Tuy nhiên, tài sản được góp vốn là gì, hình thức góp vốn đối với mỗi loại hình doanh nghiệp như thế nào, hậu quả pháp lý trong trường hợp các thành viên không góp vốn đúng cam kết là một
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các kết quả nêu trong luận văn chưa đưa công bố trong bất kỳ công trình nào khác.Các số liệu, ví
dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của khoa sau đại học Viện Đại Học Mở Hà Nội
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị khoa sau đại học xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
NGƯỜI CAM ĐOAN
NGUYỄN BÁ ĐÀ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tác giả nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình và ý kiến đóng góp quý báu của nhiều tập thể, cá nhân.Lời đầu tiên, xin chân thành cảm ơn cô giáo TS.VŨ ĐẶNG HẢI YẾN, đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn Xin cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy giáo, cô giáo Khoa luật kinh tế, phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Viện Đại Học Mở Hà Nội đã quan tâm tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện luận văn Xin cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo và các Phòng ban chuyên môn, phòng tài chính và các đồng nghiệp công ty, doanh nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình thu thập số liệu và nghiên cứu thực hiện luận văn Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, những người thân và bạn bè đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn
NGƯỜI VIẾT LUẬN VĂN
NGUYỄN BÁ ĐÀ
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 4
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Những đóng góp mới của luận văn 8
7 Kết cấu của luận văn 8
CHƯƠNG 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP 10
1.1 Khái niệm và bản chất pháp lý của góp vốn thành lập doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam 10
1.1.1 Khái niệm góp vốn 10
1.1.2 Bản chất pháp lý của góp vốn 13
1.2 Khái niệm, phân loại tài sản góp vốn 14
1.2.1 Khái niệm tài sản góp vốn 15
1.2.2 Phân loại tài sản góp vốn 19
CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP 22
2.1 Pháp luật thực định về góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam 22
2.1.1 Chủ thể góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam 22
2.1.2 Hình thức góp vốn thành lập doanh nghiệp 26
2.1.3 Thủ tục góp vốn thành lập doanh nghiệp 34
2.1.3.1 Việc định giá tài sản góp vốn 35
2.1.3.2 Việc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn 38
Trang 62.1.3.3 Việc cấp giấy chứng nhận góp vốn 40
2.1.3.4 Việc chuyển nhượng phần vốn góp 43
2.1.3.5 Về chứng từ đối với tài sản góp vốn 44
2.1.3.6 Quy định về rút vốn trong công ty 45
2.1.2.7 Hợp đồng góp vốn thành lập doanh nghiệp 47
2.2 Áp dụng pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam 51
2.2.1 Những kết quả đạt được trong quá trình áp dụng pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp 51
2.2.2 Những khó khăn, tồn tại trong hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp 54
2.2.2.1 Trong công tác xây dựng pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam 54
2.2.2.2 Trong công tác thực hiện pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam 59
2.2.2.3 Trong công tác áp dụng pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam 61
2.2.2.4 Trong công tác giám sát tài sản góp vốn 62
2.2.3 Nguyên nhân của những khó khăn và tồn tại 63
CHƯƠNG 3HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP 65
3.1 Nhu cầu góp vốn đầu tư sản xuất kinh doanh trong nền KTTT tại Việt Nam 65
3.2 Những định hướng cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp 67
3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS năm 2005 - Bộ luật Dân sự năm 2005
Công ty THHH - Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Công ty THHH 1TV - Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Công ty THHH 2TV - Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên KTTT - Kinh tế thị trường
LDN năm 1999 - Luật Doanh nghiệp năm 1999
LDN năm 2005 - Luật Doanh nghiệp năm 2005
LDN năm 2014 - Luật Doanh nghiệp năm 2014
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vốn luôn là một yếu tố nền tảng, tạo cơ sở cho việc xây dựng và phát triển của một doanh nghiệp.Chính vì thế, một trong những điều kiện để doanh nghiệp có thể khai sinh là doanh nghiệp đó phải có vốn Tuy nhiên, tài sản được góp vốn là gì, hình thức góp vốn đối với mỗi loại hình doanh nghiệp như thế nào, hậu quả pháp lý trong trường hợp các thành viên không góp vốn đúng cam kết là một trong số các vấn đề pháp luật cần quy định rõ ràng để đảm bảo cho doanh nghiệp được hình thành và ổn định để phát triển Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, Luật Doanh nghiệp đã có những điều khoản nhất định để điều chỉnh
Một trong những mốc quan trọng trong lịch sử pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam là sự ra đời của Luật Doanh nghiệp được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 12/6/1999 Luật Doanh nghiệp năm 1999 thể hiện sự hợp nhất Luật Công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, hướng tới những cải cách tương đối toàn diện về doanh nghiệp đánh dấu thời kỳ mở đầu thực hiện chủ trương Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá đất nước cùng với việc hội nhập quốc tế
Ở mức phát triển toàn diện hơn, Luật Doanh nghiệp năm 2005 được Quốc Hội khoá X kỳ họp thứ 10 thông qua đã quy định đầy đủ hơn, rõ nét hơn về các vấn đề liên quan đến việc góp vốn thành lập, kinh doanh và các hoạt động khác của doanh nghiệp
Ở Luật Doanh nghiệp năm 2014, nhiều quy định đã được hoàn thiện hơn nữa như mở rộng phạm vi điều chỉnh và những quy định có ý nghĩa hành lang để bảo vệ nhà đầu tư, các chủ thể tham gia kinh doanh… Những quy định mang tính ưu việt đó
Trang 9đã khẳng định sự ra đời của Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 góp một phần không nhỏ vào các thành tựu chung của công cuộc đổi mới đất nước, phát triển kinh tế
Có thể nói, cùng với quá trình đổi mới kinh tế đất nước là sự không ngừng ra đời và phát triển các loại hình doanh nghiệp Sự phát triển như vũ bão các loại hình doanh nghiệp đó đã kéo theo những tranh chấp trong và xung quanh doanh nghiệp Trong đó tranh chấp về vấn đề góp vốn, tài sản góp vốn để thành lập doanh nghiệp xảy
ra tương đối nhiều Mặt khác, pháp luật về doanh nghiệp luôn luôn được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót, văn hoá pháp lý về doanh nghiệp của người dân Việt Nam còn thấp và hoạt động xét xử còn nhiều lúng túng trong việc giải quyết các vấn đề tranh chấp Chính vì những lý do đó, việc nghiên cứu pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập doanh nghiệp là luôn cần thiết cho cả công tác lý luận và thực tiễn
Bên cạnh pháp luật về doanh nghiệp, chúng ta không thể không nhắc tới sự ra đời và phát triển của Pháp luật Dân sự, Luật đầu tư, Luật thương mại, Luật đất đai… đã góp phần không nhỏ cho việc phát triển pháp luật về doanh nghiệp nói riêng và việc phát triển kinh tế của đất nước nói chung
Góp vốn thành lập doanh nghiệp không phải là một khía cạnh mới, nhưng trong hệ thống các quy định pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, khía cạnh này tuy đã được quy định nhưng vẫn chưa được đầy đủ, chi tiết và chặt chẽ dẫn tới nhiều tranh cãi và hiểu sai, hiểu không toàn diện Mặc dù Bộ Luật Dân sự năm 2014 với tư cách là một đạo luật gốc cho các ngành luật trong đó có Luật Doanh nghiệp, nhưng bản thân Bộ Luật Dân sự năm 2014 quy định về các vấn đề liên quan đến việc góp vốn thành lập doanh nghiệp vẫn còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất
