Lịch sử thê giới cũng đã chứng kiến những cuộc chiên tranh dai dẳng, đẫm máu bùng phát từ nguyên nhân là tranh châp lãnh thô biên giới giữa các quôc gia như tranh chấp lãnh thô bang Samu
Trang 1Có thể nói ràng, vấn đề lãnh thổ nói chung và lãnh thổ, biên giới cùạ mỗi quôc gia nói riêng là nội dung quan trọng nhất trong hệ thống pháp luật quôc tế.
Luật quốc tế về lãnh thổ, biên giới là một ngành luật độc lập của luật quôc tế, bao gồm tổng thê các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quôc tê điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia và
c ậc chủ thể khác của luật quốc tế về các vấn đề pháp lý liên quan đèn lãnh thổ nói chung, lãnh thổ và biên giới quốc gia nói riêng Trong hệ thông pháp luật quốc tế, luật quốc tế về lãnh thô, biên êiới giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc duy trì sự ổn định
v à bền vững của trật tự pháp lý quốc tê trong mối quan hệ giữa
c ác quốc gia
về phương diện khoa học luật quốc tế, quốc gia là chù thê
Cơ bàn và chủ yêu của luật quốc tê Chính vì vậy, quốc gia tham ỉpa vào hâu hêt các quan hệ quôc tê Quôc gia được hình thành bời các yếu tô tự nhiên và xã hội, đó là lãnh thổ, dân cư, chính phù và chủ quyên quốc gia Trong đó, lãnh thổ quốc gia là cơ sờ,
Trang 2nên tảng vật chất không thể thiếu để quốc gia hình thành, tồn tại
và phát triển
Ngoài ra, lãnh thổ quốc gia còn có ý nghĩa đối với việc tồn tại và duy trì ranh giới quyên lực nhà nước đối với một cộng đông dân cư nhât định Lịch sử hình thành, tồn tại và phát triên của các quốc gia trên thế giới đã khẳng định tính chất đặc biệt quan trọng của lãnh thổ quốc gia không chỉ đối với quốc gia mà đối với cả các quan hệ quốc tế Thực tiễn lịch sừ vận động và phát triển của thế giới đã chứng minh rằng, từ trước đến nay các tranh chấp, xung đột về lãnh thổ và biên giói là nguyên nhân phổ biên và chù yêu của các cuộc chiên tranh ở các quy mô khác nhau giữa các dân tộc và quôc gia Lịch sử thê giới cũng đã chứng kiến những cuộc chiên tranh dai dẳng, đẫm máu bùng phát
từ nguyên nhân là tranh châp lãnh thô biên giới giữa các quôc gia như tranh chấp lãnh thô bang Samu - Kasmir giữa Án Độ và Pakistan; tranh châp cao nguyên Golan giữa Syria và Israel; tranh chấp lãnh thổ giữa Israel và Palestin; tranh chấp chủ quyền đôi với đảo Chypre giữa Thô N hĩ Kỳ và Hy Lạp; tranh chấp giữa Anh và Argentina đôi với quân đảo Fankland (Islas Malvinas); tranh chấp chủ quyền đôi với quần đảo Kuril giữa Nhật Bản và Nga; tranh chấp quần đảo Tokdo (tiếng Hàn) hay Takeshima (tiếng Nhật) giữa Hàn Quôc và Nhật Bản, tranh chấp về chủ quyền giữa các quôc gia và vùng lãnh thổ trên biển Đông trong
đó có Việt Nam, Malaysia, Philippines, Brunei, Trung Quốc và Đài Loan đối với hai quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa Tranh châp về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những tranh châp đặc biệt phức tạp vê lãnh thô biên đảo Chính vì vậy, nếu không
có giải pháp hợp lý dung hòa quyên lợi của các bên liên quan thì nguy cơ xảy ra xung đột, ảnh hưởng lớn đến hòa bình, ổn định của các nước trong khu vực và trên thế giới là điêu không thê tránh khỏi
Chính vì tầm quan trọng đặc biệt đó của lãnh thổ quốc giạ
mà chế định về lãnh thô quôc gia trong luật quốc tế là một chê định rất quan trọng cả vê lý luận và thực tiễn
226
Trang 3v ề phương diện khoa học luật quốc tế, luật quốc tế điều chỉnh vấn đề lãnh thổ, biên giới bao gồm các nội dung cơ bản và chủ yếu sau:
- Quy định phương thức xác lập chủ quyền của quốc gia đôi với lãnh thô;
- Quy định phương thức phân định lãnh thổ quốc tế với lãnh thổ quốc gia cũng như phân định lãnh thổ, biên giới giữa các quốc gia với nhau;
- Xác lập chế độ pháp lý của các bộ phận cấu thành lãnh thổ quốc gia, biên giới quốc gia;
- Xác lập các vấn đề pháp lý cơ bản về giải quyết tranh châp lãnh thô, biên giới quốc gia
1.2 Phân loại lãnh thổ trong luật quốc tế
Căn cứ vào chế độ pháp lý và tính chất chủ quyền của các
hộ phận lãnh thô, có thể phân lãnh thô thành các loại sau đây:
- Lãnh thổ quốc gia là một phàn cùa trái đất, bao gôm vùng đất, vùng nước, vùng trời và vùng lòng đất thuộc chủ quyên hoàn toàn, riêng biệt và tuyệt đối của quốc gia
- Lãnh thổ thuộc quyền chủ quyền quốc giơ là những vùng lãnh thô mà về phương diện pháp lý quốc tế, quôc gia không có quyên xác lập chủ quyên nhưng quốc gia có cac quyền chủ quyên trong quá trình quản lý, khai thác, bảo vệ và
sử dụng Các vùng lãnh thổ thuộc quyền chủ quyền quốc gia chi
có ở trên biên, đó là vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyên kinh tế và thềm lục địa
- Lãnh thô quổc gia có chê độ sừ dụng quốc té: trước hêt phải khẳng định rằng các vùng lãnh thô này là lãnh thổ quôc gia, thuộc chủ quyền quốc gia nhưng xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng đặc biệt của chúng trong hoạt động hàng hải, hàng không
Trang 4quốc tế nên tại đây phương tiện bay, phương tiện bơi của tất cả các quôc gia có thê sử dụng đê “đi qua không gây h ạ i”. Các bộ phận lãnh thổ này rất đa dạng, có thể là kênh đào quốc tế (kênh đào Panama, kênh đào Suez); eo biển quốc tế như eo biển Mala
ca, eo biên Manche, eo biển Montreux - Thổ N hĩ K ỳ1 và kể cả vùng lãnh hải của quốc gia Bởi lẽ, theo quy định của công ước Liên hợp quốc (LHQ) về luật biển quốc tế năm 1982, tàu thuyền của tất cả các quốc gia đều được hưởng quyền “đi qua không gây hại ” trong lãnh hải của các nước có biển trên nguyên tắc tự do hàng hải
- Lãnh thổ quốc tế là những vùng lãnh thổ không thuộc chủ quyền (không phải là lãnh thổ) hoặc quyền chủ quyền của quốc gia như vùng trời quốc tế, vùng biển quốc tế, châu Nam cực, đáy đại dương Trên các vùng lãnh thổ quốc tế, tất cả các quốc gia đêu có quyên nghiên cứu khoa học, thăm dò, đo đạc, khai thác vì mục đích hòa bình.2
1.3 Lãnh thổ quốc gia trong luật quốc tế
1.3.1 Định nghĩa lãnh thể quốc gia
Lãnh thổ quốc gia là một trong bốn yếu tố cơ bản tạo nên
tư cách pháp lý cùa quốc gia - chủ thể cơ bản, chủ yếu của luật quốc tế Đồng thời, lãnh thổ quốc gia là không gian xác định chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế Mặt khác, lãnh thổ quôc
1 Chế độ pháp lý cùa kênh đào Suez đã được quy định tại Hiệp ước Constantinople ngày 29/8/1888; chế độ pháp lý cùạ eo biển Montreux được quy định tại Hiệp ước ngày 20/7/1936 về eo biển Thổ Nhĩ Kỳ (Détroites des Dardanelles) và hai Hiệp ước ngày 18/11/1901 và ngày 18/11/1903 về kênh đào Panama Theo các điều ước quốc tế này, chê độ độ sử dụng các kênh đào và eo biển này đã được quốc tế hóa.
2 Chế độ pháp lý của Nam cực đã được cụ thể hộa trong Công ước Washington năm 1959, chế độ pháp lý cùa vùng trời quốc tê đã được cụ the hóa trong Công ước Chicago năm 1944 và chế độ pháp lý của biển quôc tê, đáy đại dương cũng đã được cụ thể hóa trong Công ước cùa LHQ về luật biên năm 1982.
228
Trang 5gia là “bằng chúng’’ pháp lý chứng minh sự hiện hữu của một quốc gia trên thực tế Có nghĩa là, nếu không có lãnh thổ sẽ không có quốc gia tồn tại trên thực tế Tương tự, nếu một quốc gia không còn lãnh thổ thì tư cách chủ thể của luật quốc tế của quốc gia cũng sẽ chấm dút.
về phương diện pháp lý quốc tế, lãnh thổ quốc gia là một phần của trái đất bao gồm vùng đất, vùng nước, vùng trời trên chúng và lòng đất dưới chúng thuộc chủ quyền của quốc gia
1.3.2 Các bộ phận cẩu thành lãnh thồ quốc gia
1.3.2.1 Lãnh thổ vùng đất
Lãnh thô vùng đất của một quốc gia là toàn bộ phần đất liền (đất lục địa) và các đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của quốc gia kể cả các đảo và quần đảo gần bờ hoặc xa bờ Ví dụ, là một nước ven biển, lãnh thổ vùng đất của nước ta bao gồm toàn bộ dài đât hình chữ “S” nằm ờ lục địa Đông Nam châu Á và các đảo, quân đảo gần bờ hoặc xa bờ như đảo Thổ Chu, Bạch Long
Vĩ, Côn Đảo, Phú Quốc, c ồ n c ỏ , Phú Quý và 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Đổi với các quốc gia quần đảo như Indonesia3, Philippines4, lãnh thổ vùng đất bao gồm tất cả các đảo thuộc chủ quyền của quốc gia đó
Đối với tám quốc gia có lãnh thổ giáp Bắc cực là Cộng hòa Liên bang Nga, Mỹ, Na Uy, Canada, Đan Mạch, Thụy Điển, Phân Lan và Iceland, lãnh thổ của các quốc gia này còn bao gôm
cả phần đất hình rẻ quạt nằm trong khu vực Bắc cực Phần đất
3 Cộng hòa Indonesia (tiếng Indonesia: Repitblik Indonexia• Hán Việt: Nam Dương), là một quốc gia nằm trên hai lục địa ờ Đôn" Nam Á và châu Đại Dương Indonesia gồm 17.508 hòn đảo.
Cộng hòa Philippines (tiếng Philippines: Repúbliká Pilipinas), hay Philippin (tiêng Philippin: Pilipinas), trong tiếng Việt còn được gọi là Phi Luật Tân là niột nước ờ Đông Nam Á có thù đô là Manila và gồm 7.107 hòn đảo được gọi 'à quần đào Philippin, trong đó gần 700 đảo có người ờ.
