biện pháp giấy phép phi tự nguyện voluntary licence), qua đó một tác phẩm có thể được khai thác mà không cần đến sự ưng thuận của người giữ bản quyền, nhưng phải trả phí tác quyền Điều lệ này nhằm bảo vệ sự phát triển lúc đó của các kỹ thuật ghi âm, phát thanh và truyền sóng, nhưng hiện nay được bàn cãi lại vì đã có những phương tiện hiện đại kết hợp việc bảo vệ tác quyền và nhu cầu phổ biến rộng rãi các tácphẩm

(non-theo Điều II và III của Phụ lục của Công ước, công dân các nước đang phát triển có thể được đương nhiên cấp giấy phép để dịch hoặc sao chép các tác phẩm được bảo hộ trong mục đích nghiên cứu, giáo dục Theo thủ tục qui định, văn kiện ký Công ước của VN có kèm theo bản tuyên bố yêu cầu được áp dụng hai điều lệ này

Các quy định của Công ước Berne với các nước đang phát triển:

- Theo Điều II và III của Phụ lục của Công ước, công dân các nước đang phát triển

có thể được đương nhiên cấp giấy phép để dịch hoặc sao chép các tác phẩm được bảo hộ trong mục đích nghiên cứu, giáo dục Theo thủ tục qui định, văn kiện ký Công ước của

VN có kèm theo bản tuyên bố yêu cầu được áp dụng hai điều lệ này

Nội dung:

Công ước qui định hai loại quyền, quyền kinh tế và quyền tinh thần

- Quyền kinh tế (quyền tài sản) Tác giả có toàn quyền cho phép hay ngăn cấm

người khác sử dụng hay phổ biến tác phẩm của mình và giữ độc quyền cho mọi hình thức khai thác: dịch thuật, sao chép, trình diễn và truyền thông công cộng, phát sóng, cải biên, chuyển thể, phân phối, thuê mướn, và xuất khẩu sang nước khác Tất cả những hoạt động

ấy, nếu không được tác giả cho phép bằng văn kiện, đều vi phạm bản quyền Ngoài ra tác giả cũng hưởng quyền lợi ích khi bán lại tác phẩm gốc đã chuyển nhượng

- Quyền tinh thần (quyền nhân thân) Tác giả có quyền đứng tên tác phẩm của

mình kể cả khi đã chuyển nhượng, và phản đối mọi sự xuyên tạc, cắt xén, sửa đổi hay bất

cứ hành vi nào có thể tổn hại đến danh dự hoặc uy tín của mình Các quyền tinh thần vĩnh viễn thuộc về tác giả, dẫu là các quyền kinh tế đã được chuyển nhượng hay không

1.2.2 Điều ước quốc tế song phương về bảo hộ quyền tác giả

Hiệp định về thiết lập quan hệ quyền tác giả giữa Việt Nam và Hoa Kỳ

Được bộ trưởng Bộ ngoại giao hai nước ký kết ngày 27/6/1997 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 23/12/1998 Hiệp định gồm 11 điều, quy định các vđề cơ bản: tác phẩm đc bảo hộ, phạm vi các quyền đc bảo hộ, đký TP, ngăn ngừa và xử lyys vi phạm quyền tác giả, sử dụng tác phẩm sau khi có hiệu lực…

Mục đích:

- Thúc đẩy quá trình bính thường hóa quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt Nam

và Hoa Kỳ

- Tăng cường mqh giao lưu và phát triển hợp tác văn hóa giữa các nước,

- Góp phần tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ

Trang 5

- Đáp ứng những yêu cầu cần thiết trong việc bảo hộ quyền tác giả trong nước và nước ngoài

Tác phẩm được bảo hộ:

- Tại Hoa Kỳ các tác phẩm sau được bảo hộ về quyền tác giả:

+ Tác phẩm là công dân Việt Nam hoặc người thường trú tại Việt Nam

+ Tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam của người không phải là công dân Việt Nam, hoặc người không thường trú tại Việt Nam

+ Tác phẩm mà một công dân Việt Nam hoặc người thường trú tại Việt Nam được hưởng những quyền kinh tế theo luật quyền tác giả tại Hoa Kỳ

+ Tác phẩm mà những quyền kinh tế thuộc về một pháp nhân do một công dân Việt Nam hoặc người thường trú tại Việt Nam kiểm soát trực tiếp, gián tiếp hoặc có quyền sở hữu đối với phần lớn cổ phần hoặc tài sản của pháp nhân đó Với điều kiện quyền kinh tế nói trên phát sinh trong vóng một năm kể từ ngày công bố làn đầu tác phẩm

đó tại một nước thành viên của một điều ước đa phương về quyền tác giả và tại thời điểm hiệp định có hiệu lực, Việt Nam là thành viên của điều ước quốc tế nói trên

+ Tác phẩm của tác giả là công dân Việt Nam hoặc người thường trú tại Việt Nam

và các tác phẩm công bố lần đầu ở Việt Nam trước khi hiệp định này có hiệu lực nhưng chưa thuộc về công cộng tại VN sau khi hưởng toàn bộ thời hạn bảo hộ

- Tác phẩm sau được bảo hộ tại Việt Nam quyền tác giả:

+ Tác phẩm là công dân Hoa Kỳ hoặc người thường trú tại Hoa Kỳ

+ Tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Hoa Kỳ của người không phải là công dân của Hoa Kỳ, hoặc người ko thường trú tại Hoa Kỳ

+ Tác phẩm mà một công dân Hoa Kỳ hoặc người thường trú tại Hoa Kỳ được hưởng những quyền kinh tế theo luật quyền tác giả tại Việt Nam

+ Hoặc Tác phẩm mà những quyền kinh tế thuộc về một pháp nhân do một công dân Hoa Kỳ hoặc người thường trú tại Hoa Kỳ kiểm soát trực tiếp, gián tiếp hoặc có quyền sở hữu đối với phần lớn cổ phần hoặc tài sản của pháp nhân đó, với điều kiện quyền kinh tế nói trên phát sinh trong vóng một năm kể từ ngày công bố làn đầu tác phẩm

đó tại một nước thành viên của một điều ước đa phương về quyền tác giả tại thời điểm hiệp định có hiệu lực, Hoa Kỳ là thành viên của điều ước quốc tế nói trên

+ Tác phẩm của tác giả là công dân Hoa Kỳ hoặc người thường trú tại Hoa Kỳ và các tác phẩm công bố lần đầu ở Hoa Kỳ trước khi hiệp định này có hiệu lực nhưng chưa thuộc về công cộng tại Hoa Kỳ sau khi hưởng toàn bộ thời hạn bảo hộ

+ Trường hợp thời hạn bảo hộ với các tác phẩm trên đây theo pháp luật Việt Nam ngắn hơn thời hạn bảo hộ theo pháp luật Hoa Kỳ, tác phẩm không được bảo hộ tại Việt Nam nếu thời điểm hiệp định có hiệu lực, thời hạn theo pháp luật Việt Nam đã kết thúc

Phạm vi các quyền được bảo hộ theo hiệp định:

Trang 6

+ Mỗi bên ký kết, phù hợp với luật và các thủ tục của mình, sẽ dành cho các tác phẩm của những tác giả, nhà sáng tạo và nghệ sĩ là công dân hoặc người thường trú của Bên ký kết kia và cho các tác phẩm công bố lần đầu tại lãnh thổ của Bên ký kết kia sự bảo

hộ quyền tác giả không kém thuận lợi hơn sự bảo hộ mà Bên đó dành cho công dân nước mình (nguyên tắc đãi ngộ như công dân)

+ Quyền tối thiểu: Các bên ký kết phải đảm bảo rằng người được hưởng quyền tác giả đối với một tác phẩm sẽ có độc quyền cho phép hoặc cấm; Việc sao chép một tác phẩm, sáng tạo tác phẩm khác dựa trên tác phẩm đó và phân phối bản sao của các tác phẩm đó; Việc trình diễn, trình bày các tác phẩm trước công chúng

+ Các bên ký kết sẽ giới hạn những hạn chế và ngoại lệ đối với các quyền quy định tại khoản 1 Điều này (quyền tối thiểu) trong phạm vi một số trường hợp đặc biệt mà những trường hợp đó không cản trở sự khai thác bình thường của tác phẩm và không ảnh hưởng bất hợp lý đến lợi ích chính đáng của người được hưởng quyền tác giả