Trang 10Hơn nữa, trong nền KTTT, lĩnh vực kinh tế tư nhân ngày càng được ưu tiên phát triển Việc làm ăn kinh doanh của người dân được thực hiện dưới hình thức doanh nghiệp (pháp nhân) là một điều tất yếu và đang được khuyến khích thúc đẩy Trong bối cảnh đó, góp vốn kinh doanh trong nền KTTT ngày càng trở nên phức tạp hơn Việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định về góp vốn giúp cho các chủ thể kinh doanh hiểu biết thêm kiến thức pháp luật và dễ dàng quyết định việc góp vốn của mình một cách an toàn và hiệu quả hơn Mặt khác, Nền KTTT xuất hiện nhiều yếu tố kinh tế mới ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp như vấn đề “tài sản ảo”, “giá trị thương hiệu”, .những yếu tố này cần phải được hiểu rõ và phải được pháp luật điều chỉnh theo xu hướng thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Góp vốn thành lập doanh nghiệp tạo điều kiện cho phát huy nhiều năng lực sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động Các doanh nghiệp kinh doanh làm giàu cho cá nhân, tổ chức.Dân giàu, nước mạnh là mục tiêu lớn mà Nhà nước ta luôn quan tâm
Như vậy, pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp là mảng đề tài đã và đang được quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ.Việc nghiên cứu tổng quát các quy định pháp luật về vốn, góp vốn, tài sản góp vốn giúp cho ta nhận thức rõ hơn các quan điểm, quan niệm về các vấn đề này một cách có hệ thống và qua đó áp dụng vào thực tiễn một cách có hiệu quả Qua việc nghiên cứu các quy định này, đặc biệt là quy định
về tài sản góp vốn, pháp luật Việt Nam cần điều chỉnh theo xu hướng đa dạng hóa các hình thức tài sản góp vốn.Tuy không còn là mới mẻ trong công tác lý luận và thực tiễn cuộc sống, nhưng để nghiên cứu một cách toàn diện, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh
tế đất nước phát triển theo xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế, thì việc nghiên cứu khía cạnh góp vốn thành lập doanh nghiệp càng trở nên cần thiết
Xuất phát từ các lý do nêu trên, đề tài nghiên cứu “Pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập doanh nghiệp” tác giả nghiên cứu cố gắng đóng góp một phần các yêu cầu mà lý luận và thực tiễn đang đặt ra
Trang 112 Tình hình nghiên cứu đề tài
Các lĩnh vực liên quan đến doanh nghiệp hiện nay tại Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học, giới luật học và các thương gia quan tâm Trong những năm gần đây đã
có nhiều hội thảo, nhiều bài báo, đề tài khoa học nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của doanh nghiệp như doanh nghiệp với nền kinh tế thị trường, văn hoá pháp lý trong doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp, hợp đồng thành lập công ty,…Những người nghiên cứu về doanh nghiệp nói chung cũng như pháp luật về doanh nghiệp nói riêng chủ yếu từ những năm 1990 trở lại đây có xu hướng ngày càng nhiều Trong những công trình nghiên cứu đó, tiêu biểu phải kể đến các tác phẩm như:
Phạm Duy Nghĩa (1990), “Các khía cạnh Luật công ty và luật bảo vệ sở hữu trí tuệ của quá trình chuyển giao công nghệ quốc tế thông qua doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài”, Luận án PTS KH luật học Luận án đã chỉ ra bản chất pháp lý của các thoả thuận góp vốn thành lập công ty, những nguyên tắc cơ bản của hợp đồng góp vốn công nghệ vào doanh nghiệp, liên doanh quốc tế, cách thức thoả thuận về giá trị công nghệ doanh nghiệp liên doanh
Nguyễn Ngọc Điện (1999), “Nghiên cứu về tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam”, sách chuyên khảo.Cuốn sách có thể được coi là một trong những dấu ấn đầu tiên nghiên cứu pháp luật về tài sản một cách có hệ thống trong lịch sử nghiên cứu lập pháp tại Việt Nam.Việc hiểu biết rõ về phân loại tài sản có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc góp vốn thành lập doanh nghiệp
Ngô Huy Cương (2004) “Hợp đồng góp vốn thành lập công ty” Luận án tiến sỹ luật học Luận án đã cho ta cái nhìn tổng quát, có hệ thống lý luận pháp luật về Hợp đồng thành lập công ty hiện nay ở Việt Nam Luận án cũng đã phân tích và đánh giá một cách tương đối có hệ thống hiện trạng pháp luật về hợp đồng thành lập công ty
Trang 12cũng như đưa ra những định hướng giải pháp cụ thể nhằm xây dựng chế định hợp đồng thành lập công ty ở Việt Nam hiện nay và cách thức xây dựng chế định này, những nội dung pháp lý chủ yếu và việc pháp điển hoá nó trong Bộ Luật dân sự năm 2005
Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2009), “Công ty, vốn, quản lý và tranh chấp theo luật doanh nghiệp năm 2005” Cuốn sách đáp ứng được các yêu cầu mới từ khi Luật doanh nghiệp năm 2005 ban hành như: Những khái niệm và định chế
đã tồn tại ở các nước đã khá lâu mà nay do nhu cầu hội nhập chúng ta bị buộc phải đem vào; việc thực hiện Luật Công ty kể từ năm 1990 đến nay đã để lại một số thực tiễn mà bây giờ có thể trình bày để độc giả có thông tin áp dụng trong hoàn cảnh của mình; Cuốn sách cũng đưa ra những sửa đổi của Luật doanh nghiệp năm 2005 so với Luật doanh nghiệp năm 1999
Phạm Tuấn Anh (2009), “Góp vốn thành lập công ty theo pháp luật Việt Nam” Luận văn thạc sỹ luật học Luận văn đã nghiên cứu một cách khái quát, có hệ thống các vấn đề pháp lý về vốn góp, hình thức góp vốn, thực trạng pháp luật Việt Nam về vấn
đề góp vốn dựa trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành về góp vốn thành lập doanh nghiệp và trên cơ sở tham khảo pháp luật của một số nước về vấn đề này, Luận văn cũng đã đưa ra được một số định hướng cơ bản nhằm giải quyết tồn tại của pháp luật về góp vốn thành lập công ty tại Việt Nam
Hồng Vân (2009), “Góp vốn bằng quyền sử dụng đất tại Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ Luật học Luận văn đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận của pháp luật
về góp vốn nói chung và pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất nói riêng Qua đó, Luận văn đã đánh giá một cách toàn diện pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng quyền sử dụng đất Luận văn đã đưa ra các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất; Hoàn thiện các quy định
Trang 13pháp luật về thị trường bất động sản ở Việt Nam; Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước
về đất đai; Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả của việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất tại Việt Nam
Ngoài ra, các công trình nghiên cứu chủ yếu được công bố dưới hình thức các bài viết đăng trên Tạp chí Khoa học chuyên ngành, sách chuyên khảo.Trong số đó phải
kể đến các bài viết tiêu biểu của TS Ngô Huy Cương, “Những bất cập về khái niệm tài sản, phân loại tài sản của Bộ Luật dân sự năm 2005 và định hướng cải cách”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Văn phòng Quốc Hội số 11 năm 2009, trang 21-29; Doãn Hồng Nhung (2003) “Một số ý kiến về góp vốn là giá trị quyền sử dụng đất trong doanh nghiệp liên doanh ở Việt Nam”, Học viện Tư pháp, Tạp chí Ngề luật, Trường Đào tạo các chức danh tư pháp, chuyên đề cải cách tư pháp số 6 (trang 62-65); Lê Thị Thu Thủy (2003) “Thế chấp quyền sử dụng đất trong vay vốn ngân hàng: những vướng mắc cần được tháo gỡ”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Văn phòng Quốc hội số 6 năm 2004;
Vũ Xuân Tiền, “Góp vốn bằng giá trị thương hiệu”, Websiet http:// www.bsc.com.vn/new/2010/6/19;
Như vậy, pháp luật về doanh nghiệp là mảng đề tài được nhiều giới khoa học quan tâm nghiên cứu.Trên cơ sở thừa kế những thành quả nghiên cứu của các công trình đi trước, luận văn đi vào nghiên cứu sâu khía cạnh góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Luận văn đặt mục đích nghiên cứu là góp một phần xây dựng cơ sở lý luận về vấn đề góp vốn thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam, đồng thời kiến nghị một số giải pháp cơ bản cho việc xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này