Trang 6này được xác định bằng cách nối cực Bắc với hai điểm tận cùng của đường biên giới quốc gia tiếp liền với Bắc cực.
về phương diện pháp lý quốc tế, quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối đối với lãnh thổ vùng đất “Quốc gia chủ nhà” là chủ thể duy nhất có đầy đủ các quyền năng chiếm hữu,
sử dụng và định đoạt các vấn đề pháp lý liên quan đến lãnh thổ vùng đất của quốc gia Thẩm quyền này của quốc gia chủ nhà là riêng biệt và tuyệt đối không kể vị trí toàn bộ hoặc một phần của lãnh thổ nằm ờ đâu.5
Dựa vào vị trí địa lý và tính chất chủ quyền quốc gia đối với từng bộ phận lãnh thổ vùng nước mà lãnh thổ vùng nước của quốc gia được chia thành bốn bộ phận là vùng nước nội địa, vùng nước biên giới, vùng nước nội thủy và vùng nước lãnh hải
a Vùng nước nội địa
Vùng nước nội địa của quốc gia bao gồm các bộ phận nước ờ các sông, suối, kênh, rạch kể cả tụ nhiên và nhân tạo nằm trên đất liền hay biển nội địa Vùng nước nội địa thuộc chủ
5 Xuất phát từ hoạt động tìm kiếm, khám phá lãnh thổ hoặc kết quả của quá trình xâm lược thuộc địa trước đây, bên cạnh các vùng lãnh thô đã xác định ơ chậu Âu, châu Mỹ, các quốc ậia như Pháp, Anh, Hà Lan, M ỹ còn có lãnh thồ vùng đất ờ các đảo, cac quan đảo trên Thái Bình Dương, Đại Tây Dương.
230
Trang 7quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia Có nghĩa ỉà, quốc gia chủ nhà là chủ thể duy nhất cỏ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các vấn đề pháp lý liên quan đến vùng nước nội địa trên cơ sở phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của cộng đồng dân cư sống trên lãnh thổ quốc gia.
Đối với các kênh đào quốc tế và eo biển quốc tế, xuất phát
từ vị trí địa lý đặc biệt của chúng nằm trên đường hàng hải, hàng không quôc tê nên phương tiện bay, phương tiện bơi của tât cả các quôc gia đêu có quyên “đi qua không gây hại” theo nguyên tấc tự do hàng hải, tự do hàng không
b Vùng nước biên giới
Vùng nước biên giới của một quốc gia bao gồm nước ở biển nội địa, sông, suối, đầm ao, kênh rạch nằm trong khu vực biên giới giữa các quốc gia Chính vì vậy, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt và các vấn đề pháp lý khác liên quan đến vùng nước biên giới phải có sự đồng thuận của các quốc gia trong khu Vực biên giới Trong thực tiễn, các quốc gia có chung vùng nước biên giới sẽ ký kết các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương đê điêu chỉnh các hoạt động liên quan đến việc quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ vùng nước biên giới để quy định vê các vấn đê như: cách thức xây dụng, khai thác các công trình thủy điện, tưới tiêu, đánh bắt cá, bảo vệ môi trường, việc đi lại của người và phương tiện giao thông Do đó, vùng nước biên giới thuộc chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ nhimg không tuyệt đôi như ở vùng nước nội địa
c Vùng nước nội thủy
Vùng nước nội thủy là một bộ phận lãnh thổ trên biển của quốc gia Nội thủy có chiều rộng được xác định bởi một bên là
bờ biển còn bên kia là đường cơ sở của quốc gia ven biển Vùng nước nội thủy của quốc gia quần đảo là toàn bộ phần nước biên năm bên trong đường cơ sở của quôc gia quần đảo và được gọi lù vùng nước quần đảo
Trang 8về vị trí địa lý và pháp lý, nội thủy gắn liền với đất liền và
là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia, thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia Chính vì vậy, mọi luật
lệ, quy chế được ban hành trên đất liền đều được áp dụng ở vùng nước nội thủy mà không có bất kỳ ngoại lệ nào Chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia đối với vùng nước nội thủy được áp dụng cho cả lớp nước biển, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển và vùng trời trên nội thủy Theo đó, quốc gia ven biển có quyền tối cao trong việc chiếm hữu, sử dụng, khai thác và định đoạt các vấn
đề pháp lý đối với vùng nước nội thủy.6
d Vùng nước lãnh hải
Vùng nước lãnh hải là một bộ phận cấu thành lãnh thổ trên biển của quốc gia Lãnh hải có chiều rộng được xác định bởi một bên là đường cơ sở và bên kia là ranh giới phía ngoài của lãnh hải Trong trường họp quốc gia không đối diện hoặc không tiếp giáp với bất kỳ quốc gia nào trên biển thì ranh giới phía ngoài của lãnh hải chính là đường biên giới quốc gia trên biển Theo Điều 3 Công ước của LHQ về luật biển quốc tế năm 1982 thì
"Mọi quốc gia đểu cỏ quyển ẩn định chiều rộng lãnh hải của mình; chiểu rộng này không vượt quá 12 hải lý tỉnh từ đường cơ sở ”. Theo Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chù nghĩa (CHXHCN) Việt Nam về lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của CHXHCN Việt Nam ngày 12/5/1977 thì “Lãnh hải của mrớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý, ở phía ngoài đường cơ sở nôi liên các điểm nhô ra xa nhát của bờ biên và các điểm ngoài cùng cùa các đảo ven bờ cùa Việt Nam7 ’’
về phương diện chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ, lãnh hải là bộ phận lãnh thổ thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy
6 Xem thêm cách xác định và chế độ pháp lý của nội thủy tại chương Luật Biển quốc tế.
1. Điều 1.
232
Trang 9đủ của qụôc gia Trong vùng lãnh hải, tàu thuyền của các quốc gia có biên hay không có biển đều được quyền “đi qua không gây hại ”.8
Hiện nay, chưa có văn bản pháp lý quốc té nào quy định
độ cao của vùng trời thuộc chủ quyền của quốc gia Bên cạnh đó, hầu hết các quốc gia không quy định cụ thể độ cao này mà chỉ tuyên bố xác lập chủ quyền của quốc gia đối với vùng tròi mà thôi.9 Với vùng trời quốc gia, quốc gia có chủ quyền tối cao và trọn vẹn trong việc thiết lập và thực hiện các quyền năng vê chiếm hữu, sử dụng và định đoạt cũng như giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến vùng trời quốc gia Theo đo, quốc gia có toàn quyên điêu chỉnh, cho phép và kiểm soát mọi hoạt động hàng không, vũ trụ, kể cả hàng không dân dụng, quân sự, phi thưong mại, thê thao giải trí, tìm kiêm, cứu hộ, cứu nạn Đông
8 Xem thêm các vấn đề pháp lý về “quỵền đi qua không gây hại" và các vân
đề pháp lý về lãnh hải tại chương 7 ' Luật Biên quôc tê.
9 Ngày 5-6-1984, Chính phủ nươc Cộng hòa xã hội chù nghĩa Việt Nam đa ra Tuyen bố về vùng trời Viẹt Nam, tại điểm 1 cùa Tuyên bố này đã xác đinh ro:
"Vùng trời cùa Cộng hòa xã hội chù nghĩa tiệt Nam là khoáng không gtan o trên đất liền, nội thuy, lãnh hài và các hái'đáo Việt Nam và thuộc chu quycn hoàn toàn và riêng hiệt cita nước Cộng hòa xã hội chù nghĩa VỊật Nam ■
Năm 1985, tại Hội nghị cùa Tồ chức llàng không dân dụng quốc tế tô chức tại Canada, Liên Xo và Mỹ đưa ra đề nghị các quốc gia nen quy định độ cạo vùn« trời thuộc chủ quyền quốc gia là 100km+- lOkm Hai quôc gia nay ạp luận rằng độ cao IOOkrn là độ cao bay tôi thiêu cùa vệ tinh nhân tạo ± 10 km
là biên độ dao động bay cùa vệ tinh nhân tạo nhưng đề nghị cùa hai quoc gia này không được các quốc gia khác châp nhận.
Trang 10thời, mọi phương tiện bay nước ngoài được phép hoạt động trên lãnh thô vùng trời quốc gia đều phải tuân thủ tuyệt đối pháp luật của quốc gia sở tại.
Quốc gia chủ nhà là chủ thể duy nhất có quyền tối cao thực hiện quyên chiêm hữu, sử dụng và định đoạt cũng như giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến lãnh thổ vùng lòng đất của quốc gia
Ngoài các bộ phận cấu thành lãnh thổ tự nhiên của quốc gia như trên, tàu thuyền, máy bay quân sự, các công trình, thiết
bị nhân tạo của quốc gia như hệ thống cáp ngầm, ống dẫn ngầm, đảo nhân tạo mang cờ hoặc dấu hiệu riêng biệt, hợp pháp của quốc gia hoạt động hoặc nằm ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia (ở vùng biển quốc tế, châu Nam Cực, khoảng không vũ trụ) được thừa nhận có chế độ pháp lý như lãnh thổ quốc gia với tên gọi là
“lãnh thô di động”, ‘‘lãnh thô bay” hay “lãnh thô bơi”.
Từ việc nghiên cứu các bộ phận cấu thành lãnh thổ quốc gia có thể kết luận rằng: xuất phát từ lãnh thổ vùng đất, chủ
10 Điều IV Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa CHXHCN Việt Nam với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cũng đã xác định: "Mặt thặng đứng đi theo đường biên giới trên đât liên giữa Việt Nam và Trang Quôc nói tại Điều II
cùa Hiệp ước nàvphân định vùng trời và lòng đất giữa hai nước".