+ Tất cả các sản phẩm phải đăng.ký tại cqnn có thẩm quyền của Hoa Kỳ và cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của pháp luật hai nước

+ Mọi cá nhân, pháp nhân có quyền hoặc lợi ích với các tác phẩm được bảo hộ theo hiệp định tại Việt Nam có quyền thực hiện các biện pháp được pháp luật Việt Nam quy định để bảo vệ quyền, lợi ích của mình bị vi phạm tại Việt Nam

+ Mọi tổ chức, cá nhân có các quyền, lợi ích với các tác phẩm được bảo hộ theo hiệp định tại Hoa Kỳ có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của hiệp định, các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam, pháp luật Hoa Kỳ và có quyền thực hiện các biện pháp được pháp luật Hoa Kỳ quy định để bảo vệ, quyền và lợi ích của mình + Việc giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm tại Hoa

Kỳ được thực hiện theo hiệp định và pháp luật Hoa Kỳ; nếu ở Việt Nam thì là theo hiệp định và pháp luật Việt Nam

1.2.3 Bảo hộ quyền tác giả theo nguyên tắc có đi có lại:

VD: Pháp quy định, Pháp sẽ ko bảo hộ các tác phẩm đã được xuất bản ở một nước, mà nước đó ko dành sự bảo hộ tương ứng đối với các tác phẩm của công dân Pháp

- Việc bảo hộ quyền tác giả theo nguyên tắc có đi có lại được phân biệt thành: + Có đi có lại hình thức: các bên trao cho nhau sự bảo hộ với tác phẩm của công dân mỗi bên, nhưng thực tế các quyền lợi cụ thể, khối lượng bảo hộ quyền tác giả không trùng nhau

+ Có đi có lại thực chất: các tác giả là công dân của các bên hữu quan phải được đối xử thực sự bình đẳng trong các quyền lợi cụ thể

- Thực tế hiện nay thường áp dụng nguyên tắc có đi, có lại hình thức

1.2.4 Bảo hộ quyền tác giả có yếu tố nước ngoài theo quy định của luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005

Nguyên tắc bảo hộ:

Theo quy định tại điều 774 Bộ Luật dân sự 2005 chia làm 2 trường hợp:

Trang 7

- Trường hợp 1: trường hợp có Điều ước quốc tế điều chỉnh (Công ước Berne, Hiệp định Trips, Hiệp định Việt Nam – Hòa Kỳ; Hiệp định giữa Việt Nam – Thụy Sĩ; Hiệp định khung Việt Nam – ASEAN thì chế độ bảo hộ được xác định theo điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam

- Trường hợp 2: Không có điều ước quốc tế thì quyền tác giả của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài sẽ được bảo hộ tại Việt Nam nếu họ có tác phẩm lần đầu tiên công bố tại Việt Nam và lần đầu tiên sáng tạo ở Việt Nam

Các quy định cụ thể:

- Theo pháp luật Việt Nam, tác giả là công dân Việt Nam có tác phẩm, công trình chưa công bố ở trong nước mà đc sử dụng lần đầu tiên dưới bất kỳ hình thức nào ở nước ngoài cũng sẽ được hưởng quyền tác giả ở nước sử dụng tác phẩm đó

- Việt công bố tác phẩm của công dân Việt Nam ở nước ngoài phải được cơ quan quản lý nhà nước về xuất bản có thẩm quyền cho phép và phải tuân theo các quy định của pháp luật Việt Nam

- Đối với tác giả là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài có tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học lần đầu tiên được công bố, phổ biến tại Việt Nam hoặc được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức nhất định tại Việt Nam đều được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền tác giả ( trừ trường hợp nhà nước bảo hộ)

- Tác giả là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được bảo hộ quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam có các quyền tác giả được quy định tại Luật sở hữu trí tuệ

- Quyền tác giả đối với tác phẩm bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản:

+ Quyền nhân thân bao gồm các quyền:

* Đặt tên cho tác phẩm

* Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; đc nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm đc công bố, sử dụng

* Công bố tác phẩm hoặc cho người khác công bố tác phẩm

* Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, ko cho phép người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả

+ Quyền tài sản:

* Làm tác phẩm phái sinh

* Biểu diễn tác phẩm dưới công chúng

* Sao chép tác phẩm

* Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm

* Tuyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyền, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác

Trang 8

* Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính

- Như vậy, tác giả nước ngoài sẽ được hưởng những quyền tài sản và quyền nhân thân trg lĩnh vực quyền tác giả như tác giả là công dân VN

2 QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ

2.1 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của các điều ước quốc tế

a Công ước Pari 1883

Là một trong những công ước quốc tế đa phương quan trọng về sở hữu công nghiệp Công ước được ký kết ngày 20/3/1983 với sự tham gia của 11 nước, đến ngày 19/5/2005 số lượng thành viên là 169, Việt Nam tham gia năm 1981

Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp:

Các đối tượng sở hữu công nghiệp được công ước bảo hộ theo công ước Pari đc hiểu theo 2 nghĩa:

- Nghĩa rộng: Quyền sở hữu công nghiệp ko chỉ áp dụng cho công nghiệp và thương mại mà còn áp dụng cho cả ngành san xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác và tất cả các sản phẩm chế biến hoặc sản phẩm tự nhiên như rượu, ngũ cốc, thuốc lá, hoa quả, gia súc, khoáng sản, nước khoảng

- Nghĩa hẹp: Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ hàng hóa, quyền chống cạnh tranh lành mạnh

Nguyên tắc bảo hộ:

- Nguyên tắc “đãi ngộ như công dân” là một trong những nguyên tắc cơ bản mà Công ước áp dụng trong việc điều chỉnh các quan hệ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Theo đó, khi tham gia Công ước công dân của bất kỳ các thành viên nào của công ước cũng đều được hưởng sự bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp giống như công dân của nước sở tại Ngay cả những công dân của các quốc gia không phải là thành viên của công ước Paris hay là những doanh nghiệp thực sự quan trọng ở đó, thì cũng nhận được sự bảo

hộ của công ước theo nguyên tắc này

- Nguyên tắc “quyền ưu tiên“: Một người nộp đơn yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nộp đơn đầu tiên của mình ở một nước thành viên của công ước thì trong

Trang 9

thời hạn nhất định sau ngày nộp đơn đầu tiên (12 tháng đối với sáng chế và giải pháp hữu ích, 6 tháng đối với kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu hàng hoá), người đó có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ ở bất kỳ nước thành viên nào và những đơn nộp sau sẽ được tính cùng ngày nộp đơn của đơn đầu tiên Tuy nhiên, để dược hưởng quyền ưu tiên, người nộp đơn phải ghi rõ ngày nộp đơn, nước nhận đơn thứ nhất, các nước thành viên có thể yêu cầu người nộp đơn phải nộp các bản sao mô tả bản vẽ của đơn thứ nhất để làm bằng chứng cho việc hưởng quyền ưu tiên của mình

- Bên cạnh đó, Công ước PARIS còn quy định cả quyền ưu tiên về triển lãm: Các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá có khả năng được bảo hộ tạm thời tại các cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc các cuộc triển lãm được công nhận là chính thức tổ chức tại một trong số các nước thành viên Điều đó cho phép một đối tượng sở hữu công nghiệp tham gia triển lãm tại hội chợ th́ì được lấy ngày bắt đầu trưng bày hàng hóa tại triểm lãm làm ngày được hưởng quyền ưu tiên với thời hạn không quá 6 tháng

Quy định tiêu chuẩn bảo hộ, điều kiện đăng ký và chuyển giao quyền sử dụng đối với các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp:

Để nâng cao hiệu quả bảo hộ, Công ước Paris đã có những quyết định điều chỉnh việc bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp một cách cơ bản nhất

- Đối với patent quy định về vấn đề nhập khẩu đối tượng, quyền đưa ra các biện pháp pháp lý quy định việc cấp Licence không tự nguyện nhằm ngăn chặn việc lạm dụng việc độc quyền của các nước thành viên

- Kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ tại tất cả các nước thành viên của Liên hiệp

và sẽ không thể bị đình chỉ trong bất kỳ hoàn cảnh nào cho dù có vì lý do không sử dụng hoặc vì lý do nhập khẩu các đối tượng tương tự với các đối tượng đang được bảo hộ