Với mục đích trên, Luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau:
Trang 14Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận của pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập doanh nghiệp.Luận văn phân tích, bình luận nhằm làm rõ các yếu tố chủ yếu của các khái niệm như vốn, góp vốn, tài sản góp vốn
Hai là, phân tích và đánh giá thực trạng những nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành về góp vốn thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam như chủ thể góp vốn, hình thức góp vốn, thủ tục góp vốn
Ba là, kiến nghị một số giải pháp cơ bản nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời kỳ Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Góp vốn thành lập doanh nghiệp là một đề tài có phạm vi rộng nên trong khuôn khổ một luận văn thạc sỹ, chúng tôi sẽ tập trung vào nghiên cứu các đặc thù của pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp như chủ thể góp vốn, thủ tục góp vốn, hình thức góp vốn thành lập doanh nghiệp đối với loại hình doanh nghiệp là: Công ty
Cổ phần, Công ty Trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh theo Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 Luận văn không nghiên cứu pháp luật về góp vốn đối với các loại hình doanh nghiệp đặc thù như hợp tác xã, văn phòng Luật sư, các tổ chức tín dụng hoặc các mô hình góp vốn liên doanh, liên kết khác
Trong từng nội dung nghiên cứu, luận văn đưa ra nhận xét, đánh giá và kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về góp vốn thành lập doanh nghiệp Đặc biệt trong các hình thức góp vốn, luận văn đi sâu hơn phân tích hình thức góp vốn bằng quyền sử dụng đất tại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 15Trên nền tảng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu truyển thống kết hợp với phương pháp nghiên cứu hiện đại, như: phương pháp thống kê tổng hợp, phương pháp so sánh phân tích, phương pháp thu thập tài liệu,… để hệ thống, khái quát, phân tích, tổng hợp, làm
rõ và bình luận những nội dung nghiên cứu chính của đề tài, nằm đạt được kết quả nghiên cứu tốt nhất
6 Những đóng góp mới của luận văn
Pháp luật việt Nam về góp vốn thành lập doanh nghiệp là một mảng đề tài rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực tài sản, đất đai, đầu tư, thương mại, Khi tiếp cận nghiên cứu, luận văn đi sâu vào những vấn đề có tính chất nguyên tắc và các nội dung mang tính đặc thù
Dựa trên cách tiếp cận nghiên cứu đó, luận văn đã nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn một số vấn đề về lý luận và thực tiễn như: (i) lý luận về các khái niệm vốn, góp vốn, tài sản, quyền tài sản, quyền sở hữu Từ những khái niệm cơ bản này, luận văn đã tiếp cận thực trạng các quy định pháp luật về góp vốn Trong đó, luận văn đi sâu hơn phân tích, bình luận một số hình thức góp vốn đang có xu hướng phát triển phổ biến hiện nay nhưng các quy định pháp luật về nó chưa đầy đủ và còn nhiều tranh cải như:
7 Kết cấu của luận văn
Hình thức góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sử dụng đất, hình thức góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, hình thức góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng thương hiệu; (ii) luận văn đã chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến thực trạng nêu trên như
do chưa có quan điểm thống nhất về vị trí vai trò cũng như cần làm rõ một số khái niệu
về tài sản được nêu trong của Bộ luật dân sự năm 2015; một số vấn đề về góp vốn thành lập doanh nghiệp quy định trong luật doanh nghiệp năm 2014 còn nhiều hạn chế
Trang 16như quy định về các hình thức, tài sản góp vốn, việc định giá tài sản góp vốn và các vấn đề về tài sản khi giải thể, phá sản doanh nghiệp,…(iii) luận văn cũng đưa ra được những giải pháp nhằm khắc phục thực trạng còn tồn tại của pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp nói chung, pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền
sử dụng đất nói riêng như giải pháp về hoàn thiện các quy định của pháp luật, giải pháp
về tăng cường năng lực cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến góp vốn thành lập doanh nghiệp; giải pháp nâng cao sự hiểu biết pháp luật của người dân và văn hóa pháp lý của doanh nghiệp
Ngoài lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương sau: Chương I Những vấn đề lý luận cơ bản về góp vốn thành lập doanh nghiệp Chương II Thực trạng pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt nam Chương III Hoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam
Trang 17Đứng trên quan điểm của nền kinh tế thị trường: Coi doanh nghiệp cũng là hàng hoá Giá trị của doanh nghiệp gồm giá trị hữu hình và giá trị vô hình [65]
Như vậy, các quan niệm trên về vốn chỉ thể hiện được vai trò của vốn trong những điều kiện lịch sử cụ thể, với các yêu cầu nghiên cứu cụ thể.Nhưng đứng trên phương diện pháp lý về quản lý vốn hiện nay, các quan điểm này chưa đáp ứng được yêu cầu về quản lý và hoạch toán vốn đối với doanh nghiệp
Chúng ta có thể xây dựng hoặc quan niệm về vốn trong nền kinh tế thị trường theo xu thế hội nhập thì vốn phải được hiểu bao hàm cả phương diện pháp lý và phương diện kinh tế
Trang 18Về phương diện pháp lý: Vốn được hiểu và gắn liền với quyền và trách nhiệm của chủ thể góp vốn, vốn có thể là một điều kiện bắt buộc để thành lập và kinh doanh trong một số ngành nghề kinh doanh nhất định
Về phương diện kinh tế: Vốn là một yếu tố không thể thiếu tham gia vào quá trình kinh doanh dưới dạng tài sản để mang lại giá trị thặng dư; Vốn là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu trong kinh doanh và sản xuất Nếu không gắn kết vốn với các yếu tố khác của công ty thì công ty mới không thể kinh doanh và sản xuất tốt được Khi tiếp cận nghiên cứu từ góc độ tài chính, vốn là tổng số tiền hay tổng số tài sản do các cổ đông, thành viên đóng góp và họ được nhận cổ tức chia theo tỷ lệ góp vốn hoặc cổ phiếu mà họ đầu tư Ở Việt Nam, trong thời kỳ kinh tế bao cấp, vốn không được phân biệt theo tính chất pháp lý và nhìn nhận ở phương diện kinh tế một cách rõ nét, vốn được hiểu và được gọi theo cách gắn liền với chủ thể quản lý và cung cấp như: Vốn ngân sách nhà nước, vốn vay ngân hàng, vốn tự có,
Bước sang thời kỳ kinh tế mở cửa (sau năm 1986), với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến nền kinh tế tư nhân Song nhìn chung trong thời gian đầu vẫn mang màu sắc quan điểm về vốn như thời kỳ bao cấp Luật Công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1991 ra đời đề ra vốn pháp định cho mọi ngành nghề kinh doanh.Vốn là điều kiện và phương tiện bắt buộc để kinh doanh.Không có vốn, doanh nghiệp không thể thành lập Việc pháp luật quy định như vậy cũng xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu như đã có nhiều xí nghiệp, doanh nghiệp ra đời mà không có đồng vốn nào, chỉ có tên gọi và con dấu để hoạt động, ký kết rất nhiều hợp đồng rồi lâm vào tình trạng nợ nần, phá sản, gây thiệt hại kinh tế cho nhiều người Luật Công ty năm 1991 ra đời đã quy định vốn là điều kiện và phương tiện kinh doanh nhằm ngăn ngừa hành vi lừa đảo trong kinh doanh [13; tr124-126]
Trang 19Quan niệm coi đồng vốn là điều kiện và phương tiện kinh doanh như vậy dẫn đến hạn chế quyền tự do kinh doanh cũng như nhu cầu kinh doanh của người dân trong đời sống dân sự Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 1999 ra đời đã bãi bỏ vốn pháp định Việc bãi bỏ quy định này đã đáp ứng được lòng dân, phù hợp với đường lối chủ trương của Đảng Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 vẫn giữ nguyên quan điểm