2 3 4
Trang 11quyền của quôc gia đôi với lãnh thô sẽ giảm dần khi tiến ra biển
và tiến lên không gian Trong đó, lãnh thổ vùng đất là bộ phận lãnh thô không thể thiếu và là nơi chủ yếu để quốc gia thực hiện chủ quyên của mình Chính vì vậy, chủ quyền quốc gia đối với lãnh thô vùng đât là mạnh nhất Mặt khác, lãnh thổ vùng đất quyết định lãnh thổ trên biển, lãnh thổ trên không và lòng đất Bởi lẽ, việc xác lập chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ vùng đất
là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để quốc gia lập chủ quyền đối với lãnh thô trên biển, lãnh thổ trên không và lãnh thổ lòng đất
1.4 Chủ quyền quốc gia đối vói lãnh thổ
1.4.1 Các học thuyết về chủ quyền quốc gia đối với lãnh thô
Lịch sử phát triển của khoa học luật quốc tế từ trước đến nay đã xuât hiện nhiều học thuyết, tư tưởng, quan điểm khác nhau vê quyên tôi cao của quốc gia đối với lãnh thổ, điển hình là học thuyêt tài vật, học thuyết cai trị và học thuyết thẩm quyền được hình thành, thừa nhận và phát triển ở châu Âu và Mỹ từ thời kỳ phong kiến cho đến đầu thế kỷ XX
1.4.1.1 Học thuyết tài vật
Thuyêt tài vật ra đời trong thời kỳ phong kiến và được khởi xướng bởi các nhà luật học người Đức xperạnski, Bustaman và Laband Thuyết tài vật cho rằng, lãnh thổ quốc gia
là một loại tài sản - bất động sản thuộc quyền sở hữu của quốc gia, như một vật thuộc quyền sở hữu của một cá nhân nhất định
C hính vì vậy, trong thời kỳ này, lãnh thổ quốc gia có thể được tặng cho, rnua bán, thừa kê theo sự định đoạt cúa vua Nói cách khác, việc thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt lãnh thổ quốc gia trong thời kỳ phon« kiến thuộc quyền tôi cao của vua N hững người khởi xướng và ủng hộ học thuyêt tài vạt đã sai lầm khi đông nhât chủ quyền quốc gia đôi với lãnh thô vói quyền sở hữu của cá nhân đối với tài sàn thuộc
sở hữu của cá nhân
Trang 121.4.1.2 Học thuyết cai trị
Thuyết cai trị ra đời trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản
ở châu Âu và được khởi xướng bởi các đại biểu như Beluychly, Phivicke, Erlonec và Palienco Học thuyết cai trị cho rằng, lãnh thổ quốc gia là khoảng không gian trong đó tồn tại quyền lực của nhà nước, là giới hạn lãnh thổ vùng đất, vùng nước, vùng trời trong đó chủ quyền quốc gia được thi hành Lãnh thổ quốc gia không phải là một vật mà chính là phạm vi cai trị của quốc gia Chính vì vậy, quyền lực của quốc gia ảnh hưởng tới đâu thì lãnh thô của quốc gia mờ rộng tới đó
Những người ủng hộ học thuyết này đã hợp pháp hóa sự bành trướng, phạm vi cai trị bàng xâm lược bất chấp lợi ích của cộng đồng dân cư sống trên lãnh thổ Học thuyết này chính là cơ
sở lý luận nhàm củng cố lợi ích của chế độ thực dân kiểu cũ
1.4.1.3 Học thuyết thẩm quyền
Học thuyết thẩm quyền ra đời vào năm 1906 do Rapniski khởi xướng và sau này được Kensel, s Rousseau và một số học giả khác ở châu Âu phát triển thêm Học thuyết này cho rằng, lãnh thổ quốc gia chỉ là một khái niệm trừu tượng Trong phạm
vi lãnh thổ quốc gia không chỉ tồn tại quyền lực của quôc gia chủ nhà mà còn tồn tại quyền lực của các quốc gia khác nữa (mặc dù quyên lực này rất hạn chế) Học thuyết này biện minh cho hành
vi của các quốc gia tư bản phát triên can thiệp vào công việc nội
bộ của các quốc gia thuộc địa, các quốc gia nghèo, kém phát triển Học thuyết thẩm quyền là cơ sở lý luận được các nước đế quốc tư bản vận dụng triệt để trong quan hệ quốc tế
Các học thuyết trên đều đề cập quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ một cách sai lệch Mặc dù được thê hiện ở nhiều mức độ khác nhau, chung quy lại các học thuyết này đều có nội dung phủ nhận một phần hoặc toàn bộ quyền tối cao của quốc gia thuộc địa hoặc các quốc gia phụ thuộc đối với lãnh thổ của
họ Chính vì vậy, hiện nay các học thuyết này không được thừa236
Trang 13nhận vì nội dung của chúng không phù hợp với bản chất của luật quốc tế hiện đại.
1.4.2 N ội dung chủ quyền quốc gia đổi với lãnh thổ
Luật quôc tế hiện đại thừa nhận chủ quyền quốc gia đôi với lãnh thô là một thuộc tính không thể tách rời và vốn có của mỗi quốc gia Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ là biểu hiện chủ quyên thiêng liêng và bất khả xâm phạm của quốc gia trên hai phương diện có quan hệ biện chứng, đó là phương diện vật chất và phương diện quyên lực Vê phương diện vật chát,
lãnh thổ quôc gia là cơ sở, nền tảng vật chất không thể thiếu đê một quốc gia hình thành, tồn tại và phát triển Lãnh thổ quốc gia thuộc quyền sờ hữu của quốc gia chủ nhà và chỉ có quốc gia chủ nhà là chủ thê duy nhất có toàn quyên chiếm hữu, sử dụng và định đoạt, giải quyết các vấn đề pháp lý đối với lãnh thổ quốc gia trên cơ sở tôn trọng lợi ích và sự lựa chọn của cộng đồng dân cư sổng trên lãnh thô Quyền tổi cao của quốc gia đối với lãnh thô xét về phương diện vật chất có thể coi như quyền sở hữu của quốc gia đôi với tài sản là lãnh thô của quốc gia về phương diện quyền lực, quyên lực của quốc gia được thực hiện trong phạm VI
lãnh thổ quôc gia Đây là quyền tối cao của quốc gia đối với mọi
cá nhân, tô chức kể cả cá nhân, tổ chức, pháp nhân nước ngoài
và các tổ chức quốc tế Quyền lực này được thực hiện thông qua hoạt động của hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của nhà nước Hoạt động của các cơ quan này bao trùm trên tât cả các lĩnh vực của đời sống xã hội của quốc gia trong phạm
vi lãnh thô cũng như trong quan hệ quốc tế Theo đó, trong phạm
vi lãnh thô của mình, quốc gia chủ nhà có quyền thực hiện mọi hoạt động không bị pháp luật quốc tế cấm Các quốc gia khác, các tổ chức quôc tế có nghĩa vụ tôn trọng quyền lực của quôc gia chù nhà và không có quyền chia sé hoặc áp đặt quyền lực cùa mình trên lãnh thổ của quốc £Ĩa khác Kêt hợp đúng đắn và hài hòa hai phương diện quyền lực và vật chât của quyền tối cao của
Trang 14quốc gia đối với lãnh thổ sẽ bảo đảm được chủ quyền của quốc gia đối với lãnh thổ, đúng với bản chất của nó.
Luật quốc tế thừa nhận quyền dân tộc tự quyết là cơ sở pháp lý để thực hiện chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ Chính
vì vậy, mọi vấn đề pháp lý liên quan đến việc định đoạt lãnh thổ quôc gia đêu phải dựa trên ý chí và quyền tự quyết của người dân sống trên lãnh thổ quốc gia thông qua hình thức trưng cầu dân ý
1.4.3 Quy ch ế pháp lý của lãnh thổ quốc gia
1.4.3.1 Khái niệm quy chế pháp lý của lãnh thổ quốc gia
về phương diện pháp lý, quy chế pháp lý của lãnh thổ quốc gia là biểu hiện và là sự cụ thể hóa quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ, là chủ quyền không thể phân chia và tước đoạt của quốc gia trong quan hệ quốc tế được luật quốc tế thừa nhận và bảo đảm thực hiện Nói cách khác, quy chế pháp lý của lãnh thổ quốc gia chính là tông thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia nhằm thiết lập và điều chỉnh chế độ quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ và định đoạt các vân đề pháp lý liên quan đến lãnh thổ quốc gia
Quá trình thực hiện quyền chiếm hữu, quản lý, sử dụng, khai thác và đinh đoạt của quốc gia đối với lãnh thổ được thực hiện thông qua hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của quốc gia Nội dung chủ yếu về quy chê pháp lý của lãnh thổ quốc gia bao gồm nguyên tắc bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và các nội dung cơ bản khác
1.4.3.2 Nguvên tắc bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ
Nguyên tắc bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ bắt nguồn từ nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia đổi với lãnh thổ và các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế Nguyên tắc này được ghi nhận trong Hiến chương LHQ và các văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng khác như Tuyên bố ngày 24/10/1970 của Đại238
Trang 15hôi đồng LHQ về các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chuơng LHQ, Nghị quyêt 290 của Đại hội đồng LHQ về các nhân tô chủ yếu của hòa bình ngày 1/12/1949, Nghị quyết về trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa ngày 14/12/1960, Thông cáo chung của hội nghị Á - Phi tại Bandung, Indonesia ngày 24/4/1955
Điều 2 khoản 4 của Hiến chương LHQ đã khẳng định:
“Trong quan hệ quan hệ quốc tế, các hội viên Liên hợp quôc không được có hành động đe dọa băng vũ lực hay sử dụng vũ lực
dể chổng lại quyên bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nên độc lập chỉnh trị của bất kỳ nước nào, hoặc bằng cách này hay cách khác làm trái với những mục đích của Liên hợp quốc
B ất khả xâm phạm lãnh thổ quốc gia có nghĩa là trong quan hệ quôc tê, các quốc gia không được sử dụng hoặc đe dọa
sử dụng vũ lực đê xâm phạm lãnh thô quốc gia khác Toàn vẹn lãnh thổ có nghĩa là tất cả các quốc gia đều có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật quôc tê, không tiến hành các hành động đe dọa hoặc xâm phạm đên lãnh thổ quốc gia khác như chuyển dịch, thôn tính, chia căt lãnh thổ bao gồm biên giới quốc gia của bât kỳ quốc gia nào dưới bất kỳ hình thức và biện pháp nào
Q uốc gia chủ nhà có quyền thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết đê bảo vệ, giữ gìn và quàn trị lãnh thổ theo sự lựa chọn của họ nhăm đảm bảo tính thống nhất và toàn vẹn lãnh thô của quốc gia Q^uôc gia có quyền sử dụng tất cà các biện pháp cân thiết, bao gôm cả sử dụng vũ trang đê phòng thủ, bảo vậ hoặc chổng lại bât kỳ sự vi phạm nào từ bên ngoài vào lãnh thô quôc gia vơi điều kiện tuân thủ luật pháp quốc tế
T óm lại, nguyên tắc bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ bao gồm các yếu tố cơ bản sau đây:
- N ghiêm cấm xâm chiêm lãnh thô quốc gia bàng cách đe dọa hoặc sử dụng vũ lực;
Trang 16- Biên giới quốc gia là ổn định và bất khả xâm phạm;
- Không được sừ dụng lãnh thổ quốc gia khi không được
sự đồng ý của quốc gia chủ nhà;
- Không được sử dụng lãnh thổ hoặc cho các quốc gia khác
sử dụng lãnh thổ của mình để gây thiệt hại cho quốc gia thứ b a.11
1.4.3.3 Nội dung quy chế pháp lý của lãnh thổ quốc gia
X uất phát từ nguyên tắc chù quyền quốc gia, quốc gia chủ nhà có quyền ấn định quy chế pháp lý đối với lãnh thổ của mình trên cơ sở phù hợp với pháp luật quốc tế Dựa vào các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, quốc gia xác lập quy chế pháp lý của lãnh thổ quốc gia bằng cách ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh quy chế pháp lý của lãnh thổ quốc gia với những nội dung
cơ bản sau đây:
11 Ví dụ, các nước trong khu vực tiểu vùng sông Mekong, đặc biệt là các quốc gia ở hạ nguồn như Cambodia và Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ "khát nước ngọt ” hoặc biến đôi dòng chày, cạn kiệt tài nguyên, thay đồi hệ sinh thái
tự nhiên của sông Mekong vì những công trình xây đập thủy điện, tưới tiêu của các nước ở thượng nguồn đặc biệt là Trung Quốc từ những năm đầu của thế kỷ XXI đến nay Theo dự báo của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Nông lương thế giới (Food and Agriculture Organization, FAO), Tổ chức Khí tượng thế giới (World Metereologỉcal Organization, OMM) và Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization, WHO), việc xây dựng các công ừình đập chăn nước nhăm mục đích thủy điện của Trung Quốc và Lào sẽ là một nguy cơ lớn đôi với môi trường sinh thái sông Mekong nói riêng và toàn khu vực nói chung và nó sẽ “giêt chêt” sông Mekong trong tương lai Việc sử dụng này, trong nhiều trường hợp sẽ tạo nên những tình thế hoặc tranh chấp
đe dọa hòa bình, an ninh quôc tê Việc sử dụng lãnh, thồ của mình gây thiệt hại cho quốc gia khác có thể gây ra những tình thế hoặc tranh chấp đe dọa hòa bình, an ninh thế giới Chẳng hạn, Myanmar xây dựng đập nước trên sông
N aaf năm trên lãnh thô của Myanmar nên Bangladesh đã phản đôi quyết liệt
vì cho răng việc Myanmar xây dựng đập nước như vậy là gây thiệt hại cho họ
N gày 15/1/2001 Bangladesh đã đưa quân đội đến khu vực này Tương tự, ngày 13/9/2002 Thủ tướng Israel tuyên bố sẽ đưa quân đội vào khu vực sông Hasbani (nguồn cung cấp nước chủ yếu cho Israel) nếu Liban cố tình làm chệch hướng dòng chảy cùa sông này.