- Các quy định trong việc đăng ký, chuyển giao, bảo hộ ở các nước thành viên, về những công cụ bảo vệ và quyền yêu cầu toà án xét xử đối với các loại nhãn hiệu (nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể,…) cùng với các loại đối tượng khác

Quy định về vấn đề hiệu lực:

Ngoài việc quy định một số điều khoản bắt buộc mà các nước thành viên đểu phải tuân thủ, với nguyên tắc tôn trọng sự độc lập của pháp luật các quốc gia thành viên về lĩnh vực bảo hộ sở hữu công nghiệp, công ước Paris cho phép các nước thành viên được quyền xây dựng và áp dụng pháp luật sở hữu công nghiệp của mình, cũng như ký kết những Hiệp ước với nhau về sở hữu công nghiệp nhưng không được trái với các điều khoản trong công ước Paris

Quyền ưu tiên theo Công ước Pari

Quyền ưu tiên là quyền của nqười nộp đơn trên cơ sở một đơn hợp lệ lần đầu tiên

đã được nộp tại một quốc gia khác là thành viên điều ước quốc tế có quy định về quyền

ưu tiên (sau đây gọi là quốc gia thành viên), trong một thời hạn nhất định người nộp đơn

có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ đối tượng sở hữu trí tuệ đó tại một quốc gia thành viên khác và đơn nộp sau đó được coi như nộp cùng ngày với đơn nộp đầu tiên Nói cách khác,

Trang 10

những đơn nộp sau sẽ có quyền ưu tiên đối với các đơn có thể đã được người khác nộp trong khoảng thời gian ưu tiên nói trên chi chính đối tượng sở hữu trí tuệ đó

Quyền ưu tiên là một nội dung quan trọng của Công ước Pari và có nghĩa là trên

cơ sở đơn yêu cầu thông thường đầu tiên được gởi đến quốc gia thành viên Công ước, người yêu cầu có thể yêu cầu bảo vệ tại bất cứ quốc gia thành viên Công ước nào (12 tháng đối với sáng chế và giải pháp hữu ích; 6 tháng đối với kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu); những đơn yêu cầu muộn hơn sẽ được xem như được gởi cùng ngày với đơn yêu cầu đầu tiên Tức là những đơn yêu cầu muộn hơn này sẽ được ưu tiên (như vậy gọi

là -quyền ưu tiên") so với các đơn yêu cầu khác về cùng một sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu hoặc kiểu dáng công nghiệp do những người khác gởi đến trong thời hạn nói trên Như vậy, một người không cần phải gởi đơn yêu cầu cùng một lúc đến nhiều nước

mà có 6 tháng hoặc 12 tháng tùy thuộc vào ý muốn của mình để quyết định những nước

mà người đó muốn có sự bảo vệ và chuẩn bị cẩn thận những bước cần thiết phải tiến hành

để đảm bảo cho yêu cầu bảo vệ

Ví dụ: Ngày 02/02/2004 một công dân Việt Nam nộp đơn đăng ký bảo hộ một KDCN là X' tại Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam Ngày 02/05/2004 một công dân Pháp cũng nộp đơn đăng ký chính đối tượng X' đó tại cơ quan sở hữu trí tuệ của Pháp Ngày 05/05/2004 công dân Việt Nam đó mới nộp đơn đăng ký bảo hộ đối tượng này tại Pháp Theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên thì đơn của công dân Pháp nộp ở Pháp sẽ hợp lệ (vì đơn nộp sớm hơn tại Pháp) Tuy nhiên trong trường hợp này công dân Việt Nam có thể xin hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở đơn đơn đã nộp sớm hơn tại Việt Nam (nộp ngày 02/02/2004) Do đó đơn của công dân Việt Nam nộp ở Pháp sẽ được tính là ngày 02/02/2004

Ý nghĩa của quyền ưu tiên:

+ Việc quy định quyền ưu tiên mang lại lợi ích thiết thực cho người nộp đơn khi đơn này muốn đạt được sự bảo hộ của nhiều quốc gia khác nhau, họ không phải nộp đồng thời tất cả các đơn tại nước xuất xứ và các nước khác nhau mà có thời hạn nhất định để xem xét lựa chọn việc nộp đơn yêu cầu bảo hộ tại quốc gia nào thiết thực nhất vì các đơn nộp sau này sẽ có ngày ưu tiên là ngày nộp đơn đầu tiên

+ Nó ngăn chặn hữu hiệu người khác lợi dụng đăng ký đối tượng đó tại các quốc gia khác khi người nộp đơn chưa kịp làm việc này

+ Tránh được tình trạng người nộp đơn phải nộp nhiều đơn khác nhau tại một thời điểm

Nội dung của quyền ưu tiên:

- Các đối tượng sở hữu trí tuệ được hưởng quyền ưu tiên Theo quy định của công ước Paris bao gồm: Sáng chế, Mẫu hữu ích (còn gọi là Giải pháp hữu ích), kiểu dáng công nghiệp, Nhãn hiệu

- Quyền ưu tiên có này không được giành cho các đối tượng của quyền tác giả và quyền liên quan vì: Theo quy định chung của hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới, các đối tượng bảo hộ của quyền tác giả (gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học) và quyền liên quan (cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa) được bảo hộ từ thời điểm chúng được định hình

Trang 11

dưới một hình thức vật chất nhất định mà không cần đăng ký bảo hộ, không phụ thuộc vào việc có đăng ký đối tượng đó hay không nên việc quy định quyền yêu tiên trong việc

đăng ký là không cần thiết

- Cần xác định quyền ưu tiên trong sở hữu công nghiệp vì: quyền Sở hữu đối với

một số đối tượng sở hữu trí tuệ khác như Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, Nhãn hiệu, Giống cây trồng mới chỉ phát sinh trên cơ sở việc đăng ký đối tượng này tại cơ quan Sở hữu trí tuệ Hơn nữa, do tính chất giới hạn của việc đăng ký các đối tượng này chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ quốc gia nhất định nên cần có một cơ chế ghi nhận quyền yêu tiên cho người nộp đơn trước tại một quốc gia khác

Điều kiện để được hưởng quyền ưu tiên: Để được hưởng quyền ưu tiên người nộp

đơn phải đáp ứng được các điều kiện sau đây: 3 điều kiện

- Có đơn nộp sớm hơn tại một/các nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về quyền ưu tiên;

- Đơn xin hưởng quyền ưu tiên phải đề cập đến cùng một đối tượng như trong đơn đầu tiên;

- Đối tượng hưởng quyền ưu tiên phải là Sáng chế, Mẫu hữu ích, Kiểu dáng công nghiệp, Nhãn hiệu Tuy nhiên, trong Khoản E, Điều 4 Công ước Paris cũng có quy định rằng "(1) Nếu một đơn kiểu dáng công nghiệp nộp tại một nước với yêu cầu hưởng quyền

ưu tiên trên cơ sở một mẫu hữu ích, thời hạn hưởng quyền ưu tiên sẽ là thời hạn cho kiểu dáng công nghiệp (2) có thể cho phép nộp một đơn mẫu hữu ích tại một nước với yêu cầu hưởng quyền yêu tiên trên cơ sở một đơn sáng chế và nguợc lại" Có thể xảy ra trường hợp cùng một Giải pháp kỹ thuật nêu trong đơn xin bảo hộ tại nhiều quốc gia khác nhau nhưng mỗi nước có thể bảo hộ các đối tượng này theo cơ chế khác nhau do tính tương tự giữa chúng, điều này phụ thuộc vào pháp luật của mỗi nước Để khắc phục điều này, Công ước Paris đã dự liệu trường hợp người nộp đơn có thể hưởng quyền ưu tiên của kiểu dáng công nghiệp trên cơ sở một đơn yêu cầu bảo hộ một mẫu hữu ích nộp sớm hơn tại một quốc gia khác hay đơn sáng chế trên cơ sở mẫu hữu ích và ngược lại Cùng với đó người nộp đơn được hưởng quyền ưu tiên từ nhiều đơn cũng như từ một phần của đơn nộp trước "Nếu kết quả xét nghiệm khẳng định đơn sáng chế bao gồm nhiều sáng chế, người nộp đơn có thể tách đơn thành một số lượng nhất định các đơn riêng và giữ ngày nộp đơn ban đầu là ngày nộp đơn của mỗi đơn đó và giữ nguyên quyền ưu tiên nếu có người nộp đơn cũng có thể tự mình chủ động tách đơn sáng chế và giữ nguyên ngày nộp đơn ban đầu của mỗi đơn mới tách và giữ nguyên quyền ưu tiên nếu có" (Điểm G, Điều 4, Công ước Paris)