đó ngoại trừ một số ngành nghề bắt buộc phải có vốn pháp định để bảo đảm sự an toàn đối với xã hội như ngành kinh doanh vàng, chứng khoán…Người thành lập công ty chỉ cần khai báo sẽ có bao nhiêu vốn chứ không bị bắt buộc phải có một số vốn nhất định như trước
Từ khái niệm về vốn, có thể hiểu một cách chung nhất góp vốn là sự đóng góp của hai hay nhiều đối tác để tạo nên số vốn nhất định Do việc góp vốn liên quan đến quyền lợi riêng hoặc quyền lợi chung của các thành viên góp vốn nên việc góp vốn có nhiều vấn đề phức tạp dễ dẫn tới nguy cơ như đồng vốn không sinh lời, thâm hụt thậm chí mất vốn và nghiêm trọng hơn còn dẫn tới tranh chấp về đồng vốn góp Trong đời sống hàng ngày, chúng ta vẫn thường thấy có rất nhiều hình thức góp vốn từ buôn bán nhỏ lẻ cho đến mở công ty kinh doanh hoặc là “hùn vốn” buôn bán, “khoán trắng” vốn cho người khác hoặc góp vốn vào công ty hay góp vốn để thành lập Công ty
Có thể thấy “góp vốn” là một khái niệm rất thông dụng trong đời sống dân sự cũng như trong quy định pháp lý Từ khi Luật Công ty năm 1991 ra đời, khái niệm này
đã được nghi nhận một cách rõ nét và cụ thể hơn
Tại Điều 9 Luật Công ty năm 1991 đã quy định:“Phần vốn góp của mỗi thành viên có thể bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, tài sản bằng hiện vật hoặc bản quyền sở hữu công nghiệp Phần vốn góp bằng hiện vật hoặc bản quyền sở hữu công nghiệp phải được đại hội đồng thành lập xem xét, chấp thuận, định giá và được ghi vào điều lệ công ty; Phần vốn góp này phải được nộp đầy đủ ngay sau khi công ty chính thức thành lập”
Trang 20Theo Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 1999: “Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty”
Theo Điều 4 khoản 4 Luật Doanh nghiệp 2005: “Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu chung của Công ty Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong điều lệ công ty do thành viên công ty góp để tạo thành vốn của Công ty”
Và đến Luật Doanh nghiệp 2014, khái niệm góp vốn được định nghĩa ngắn gọn: “là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập”
Như vậy, so với Luật Công ty năm 1991, LDN năm 1999 và LDN năm 2005, Luật Doanh nghiệp 2014 đã quy định khái niệm góp vốn một cách xúc tích hơn bằng việc nhấn mạnh vào mục đích của việc góp vốn và chỉ ra hai hình thức góp vốn vào doanh nghiệp căn cứ vào thời điểm và góp vốn
1.1.2 Bản chất pháp lý của góp vốn
Để hình thành một công ty, việc góp vốn của các chủ thể là nội dung quan trọng có tính chất quyết định trong các vấn đề thủ tục thành lập công ty.Việc góp vốn nhằm tạo ra cơ sở đầu tiên cho bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào, khi có vốn doanh nghiệp mới có thể thuận lợi hơn để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.Vốn là điều kiện cần để doanh nghiệp tiến hành khởi sự các hoạt động sản xuất,
Trang 21kinh doanh.Việc góp vốn này là nguồn gốc của mọi quyền lợi cũng như nghĩa vụ của các thành viên trong công ty sau này.Có thể nói, trong các quy định về thủ tục thành lập doanh nghiệp thì các quy định về vốn, góp vốn quan trọng nhất, thậm chí có ý nghĩa quyết định.Góp vốn có thể nói là “linh hồn” của một hợp đồng thành lập công ty
Về bản chất, góp vốn là hành vi pháp lý nhằm đưa tài sản của mình vào một hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích kiếm lời Trong mối quan hệ góp vốn,
có các bên góp vốn và tài sản góp vốn
Về phương diện kinh tế thì góp vốn là sự đóng góp của các các thành viên tạo
ra khối tài sản chung cho Công ty nhằm đảm bảo cho những chi phí đối với hoạt động của công ty và đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho các chủ nợ khi công ty lâm vào tình trạng phá sản
Xét về phương diện pháp lý, thì góp vốn là hành vi tự nguyện chuyển giao tài sản hay đưa tài sản riêng của mình vào công ty sử dụng chung nhằm mục đích kiếm lời Hành vi tự nguyện chuyển giao tài sản này không phải là hành vi cho thuê tài sản hay bán tài sản Khi chuyển giao quyền sở hữu tài sản hay quyền sử dụng, thì người chuyển giao có được một quyền lợi từ việc bán hoặc cho thuê là một khoản tiền nhất định từ giá bán hay giá thuê Còn trong hành vi góp vốn thì người góp vốn không nhận được bất kể khoản tiền nào từ việc góp vốn đó [22; tr 49-52]
Như vậy, góp vốn là việc một người thông qua hành vi chuyển quyền sở hữu tài sản hoặc quyền sử dụng của mình cho công ty để đổi lấy một số quyền lợi nhất định
từ công ty hay trở thành chủ sở hữu đối với phần vốn góp của mình vào công ty đó Góp vốn phải được phân biệt với phần vốn góp.Phần vốn góp là tổng giá trị các tài sản của chủ thể góp vào công ty
1.2 Khái niệm, phân loại tài sản góp vốn
Trang 221.2.1 Khái niệm tài sản góp vốn
Tài sản là một khái niệm khá phổ biến trong đời sống hàng ngày Điều 172 BLDS năm 1995 quy định: “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản”
Khái niệm tài sản được quan niệm rộng hơn và cụ thể hơn trong Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Khái niệm này về tài sản được Bộ Luật dân sự 2015 kế thừa và được quy định tại khoản 1 Điều 105 Bộ Luật dân sự 2015
Khái niệm tài sản quy định trong BLDS năm 2015 đã mở rộng hơn BLDS năm
1995 về đối tượng nào được coi là tài sản, không chỉ những “vật có thực” mới được coi
là tài sản mà cả những vật hình thành trong tương lai cũng có thể được coi là tài sản
BLDS năm 2015 định nghĩa trực tiếp vật hình thành trong tương lai tại Khoản
2 Điều 108 như sau: “Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm:
“Nghiên cứu về tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam” NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh năm 1999 có thể được coi là một trong những “dấu ấn” đầu tiên nghiên cứu pháp
Trang 23luật về tài sản một cách có hệ thống trong lịch sử nghiên cứu lập pháp tại Việt Nam Theo tác giả tài sản được hiểu theo hai cách:
Một là, theo phương diện pháp lý, tài sản là của cải được con người sử dụng
Hai là, trong ngôn ngữ thông dụng thì tài sản là một vật cụ thể được con người nhận biết và sử dụng, có tài sản vô hình hữu hình, tài sản vô hình.Nhưng dù tồn tại ở bất cứ dạng nào thì chúng đều có thể được sở hữu, tức là phải thuộc riêng về một chủ thể nào đó [27; Tr 5-6]
Ngoài ra, khi bàn về tài sản, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này Dưới đây là một số quan điểm chủ yếu:
Có quan điểm cho rằng, tài sản là đối tượng của quyền sở hữu Hiểu theo quan điểm này muốn hiểu tài sản là gì thì ta phải hiểu quyền sở hữu là gì Tuy nhiên, tại Khoản 1 Điều 158 BLDS năm 2015 đưa ra khái niệm về quyền sở hữu ″Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật″ Khái niệm này cũng chỉ mang tính liệt kê, chưa chỉ ra bản chất của quyền sở hữu
Lại có quan điểm cho rằng, tài sản bao gồm động sản và bất động sản.Đây là cách phân loại tài sản thì đúng hơn.Muốn hiểu tài sản là gì thì phải hiểu thế nào là động sản, thế nào là bất động sản, muốn hiểu thế nào là bất động sản thì phải hiểu thế nào là động sản.Quan niệm này cũng chưa chỉ ra bản chất của tài sản, thậm chí khi nói đến quyền tài sản thì không biết để vào động sản hay bất động sản
Như vậy, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, BLDS năm 1995 trước đây cũng như BLDS năm 2015 hiện hành đều dựa vào tiêu chí tài sản là đối tượng của quyền sở hữu phải trị giá được bằng tiền và có thể được đưa vào giao lưu