240
Trang 17Một là, quốc gia có toàn quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội phù hợp với nguyện vọng của cộng đồng dân cư sống trên lãnh thổ đó mà không có sự can thiệp hoặc áp đặt dưới bất kỳ hình thức nào từ bên ngoài Trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, quốc gia chủ nhà có quyền tối cao về lập pháp, hành pháp và tư pháp Mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của quốc gia phải dựa trên nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết, lợi ích của quốc gia, lợi ích của cộng đồng dân
cư sống trên lãnh thổ đó và do quốc gia chủ nhà quyết định Các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế không có quyền can thiệp Bởi lẽ, “không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia” đã được thừa nhận là một trong 7 nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế Mọi tổ chức, cá nhân cư trú, hoạt động trong lãnh thổ quốc gia đều phải tuân thủ pháp luật của quốc gia đó Mọi hành động gây sức ép hay can thiệp nhằm mục đích ép buộc quốc gia từ bỏ hoặc thay đổi chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa -
xã hội mà quốc gia đã lựa chọn là hành vi vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế
Hai là, quốc gia có quyền lựa chọn và quyết định phương hướng phát triển đất nước, thực hiện những cải cách kinh tế - xã hội phù hợp với các đặc điểm của quốc gia Các quốc gia khác có nghĩa vụ tôn trọng sự lựa chọn đó Sự lựa chọn này xuât phát từ đặc điểm riêng biệt của mỗi quốc gia
Ba là, quốc gia tự quy định chế độ pháp lý đối với từng vùng của lãnh thổ quốc gia Theo nội dung này chỉ có quốc gia chủ nhà mới là chủ thể có toàn quyền quyết định chế độ pháp lý dối với từng vùng của lãnh thổ quốc gia trôn cơ sờ phù hợp với các chuẩn mực chung của luật pháp quốc tế Ví dụ, Công ước của LHQ về luật biển quốc tế năm 1982 tại Điều 3 quy định:
“Mọi quốc gia đều có quvền ẩn định chiều rộng lãnh hài cùa mình; chiêu rộng này không vượt quá 12 hài lý kê từ đường cơ
sở được vạch ra theo đúng công ước''. Như vậy, quôc gia có quyền trong việc ấn định chiều rộng lãnh hải của mình và
Trang 18quyền này chỉ bị giới hạn bởi quy định về không vượt quá
Năm là, quốc gia có quyền tài phán đối với mọi cá nhân, tổ chức trong phạm vi lãnh thổ quốc gia (trừ trường hợp pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế mà quốc gia ký kết hoặc tham gia có quy định khác) Xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia, quốc gia có quyên ban hành pháp luật có phạm vi áp dụng trên toàn lãnh thổ quốc gia bắt buộc cá nhân, tổ chức kể cả các cá nhân, tổ chức hước ngoài phải tuân thủ Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt, các cá nhân được hưởng các quyền ưu đãi,
m iễn trừ ngoại giao, lãnh sự ghi nhận trong các điều ước quốc tế
m à quốc gia đã ký kết hoặc tham gia Quốc gia có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thích hợp, kể cả quốc hữu hóa, trưng thu, trưng dụng, trưng m ua tài sản của các cá nhân, tổ chức nước ngoài Điều kiện và thể thức thi hành các hoạt động trên do pháp luật của quốc gia quy định
Sáu là, quốc gia có quyền và nghĩa vụ bảo vệ và cải tạo lãnh thổ quốc gia theo những yêu cầu chung của luật pháp quốc
tế như đảm bảo môi trường sống trong sạch, không gây ô nhiễm môi trường ở vùng biển, châu Nam Cực
242
Trang 191.5 Thay đổi và xác lập chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ
1.5.1 Thay đổi lãnh thổ quốc gia
Lãnh thổ quốc gia được hình thành trong quá trình vận động của lịch sử, gắn liền với cộng đồng dân cư nhất định Lãnh thổ quốc gia cũng gắn liền với đặc trưng văn hoá, xã hội của cộng đồng dân cư này Mặc dù lãnh thổ quốc gia là ổn định, toàn vẹn và bất khả xâm phạm, lãnh thổ quốc gia vẫn có thể thay đổi trong một số trường hợp nhất định trên cơ sờ pháp luật quốc tế
và quốc gia
Trước đây, khi luật quốc tế còn thừa nhận quyền chiến tranh trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế, bao gồm cả tranh chấp về lãnh thổ, biên giói thì cơ sở của việc thay đổi lãnh thổ quốc gia chủ yếu là các cuộc chiến tranh xâm chiếm lãnh thổ
Từ khi luật quốc tế hiện đại ra đời và ghi nhận nguyên tắc cấm
sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế là một nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế thì việc thay đổi lãnh thổ quốc gia bằng chiến tranh xâm chiếm lãnh thổ đã bị loại trừ Theo đó, bất kỳ quốc gia nào khi tiến hành bất cứ hình thức thay đổi lãnh thổ quốc gia nào cũng phải dựa trên nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết Thông qua hình thức trưng cầu dân ý, nhà nước đại diện cho cộng đồng dân cư của mình sẽ ký kết các điều ước quốc tế về lãnh thổ với các quốc gia khác nhằm mục đích thay đôi lãnh thô quôc gia
Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, lãnh thổ quốc gia có thể được thay đổi bằng một trong các hình thức sau đây:
Thử nhất, thay đổi lãnh thổ quốc gia do phân chia một quốc gia thành hai hay nhiều quốc gia mới như Tiệp Khắc đã phân chia thành hai quốc gia độc lập là Cộng hòa Czech và Slovakia năm 1993; Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) đã phân chia thành 15 quốc gia độc lập vào năm 1991
Trang 20Thứ hai, thay đổi lãnh thổ quốc gia do hợp nhât hai hay nhiều quốc gia thành một quốc gia mới Ví dụ: tháng 8/1990, hai nước Cộng hòa dân chủ Đức và Cộng hòa Liên bang Đức đã hợp nhất thành Cộng hòa Liên bang Đức.
Thứ ba, thay đổi lãnh thổ quốc gia do sáp nhập một bộ phận lãnh thổ quốc gia này vào lãnh thổ của quốc gia khác V í dụ: ngày 18/8/1945, ba ngày sau khi Nhật Bản tuyên bố đâu hàng, chấm dứt chiến tranh thế giới lần thứ hai, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết đã sáp nhập quần đảo Kuril thuộc lãnh thổ của Nhật Bản vào lãnh thổ của mình
Thử tư, thay đổi lãnh thổ quốc gia do trao đổi một bộ phận lãnh thổ giữa hai quốc gia với nhau Ví dụ: ngày 1/7/1997, Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland đã trao trả lại Hồng K ông cho Trung Quốc sau hơn 100 năm chiếm đóng; hoặc ngày 31/12/1999 Bồ Đào Nha trả lại Ma Cao cho Trung Quốc sau 442 năm chiếm đóng
Thứ năm, thay đổi lãnh thổ quốc gia do chuyển nhượng một bộ phận lãnh thổ của quôc gia này cho một quốc gia khác.Ví dụ: Sa Hoàng đã bán vùng lãnh thổ bang Alaska hiện nay cho Hoa Kỳ vào ngày 9/4/1867 với giá 7.200.000USD.12
Thứ sáu, thay đổi lãnh thổ quốc gia bàng một điều ước quốc
tê đặc biệt Ví dụ: việc thay đôi lãnh thổ Triều Tiên sau cuộc chiên tranh liên Triều bắt đầu từ ngày 25/6/1950 và kết thúc ngày 27/7/1953 bàng hiệp định tạm đình chiến Bàn Môn Điếm13; hoặc thay đổi lãnh thổ cùa nước ta sau Hiệp định Geneva năm 1954
1.5.2 Xác lập chủ quyền quốc gia đổi với lãnh thổ
Vấn đề xác lập chủ quyền quốc gia đối với các vùng lãnh thô mới được đặt ra trong thực tiễn pháp luật quốc tế từ rất sớm
12 Xem thêm: http://vi.wikipedia.org/wiki/Alaska
13 Xem thêm:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn _tranh_Tri%El% BB%
244
Trang 21Trong quá trình phát triển của chế định này, có ba nguyên tắc xác lập chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ phổ biến và chủ yếu sau đây:
- Xác lập chủ quyền bàng chiếm hữu;
- Xác lập chủ quyền bằng chuyển nhuợng tự nguyện;
- Xác lập chủ quyền theo thời hiệu
1.5.2.1 Nguyên tẳc xác lập chủ quyển bằng chiếm hữu
Xác lập chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ theo nguyên tắc chiếm hữu có nghĩa là hành động của một quốc gia tuyên bố xác lập chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ vô chủ, không thuộc chủ quyền của bất kỳ quốc gia nào vào thời điểm xác lập Cho đến nay, có thể khẳng định rằng, trên trái đất này không còn lãnh thổ vô chủ nữa nhưng về phương diện pháp lý nguyên tăc này là cơ sờ pháp lý được vận dụng đê giải quyết tranh châp vê chủ quyền lãnh thổ giữa các quốc gia
Nguyên tắc xác lập chủ quyền bằng chiếm hữu được chia thành hai dạng là chiếm hữu tượng trưng và chiếm hữu thực sự
- Nguyên tắc chiếm hữu tượng trưng
Từ đầu thế kỷ XII, cùng với sự phát triển của ngành hàng hài thế giới, các cường quốc hàng hài châu Âu như Tây Ban Nha,
Bồ Đào Nha, Italia, Hà Lan, Vương quốc Anh, Pháp đã liên tục sai phái các thần dân của mình vượt các đại dương đi tìm vùng đất mới để mở rộng lãnh thổ Một trong những cuộc thám hiêm
vĩ đại của thế giới có thể kể đến là sự kiện các thủy thủ người Tây Ban Nha tìm ra quần đảo Canary năm 1130 Đen năm 1480, những thủy thủ Bồ Đào Nha đã đến mũi Nam Cực và châu Phi Năm 1492, Christophe Colombo lần đầu tiên đặt chân lên lục địa
M Vũ Phi Hoàng: Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bộ phận lãnh thô Tiệt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, 1988.