Thời hạn hưởng quyền ưu tiên và các trường hợp không được hưởng quyền ưu tiên:

- Đối với từng đối tượng khác nhau, thời hạn để người nộp đơn hưởng quyền ưu

tiên cũng khác nhau

+ Thời hạn hưởng quyền ưu tiên đối với Sáng chế và Mẫu hữu ích là 12 tháng, kể

từ ngày nộp đơn đầu tiên

Trang 12

+ đối với kiểu dáng công nghiệp và Nhãn hiệu thì thời hạn này là 06 tháng, kể từ ngày nộp đơn đầu tiên, ngày nộp đơn đầu tiên không tính vào thời hạn

Những quy định này không chỉ áp dụng trong phạm vi đăng ký vào một quốc gia

mà cả khi đăng ký quốc tế, các đơn này vẫn được hưởng quyền này Điều này giúp cho người nộp đơn chỉ phải nộp lệ phí xin hưởng quyền yêu tiên ở một cơ quan quốc tế duy nhất thay vì phải nộp lệ phí đó ở tất cả các quốc gia đăng ký có yêu cầu xin hưởng quyền

ưu tiên và mức lệ phí cũng sẽ tiết kiệm hơn

- Trường hợp không được hưởng quyền ưu tiên:

" Nếu tại thời điểm nộp đơn sau, đơn nộp trước nói trên đã được rút bỏ, không được xem xét tiếp hoặc bị từ chối nhưng chưa đưa ra xét nghiệm công chúng và không để lại bất cứ quyền nào chưa giải quyết, và nếu chưa phải là cơ sở để hưởng quyền yêu tiên Lúc đó, đơn nộp trước sẽ không được dùng làm cơ sở để hưởng quyền ưu tiên" (Điểm 4, Khoản C, Công ước Paris)

Quy định này nhằm hạn chế những người nộp đơn trước lợi dụng điều này để xin hưởng quyền ưu tiên một cách không hợp lý khi đơn đã rút bỏ hoặc bị từ chối chính thức

b Thỏa ước Madrid về đăng kí quốc tế nhãn hiệu hàng hóa năm 1891:

Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Madrid có sự khác nhau:

- Nghị định thư cho phéo đăng ký quốc gia dựa trên đơn quốc gia chứ ko chỉ dựa trên việc đăng.ký quốc gia

- Nghị định thư quy định thời hạn 18 tháng thay cho thời hạn 1 năm dành cho các bên tham gia để từ chối bảo hộ

- Nghị định thư Madrid là một hiệp định về thủ tục lập hồ sơ chứ không phải là hiệp định điều chỉnh về mặt nội dung Nghị định thư giúp những người sở hữu nhãn hiệu - các cá nhân và doanh nghiệp - bảo vệ được nhãn hiệu của họ một cách hiệu quả cùng một lúc ở nhiều quốc gia thông qua việc lập hồ sơ xin cấp bằng phát minh sáng chế tới một cơ quan duy nhất với một ngôn ngữ, một khoản chi phí và một loại tiền tệ Hơn nữa, không cần phải lập hồ sơ qua trung gian Đơn xin cấp bằng phát minh, sáng chế có thể được lập bằng tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc Tây Ban Nha

VN đã tham gia thỏa ước nhưng chưa tham gia nghị định thư

Mục đích: Tạo đkiện thuận lợi cho việc đký nhãn hiệu hàng hóa tại các nước thành

viên

Nội dung:

- Nộp đơn đăng ký quốc tế:

+ Việc bảo hộ quốc tế đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất phát từ yêu cầu bảo hộ của chủ nhãn hiệu hàng hóa thông qua việc nộp đơn yêu cầu bảo hộ, đơn này gọi là “đơn đký quốc tế”

+ Đơn đc nộp bởi 1 thể nhân hoặc pháp nhân có sở kinh doanh hoặc cư trú tại một nước tham gia thỏa ước

Trang 13

+ Trong đơn quốc tế phải xác định một hoặc nhiều nước nơi nhãn hiệu đc bảo hộ Nước đc chỉ định trg đơn và nước xuất xử đều là thành viên của TƯ

+ Đơn quốc tế đc nộp tới văn phòng quốc tế của tổ chức SHTT thế giới thông qua

có quan trung gian là cơ quan có thẩm quyền của nước xuất xứ Kèm theo đơn là lệ phí: lệ phí đký, lệ phí quốc gia

- Hiệu lực của đơn đăng ký:

+ Đăng ký tại văn phòng quốc tế có hiệu lực trg vòng 20 năm kể từ ngày đăng ký

và có quyền gia hạn thêm 20 năm kể từ ngày hết hạn thời hạn trước đó

+ Ngày đăng ký quốc tế là ngày nộp đơn đăng ký quốc tế tại nước xuất xứ nếu văn phòng quốc tế nhận đc đơn đó trg vòng 2 tháng kể từ ngày nhận đc đơn

+ Kể từ ngày đăng ký quốc tế thực hiện tại văn phòng quốc tế việc bảo hộ đối với nhãn hiệu hàng hóa tại tất cả các nước thành viên được thực hiện như đối với nhãn hiệu

đc nộp trực tiếp tại nước đó

- Từ chối bảo hộ: Tất cả các nước thành viên của TƯ được chỉ định trg đơn quốc tế

có quyền từ chối bảo hộ trên phạm vi lãnh thổ nước mình

c Hiệp định hợp tác về bằng phát minh sáng chế (PCT)

Hiệp định PTC của WIPO đã được ký kết tại Washington, D.C năm 1970 và có hiệu lực năm 1978 Hiệp định đã được sửa đổi năm 1979, 1984, 2001 và 2004 Tính đến ngày 15/9/2005 đã có 128 bên tham gia ký kết PCT

Nhờ đơn giản hóa quá trình lập hồ sơ đăng ký bằng phát minh sáng chế nên PCT

đã giúp những nhà phát minh được bảo hộ bằng phát minh của họ trên toàn thế giới Hiệp định này cũng khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và các cá nhân tìm cách bảo hộ bằng phát minh sáng chế của họ ở nước ngoài

Theo hiệp định này, các công dân của một quốc gia tham gia ký kết chỉ cần lập một hồ sơ đăng ký cấp bằng phát minh duy nhất - thường được gọi là hồ sơ “quốc tế” – và gửi tới Cơ quan cấp bằng phát minh của nước họ hoặc tới WIPO với tư cách là cơ quan tiếp nhận hồ sơ Như vậy, đơn xin cấp bằng phát minh sáng chế của họ sẽ tự động được gửi tới tất cả 127 quốc gia tham gia PCT

Hiệp định cho phép những người nộp đơn có thời gian dài hơn – 30 tháng – để cam kết trang trải mọi chi phí dịch thuật, lệ phí hồ sơ trong nước và thực thi ở tất cả mọi quốc gia nơi họ muốn được bảo hộ Nhờ cho phép người nộp đơn có nhiều thời gian và thông tin hơn để đánh giá thế mạnh trong bằng phát minh sáng chế tương lai của họ và quyết định kế hoạch tiếp thị của mình, thời hạn 30 tháng giúp các ứng viên lựa chọn tốt hơn những quốc gia nơi họ muốn nộp hồ sơ Đây là một bước tiến quan trọng so với thời hạn

ưu tiên 12 tháng đã được quy định trong Công ước Paris đối với những người nộp đơn xin cấp bằng phát minh sáng chế

Trong khuôn khổ PCT, WIPO đã ấn hành “áp dụng tính quốc tế” cùng với hướng dẫn về việc công nhận phát minh sáng chế Việc hướng dẫn như vậy có nghĩa là tiến hành nghiên cứu sơ bộ và/hoặc kiểm tra thông qua một “cơ quan quốc tế” - một trong 11 cơ quan cấp bằng phát minh sáng chế hiện đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu về nhân lực và các