Trang 24dân sự Trên tinh thần đó, Điều 105 BLDS năm 2015 đã liệt kê các loại tài sản là đối tượng của quyền sở hữu bao gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Do quy định này không có sự khác biệt so với quy định tại BLDS 2005 nên tinh thần của Điều luật này được hiểu tương tự như cuốn Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 do PGS.TS Hoàng Thế Liên làm chủ biên đã giải thích:
Một là, vật là một bộ phận của thế giới vật chất, bao gồm cả động vật, thực vật, vật với ý nghĩa vật lý ở mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí).Vật được coi là tài sản phải là vật hữu hình, cảm nhận được bởi năm giác quan của con người và chiếm giữ một phần trong không gia Vật được coi là tài sản khi vật đó đáp ứng được một nhu cầu nào đó
về vật chất hoặc tinh thần của con người Tuy nhiên không phải bộ phận nào của thế giới vật chất cũng đều được coi là vật.Có những bộ phận của thế giới vật chất ở dạng này thì được coi là vật, nhưng ở dạng khác thì không được coi là vật Ví dụ Oxi là một
bộ phận của thế giới vật chất, đáp ứng được một nhu cầu rất quan trọng của con người
là để thở, nhưng nếu ôxi còn ở dạng không khí chung thì chưa thể coi đó là đối tượng của quyền sở hữu Chỉ khi ôxi được cho vào bình, tức là con người có thể nắm giữ, quản lý được thì mới có thể đưa vào giao lưu dân sự và mới có thể trở thành một tài sản được pháp luật điều chỉnh
Hai là, tiền theo quy định tại Điều số 163, BLDS năm 2005 (Nay là Điều 105 BLDS 2015), tiền là một trong những loại tài sản Có thể đồng ý với quan điểm khi phân biệt đặc điểm pháp lý khác nhau giữa tiền với vật Hai loại tài sản này khác nhau
ở những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất: vật có thể do nhiều chủ thể khác nhau tạo ra, còn tiền thì chỉ có Nhà nước độc quyền phát hành Ở mỗi một quốc gia khác nhau, Nhà nước ban hành một loại tiền nhất định và được coi là đại diện cho chủ quyền của một quốc gia
Trang 25Thứ hai: đối với vật thì chúng ta có thể khai thác công dụng hữu ích từ chính vật đó (ví dụ dùng nhà để ở, ) Tiền thực hiện ba chức năng chính là: Công cụ thanh toán đa năng, công cụ tích luỹ tài sản và công cụ định giá các loại tài sản khác Khái niệm quyền sử dụng chỉ được áp dụng cho vật chứ không áp dụng cho tiền Việc sử dụng tiền vào các hoạt động kinh doanh hay tiêu dùng như mua bán tài sản, cho vay, góp vốn đều được hiểu là hành vi định đoạt tiền (chuyển giao quyền sở hữu tiền cho chủ thể khác)
Thứ ba: vật được xác định số lượng bằng những đơn vị đo lường thông dụng, còn tiền lại được xác định theo mệnh giá của đồng tiền đó
Thứ tư: chủ sở hữu có toàn quyền sở hữu đối với vật và có thể thực hiện ba quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt vật đó, nếu việc thực hiện các quyền đó không ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích của các chủ thể khác Nhưng người có tiền (chủ sở hữu) không thể thực hiện quyền sở hữu đối với tiền như
là đối với các tài sản thông thường khác được, mà phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt của Nhà nước
Ba là, về giấy tờ có giá, Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 16/6/2010 đã quy định các giấy tờ có giá tuy có giá trị như tiền nhưng được sử dụng trong các giao dịch dân sự thông thường hạn chế hơn so với tiền, hoặc chỉ được sử dụng làm phương tiện lưu thông giữa một số chủ thể nhất định theo quy định của pháp luật (ví dụ: Séc) Giấy tờ có giá như tiền do các tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn, trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua Ngoài giấy tờ có giá như tiền do tổ chức tín dụng phát hành còn có một số loại giấy tờ có giá khác như: Séc, các loại chứng khoán, công trái…
Trang 26Các quyền tài sản: Được quy định tại Điều 181 BLDS năm 2005 Đó là quyền chuyển giao tài sản, quyền đòi nợ, quyền sở hữu đối với phát minh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá,…Các quyền này phải đáp ứng yêu cầu trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao được trong giao dịch dân sự Khác với vật là tài sản hữu hình, quyền tài sản là tài sản vô hình” [6;Tr 356-366]
Nghiên cứu về khái niệm “quyền tài sản” bằng cách gắn kết Điều 105 BLDS
2015 quy định về tài sản “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” và Điều 115 BLDS năm 2015 “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất
và các quyền tài sản khác”.Từ các quy định ta có thể khẳng định quyền tài sản trước hết là tài sản và phải đáp ứng đủ hai điều kiện: Phải trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao cho người khác trong giao dịch dân sự Tuy nhiên quy định này không đúng trong mọi trường hợp.Tất cả những quyền không đáp ứng được hai điều kiện này thì không được coi là tài sản
1.2.2 Phân loại tài sản góp vốn
Từ các lập luận nêu tại phần 1.2.1 trang 11 của luận văn, có thể phân loại quyền tài sản như sau: Quyền đối vật và quyền đối nhân Quyền đối với vật được biểu hiện như quyền cầm cố, quyền thế chấp, quyền hưởng hoa lợi,…Quyền đối nhân của một người thường tương ứng với nghĩa vụ tài sản của người khác.Ví dụ quyền yêu cầu người khác phải làm là một việc hoặc không phải làm một việc
Hoặc cũng có thể hiểu quyền tài sản là một loại tài sản vô hình Để tồn tại với
ý nghĩa là một tài sản vô hình, các tài sản vô hình ngoài việc đáp ứng hai điều kiện được quy định tại điều 115 BLDS năm 2005, cần phải có một số đặc điểm sau đây:
Trang 27Một là, tài sản vô hình cần phải nhận dạng được.Việc nhận dạng tài sản vô hình có thể thông qua một số chứng cứ hữu hình để có thể mô tả được loại tài sản vô hình đó Ví dụ một sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật khoa học, mới chỉ hình thành trong ý nghĩ của người sáng tạo thì chưa coi là tác phẩm và người đó chưa được pháp luật bảo vệ quyền tác giả Chỉ khi người có ý nghĩa sáng tạo sáng tạo thể hiện các tác phẩm của mình dưới một hình thức vật chất nhất định, thì các tác phẩm
đó mới được coi là đối tượng của quyền tác giả Một sáng chế phát minh, nhãn hiệu hàng hoá… được pháp luật bảo vệ khi chủ sở hữu đăng ký quyền sở hữu Đối với quyền sử dụng đất và hay quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề chẳng hạn, biểu hiện của quyền tài sản là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thoả thuận sử dụng hạn chế bất động sản liền kề được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Hai là, cũng như việc người ta có thể nhận biết được sự tồn tại của tài sản đó, các chủ thể cũng có thể nhận biết được sự kết thúc (hay sự phá huỷ của tài sản vô hình này) Ví dụ: quyền đòi nợ kế thúc khi người có nghĩa vụ thanh toán xong khoản nợ; quyền sử dụng đất của một chủ thể kết thúc khi hết thời hạn sử dụng đất mà pháp luật
đã quy định, hoặc khi chủ thể đó chuyển quyền sử dụng đất cho người khác
Ba là, chủ sở hữu tài sản vô hình được pháp luật bảo vệ khi quyền sở hữu bị xâm phạm, thì ngược lại, chủ sở hữu cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý khi thực hiện quyền sở hữu các tài sản vô hình này [64; Tr51]
Giá trị của quyền tài sản được thể hiện thông qua các hình thức pháp lý khác nhau như: thông qua giao kết hợp đồng dân sự như quyền đòi nợ, quyền sử dụng tài sản thuê; được cơ quan nhà nước giao quyền sử dụng như quyền sử dụng đất, quyền khai thác khoáng sản; bằng trí tuệ của mình sáng tạo ra tác phẩm hoặc được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu công nghiệp,
Trang 28Tóm lại, tài sản không phải là một khái niệm mang tính ổn định.Tùy thuộc vào giá trị kinh tế và mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau mà khái niệm tài sản ngày càng phong phú về hình thức và nội dung Đặc biệt, ngày nay trong thời đại kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, đời sống xã hội ngày càng xuất hiện thêm nhiều loại tài sản mới như: sở hữu trí tuệ, chứng khoán, cổ phiếu, ….thì khái niệm tài sản càng phải được quan niệm lại cho phù hợp với thực tế khách quan