Trang 22châu Mỹ; năm 1495, Caboto tìm ra Bắc Mỹ; năm 1499, Cabran
và Vespucsi đến bờ biển N am Mỹ và năm 1497, Vasco de Gama
đi vòng quanh châu Phi đến Án Độ bàng đường biển Đến đầu thế kỷ XV, Fernand de M agienlan đã trở thành người đầu tiên đi vòng quanh thế giới bằng tàu biển Từ những khám phá vĩ đại
đó, luật quốc tế thời kỳ bấy giờ đã hình thành học thuyết làm cơ
sở cho việc xác lập chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ vô chủ
đó là học thuyết quyển khám phá trước tiên.
Theo học thuyết này, cơ sở để xác lập chủ quyền quốc gia đối với vùng lãnh thổ mới được thực hiện thông qua sự công nhận một số hành vi mang tính chất tượng trưng như hành vi của viên thuyền trưởng hay nhà thám hiểm nào đó đã đặt chân lên đảo hay bờ biển của vùng lãnh thổ vô chủ và để lại bằng chứng như cây thập tự, cột gỗ, bia đá hay bất kỳ dấu tích nào để chứng m inh sự có mặt của họ trên lãnh thổ đó Tiếp đó, nhà nước
m à nhà thám hiểm là công dân phải đưa ra tuyên bố chính thức
về việc xác lập chủ quyền của quốc gia đối với vùng lãnh thổ mới phát hiện
Hai điều kiện trên là đủ để một m ột vùng đất vô chủ được coi là thuộc chủ quyền của quốc gia phát hiện ra nó m à không cần có sự hiện diện của chính quyền nhà nước thông qua việc kiểm soát và thực hiện chủ quyền trên thực tế
N guyên tắc chiếm hữu tượng trưng đã bộc lộ những thiếu sót và hạn chế Một là, việc chiếm hữu theo cách này rất dễ dàng đối với vùng đất, đảo nhỏ nhưng ngược lại, đối với những vùng đất đai rộng lớn nếu chỉ lưu lại bàng chứng tại một điểm nào đó nhưng thực chất nhà thám hiểm chưa khám phá hết vùng đất mới
m à quốc gia đã xác lập chủ quyền hoàn toàn đối với vùng đất này là chưa hợp lý Ví dụ: ngày 24/6/1497, John Cabot cùng thủy thủ đoàn chỉ mới đặt chân lên bờ biển Bonavista, thuộc bang
N ew Foundland của Canada ngày nay và chỉ đi dọc từ vĩ tuyến
56 đến 38 Bắc m à nước Anh đã đòi xác lập chủ quyền đối với cả246
Trang 23vùng Bắc Mỹ rộng lớn.15 Hai là, do điều kiện thông tin lúc đó chưa phát triển nên đã dẫn tới tình trạng các quốc gia không được thông tin đầy đủ và kịp thời về một vùng lãnh thổ đã được một quốc gia khác phát hiện Do vậy, đã dẫn đến hệ quả là nhiều quốc gia đều tuyên bố chủ quyền trên một vùng đất mới Ba là,
những dấu tích, chứng cứ như cờ, cây thập tự, cột gỗ được lưu lại trên các vùng lãnh thổ mới phát hiện không phải bao giờ cũng nguyên vẹn qua thời gian Điều này dẫn đến tình trạng tái phát hiện, sáp nhập đi sáp nhập lại các vùng đất mới Chính vì vậy, dần dần nguyên tắc chiếm hữu tượng trưng đã được thay thế bàng nguyên tắc chiếm hữu thực sự
- Nguyên tắc chiếm hữu thực sự
Nguyên tắc này được khởi xướng và hình thành từ năm
1884 Thời kỳ này, đê giải quyêt tranh châp vê những vùng đât thuộc Congo (châu Phi), 13 quốc gia châu Âu và Hợp chủrig quốc Hoa Kỳ đã tổ chức một Hội nghị tại Berlin và ký thỏa ước Berlin năm 1885, trong đó có hai điều khoản quy định: việc quốc gia nào chiếm hữu một vùng lãnh thổ mới ở châu Phi đều phải thông báo cho các nước tham gia hội nghị biết (Điều 34); và các nước chiếm hữu phải bảo đảm sự tồn tại cùa một tổ chức chính quyền tại vùng lãnh thổ họ chiếm hữu để thi hành luật pháp, và khi cần thiết để bảo vệ tự do buôn bán và quá cảnh trong các điều kiện đã được quy định (Điều 35)
Mặc dù Hiệp ước Berlin năm 1885 chỉ giải quyết vấn đề tranh châp vê lãnh thô ở châu Phi và chỉ ràng buộc 14 quôc gia
15 John Cabot là một người Ý, sinh tại Genoa, tên trên giấy khai sinh là Giovanni Caboto, vì bất mãn với chính quyền Ý, ông di cư sang sống tại Anh Quốc Là một nhà thám hiểm, ông thỉnh cầu Hoàng đẽ Anh Henri VII tài trợ cho cuộc hành trình đi tìm Tân Thế giới Được nhà vua châp thuận, ông cải tên là John Cabot Cuộc hành trình đầy mạo liiêm phiêu lưu khởi hành vào tháng 6-1497, từ cảng Bristol, trên con thuyền buồm mang tên The Matthew Sau 52 ngày lênh đênh trên Đại Tây Dương, ôns và đoàn tluìy thù đã tới bờ biển Bonavista, nay thuộc bang New Foundland cùa Canada.
Trang 24ký kết nhung hai điều khoản quan trọng nói trên đã được Viện luật Lausanne - Thụy Sĩ đưa vào vào Dự thảo Tuyên bố ngày 7/9/1888 về chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ Từ khi Tòa án Công lý thường trực quốc tế và sau này là Tòa án Công lý quốc
tê thông qua các phán quyêt vê giải quyết các tranh châp đôi với đảo Grenland giữa Đan Mạch và Na Uy, đảo Clipperton giữa Pháp và Mexico nguyên tắc chiếm hữu thực sự đã trở thành nguyên tắc đặc biệt quan trọng để giải quyết các tranh chấp về lãnh thô biên giới giữa các quôc gia Theo nguyên tăc này, luật quốc tế hiện đại thừa nhận việc thiết lập và khẳng định chủ quyền quốc gia đối với vung lãnh thổ mới phải xuất phát sự chiếm hữu thực sự, đồng thời quốc gia phải quản trị và duy trì liên tục, hòa bình quyền lực của nhà nước trên vùng lãnh thổ đỏ Nguyên tắc này là cơ sở lý luận để quốc gia chứng minh một vùng lãnh thô tranh châp thuộc chủ quyền của mình nêu đáp ứng được các điều kiện sau:
+ Những vùng đất, đảo được quốc gia chiếm hữu phải là lcmh thô vô chủ, không năm hoặc không còn năm trong hệ thông địa lý hành chính của một quôc gia nào.
Vùng đất, đảo có thể có hoặc không có người ờ nhưng khái niệm vô chù (terra nullius) có nghĩa là vùng đất, đảo đó không năm trong hệ thống hành chính của bất kỳ nước nào, hoặc tuy đã từng thuộc về một quốc gia nhưng quốc gia này đã từ bỏ và không có ý định tiếp tục thực hiện chủ quyền của mình ở đó Những vùng đất, đảo vô chủ đó có thể trở thành đối tượng chiếm hữu của bất kỳ quốc gia nào Ví dụ, năm 1606, Tây Ban Nha đã chiếm hữu đảo Palmas và các đảo khác trong quần đảo Philippines nhưng việc chiếm hữu này chi mang tính chất tượng trưng, chưa có tổ chức hành chính và biện pháp cai trị nào và cũng chưa có bất kỳ một văn bản nào của nhà nước chính thức xác lập chủ quyền đối với hòn đảo này Đến cuối thế kỷ XVIL Tây Ban Nha đã rút khỏi Palmas và sau đó từ bỏ chủ quyền của mình trên hòn đảo này Hòn đảo này sau đó đã được Hà Lan248
Trang 25chiếm hữu vào các năm 1667, 1697, 1785, 1885, 1889 Sau khi cuộc chiên tranh Mỹ - Tây Ban Nha kết thúc, theo Hòa ước Paris ngày 10/12/1898, Tây Ban Nha nhượng cho Mỹ quần đảo Philippines* trong đó bao gồm cả đảo Palmas Đầu năm 1906, khi
Mỹ tiếp quản đảo Palmas thì Hà Lan đang quản lý đảo này Vụ việc này được chuyển đến Tòa Pháp viện thường trực quốc tế La Haye, Tòa án đã xử Hà Lan thăng kiện vì sau khi Tây Ban Nha
từ bỏ chủ quyên thì đảo Palmas đã trở thành lãnh thổ vô chủ, lãnh thổ bị bỏ roi (res derelicta).