Trang 14

yêu cầu xử lý hồ sơ khác được WIPO ủy quyền Việc chỉ dẫn như vậy giúp người nộp đơn quyết định xem có nên tiếp tục nộp hồ sơ xin cấp bằng phát minh, sáng chế tới các cơ quan cấp bằng phát minh, sáng chế ở trong nước hay trong khu vực hay không Các cơ quan cấp bằng phát minh cũng được hưởng lợi từ quá trình chỉ dẫn này khi quyết định có nên cấp bằng phát minh sáng chế quốc gia hay khu vực dựa theo hồ sơ đăng ký trong khuôn khổ của PCT hay không Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã xác định những văn bản liên quan cần thiết giúp các cơ quan cấp bằng phát minh, sáng chế đảm bảo nguồn lực trong quá trình điều tra và nâng cao chất lượng kiểm tra của họ

Các nước thành viên của hiệp ước PCT sẽ từ chối ko cấp văn bằng bảo hộ đối với sáng chế được nêu trg đơn quốc tế khi:

-Việc bảo hộ sáng chế đó là trái với PL của nước thành viên đc yêu cầu bảo hộ

- Việc bảo hộ sáng chế có ảnh hưởng tới an ninh quốc gia hoặc các quyền lợi kinh

tế của nước thành viên đc chỉ định

e Hiệp định TRIPS

Hiệp định TRIPs của WTO (được ký kết năm 1994 và chính thức có hiệu lực vào tháng 1/1995) đã ra đời nhằm giải quyết một cách toàn diện vấn đề bảo hộ quyền SHTT Với Hiệp định này, lần đầu tiên những quy định về quyền SHTT được đưa vào hệ thống thương mại đa biên và người ta kỳ vọng rằng Hiệp định sẽ "góp phần thúc đẩy việc cải tiến, chuyển giao và phổ biến công nghệ, mang lại lợi ích cho cả người sáng tạo và người

sử dụng công nghệ cũng như lợi ích kinh tế - xã hội nói chung và đảm bảo sự cân bằng giữa quyền lợi và nghĩa vụ" (Điều 7, Hiệp định TRIPs)

Tầm quan trọng của Hiệp định TRIPS được thể hiện ở ba điểm:

Đây là hiệp định duy nhất đầu tiên thực sự mang tính quốc tế đã đưa ra các chuẩn mực tối thiểu về bảo hộ nhiều hình thức của sở hữu trí tuệ;

Đây là hiệp định quốc tế đầu tiên về sở hữu trí tuệ có những quy định cụ thể về trách nhiệm dân sự, hình sự và bảo vệ biên giới; và

Đây là hiệp định quốc tế đầu tiên về sở hữu trí tuệ được áp dụng để giải quyết tranh chấp Trên thực tế, TRIPS đặt nền tảng cho một hạ tầng cơ sở vững chắc và hiện đại trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ cho cộng đồng quốc tế

Ý nghĩa của hiệp định

+ Hiệp định TRIPS có vị thế độc nhất trong số các điều ước quốc tế về IPR bởi lẽ việc trở thành thành viên của WTO đồng nghĩa với việc tham gia “trọn gói” các hiệp ước Nói cách khác, các quốc gia thành viên của WTO không được phép lựa chọn các hiệp ước

mà phải tuân thủ tất cả các hiệp ước đa phương của WTO, bao gồm cả TRIPS

+ Các quy định mới điều chỉnh những vấn đề liên quan đến thương mại của quyền SHTT thông qua Hiệp định TRIPs đã trở thành một phương tiện giúp củng cố trật tự, cũng như giải quyết tranh chấp một cách có hệ thống hơn trên phạm vi toàn cầu

+ Hiệp định nêu ra các nguyên tắc và ấn định mức độ bảo hộ tối thiểu mà mỗi quốc gia thành viên phải bảo đảm cho quyền sở hữu trí tuệ của các quốc gia thành viên khác

Trang 15

Trên cơ sở đó, Hiệp định tạo ra sự cân bằng giữa lợi ích lâu dài và chi phí ngắn hạn đối với xã hội

- Hiệp định Trips là sự tổng hợp, kế thừa và phát triển của 2 Công ước Berne và Pari:

+ Berner chỉ bao gồm quyền tác giả, Pari chỉ gồm quyền sở hữu công nghiệp + Trips: bao gồm cả quyền tác giả + quyền sở hữu công nghiệp + một số quyền khác ( VD thông tin bí mật trg thương mại, bảo hộ quyền phát song trên vệ tinh…)

- Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc:

+ Bất kỳ một sự thuận lợi, ưu đãi, đặc quyền hoặc miễn trừ nào được một thành viên dành cho công dân bất kỳ nước nào khác thì lập tức và vô điều kiện phải đc dành cho công dân của tất cả các thành viên khác

+ Bản chất của nguyên tắc MFN là cầm một nước thành viên phân biệt đối xử giữa các thành viên khác ( bình đẳng giữa các bên thứ 3) trg việc bảo hộ quốc tế quyền sở hữu trí tuệ

+ NT, MFN là nguyên tắc lần đầu tiên được quy định trg TRIPS vì:

TRIPS công nhận sở hữu trí tuệ là tài sản tư nhân được lưu thông trog thương mại

và các quốc gia trên thế giới phải có nghĩa vụ bảo hộ, mà để bảo hộ các quốc gia phải thực sự bình đẳng trong một sân chơi, do đó cần ghi nhận nguyên tắc MFN

Đối tượng và tiêu chuẩn bảo hộ

- Quyền tác giả: Điều 9.1 Hiệp định TRIPs quy định các thành viên WTO phải tuân thủ Công ước Bern từ Điều 1 đến Điều 21 và Phụ lục kèm theo Quyền tác giả được bảo hộ cho đến 50 năm sau khi tác giả qua đời Hiệp định TRIPs quy định các chương trình máy tính và cơ sở dữ liệu cũng được bảo vệ như các tác phẩm văn học theo đúng Công ước Bern

- Nhãn hiệu hàng hóa: Điều 15 Hiệp định TRIPs quy định mọi dấu hiệu hoặc sự kết hợp các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa, dịch vụ của một doanh nghiệp khác đều có thể được bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa Điều 16 của Hiệp định quy định các thành viên WTO phải tuân thủ Điều 6 bis của Công ước Paris liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng Các thành viên WTO có thể quy định các điều kiện cấp phép và chuyển nhượng nhãn hiệu hàng hóa, trong đó không được quy định việc cấp phép bắt buộc và chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký có quyền chuyển nhượng nhãn hiệu hàng hóa đó có hoặc không kèm theo việc chuyển nhượng cơ

Trang 16

sở kinh doanh mang nhãn hiệu hàng hóa đó Thời hạn bảo hộ một nhãn hiệu hàng hóa không dưới 7 năm và có thể được gia hạn với số lần không hạn chế

- Chỉ dẫn địa lý: là những chỉ dẫn về hàng hóa bắt nguồn từ một nước, khu vực hay

địa phương thuộc nước đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định do xuất xứ địa lý quyết định (Điều 22) Các thành viên WTO phải quy định những biện pháp để các bên liên quan ngăn chặn việc mô tả gây nhầm lẫn cho công chúng về xuất xứ địa lý của hàng hóa hoặc tạo thành "hành vi cạnh tranh không lành mạnh" theo điều 10 bis Công ước Paris

- Bản vẽ và kiểu dáng công nghiệp: Điều 25 Hiệp định TRIPs quy định các thành viên WTO phải bảo hộ những kiểu dáng công nghiệp được sáng tạo một cách độc lập, có tính mới hoặc tính sáng tạo ít nhất trong vòng 10 năm Chủ sở hữu các bản vẽ được bảo

hộ có quyền ngăn cấm việc sản xuất, bán hoặc nhập khẩu các sản phẩm mang hoặc có chứa hình vẽ giống với hình vẽ đã được bảo hộ Hiệp định TRIPs cho phép các thành viên tùy ý quyết định bảo hộ kiểu dáng hàng dệt bằng kiểu dáng công nghiệp hoặc bằng quyền tác giả