Có thể thấy việc liệt kê các tài sản góp vốn như Luật Doanh nghiệp năm 2005 của Việt Nam là không thực tế và còn có nhiều hạn chế Các quy định này không làm sáng tỏ hơn các qui định về tài sản trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 Theo pháp luật Việt Nam, tài sản góp vốn chủ yếu là “vật chất liệu” còn các quyền tài sản cũng được nhắc tới nhưng rất mờ nhạt Do đó, việc góp vốn bằng quyền tài sản còn gặp nhiều khó khăn trên thực tế do chưa có những quy định cụ thể và hợp lý Ngoại trừ quyền sử dụng đất là một loạt vật quyền thông dụng và phổ biến trong đời sống dân sự
đã được nhiều văn bản pháp lý chuyên ngành quy định khá rõ ràng Song cho đến thời điểm này, việc áp dụng các quy định của pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào thực tiễn vẫn còn chứa đựng nhiều bất cập
Chính vì vậy, việc sửa đổi khái niệm góp vốn theo Luật Doanh nghiệp 2014 bằng cách lược bỏ việc liệt kê các loại tài sản góp vốn đã khắc phục được những thiếu sót kể trên Như vậy, tài sản bao gồm tiền hiện vật (hiện vật ở đây được hiểu theo nghĩa rộng nhất bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình) “hiện vật” phải mang lại lợi ích cho con người đồng thời trị giá được bằng tiền
Trang 29CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
2.1 Pháp luật thực định về góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam
2.1.1 Chủ thể góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam
Trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, góp vốn thành lập doanh nghiệp là quyền của nhà đầu tư Nhưng tự do kinh doanh không đồng nghĩa với việc bất cứ người nào, cơ quan, tổ chức nào cũng có quyền thành lập doanh nghiệp trong kinh doanh Để đảm bảo quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong kinh doanh, bảo
vệ lợi ích cộng đồng, xã hội, Nhà nước quy định mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền góp vốn, thành lập hoặc quản lý doanh nghiệp, trừ các trường hợp mà các hoạt động kinh doanh của họ có nguy cơ phá vỡ sự bình đẳng của các doanh nghiệp và lợi ích xã hội Khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định các đối tượng sau đây không được thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:
Một là, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước
để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình Đây là điều cấm chung mọi trường hợp dùng tiền công để thành lập các công ty thu lợi cho một số lợi ích cục bộ, dù được tiến hành dưới danh nghĩa cơ quan, tổ chức hay dưới danh nghĩa cá nhân
Hai là, cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức Mặc dù họ có thể góp vốn vào công ty TNHH2, Công ty cổ phần bằng hình thức bỏ tiền để mua cổ phần vốn góp nhằm mục đích thu lợi nhuận, cổ tức
Trang 30Trường hợp nếu là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đầu cơ quan, hoặc là vợ hoặc chồng, bố,mẹ, con của họ thì không được đầu tư kinh doanh dưới bất kỳ hình thức nào kể cả việc góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi nghành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý Nhà nước [52; Điều 1] Quy định này nhằm ngăn ngừa tình trạng lợi dụng chức vụ quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa của người
có chức vụ quyền hạn để kinh doanh kiếm lời, trục lợi cá nhân của một số cán bộ quản
lý Nhà nước, gây mất bình đẳng giữa các doanh nghiệp do sự thiếu khách quan trong quản lý Cũng với mục đích nhằm tránh sự xung đột lợi ích giữa một bên là Nhà nước
và một bên là lợi ích cá nhân, gây ra sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp, ngoài cán
bộ, công chức bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp, pháp luật còn quy định cấm cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp Nhà nước thành lập và quản lý doanh nghiệp thuộc vốn dân doanh Cán bộ lãnh đạo, quản lý ở đây được hiểu
là thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc hoặc phó giám đốc và các Trưởng phó phòng ban trong Doanh nghiệp Nhà nước Tuy nhiên điều cấm này không áp dụng đối với các đại diện quản lý phần vốn cuả Nhà nước ở các doanh nghiệp, bởi vì người đó thực hiện chức năng quản lý phần vốn Nhà nước chứ không phải là đại diện cho sở hữu cá nhân của mình
Ba là, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam bởi họ là những nguời luôn gánh trên vai nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh nhân dân, do đó luật cũng quy định không để họ tham gia làm kinh tế tư nhân làm phân tán nhiệm vụ
Bốn là, cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác
Trang 31Năm là, người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc
bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân là những người không đủ khả năng kinh doanh trên thương trường Để tránh những rủi ro kinh doanh cho họ và cho khách hàng, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế, Nhà nước cũng cấm đối tượng này thành lập và quản lý doanh nghiệp
Sáu là, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng
Sự thành lập và quản lý doanh nghiệp của họ không đảm bảo trật tự trong kinh doanh, ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư, đi ngược lại lợi ích của Nhà nước và cộng đồng, vì vậy, pháp luật cũng loại họ ra khỏi quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp Tuy nhiên, quy định này thiếu cơ chế để kiểm tra, giám sát thực hiện, đo đó trên thực tế công tác này vẫn đang được buông lỏng
Các trường hợp theo quy định của pháp luật về phá sản Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, giám đốc (Tổng giám đốc), Chủ tịch
và các thành viên Hội đồng quản trị, hội thành viên của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập doanh nghiệp, không được là người quản lý doanh nghiệp trong thời hạn từ một đến ba năm, kể từ ngày doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản Trừ các trường hợp mà nguyên nhân gây ra sự phá sản vì lý do bất khả kháng hoặc giám đốc, chủ tịch Hội đồng quản trị tự nguyện đệ đơn cho các chủ nợ hoặc Giám đốc, Chủ tịch Hội đồng quản trị và các thành viên Hội đồng quản trị không trực tiếp chịu trách nhiệm về lý do doanh nghiệp bị phá sản
Trang 32Như vậy, theo LDN năm 2014, loại trừ một số trường hợp Nhà nước quy định không được thành lập hoặc quản lý doanh nghiệp, mọi người đều có thể đầu tư kinh doanh bằng cách góp vốn rồi đăng ký kinh doanh tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
để thực hiện quyền tự do kinh doanh của mình
LDN năm 2014 và Luật cán bộ, công chức năm 2008, Luật viên chức năm
2010 không cho phép cán bộ công chức, viên chức Nhà nước được thành lập và quản
lý doanh nghiệp Theo tinh thần pháp luật hiện hành, các cán bộ công chức, viên chức chỉ có quyền góp vốn và gián tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp
Ngoài các quy định chung về chủ thể góp vốn trong Luật Doanh nghiệp năm
2014, Chủ thể góp vốn bằng quyền sử dụng đất tại Việt Nam được quy định trong Luật Đất đai năm 2013 bao gồm:
Một là, Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất được quy định tại Điều 174 Luật Đất đai năm 2013;
Hai là, Tổ chức kinh tế được Nhà nước được quy định tại Điều 174 Luật Đất đai năm 2013;
Ba là, Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê được quy định tại Điều 179 Luật Đất đai năm 2013;
Bốn là, Cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư sử dụng đất được quy định tại Điều
181 Luật Đất đai năm 2013;
Năm là, Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài
sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam được quy định tại Điều 183 Luật Đất đai năm 2013