+ Việc chiếm hữu đó phải là hành động của nhà nước
Việc chiếm hữu một vùng lãnh thổ phải là một hành động
có tính chât nhà nước, nghĩa là được thực hiện bởi những viên chức đại diện cho nhà nước hoặc những nguôi được nhà nước ủy quyền thì mới có giá trị pháp lý Hành động của cá nhân, tổ chức
tư nhân đêu không có giá trị pháp lý để xác định chủ quyền lãnh thổ Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các hành động của tư nhân với danh nghĩa công dân cùa một quốc gia, dù chưa được nhà nước đó chứng nhận, cũng có thể có một ý nghĩa nhất định Khi giải quyêt tranh chấp lãnh thô, những hành động này sẽ là chứng cứ có lợi cho một quốc gia nếu phía bên kia không có hành động có ý nghĩa pháp lý nào được thực hiện
+ Việc chiếm hữu phải thực sự
Việc chiếm hữu mang tính thực sự khi có sự hiện diện của chính quyên nhà nước trong việc thiết lập, kiểm soát, quản lý, bảo vệ và thực hiện chủ quyền quốc gia trên vùng lãnh thổ mà quốc gia dã chiếm hữu và xác lập chù quyền
+ Việc chiếm hữu phải hòa bình được dư luận đương thời chấp nhận
Y êu cầu về tính hòa bình của sự chiếm hüll có nghĩa là việc chiêm hữu và xác lập chủ quyền quốc gia đối với vùng lãnh thổ không phải là kết quả của hành vi tước đoạt chủ quyền của một quốc gia khác bằng hành vi sứ dụng hoặc đe dọa sư dụng vũ
Trang 26lực Đồng thời, việc chiếm hữu và xác lập chủ quyền đôi VỚI
vùng lãnh thô mới phải được thực hiện công khai và được dư luận đương thời chấp nhận Trong vụ tranh chấp lãnh thô Đông
Greenland giữa Đan Mạch và Hà Lan, Tòa án quốc tế ghi nhận
sự không phản đối của Na Uy đã củng cố cho danh nghĩa đạt được của Đan Mạch đối với vùng Đông Greenland Theo đó,
“Chủ quyền của Đan Mạch đã thể hiện từ lâu trong một chuôi hành vi có tính quốc tế và trong các điều khoản pháp luật mà nội dung đã được nhiều nước liên quan biết, và chita bao giờ bị phản đổi"}6
Hành động của Trung Quốc sử dụng vũ lực để xâm lược quân đảo Hoàng Sa năm 1974 và một số đảo trên quần đảo Trượng Sa của CHXHCN Việt Nam năm 1988 nhằm xác lập chủ quyên của Trung Quôc trên hai quần đảo này là trái với nguyên tấc chiếm hữu thực sự, trái với luật quốc tế về xác lập chủ quyền của quốc giạ đổi với lãnh thổ Hành vi xâm lược quần đảo Hoang
Sa và một số đảo trên quần đảo Trường Sa của Trung Quốc đã bị Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới lên án và phản đối mạnh mẽ
1.5.2.2 Nguyên tắc xác lập chủ quyền bằng sự chuyển nhượng tự nguyện
Chuyển nhượng lãnh thổ là sự chuyển giao một cách hòa bình chủ quyền quốc gia trên một lãnh thổ từ một quốc gia này sang quốc gia khác bằng việc ký kết điều ước quốc tế Lịch sử đã chứng kiến việc Nga Hoàng Aleksandr II bán vùng lãnh thô Alaska cho Hợp chủng quôc Hoa Kỳ với giá 7,2 triệu USD băng Hiệp định được ký kết ngày 30 tháng 3 năm 1867;16 17 hoặc Pháp
đã bán vùng đất Lousiane cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thông
16 Xem Nguyễn Bá Diến, “Áp dụng các nguyên tắc về thụ đắc lãnh thồ trong luật quốc tế giải quyết hòa bình các tranh chấp ỡ Biển Đông”, tại website: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/737-nguyn-ba-din
17Xem thêm:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C6%B0%C6%A1 ng_v%El%BB%A5_Alaska
250
Trang 27qua Hiệp ước được ký ngày 30/4/1803 giữa Robert Livingston, James Monroe, và Barbé Marbois tại Paris với giá 80 triệu Franc (khoảng 15 triệu U SD ).18
1.5.2.3 Nguyên tẳc xác lập chủ quyền theo thời hiệu
Theo nguyên tắc này, một quốc gia sẽ xác lập chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ nếu họ đã chiếm hữu trong một thời gian dài mà không có sự tranh chấp với quốc gia khác, mặc dù về phưomg diện pháp lý, chủ quyền đối với vùng lãnh thổ này còn đang là đôi tượng gây tranh cãi Nguyên tắc này xuất hiện từ thời
kỳ “quyền chiên tranh ” và vẫn được áp dụng trong quan hệ quốc
tế Theo nguyên tắc xác lập chủ quyền theo thời hiệu, muốn xác lập chủ quyên lãnh thổ theo thời hiệu phải đáp ứng đồng thời hai điều kiện sau đây:
- Quốc gia có danh nghĩa chủ quyền nhưng đã từ bỏ, dẫn đến lãnh thổ bị từ bỏ (dereclictio);
Quôc gia mới xác lập chủ quyền thực sự đối với vùng lãnh thô bị từ bỏ đó một cách công khai, liên tục và hòa bình.Luật quốc tế hiện đại không thừa nhận nguyên tắc này, trừ trường hợp quôc gia xác lập chủ quyền lãnh thổ đối với những vùng lãnh thô mà họ chiếm hữu không thông qua hành vi xâm lược
1.6 Sơ lược về hai q u ầ n đảo H oàng Sa và T rư ờ n g Sa
1.6.1 Vị tr í địa lý và tài nguyên thiên nhiên
Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm gần như giữa biển Đông, có vị trí chiến lươc về an ninh quốc phong là khu vực có * 1
'8 Xem thêm:
http://vi.wikipedia.org/wiki/y%C3°/oB9ng_%C4%91%E 1 %B A%Ạ5t.
19 Biển Đông có tên quốc tế là biên Nam Trung Hoa, là một biển nữa kín được bao bọc bởi 9 quốc gia và vùng lãnh thô gồm Việt Nam, Trung Quôc, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan, Cambodia, Singapore va
Trang 28nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào phục vụ phát triển kinh tế Quần đảo Hoàng Sa có trên 30 đảo, đá, cồn san hô và bãi cạn, nằm ờ khu vực biển giữa vĩ độ 15°45' Bắc - 17° 15' Bắc và kinh
độ 111° Đông - 113° Đông trên vùng biển rộng khoảng 16.000 km2, cách đảo Lý Son (Quảng Ngãi - Việt Nam) khoảng 120 hải
lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 140 hải lý Diện tích toàn bộ phần đất nổi của quần đào khoảng 10 km2 và đảo Phú Lâm là đảo lớn nhất (khoảng 1,5 km2) Quần đảo Trường Sa nằm
về phía Đông Nam của biển Đông, gồm trên 100 đảo, đá, bãi cạn, cồn san hô và bãi ngầm,' ở khu vực biển trong vĩ độ 6°50' Bắc - 12°00' Bắc và kinh độ 111°30' Đông - 117°20' Đông trên vùng biển rộng khoảng 180.000 km2, cách vịnh Cam Ranh khoảng 248 hải lý, được chia thành tám cụm đảo (Song Tử, Thị
Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm và Bình Nguyên) Diện tích toàn bộ phần đất nổi của quần đảo khoảng 10 km2, đảo Ba Bình là đảo lớn nhất, đảo Song Tử Tây là đảo cao nhất (khoảng 4 - 6 m so với mặt nước biển) Địa chất của hai quần đảo chủ yếu là đá vôi, cát và san hô Trên một số đảo có đất và nguồn nước, tuy rất hạn chế nhưng có thể trồng được cây lâu năm như dừa, bàng vuông, phong ba
Khu vực biển mà hai quần đảo án ngữ có nhiều tuyến hàng hải và hàng không quan trọng của thế giới và khu vực Trong đó,
có 5 trong số 10 tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến biển Đông, bao gồm các con đường từ Tây
Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Suez, Trung Đông đến
Ẩn Độ, Đông Á, ú c , New Zealand, đường hàng hải Bắc Thái Bình Dương từ Tâỵ Băc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á, đường từ Đông Á đến ú c và New Zealand và từ Đông đến Trung Đông Nền kinh tế của nhiêu nước trong khu vực Đông Á như
Đài Loan Biến Đông rộng khoảng 3,5 triệu km2 trải rộng từ v ĩ độ 30 đến vĩ
độ 260 Bẳc và kinh độ 1000 đêri 1210 Đông Nơi rộn» nhất không quá 600 hài
lý (gần 1.200 km) Đây là biển duy nhất trên thế giơi có hai quốc gia quần đão lớn nhất thế giới là Indonesia và Philippines.
252
Trang 29Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore phụ thuộc sống còn vào các tuyến hàng hải này.
về tài nguyên thủy sản, tại vùng biển quần đào Hoàng Sa,
do hoàn cảnh khách quan, ta chưa có điều kiện điều tra, đánh giá Tại vùng biên Trường Sa, theo số liệu mới nhất, qua khảo sát, các nhà khoa học Việt Nam đã xác định được 18 họ hải sản với
32 giống và 37 loài và bằng câu vàng, xác định được 9 họ hải sản với 13 giống và 14 loài cá trong đó có các họ cá có giá trị kinh tế cao như cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to và cá thu ngàng Cùng với tài nguyên thủy sản, vùng nước quần đảo còn là nơi có trữ lượng san hô lớn, có thể dùng sản xuất ra các sản phẩm mỹ nghệ
và sử dụng trong lĩnh vực y học
Bên cạnh đó, khu vực đáy biển thuộc quần đào Hoàng Sa
và Trường Sa còn chứa đựng một trữ lượng dầu khí khổng lồ và các mỏ khoáng sản sulfites đa kim, kêt cuội sắt mangan Theo sô liệu dự đoán của nhiều nhà khoa học và cơ quan khoa học quôc
tế, biển Đông chứa khoảng 130 tỷ thùng dầu và khí tự nhiên, do
đó khu vực biển Đông được coi như vịnh Ba Tư thứ hai Riêng khu vực Trường Sa dự đoán có trữ lượng dầu khoảng 6 tỷ thùng, trong đó khí chiếm khoảng 70%
Theo các quy định của Công ước của LHQ về luật biên năm 1982 mà nước ta là một thành viên, quốc gia ven biên có chủ quyên, quyên chủ quyền và quyên tài phán quốc gia trên một vùng biển rộng gấp rất nhiều lần diện tích lãnh thổ đất liền; kiêm soát các tuyên hàng hải, làm chủ các vị trí chiến lược vê quôc phòng cũng như các tài nguyên biên và lòng đất dưới đáy biên Tuy nhiên, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hiện đang bị một số quôc gia và vùng lãnh thô trong khu vực yêu sách chù quyền Tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo là một trong ba vân đề liên quan đến biên giới lãnh thô mà chúng ta đang giải
Trang 301.6.2 Quá trình xác lộp chủ quyền của Việt Nam
Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bao gồm các hòn đảo
vô chủ cho đến thế kỷ XVII Theo hiểu biết địa lý lúc bấy giờ, hai quần đảo được thể hiện liền một dải, bao gồm cả Hoàng Sa
và Vạn Lý Trường Sa và ban đầu được người Việt gọi chung bằng một tên nôm là Bãi cát vàng Vào nửa đầu thế kỷ XVII, Chúa Nguyễn tổ chức “đội Hoàng S a ” lấy người từ xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi ra quần đảo Hoàng Sa thâu lượm hàng hóa, khí cụ trên các tàu mắc cạn và đánh bắt hải sản quý hiêm mang vê dâng nộp Chúa Nguyên lại tô chức thêm “đội Bẳc Hải" lấy người thôn Tứ Chính hoặc xã Cảnh Dưomg, phủ Bình Thuận, cấp giấy phép ra quần đảo Trường Sa với cùng nhiệm vụ như đội Hoàng Sa Các hoạt động này được ghi nhận trong nhiều tài liệu lịch sử như Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư của Đỗ Bá Tự Công Đạo (1686), Phủ biên tạp lục
của Lê Quý Đôn (1776), Lịch triều Hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1821), Đại Nam thực lục tiền biên (1844-1848),
Đại Nam thực lục chính biên (1844 - 1848), Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn (1910), Dư địa chí Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, Quốc triều chỉnh biên toát yếu (1910)
Đồng thời, hai quần đảo và các hoạt động của triều đình phong kiến Việt Nam trên đó cũng được nhắc đến trong các tác phâm nước ngoài như Nhật ký Batavia (1936), Hải ngoại ký sự
(1696), An Nam đại quốc họa đỏ (1838) Cùng với việc khai thác hải sản và hàng hóa trên quần đảo, nhà Nguyễn còn tổ chức
đo đạc, khảo sát, dựng bia, cắm mốc, trồng cây trên quần đảo liên tục trong các năm 1834, 1835 và 1836 Thông qua việc tô chức khai thác tài nguyên trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa liên tục hàng thế kỷ, trên thực tế cũng như về pháp lý, nước ta
đã làm chủ hai quân đảo từ khi hai quần đảo này còn chưa thuộc
về lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào và biến hai quần đảo từ vô chủ thành bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.254
Trang 31Thời kỳ Pháp xâm lược Việt Nam, trên cơ sở đại diện cho triều đình phong kiên An Nam, Pháp đã có nhiều hành động củng cố chủ quyên Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa bằng việc tiến hành tuần tra, kiêm soát và đưa quân ra chiếm đóng trên các đảo Để quản lý hành chính, chính quyền lúc đó đã sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa và thành lập đơn vị hành chính ở quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên, cho xây dựng nhiều công trinh trên cả hai quần đảo.
Trong suốt các năm 1931 - 1932, Pháp liên tục phản đối việc Trung Quôc đòi hỏi chủ quyên đối với quần đảo Hoàng Sa Sau Chiên tranh thê giới lân thứ hai, Pháp quay lại Hoàng Sa và Trường Sa Ngày 8/3/1949, Pháp công nhận độc lập thống nhất của Việt Nam và ngày 14/10/1950, Pháp chính thức trao việc phòng thủ quân đảo Hoàng Sa cho Việt Nam Ngày 6/9/1951, tại Hội nghị San Francisco, ông Trân Văn Hữu, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Chính phủ miền Nam Việt Nam trong bài phát biểu của mình đã chính thức tuyên bô và khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo: “Và cũng vì can phải lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chủng tôi trên quân đảo Spratleys và Paracels tạo thành một phần cửa Việt Nam Tiếp đó, chính quyền Việt Nam Cộng hòa
đã đóng quân trên hai quàn đảo, quản lý hai quần đảo theo đúng trách nhiệm m à Hiệp định Geneva năm 1954 về Việt Nam trao cho (quản lý tạm thời nửa nước Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào trong khi chờ đợi thống nhất đất nước bằng tổng tuyển cử tự do) Trong thời gian này, các Chính phủ Việt Nam nói trên dã luôn khẳng định và duy trì các quyền chủ quyền của mình một cách liên tục và hòa bình đối với hai quần đảo bàng các hoạt động nhà nước Chính quyền Sài Gòn đã quyết định sáp nhập quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên vào xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam và quyêt định quần đào Trường Sa được sáp nhập vào xã Phước Hái, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy
ì háng 4/1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã đưa quân ra
Trang 32thay thế quân Pháp trên các đảo thuộc nhóm phía Tây của quần đảo Hoàng Sa và trong khi chính quyền này chưa kịp triên khai trên các đảo thuộc nhóm phía Đông của quần đảo Hoàng Sa, quân Trung Quốc đã bí mật ra chiếm đóng nhóm đảo này.
Tháng 1/1974, khi Trung Quốc dùng không quân và hải quân đánh chiếm nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, chính quyền Sài Gòn đã tố cáo Bắc Kinh vi phạm chủ quyền Việt Nam trên quân đảo Hoàng Sa Ngày 20/1/1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
đã ra bản Tuyên bố p h ản ‘đối hành động này của phía Trung Quốc Ngày 14/2/1975, Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn công bố Sách trắng về các quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Tháng 4/1975, hải quân nhân dân Việt Nam giải phóng các đảo Trường
Sa, Som Ca, Nam Yết, Song Từ Tây, Sinh Tồn và An Bang do quân đội Sài Gòn đóng giữ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và tuyên bố giành cho mình quyền bảo vệ chủ quyền đó
Ngày 2/7/1976, nước Việt Nam thống nhất dưới tên gọi mới Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Từ đó, với tư cách kê thừa quyền sở hữu các quân đảo từ các chính quyền trước, Nhà nước CHXHCN Việt Nam có trách nhiệm duy trì việc bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và đã ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng liên quan trực tiếp đến ha: quần đảo
Hiến pháp các năm 1980, 1992, Luật Biên giới quốc gia năm 2003 Tuyên bố của Chính phủ ngày 12/5/1977 về lãnh hài vùng tiếp giáp, vùng đặc quyên kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Tuyên bố của Chính phủ ngày 12/11/1982 vê đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam đều khăng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận của lãnh thô256
Trang 33Việt Nam, có các vùng biển riêng sẽ được quy định cụ thể trong các văn bản tiếp theo Trong các năm 1979, 1981 và 1988, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam công bố các Sách trắng về chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường
Sa, các tài liệu này đã chứng minh một cách rõ ràng chủ quyền cùa Việt Nam đôi với hai quần đảo trên tất cả các khía cạnh: lịch
sử, pháp lý và thực tiễn quốc tế
Xuất phát từ nhu cầu quản lý hai quần đảo, ngày 9/12/1982, Hội đồng Bộ trưởng nước CHXHCN Việt Nam ra Nghị định tổ chức quần đảo Hoàng Sa thành huyện đảo Hoàng
Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nang và tổ chức quần đảo Trường Sa thành huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai Ngày 28/12/1982, trong kỳ họp thứ IV, Quốc hội khóa VII đã ra Nghị quyết tách huyện đảo Trường Sa ra khỏi tỉnh Đồng Nai và sáp nhập vào tỉnh Phú Khánh (nay là tỉnh Khánh Hoà) Nghị Tuyết ngày 6/11/1996 của kỳ họp thứ X Quốc hội khóa IX nước CHXHCN Việt Nam tách huyện Hoàng Sa khỏi tình Quảng Nam - Đà N ằng cũ, sáp nhập vào thành phố Đà Nằng trực thuộc Trung ương
Chính quyền hai huyện đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam hiện đang thực hiện nhiệm vụ quản lý của mình Nghị Tuyết của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 5 ngày 23-6-1994 phê chuẩn Công ước của LHQ về luật biên oăm 1982 nêu: “Quốc hội một lần nữa khẳng định chú quyền của Việt Nam đôi với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chù trương giải quyêt các bất đồng liên quan đến biến Đông thông qua thương lượng hòa bình, trên tinh thân bình đẳng, hiểu biẽt
vờ tôn trọng lán nhau, tôn trọng pháp luật quổc té, đặc biệt là Công ước cửa Liên hợp quốc về Luật biến năm 1982, tôn trọng chù quyền và quyên tài phản của các nước ven biển đổi với vung đặc quyền kinh tê và thềm lục địa, trong khi nỗ lực thúc đâv đàm phán để tìm giòi pháp cơ bản lâu dài, các bên liên quan cần duy
Trang 34trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tỉnh hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa
sử dụng vũ lự c”. Quốc hội nhấn mạnh: “Cần phân biệt vẩn đ ề giải quyết tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa với các vẩn đề bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyển chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, căn c ứ vào những nguyên tắc và những tiêu chuẩn của Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982
Nhằm tái khẳng định chủ quyền của của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và H oàng
Sa, Điều 1 về phạm vi điều chinh của Luật Biển Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21/6/2012 cũng đã khẳng định rõ,
“Luật này quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tể, thềm lục địa, các đảo, quân đảo Hoàng Sa, quân đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyển chủ quyền, quyền tài phán quốc gia cùa Việt Nam ”
Lập trường của Việt Nam là Việt Nam chiếm hữu thật sự hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ít nhất từ thế kỷ XVII khi
nó chưa thuộc chủ quyền của bất kỳ quốc gia nào và Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thật sự chủ quyền của mình một cách liên tục và hòa bình
Cho đến nay, Việt Nam đang thực sự quản lý 21 đảo, đá v à bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa, không ngừng củng cố và phát triên cơ sở vật chất, đời sông kinh tế - xã hội nhăm từng bước xây dựng huyện đảo trở thành đem vị hành chính ngang tầm với
vị trí và vai trò của nó trong hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước CHXHCN Việt Nam
Bảo vệ chủ quyên của Việt Nam trên hai quân đảo H oàng
Sa và Trường Sa là trách nhiệm của toàn dân và phải được tiên hành trên mọi lĩnh vực chính trị, pháp lý, ngoại giao, an ninh quốc phòng cũng như tuyên truyền giáo dục đối với mọi tàng lớp nhân dân trong xã hội
258
Trang 35II n h ũ n g v á n đ ề p h á p l ý c ơ b ả n v ề b i ê n
GIỚI QUỐC GIA
2.1 Khái niệm, các bộ phận cấu thành và kiểu biên giới quốc gia
2.1-1- K hải niệm biên giớ i quốc gia
về phương diện pháp lý và địa lý, biên giới quốc gia chính
là phần bao bọc bên ngồi lãnh thổ quốc gia, là phên dậu, là “vỏ bao bọc liên tục của một tập hợp khơng gian của một quốc gia”20 hoặc là “điểm chấm dứt thẩm quyền thuộc về lãnh thổ của một quốc gia”21- Chính vì vậy, khơng một quốc gia nào cĩ lãnh thổ xác định mà lại khơng cĩ biên giới quốc gia Bởi lẽ, biên giới chính là “đường giới hạn” lãnh thổ quốc gia, một trong bốn yếu
tổ khơng thể thiếu để một thực thể được cơng nhận là một quốc gia, chủ thê cơ bản và chủ yếu của luật quơc tế
v ề phương diện lịch sử, trong một thời gian dài, thuật ngữ
“biên giới "được dùng để chỉ các vùng tiếp giáp chứ khơng phải
là đường biên giới theo nghĩa là ranh giới để phân định lãnh thơ của quốc gia này với lãnh thổ quốc gia khác hoặc là ranh giới đê phân định lãnh thổ quốc gia với các vùng quốc gia cĩ quyền chủ quyền trên biên Trong thời kỳ cơ đại, biên giới quốc gia được xác định bởi những chướng ngại vật tự nhiên như rừng núi, sơng suơi, sa mạc Do vậy, biên giới đâu tiên được các quốc gia sử dụng để phân định lãnh thổ của nhau là “biên giới vùng ”- Vào thê kỷ XVII dưới thời Louis thứ 14 của Pháp, lần đầu tiên khái niệm “đường biên giới” theo nghĩa hiện đại được chính thức ghi
, J Theo tiêng Phap là “ enveloppe continue d un ensemble spacial d'un Etat
-Theo tiếng Pháp là "lepoint ó expire la compétence territoriale d'un Etat ’■
Trang 36nhận trong Hiệp ước hòa bình cho vùng Pyrénées (gọi tắt là Hiệp ước Pynénées) ký ngày 7 tháng 11 năm 1659 giữa Pháp và Tây Ban Nha Khái niệm “đường biên giới” tiếp tục được khẳng định trong Hội nghị Vienna năm 1875 về việc chẩm dứt các cuộc chiến tranh của Napoléon và đã được khẳng định qua thực tiễn pháp lý quốc tế từ thế kỷ XIX cho đến ngày nay.