- Bằng sáng chế: Hiệp định quy định các sáng chế có thể được bảo hộ thông qua bằng sáng chế trong vòng ít nhất 20 năm Trong hầu hết các lĩnh vực công nghệ, cả sản phẩm lẫn phương thức sản xuất đều được bảo hộ Chính phủ các nước có thể từ chối cấp bằng sáng chế nếu việc khai thác kinh doanh chúng bị cấm vì vi phạm trật tự công cộng hoặc đạo đức Hiệp định đề ra các quyền tối thiểu dành cho người sở hữu bằng sáng chế, tuy nhiên, cũng quy định một số ngoại lệ để đối phó với trường hợp người sở hữu bằng sáng chế lạm dụng quyền của mình (như không cung ứng sản phẩm cho thị trường) Trong trường hợp này, theo một số điều kiện nhất định trong Hiệp định, chính phủ các nước có thể cấp "giấy phép bắt buộc" cho phép các nhà sản xuất khác sản xuất sản phẩm này hoặc được phép sử dụng quy trình sản xuất đã được bảo hộ Một số quy định mềm dẻo như vậy đặc biệt có ý nghĩa trong việc tiếp cận những sản phẩm thiết yếu, nhất là đối với các nước đang phát triển và kém phát triển

- Thiết kế bố trí mạch tích hợp: Hiệp định TRIPs quy định việc bảo hộ sơ đồ bố trí

mạch tích hợp trên cơ sở Hiệp định Washington về quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực mạch tích hợp Theo điều 36, các hành vi nhập khẩu, bán hoặc phân phối nhằm mục đích thương mại một thiết kế bố trí mạch tích hợp được bảo hộ mà không được phép của chủ

sở hữu được coi là bất hợp pháp Điều 37 quy định, các thành viên sẽ không coi những hành vi liên quan đến việc vi phạm quyền sở hữu một thiết kế bố trí mạch tích hợp do vô

ý là bất hợp pháp nhưng sẽ yêu cầu bồi thường cho chủ sở hữu thiết kế bố trí mạch tích hợp sau khi có thông báo vi phạm

- Bảo hộ thông tin bí mật: Hiệp định TRIPs không yêu cầu các thành viên phải bảo

hộ thông tin bí mật như một dạng sở hữu mà chỉ dành cho người có quyền kiểm soát thông tin đó khả năng ngăn chặn việc người khác làm tiết lộ, chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép thông tin này trái với hành vi thương mại trung thực Điều 39 quy định các thành viên không được phép tiết lộ những dữ liệu mật được nộp cho các cơ quan chính phủ để xin phép lưu hành dược phẩm hoặc nông hóa phẩm (trừ trường hợp cần thiết nhằm bảo vệ công chúng hoặc khi đã tiến hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo các dữ liệu đó không bị tiết lộ) nhằm mục tiêu thương mại không lành mạnh

Trang 17

- Kiểm soát hành vi chống cạnh tranh trong hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ (Hợp đồng lixăng): Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có thể cho phép người khác sản xuất hay sao chép nhãn hiệu hàng hóa hoặc thương hiệu, tác phẩm, sáng chế, bản vẽ hoặc các mẫu mã được bảo hộ Hiệp định TRIPs thừa nhận trong số các điều kiện của hợp đồng chuyển giao, người chủ sở hữu có thể hạn chế cạnh tranh hoặc cản trở việc chuyển giao công nghệ Hiệp định quy định chính phủ các nước, trong một số điều kiện nhất định, có quyền áp dụng các biện pháp nhằm ngăn ngừa hành vi phản cạnh tranh và lạm dụng

quyền SHTT trong lĩnh vực nhượng bản quyền, và phải sẵn sàng tham khảo lẫn nhau nhằm chống lại các hành vi này

Thực thi quyền sở hữu trí tuệ

Điều 41 quy định các thành viên WTO phải đảm bảo khả năng khiếu kiện có hiệu quả đối với mọi hành vi xâm phạm các loại quyền SHTT được đề cập trong Hiệp định, trong đó có những chế tài khẩn cấp nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm cũng như không để các hành vi xâm phạm tiếp diễn

Mặt khác, những thủ tục này phải được áp dụng theo cách thức tránh tạo ra các hàng rào cản trở hoạt động thương mại hợp pháp

Theo Hiệp định, tòa án quốc gia cần phải có những biện pháp hữu hiệu, kịp thời

để bảo vệ các chứng cứ của hành vi vi phạm quyền SHTT; sau khi đã xác định rõ chứng

cứ vi phạm, tòa án phải ra phán quyết yêu cầu người vi phạm bồi thường thiệt hại cho người nắm giữ quyền SHTT

Hiệp định cũng kêu gọi các quốc gia cần lưu ý, trong trường hợp trên thị trường xuất hiện hành vi ăn cắp bản quyền với quy mô lớn, theo khung hình phạt, người có hành

vi vi phạm bản quyền sẽ bị khởi tố, có thể bị phạt tù, hoặc chịu các hình phạt khác Các thủ tục và biện pháp chế tài theo quy định của Hiệp định TRIPs gồm 2 nhóm cơ bản: các biện pháp chế tài dân sự, hành chính và hình sự

Giải quyết tranh chấp

Tranh chấp phát sinh liên quan đến Hiệp định TRIPs là quy định quan trọng nhất trong lĩnh vực này và sẽ được giải quyết theo quy định của Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB) Điều 63 yêu cầu các thành viên WTO phải công bố, hoặc ít nhất cho công chúng tiếp cận bằng ngôn ngữ quốc gia, tất cả các luật, quy định, quyết định xét xử cuối cùng và quyết định hành chính giải quyết vụ việc liên quan đến việc đăng ký, bảo hộ, thực thi, ngăn chặn lạm dụng quyền SHTT Ngoài ra, các thành viên phải công bố mọi thỏa thuận đã ký với các thành viên WTO khác trong lĩnh vực quyền SHTT

Hạn chế của HĐ TRIPS:

+ Hiệp định TRIPS không thể bao hàm được một số diễn biến mới, như các vấn đề

về Internet và tác quyền kỹ thuật số, công nghệ sinh học tiên tiến, và quá trình nhất thể hóa những chuẩn mực toàn cầu về luật pháp hoặc thông lệ Hiệp định này mới chỉ đặt nền tảng cho việc bảo hộ IPR ở mức tối thiểu chứ chưa phải tối đa

+ Hiệp định đã không xem xét một cách thích đáng sự khác biệt giữa hai khối quốc gia phát triển và đang phát triển trong quá trình phát triển khoa học - công nghệ

Trang 18

+ Không có các biện pháp cụ thể nhằm rút ngắn khoảng cách này

+ Hiệp định lại chỉ chú trọng đến quyền SHTT, không đề cập đến trách nhiệm xã hội của quyền sở hữu này và như vậy vô hình chung sẽ làm tăng thêm khoảng cách giữa hai khối quốc gia này

+ Các nước đang phát triển đã không thể khai thác triệt để các biện pháp ưu tiên

mà CƯ dành cho, do tính chất không bắt buộc của các biện pháp ưu tiên đó

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả trong Tư pháp quốc tế

2 Trình bày nguyên tắc, điều kiện và nội dung bảo hộ quyền tác giả theo công ước Berner 1886

3 Trình bày nguyên tắc, điều kiện và nội dung bảo hộ quyền tác giả theo công ước Giownever 1952 – Công ước toàn cầu về quyền tác già

4 Trình bày nội dung bảo hộ quyền tác giả theo Hiệp định thiết lập quan hệ quyền tác giả giữa Việt Nam và Hoa Kỳ 1998

5 Bảo hộ quyền tác giả có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

6 Trình bày nguyên tắc, điều kiện và nội dung bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo Công ước Pari 1883 về quyền sở hữu công nghiệp

7 Trình bày nguyên tắc và nội dung bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo Hiệp định Trips 1995

8 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

Trang 19

CHƯƠNG 7 THỪA KẾ

1 THỪA KẾ VÀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ

Thừa kế là sự dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống Thừa

kế là một chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền,

nghĩa vụ của người thừa kế

Thừa kế là một trong những chế định quan trọng của dân luật các nước và cũng là

một chế định quan trọng của tư pháp quốc tế Quyền thừa kế có mối quan hệ mật thiết với

quyền sở hữu và do quyền sử hữu quyết định Trong đó, việc để thừa kế và hưởng thừa kế

sẽ dẫn đến vấn đề chuyển quyền sở hữu từ người để thừa kế cho người được hưởng quyền

thừa kế chỉ có thể là đối tượng của quyền sở hữu

Pháp luật về thừa kế ở các nước đa số được xác định dựa trên hai nguyên tắc

chính:

- Tự do di chúc

- Bảo vệ quyền lợi của cá nhân, gia đình và xã hội

Dựa trên các chế độ sở hữu khác nhau và do ảnh hưởng của các yếu tố như chế độ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, phong tục tập quán, tôn giáo,… mà pháp luật về thừa kế

của các nước có sự khác nhau

Về nguyên tắc, tất các các quan hệ trong lĩnh vực thừa kế phát sinh trong phạm vi quốc gia nào thì do pháp luật của quốc gia đó điều chỉnh Khi các quan hệ về thừa kế vượt

ra khỏi phạm vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật trong nước, hay nói cách khác, quan hệ

thừa kế có yếu tố nước ngoài, thì chúng thuộc phạm vi điều chỉnh của tư pháp quốc tế

Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là quan hệ thừa kế:

- Có ít nhất một bên là người nước ngoài (bao gồm cá nhân, pháp nhân và thậm chí

là quốc gia nước ngoài)

- Di sản đang ở nước ngoài

- Căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ xảy ra ở nước ngoài

Xung đột pháp luật trong lĩnh vực thừa kế thường được giải quyết bằng pháp luật

quốc gia và điều ước quốc tế, nhưng hiện nay pháp luật quốc gia đang giữ vai trò chủ đạo

2 NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT CỦA CÁC NƯỚC

2.1 Thừa kế theo luật

Thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định

Trang 20

Thừa kế theo pháp luật không có sự định đoạt của người để lại di sản mà chỉ có ý chí của nhà nước, thông qua pháp luật để giải quyết vấn đề thừa kế

Để điều chỉnh quan hệ thừa kế theo luật có yếu tố nước ngoài, pháp luật các nước

áp dụng các nguyên tắc khác nhau:

- Các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ:

Quan điểm thừa kế là một phương thức chuyển giao tài sản Do vậy các quy phạm pháp luật tập trung vào các hành vi lần lượt tác động đến mỗi tài sản, xảy ra suốt trong quá trình chuyển giao tài sản đó

Chia di sản thừa kế thành hai loại: động sản và bất động sản Việc định danh tài sản sẽ tuân theo pháp luật của nước nơi có tài sản

Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế:

* Đối với di sản là bất động sản: sử dụng hệ thuộc Luật nơi có tài sản

* Đối với di sản là động sản: sử dụng hệ thuộc Luật người để lại di sản thừa kết có nơi cư trú cuối cùng

- Các nước Tây Âu:

Quan điểm thừa kế là mối quan hệ nhân thân giữa người để lại thừa kế và người thừa kế Do đó các quy phạm pháp luật tập trung vào yếu tố nhân thân của người để lại di sản và di sản được coi như một khối tài sản

- Đó là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải là của bất cứ chủ thể nào khác

- Mục đích của việc lập di chúc là chuyển tài sản là di sản của mình cho người khác

- Chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết

Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, do đó di chúc phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và của di chúc nói riêng

Pháp luật các nước quy định rất khác nhau về điều kiện để di chúc có hiệu lực như hình thức của di chúc, năng lực lập và hủy bỏ di chúc,…

Trang 21

đó chỉ định với sự làm chứng của ít nhất hai người nếu người lập di chúc vắng mặt Tuy nhiên di chúc đó không đòi hỏi phải được viết bởi người lập di chúc, mà có thể bởi người được ủy quyền

Về năng lực lập di chúc

Hầu hết các nước quy định cá nhân đủ 18 tuổi là có đủ năng lực lập di chúc Pháp cho phép người chưa thành niên đến 16 tuổi được lập di chúc để định đoạt một nửa tài sản thuộc sở hữu của mình

Để xác định quyền thừa kế theo di chúc trong các quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, các nước trên thế giới áp dụng các nguyên tắc khác nhau:

Các nước Anh, Mỹ quy định:

- Đối với di sản là động sản: năng lực hành vi lập di chúc, hình thức của di chúc áp dụng hệ thuộc luật nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản

- Đối với di sản là bất động sản: năng lực hành vi lập di chúc, hình thức của di chúc áp dụng hệ thuộc luật nơi có tài sản

Ở các nước Tây Âu:

- Năng lực hành vi lập di chúc được xác định theo luật nơi cư trú cuối cùng của người lập di chúc hoặc nơi luật nơi có tài sản

- Hình thức của di chúc được xác định theo một trong các hệ thuộc sau: luật nơi có tài sản, luật quốc tịch của người lập di chúc, luật nơi cư trú của người lập di chúc Nếu người lập di chúc không tuân thủ quy định về hình thức của các hệ thống pháp luật nói trên mà lại thỏa mãn yêu cầu đối với luật nơi lập di chúc thì di chúc đó cũng không bị coi

là bất hợp pháp

Theo quy định của các nước Đông Âu: Tính hợp pháp của di chúc, năng lực lập và hủy bỏ di chúc áp dụng pháp luật của nước mà người để lại di sản là công dân vào thời điểm lập di chúc Riêng với vấn đề hình thức của di chúc thì bên cạnh đó còn có thể áp dụng luật nơi lập di chúc

Trang 22

Một số nước khác như Nga, Mông Cổ quy định: năng lực lập và hủy bỏ di chúc, hình thức của di chúc và các văn bản hủy di chúc áp dụng pháp luật của nước nơi người

để lại di chúc cư trú vào thời điểm lập giấy tờ Nhưng di chúc và việc hủy bỏ di chúc không bị coi là vô hiệu vì không đòi hỏi về mặt hình thức nếu như hình thức cuối cùng của nó thỏa mãn các yêu cầu của luật nơi lập giấy tờ hoặc pháp luật của nước sở tại Đối với các công trình xây dựng trên lãnh thổ của nước sở tại thì năng lực lập và hủy bỏ di chúc, hình thức của di chúc được xác định theo pháp luật của nước sở tại

3 GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ QUA CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ GIỮA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Để điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, ngoài việc quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia, các nước còn ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế

Trong các điều ước quốc tế đa phương, có thể kể đến các điều ước quan trọng sau: Công ước Lahaye 1892 (được sửa đổi, bổ sung năm 1900, 1925, 1928, 1964):

- Luật được áp dụng để điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, kể cả đối với động sản và bất động sản, là luật nhân thân của người để lại di sản thừa kế, mà cụ thể

là luật quốc tịch

- Công ước này cho đến nay vẫn chưa có hiệu lực pháp luật

Công ước Lahaye 1961 về giải quyết xung đột pháp luật liên quan đến hình thức của di chúc: hình thức của di chúc sẽ có giá trị pháp lý nếu nó thỏa mãn các yêu cầu của một trong số các hệ thống pháp luật sau:

- Đối với di sản là động sản: áp dụng luật quốc tịch của người để lại di sản

- Đối với di sản là bất động sản: áp dụng luật nơi có vật

4 VẤN ĐỀ “DI SẢN KHÔNG NGƯỜI THỪA KẾ” TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ

Di sản không người thừa kế là di sản mà không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối quyền hưởng di sản

Theo pháp luật về thừa kế của phần lớn các quốc gia thì với trường hợp di sản không người thừa kế, di sản sẽ thuộc về nhà nước Tuy nhiên, tính chất của quy định này trong pháp luật các nước có sự khác nhau:

Trang 23

- Pháp luật một số nước như Nga, Hungari, Tây Ban Nha, Italia,… nhà nước hưởng số di sản thừa kế với tư cách là người thừa kế

- Pháp luật của Anh, Mỹ, Pháp,… quy định nhà nước hưởng số di sản này như là tài sản vô chủ trên cơ sở thực thi quyền chiếm hữu các tài sản vô chủ đó

- Do đó có sự khác nhau trong pháp luật các nước trong việc định đoạt số phận di sản không người thừa kế Cụ thể là khi công dân của một nước cư trú và chết trên lãnh thổ của nước khác, để lại di sản không người thừa kế trên lãnh thổ nước đó hay ở một nước thứ ba

Đối với những nước quy định nhà nước hưởng di sản không người thừa kế với tư cách là người thừa kế:

- Nếu nước đó xây dựng hệ thống quy phạm xung đột trên cơ sở quy tắc Luật quốc tịch thì số di sản này được chuyển giao cho nhà nước mà người để lại di sản thừa kế mang quốc tịch

- Nếu nước đó xây dựng hệ thống quy phạm xung đột trên cơ sở quy tắc Luật cư trú thì số di sản này được chuyển giao cho nhà nước nơi người để lại di sản thừa kế cư trú vào thời điểm người đó chết