Trang 33Các chủ thể trên nếu đáp ứng đủ các điều kiện: có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đất không có tranh chấp; quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; trong thời hạn sử dụng đất thì có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất
Như vậy, có thể nhận thấy rằng các quy định về chủ thể kinh doanh của doanh nghiệp là sự thể hiện một bước tiến trong việc ghi nhận quyền của Nhà đầu tư từ chỗ
“chỉ làm những gì Nhà nước cho phép” sang “được làm tất cả những gì Nhà nước không cấm” Điều này góp phần tạo cơ hội thuận lợi cho các nhà đầu tư nhận thức đựợc khả năng của mình, tự hoàn thiện các điều kiện kinh doanh để lựa chọn cho mình một phương án kinh doanh phù hợp Cũng như các quy định trên đây đã hạn chế tình trạng mỗi ngành mỗi cấp tùy tiện đưa ra các điều kiện kinh doanh đối với nghành, nghề của mình quản lý Thông qua các quy định về điều kiện của chủ thể kinh doanh, Nhà nước thực hiện sự quản lý, điều tiết sản xuất kinh doanh theo định hướng phát triển kinh tế phù hợp với lợi ích cơ bản và lâu dài của đất nước
2.1.2 Hình thức góp vốn thành lập doanh nghiệp
Pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ quy đinh duy nhất hình thức góp vốn bằng tài sản sau đó liệt kê tài sản bao gồm những gì “Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong điều lệ công ty do thành viên công ty góp để tạo thành vốn của Công ty” [58; Điều 35] dẫn đến tình trạng liệt kê không đầy đủ, gây khó khăn cho việc lựa chọn tài sản góp vốn của các chủ thể muốn góp vốn kinh doanh Khi mà đời sống vật chất xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp, các hình thức tài sản con người có được ngày càng phong phú Tuy các nhà làm luật đã khéo léo đưa vào cụm từ “Các tài sản khác ghi trong điều lệ công ty do các thành viên thỏa thuận” nhưng rõ ràng việc liệt kê sản góp vốn như theo quy định hiện hành là chưa hợp lý
Trang 34Bàn về hình thức góp vốn, tác giả Ngô Huy Cương tại Luận án tiến sỹ Luật học
“Hợp đồng thành lập công ty ở Việt Nam” đã phân tích ba hình thức góp vốn: (1) góp vốn bằng tài sản (bằng hiện vật, bằng quyền hưởng dụng, bằng quyền sở hữu trí tuệ, bằng sản nghiệp thương mại); (2) góp vốn bằng tri thức; (3) góp vốn bằng hoạt động hay công việc Theo tác giả, góp vốn bằng tài sản là hình thức góp vốn quan trọng nhất bởi không có tài sản thì công ty không thể hoạt động được.Về nguyên tắc, mọi tài sản đều có thể đem góp làm vốn của công ty, tuy nhiên còn lệ thuộc vào từng sự thỏa thuận cụ thể trong các hợp đồng thành lập công ty Tài sản góp vốn có thể thuộc bất kể dạng nào, vật chất liệu hay các quyền vô hình, với điều kiện các tài sản này phải là các tài sản có thể được chuyển giao trong giao lưu dân sự một cách hợp pháp, bởi bản thân góp vốn đã là một hành vi chuyển giao tài sản, do đó phải tuân thủ những quy tắc chung có liên quan tới việc chuyển giao tài sản Căn cứ vào việc chuyển giao, người ta chia các hình thức góp vốn bằng tài sản thành một số loại để nghiên cứu và quy định như góp vốn bằng tiền, góp vốn bằng vật chất liệu
và góp vốn bằng quyền [22]
Quan điểm cá nhân cũng nhất trí với tác giả về các hình thức góp vốn trên.Song tùy thuộc vào mỗi cách hiểu về khái niệm tài sản góp vốn mà có thể có những phân loại hình thức góp vốn khác nhau Luận văn phân loại hình thức góp vốn thành hai nhóm: góp vốn bằng tài sản; góp vốn bằng khả năng và công việc
Thứ nhất, góp vốn bằng tài sản: Thể hiện góp vốn bằng tái sản có các hình thức như góp vốn bằng tiền, góp vốn bằng hiện vật (vật có thực, các quyền tài sản,…)
Một là, góp vốn bằng bằng tiền: góp vốn bằng tiền là việc chủ thể góp vốn đóng một khoản tiền vào công ty để nhận lấy một số quyền lợi có được từ công ty Trong trường này không phải thực hiện việc định giá tài sản, không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tái sản.Sau khi nộp tiền, chủ thể góp vốn nhận được giấy chứng nhận phần vốn góp của mình.Nếu trong thời gian cam kết góp vốn, chủ thể góp vốn
Trang 35không góp hoặc góp không đúng hạn thì việc này được coi là khoản nợ của các chủ thể góp vốn đối với công ty và chủ thể góp vốn sẽ phải chịu trách nhiệm tương ứng với tỷ
lệ cam kết góp vốn vào trong công ty
Hai là, góp vốn bằng “hiện vật”: là việc chủ thể góp vốn sử dụng hiện vật (tài sản hữu hình hoặc vô hình) thuộc sở hữu của mình mang ra làm tài sản góp vào công ty nhằm mục đích sinh lời hay nhằm đổi lấy một số quyền lợi trong công ty Vật có thực tồn tại dưới dạng nhiều loại khác nhau ví dụ như: nhà xưởng, ô tô, trang thiết bị, máy móc, quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất, việc sử dụng tài sản dùng để góp vốn là vật có thực này đôi khi bị hiểu lầm là việc bán tài sản cho công ty Người góp vốn phải thực hiện việc chuyển quyền sở hữu sang thuộc sở hữu chung của công ty Tài sản là vật có thực mang đi góp vốn phải được định giá tài sản.Trong các tài sản thuộc nhóm tài sản hữu hình có thể sử dụng làm tài sản để góp vốn thì góp vốn bằng quyền sử dụng đất là một hình thức phổ biến hiện nay
Góp vốn bằng quyền sử dụng đất là việc người sử dụng đất đưa tài sản thuộc quyền sử dụng của mình là quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất nhất định để góp vốn thành lập công ty, trở thành chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu của công ty
Với cách hiểu đó, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khác về bản chất với góp vốn bằng tài sản khác Điều đó xuất phát từ quan điểm coi quyền sử dụng đất là một loại tài sản đặc biệt, gắn liền với đất đai Trong khi đó, đất đai được xác định là bất động sản, là loại tài sản có giá trị lớn, cố định về vị trí, không thể di dời được và có tính bền vững Vì vậy, quyền sử dụng đất nói chung, hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất nói riêng có những nét đặc thù nhất định
Thứ nhất, đối tượng của việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất là quyền sử dụng đất mà không phải là đất đai Sau khi chủ thể quyền sử dụng đất góp vốn vào
Trang 36thành lập công ty thì quyền sử dụng đất trở thành tài sản doanh nghiệp nên doanh nghiệp có quyền sử dụng đối với diện tích đất mà người góp vốn có quyền sử dụng Khi doanh nghiệp bị phá sản thì quyền sử dụng đó được xử lý theo quy định của pháp luật để trả các khoản nợ và thực hiện nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp
Thứ hai, việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất không làm thay đổi hình thức sở hữu đối với diện tích đất được cá nhân, tổ chức có quyền sử dụng đã đem góp vốn vào doanh nghiệp Tại Điều 4 Luật Đất đai năm 2013 quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này” Khi góp vốn bằng các tài sản thông thường thì tài sản góp vốn thuộc quyền sở hữu của công ty
Thứ ba, việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện trong thời gian giao đất hoặc cho thuê đất.Nếu hết thời hạn giao đất hoặc cho thuê đất thì việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất bị chấm dứt Công ty đang sử dụng đất mà trước đó cá nhân, tổ chức có quyền sử dụng đã góp vốn bằng quyền sử dụng đất, phải trả lại đất cho nhà nước hoặc tiến hành thủ tục để được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất Nếu hết thời hạn góp vốn mà thời hạn giao đất cho thuê đất vẫn còn thì cá nhân tổ chức có quyền sử dụng đất có quyền lấy lại diện tích mà trước đó đã góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào công ty
Thứ tư, việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải tuân thủ các điều kiện do pháp luật quy định, như điều kiện về sử dụng đất đúng mục đích, điều kiện thực hiện các nghĩa vụ của người sử dụng đất ….trong đó có một điều kiện quan trọng mang tính bắt buộc là việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện khi cá nhân, tổ chức có quyền sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Sau khi được cá nhân, tổ chức có quyền sử dụng đất góp vốn, công
ty có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các quy định về sử dụng đất đai
Trang 37Thứ năm, giá trị quyền sử dụng đất được các thành viên góp vốn thoả thuận căn cứ vào khung giá do Nhà nước quy định, đảm bảo không thấp hơn giá do nhà nước ban hành Việc quy định như trên nhằm mục đích ngăn chặn hành vi trốn thuế của tổ chức cá nhân góp vốn Mặt khác nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người có quyền sử dụng đất khi góp vốn, tránh trình trạng ép giá của công ty đối với người góp vốn, đặc biệt khi người đó rơi vào tình trạng khó khăn Nếu công ty có sự vi phạm nghiêm trọng trong việc sử dụng đất thì Nhà nước sẽ thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà trước đó đã cấp cho cá nhân, tổ chức góp vốn Công ty phải trả lại phần diện tích đất đã bị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vẫn phải ghi nhận phần vốn góp bằng quyền sử dụng đất cho cá nhân, tổ chức góp vốn vào công ty bằng quyền sử dụng đất đó
Ngoài ra, góp vốn bằng quyền là việc chủ thể góp vốn sử dụng các quyền tài sản của mình làm tài sản góp vốn.Góp vốn bằng quyền là hình thức góp vốn phức tạp hơn hai hình thức góp vốn trước.Bởi lẽ góp vốn bằng quyền chính là việc chủ thể góp vốn sử sụng tài sản vô hình góp vốn vào công ty.Việc góp vốn bằng quyền tài sản này rất khó phân biệt với góp vốn bằng quyền sở hữu đã nêu ở hình thức thứ hai (vì quyền
sở hữu được coi là vật quyền)
Trong các quyền tài sản thuộc tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ là quyền đặc trưng và phổ biến nhất
Tại Khoản 2 Điều 35 Luật Doanh nghiệp 2014 đã quy định việc góp vốn bằng
sở hữu trí tuệ như sau: “Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn”
Trang 38Căn cứ vào hướng dẫn nêu trên, trường hợp các nhà đầu tư muốn góp vốn bằng quyền Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả, bản quyền, nhãn hiệu hàng hoá thì phải có biên bản giao nhận tài sản, biên bản định giá tài sản và góp vốn Các biên bản này được coi
là chứng từ hợp pháp để xác định giá trị tài sản góp vốn và được tính vào chi phí kinh doanh, chi phí hợp lý theo quy định Trường hợp định giá tài sản góp vốn không phù hợp thì cơ quan thuế có quyền yêu cầu đơn vị xác định lại giá trị tài sản góp vốn thông qua Hội đồng định giá ở địa phương hoặc tổ chức có chức năng thẩm định giá theo quy định của pháp luật
Thứ hai, góp vốn bằng khả năng hoặc công việc góp vốn bằng khả năng là việc chủ thể góp vốn sử dụng năng lực của mình như kinh nghiệm uy tín, danh tín hoặc một hoạt động nào đó đóng góp vào công ty Ví dụ như: một nhà khoa học, luật sư nổi tiếng đóng góp bằng uy tín (thông thường trong công ty hợp danh) Góp vốn bằng khả năng khác với các hình thức góp vốn bằng tài sản thông thường.Trong việc xác định giá trị phần vốn góp khó có thể xác định một cách chính xác giá trị phần vốn góp đó được Hơn nữa người ta dễ nhầm lẫn giữ việc góp vốn bằng khả năng (thành viên công ty) với người làm công ăn lương bình thường
Khi góp vốn bằng khả năng vào công ty, người góp vốn có những quyền lợi và nghĩa vụ nhất định.Đặc biệt người góp vốn bằng khả năng không được góp vốn bằng khả năng đó vào nhiều công ty khác nhau trong cùng một thời điểm.Trong trường hợp người góp vốn bằng khả năng qua đời hoặc không muốn nhượng lại phần vốn góp thì người thừa kế hoặc người nhận chuyển nhượng phải được các thành viên khác đồng ý
Ngoài các hình thức góp vốn cụ thể đã nêu ở trên, hiện nay trong lĩnh vực đăng
ký kinh doanh của doanh nghiệp đang xuất hiện một vấn đề thu hút sự quan tâm của khá nhiều doanh nhân và công dân Việt Nam Đó là vấn đề góp vốn bằng giá trị quyền
sử dụng thương hiệu
Trang 39Thương hiệu là gì?Thương hiệu được tạo ra như thế nào và được xác định giá trị như thế nào?Chủ sở hữu thương hiệu có được sử dụng thương hiệu để góp vốn thành lập doanh nghiệp hoặc liên doanh liên kết hay không? Tất cả các câu hỏi này hiện nay pháp luật chưa quy định rõ ràng Song trên thực tế đã có rất nhiều doanh nghiệp xin góp cổ phần bằng thương hiệu mà điển hình là trường hợp của Công ty TNHH Xây dựng và chế biến thực phẩm Kinh Đô xin góp vốn thành lập công ty cổ phần bằng giá trị thương hiệu là “Kinh Đô” [65] Tất cả các hồ sơ xin góp vốn bằng thương hiệu đều không được chấp thuận vì chưa có quy định.Để giải đáp các vướng mắc cho các doanh nghiệp, tổng cục thuế đã có công văn nêu rõ các doanh nghiệp không được góp vốn thành lập công ty cổ phần bằng giá trị quyền sử dụng thương hiệu Theo công văn, tổng cục thuế giải thích: “thương hiệu là tài sản vô hình được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp, nhưng không được ghi nhận tài sản Thương hiệu không phải là nguồn lực có thể xác định được, không đánh giá được một cách đáng tin cậy và doanh nghiệp cũng không kiểm soát được giá trị thương hiệu” [28]
Ở nước ta cho đến thời điểm này mới chỉ có các văn bản pháp lý sau đây quy định về giá trị thương hiệu:
Thứ nhất, quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính về việc ban hành chuẩn mực kế toán Việt Nam.Theo công bố tại quyết định này, thương hiệu không được coi là một tài sản cố định vô hình của doanh nghiệp
Lợi thế thương mại của doanh nghiệp là chỉ tiêu gắn liền với thương hiệu Chuẩn mực cũng quy định: "Lợi thế thương mại được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp không được ghi nhận là tài sản vì nó không phải là nguồn lực có thể xác định, không đánh giá được một cách đáng tin cậy và doanh nghiệp không kiểm soát được;
Trang 40Thứ hai, nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành Công ty cổ phần quy định: "Giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần hoá gồm giá trị lợi thế về vị trí địa lý, giá trị thương hiệu, tiềm năng phát triển";
Thứ ba, thông tư số 146/2007/TT-BTC ngày 06/12/2007 của Bộ Tài chính
"Hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về tài chính khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần theo Nghị định số 109/2007/NĐ-CP quy định "Lợi thế kinh doanh xác định trên cơ sở lợi thế về vị trí địa lý và giá trị thương hiệu" và "Giá trị lợi thế vị trí địa lý của lô đất được xác định bằng chênh lệch giữa giá đất được xác định sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường so với giá do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định và công bố vào ngày 01/01 của năm thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp"
Thông tư số 46/2007/TT-BTC ngày 06/12/2007 quy định về Giá trị thương hiệu (bao gồm: nhãn hiệu, tên thương mại) được xác định trên cơ sở các chi phí thực tế cho việc sáng chế, xây dựng và bảo vệ nhãn mác, tên thương mại của doanh nghiệp trong 10 năm trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp hoặc kể từ ngày thành lập đối với các doanh nghiệp có thời gian hoạt động của doanh nghiệp ít hơn 10 năm (bao gồm cả chi phí quảng cáo, tuyên truyền trong và ngoài nước để quảng bá, giới thiệu sản phẩm, công ty; xây dựng trang web ) Quy định nêu trên là quy định pháp lý duy nhất
ở Việt Nam liên quan đến việc xác định giá trị thương hiệu.Song nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007 và thông tư số 146/2007/TT-BTC 06/12/2007 chỉ
có ý nghĩa đối với việc cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước Do đó, việc xác định giá trị, nhượng quyền sử dụng thương hiệu, góp vốn liên doanh, liên kết bằng giá trị thương hiệu đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ở nước ta đến nay vẫn còn là một dấu chấm lửng