Theo luật quốc tế hiện đại, biên giới quốc gia là ranh giới phân định lãnh thổ quốc gia này với lãnh thổ quốc gia khác hoặc với các vùng quốc gia có quyền chủ quyền trên biển Nói cách khác, biên giới quốc gia là hàng rào pháp lý được vạch ra theo tâm của trái đất qua các cột mốc quốc gia để giới hạn vùng đất, vùng nước, vùng trời và lòng đất thuộc chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia
Theo Điều 1 Luật Biên giới quốc gia năm 2003 của V iệt Nam, biên giới quôc gia của nước CHXHCN Việt Nam là đường
và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa
và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Như vậy, biên giới quốc gia có chức năng cơ bản là đường giới hạn để phân định lãnh thổ của quốc gia này với lãnh thổ của quôc gia khác Bên cạnh đó, biên giới quốc gia cũng chính là
“ranh giới” để giới hạn chủ quyền của các quốc gia trong m ột phạm vi lãnh thô xác định Ngoài ra, biên giới quốc gia còn là
“ranh giới” để tạo nên sự khác biệt về ngôn ngữ, truyền thống, văn hóa của các cộng đông dân cư của các quốc gia
2.1.2 Các bộ phận cấu thành biên giớ i quốc gia
2.1.2.1 Biên giới trên bộ
Biên giới quốc gia thường được hợp thành bởi bốn bộ phận biên giới cơ bản, đó là: biên giới trên bộ, biên giới trên260
Trang 37biển, biên giới trên không và biên giới lòng đất Trong đó, biên giới trên bộ là đường biên giới được xác định trên đất liền, trên đảo trên sông, trên hồ biên giới, trên biển nội địa Biên giới trên
bộ được thiêt lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các quốc gia có lãnh thổ tiếp giáp với nhau, và được thể hiện bằng các điều ước hoạch định biên giới giữa các quốc gia hữu quan Trong một số trường hợp đặc biệt, biên giới trên bộ giữa các quốc gia có thể được hoach định băng một điều ước quôc tế đặc biệt dưới sự bảo trợ cùa Liên hợp quốc như Hiệp định Bàn Môn Điếm năm 1953 để phân định hai miền và cũng là hai quốc gia Hàn Quốc22 với Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, hoặc Hiệp ước phân chia lãnh thổ biên giới giữa Iraq và Kuwait năm 1991, sau cuộc chiên tranh Iraq lân thứ nhất do Mỹ và liên quân phát động Thực chât, đây là những điêu ước quốc tế được xác lập dựa trên thỏa thuận giữa các quôc gia liên quan dưới sự giám sát của Liên hợp quôc
Có nghĩa là, việc phân định ranh giới do chính các quốc gia thương lượng, thỏa thuận và quyết định dựa trên nguyên tắc chủ quyền quôc gia Trong trường hợp đặc biệt, biên oiới trên bộ có thể được thiêt lập bằng các điều ước quốc tế đa phương, ví dụ Việt Nam và các nước trong khu vực phải hợp tác để xác định hai cột mộc biên giới tại các “ngã ba ” biên giới là điểm tiếp giáp trên đất liên giữa ba nước Việt Nam, Lào và Cambodia và diêm tiếp giáp giữa ba nước Việt Nam, Lào và Trung Quốc
về nội dung, các điều ước quốc tế về xác định biên giới thường bao gôm hai nội dung chính: 1) hoạch định biên giới (xúc định vị trí đường biên giới và thể hiện đường biên giới đó trên bàn đồ kèm theo điều ước hoạch đị'nh biên giới)- 2) phân giới thực địa và căm mốc (xác định đường biên giới trên thực địa băng hệ thông môc quốc giới)- Trong thực tiễn, khi hoạch định biên giới trên đât liền tùy theo hoàn cảnh cụ thể các quốc gia liên
2~- Hàn Quốc còn có tên gọi khác là Đại Hàn dân quốc.
Trang 38quan có thể thoả thuận dựa vào các yếu tố địa hình (theo sông,
hồ, núi, thung lũng, sa mạc ), thiên văn (theo kinh tuyến, vĩ tuyến) hoặc hình học (bằng những đường thẳng nối liền các điểm quy ước) để thiết lập đường biên giới Biên giới trên bộ được thể hiện trên bản đồ đính kèm điều ước quốc tế hoạch định biên giới
và được đánh dấu trên thực địa bằng các cột mốc quốc giới
2.1.2.2 Biên giới trên biển
Biên giới trên biển là ranh giới phía ngoài của lãnh hải do quốc gia ven biển thiết lập phù hợp với Công ước của LHQ về luật biển năm 1982 ( United Nations Convention on Law o f the Sea — UNCLOS) Đối với các quốc gia đối diện hoặc tiếp giáp nếu có lãnh hải chồng lấn thì biên giới trên biển sẽ được thiết lập trên cơ sở thoả thuận giữa các quốc gia liên quan và được phân định bằng điều ước quốc tế Trong trường hợp chưa đạt được thoả thuận giữa các quốc gia liên quan, luật pháp quốc tế không thừa nhận việc đơn phương xác định ranh giới ngoài của lãnh hải vượt quá đường trung tuyến hoặc đường cách đều là đường được tạo bởi các điểm cách đều các điểm gần nhất của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia liên quan, trừ trường họp có danh nghĩa lịch sử hay hoàn cảnh đặc biệt
Như vậy, biên giới trên biển sẽ được xác định khi hai quốc gia đối diện hoặc tiếp giáp nhau và khi quốc gia không đối diện, không tiếp giáp với quốc gia nào trên biển Trong trường hợp hai quốc gia đối diện hoặc tiếp giáp nhau, biên giới trên biển là ranh giới để phân định nội thủy, lãnh hải của quốc gia này với nội thủy, lãnh hải của quốc gia khác Trong trường hợp quốc gia không đối diện hoặc tiếp giáp với quốc gia nào trên biển thì biên giới quốc gia trên biển chính là ranh giới để giới hạn nội thủy, lãnh hải của quốc gia với các vùng quốc gia có quyền chủ quyền trên biển (vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa)
262
Trang 39Biên giới trên biển được thể hiện trên các hải đồ hoặc bằng các tọa độ địa lí có ghi rõ hệ thống trắc địa được sừ dụng.
2.1.2.3 Biên giới lòng đất và biên giới vùng trời
Biên giới lòng đất là "mặt phẳng” được xác định dựa trên đường biên giới trên bộ và biên giới trên biển của quốc gia kéo dài tới tận tâm của trái đất Biên giới lòng đất được thừa nhận và quy định trong các điều ước quốc tể và cụ thể hóa trong pháp luật quốc gia23
Biên giới vùng trời của quốc gia là ranh giới phân định vùng trời thuộc chủ quyền của quốc gia này với vùng trời thuộc chủ quyền của quốc gia khác hoặc vùng trời thuộc chủ quyền của quốc gia với vùng trời quốc tế.24 Biên giới vùng trời của quốc gia bao gồm hai bộ phận, biên giới sườn và biên giới trên cao Trong
đó, biên giới sườn là “m ặtphẳng” đứng được dựng qua các diêm nàm trên biên giới vùng đất, vùng nước của lãnh thổ quốc gia và
có hướng chạy thẳng vào tâm của trái đất Biên giới trên cao là ranh giới để phân định vùng trời thuộc chủ quyền của quôc gia
và vùng trời quốc tế Hiện nay, luật quốc tế vẫn chưa có quy định nào để ấn định độ cao vùng trời thuộc chủ quyền quốc gia từ bê
23 Điều IV Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa quy định: “Mặt thẳng đứng đi theo đường biên giới trên đât liền giũa Việt Nam và Trung Quốc nói tại Điều II của Hiệp ước này phân định vùng trời và lòng đất giữa hai nước” Khoản 4, Điều 5 Luật Biên giới quốc gia Việt Nam năm 2003, quy định: “Biện giới quốc gia trong lòng đât la mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển xuống lòng đất Ranh giơi trong lòng đất thuộc vùng biền ià mặt thặng đứng từ các đường ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền về kinh tê, thêm
■ục địa xuống lòng đất xác định quyền chữ quyền, quyền tài phán của CHXHCN Việt Nam theo Công ước của LHQ về luật biển năm 1982 và các diều ước quốc tế giữa CHXHCN Việt Nam và các quốc gia hữu quan”
Khoản 5, Điều 5 Luật Biên giới quốc gia Việt Nam năm 2003, quy định:
"Biên giới quốc gia trên không là mặt thăng đứng từ biên giới quốc gia trên
¿lất liền và biên giới quốc gia trên biên lên vùng trời "
Trang 40mặt của trái đất lên Do vậy, cũng như biên giới lòng đất, biên giới vùng ười được các quốc gia mặc nhiên thừa nhận thông qua việc hoạch định lãnh thổ trên bộ và lãnh thổ trên biển giữa các quốc gia và được ghi nhận trong các điều ước về phân định lãnh thổ và biên giới.
Điều 5 Luật Biên giới quốc gia của nước CHXHCN Việt Nam ghi nhận, biên giới quốc gia được xác định bằng điêu ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập hoặc do pháp luật Việt Nam quy định, được cấu thành bời bốn bộ phận, biên giới quôc gia trên đất liền, biên' giới quốc gia trên biển, biên giới quôc giạ trong lòng đât và biện giói quốc gia trên không Trong đó, biên giói qụốc gia trên đất liền được hoạch định và đánh dấu trên thực địa băng hệ thông môc quốc giới Biên giới quốc gia trên bien được hoạch định và đánh dấu bằng các tọa độ trên hải đồ là ranh giới phía ngoài lãnh hải của đất liền, lãnh hải của hải đảo, lãnh hải của quần đảo của Việt Nam được xác định theo Công ươc của LHQ vê luật biên năm 1982 và các điều ước quốc tê giữa CHXHCN Việt Nam và các quốc gia hữu quan Các đường ranh giới phía ngoài vùng tiêp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền vê kinh tê và thêm lục địa được xác định quyền chủ quyền quyên tài phán của CHXHCN Việt Nam theo Công ước của LHQ vê luật biển năm 1982 và các điêu ước quốc tế giữa CHXHCN Việt Nam và các quốc gia hữu quan Biên giới quốc gia trong lòng đất là mặt thẳng đứng từ biên giói quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biên xuông lòng đât Ranh giới trong lòng đât thuộc vùng biển là mặt thăng đứng từ các đường ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền vê kinh tế, thềm lục địa xuống lòng đất xác định quyền chủ quyên, quyên tài phán của CHXHCN Việt Nam theo Công ước của LHQ về luật biển năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa CHXHCN và các quốc gia hữu quan Biên giới quốc gia trên không là mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển lên vùng trời
264