Đối với những nước quy định nhà nước hưởng di sản không người thừa kế trên cơ

sở quyền chiếm hữu đối với tài sản vô chủ thì tài sản đó được chuyển giao cho nhà nước nơi hiện có số di sản thừa kế

Quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề di sản không người thừa kế:

- Trong Bộ luật dân sự 2005, tại điều 767, khoản 3 và khoản 4:

Di sản không người thừa kế là động sản thuộc về nhà nước mà người thừa kế để lại

di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết

Di sản không người thừa kế là bất động sản thuộc về nhà nước nơi có bất động sản Việc phân biệt tài sản là động sản hay bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản

Trong các điều ước quốc tế song phương mà Việt Nam là thành viên: vấn đề di sản không người thừa kế được giải quyết thống nhất theo nguyên tắc:

- Nếu di sản là động sản thì được giao cho nước ký kết mà người để lại di sản là công dân khi chết

- Nếu di sản là bất động sản thì thuộc về nước ký kết nơi có bất động sản đó

- Việc phân biệt tài sản là động sản hay bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có di sản

Trang 24

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Khái niệm thừa kế trong Tư pháp quốc tế

2 Trình bày phương pháp giải quyết xung đột về thừa kế theo pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế liên quan

3 Nêu cách xác định quyền sở hữu đối với di sản không có người thừa kế

Trang 25

CHƯƠNG 8 HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ

1 KHÁI NIỆM

1.1 Khái niệm về hôn nhân và gia đình

Khái niệm hôn nhân:

- Hôn nhân là một hiện tượng xã hội, là sự liên kết giữa đàn ông và đàn bà

- Dưới góc độ pháp lý, hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn Khái niệm gia đình:

- Gia đình là sự liên kết của nhiều người dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự giúp đỡ của nhà nước và xã hội

- Dưới góc độ pháp lý, gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các quyền và nghĩa

vụ giữa họ với nhau theo quy định của pháp luật

1.2 Khái niệm về hôn nhân và gia đình trong Tư pháp quốc tế

Quan hệ hôn nhân và gia đình, xét ở nhiều góc độ khác nhau, vừa là quan hệ pháp luật vừa là quan hệ xã hội rất phức tạp và nhạy cảm Trong điều kiện giao lưu dân sự và hội nhập quốc tế đang diễn ra rất mạnh mẽ, quan hệ hôn nhân và gia đình đã vượt ra khỏi biên giới mỗi quốc gia và mang yếu tố quốc tế rõ rệt

Các nước trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình Lý luận và thực tiễn tư pháp quốc tế của các nước cho thấy quan điểm về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như sau:

- Quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân của một nước với người nước ngoài, không kể các quan hệ đó phát sinh ở trong hay ngoài lãnh thổ nước đó

- Quan hệ hôn nhân và gia đình giữa người nước ngoài với nhau phát sinh tại một lãnh thổ một nước

- Quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân một nước với nhau phát sinh tại nước ngoài

Pháp luật Việt Nam quy định yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình tại khoản 14 – điều 8 – Luật hôn nhân và gia đình 2000 như sau:

- Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài

- Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam

- Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan

hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài

Trang 26

Để giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, các nước xây dựng các quy phạm xung đột trong hệ thống pháp luật quốc gia và các quy phạm xung đột trong các điều ước quốc tế

2 KẾT HÔN

2.1 Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về kết hôn theo pháp luật các nước

Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật

về điều kiện kết hôn và hình thức kết hôn Xung đột pháp luật về kết hôn thể hiện ở xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn

a Điều kiện kết hôn

Pháp luật các nước quy định về điều kiện kết hôn như sau:

Độ tuổi kết hôn: các nước quy định rất khác nhau về độ tuổi kết hôn: 14 đối với

nam và 12 đối với nữ ở các nước Tây Ban Nha, Chi Lê,… 18 tuổi đối với nam và 16 tuổi đối với nữ ở Hà Lan, Pháp,… ở Anh là 16 tuổi cho cả nam và nữ, 22 tuổi đối với nam và

20 tuổi đối với nữ,…

Điều kiện cấm kết hôn: một số nước cấm kết hôn đối với những người họ hàng

trong phạm vi 3 đời (như ở Pháp, Mỹ, Thụy Sỹ,…), hay 4 đời (Anh, Bungari,…)

Các điều kiện khác: người vợ góa hoặc ly dị chồng phải sau một thời gian nhất

định mới được tái giá, sự đồng ý của cha mẹ hay người giám hộ nếu người kết hôn chưa đến tuổi trưởng thành,…

Để giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn, đa số các nước áp dụng nguyên tắc Luật nhân thân của các bên đương sự Tuy nhiên, có nước thì áp dụng Luật quốc tịch, nước thì áp dụng Luật nơi cư trú

Ngoài ra, một số nước lại áp dụng nguyên tắc khác Mỹ, Ucraina áp dụng luật nơi tiến hành kết hôn

b Hình thức kết hôn

Xuất phát từ bản chất giai cấp của nhà nước, từ văn hóa, phong tục tập quán mà pháp luật các nước quy định nghi thức kết hôn khác nhau Nhưng tự chung lại, có các nghi thức kết hôn chính sau: nghi thức kết hôn dân sự, nghi thức kết hôn tôn giáo hoặc kết hợp cả hai nghi thức này

Để giải quyết xung đột pháp luật về hình thức kết hôn, pháp luật các nước đều sử dụng hệ thuộc Luật nơi tiến hành kết hôn Tuy nhiên, có một số nước còn quy định đi kèm với nguyên tắc này là một số bảo lưu hay các nguyên tắc khác Ví dụ:

Công dân Pháp khi kết hôn ở ngoài lãnh thổ Pháp thì phải thông báo trước việc kết hôn này về Pháp thì mới được công nhận là hợp pháp

Theo pháp luật Đức, nếu nghi thức kết hôn không phù hợp với quy định của pháp luật nơi tiến hành kết hôn nhưng lại đáp ứng yêu cầu của pháp luật nước đương sự mang quốc tịch thì cuộc kết hôn đó vẫn có giá trị pháp lý

Trang 27

Đối với Anh và Mỹ, nếu nghi thức kết hôn không phù hợp với quy định của pháp luật nơi tiến hành kết hôn nhưng lại đáp ứng yêu cầu của pháp luật nước mà một trong các đương sự cư trú vào thời điểm kết hôn thì cuộc kết hôn đó vẫn có giá trị pháp lý

2.2 Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam

a Điều kiện kết hôn

Điều kiện kết hôn trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được quy định tại điều 103 – Luật hôn nhân và gia đình 2000, điều 10 – Nghị định số 68/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Đối với việc kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài thì mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân thủ quy định tại điều 9, điều 10 – Luật hôn nhân và gia đình 2000

- Nếu người nước ngoài là người có hai hay nhiều quốc tịch thì điều kiện kết hôn của người đó được xác định theo pháp luật của nước người có có quốc tịch và đồng thời thường trú vào thời điểm đăng ký kết hôn; hoặc pháp luật của nước mà người có có hộ chiếu nếu người đó không cư trú tại các nước mà mình mang quốc tịch khi kết hôn

- Nếu người nước ngoài là người không quốc tịch thì điều kiện kết hôn của người

đó được xác định theo pháp luật của nước người đó thường trú

Đối với việc kết hôn giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam, trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì họ phải tuân theo pháp luật của nước mà họ là công dân hoặc nơi cư trú (nếu họ là người không quốc tịch); ngoài ra họ còn phải tuân thủ quy định tại điều 9, điều 10 – Luật hôn nhân và gia đình 2000, đó là các quy định về:

Điều kiện kết hôn Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000:

* Về độ tuổi: nam 20 tuổi và nữ 18 tuổi

* Kết hôn tự nguyện

* Không thuộc vào một trong các trường hợp về cấm kết hôn

Điều kiện cấm kết hôn Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000:

* Người đang có vợ hoặc có chồng

* Người mất năng lực hành vi dân sự

* Những người cùng dòng máu về trực hệ, những người có họ trong phạm vi 3 đời

và những người đã từng có quan hệ thích thuộc (giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi và con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể,

bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng)

* Giữa những người cùng giới tính

Điều kiện kết hôn trong các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước khác:

Đa số sử dụng hệ thuộc luật quốc tịch của đương sự để xác định điều kiện kết hôn

Ngày đăng: 17/04/2018, 18:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN