1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật việt nam hiện hành về công ty chứng khoán thực trạng và phương hướng, giải pháp hoàn thiện

140 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 13,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ƯU điểm của mô hình đa n ăn g là:♦> Các ngân hàng có thể bù lợi nhuận và rủi ro giữa các lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, chứng khoán và bảo hiểm nên có sức chống đỡ về mặt tài chính trước c

Trang 2

T R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C L U Ậ T H À N Ộ I

* * ỉỊ< * * ;|í

T R Ẩ N T H I T H A N H T H Á O

CÔNG TY CHỨNG KHOẢN - THƯC TRANG VÀ PHƯỜNG* *

HƯỚNG GIẢI PHẤP HOÀN THIỆN

Trang 3

'~ĩòì t i u CHIU (To í! II ếĩíìi/ ỉà t'ồn(Ị h ì n h u tỊÌù è it ('tín I'úit r iê n q tò i <Sò íiê n DÙ t à i ỉiê ii Iiêti tro IU Ị M tiâ/I o á n n ài/ là tru ttỊỊ th à i' (°úe Uèt q u á

m / liiĩii t-úit c á u M tiậ n o à n d o c h ín h t ỏ i th tíc h iê n tỉ n ó i Mi eiit đạc) túm

ĩ ị i á o DÌ ĩ'II iitíó n tỊ d ẫ n .

'~ĩt'fìn h i ^7h a n h '7,h á t )

Trang 4

NỘI DUNG TRANG

4 Một sô đặc điểm pháp lý của công ty chứng khoán 6

II Một sò nguycn tác chung trong pháp luật vé cóng ty chứng 10

khoán của các nước trên thê giới

2 Một số nguyên tắc chung trong pháp luật về công ty chứng khoán 12của các nước trên thế giới

2.1 Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán 122.2 Cơ chế kiểm soát việc tham gia hoạt động kinh doanh chứng 17khoán của các chủ thể

2.3 Các loại hình kinh doanh của công ty chứng khoán 212.4 Cơ chế tài chính, thuế đối với công ty chứng khoán 32

2.6 Hoạt động giám sát, thanh tra và xử lý vi phạm đối với công ty 39

Trang 5

3 Pháp luật tín dung, ngân hàng XI

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ M Ộ T s ố GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ

T HỐ NG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỂ CÔNG TY

về tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán

1.3 Các Quyết định, Thông tư của ú y ban Chứng khoán Nhà nước và 92một sô cơ quan Nhà nước khác về tố chức và hoạt động của công ty

chứng khoán

2 ĐỒI12, bộ hóa các quỵ phạm pháp luật chung có liên quan 95

Trang 6

hiện hành vẻ công ty chứng khoán

1 Một sô giải pháp cụ thế đối với các quy định vê các loại hình kinh 1 01

doanh chứng khoán

2 Một số giải pháp cu thể đối với các quy định về CO' chế tài chính, ] 10thuế của công ty chứng khoán

3 Mót số giải pháp cụ thể đôi với các quy định về chế độ giám sát 1 1 4

thanh tra và xử lý vi phạm đối với công tv chứng khoán

4 Một số giải pháp cụ thể đối với các quy định về giải quyết tranh I 1 5

chấp có liên quan đến công ty chứng khoán trong quá trình hoạt động

kinh doanh chứng khoán ihông qua Trung tâm giao dịch chứng khoán

5 Một sô giải pháp cụ thê đối với các quy định vé tham gia kinh doanh 1 1 6

chứng khoán của bên nước ngoài tại Việt Nam và việc tham gia kinh

doanh chứng khoán của công ty chứng khoán Việt Nam tại nước ngoài

PHẦN KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNCỈ TRÌNH CÔNG B ố

DANH MỤC TÀI LIỆU TH AM KHẢO

PHỤ LỤC

Phu lục 01: Danh sách các cổng ty chứng khoán đang hoạt động trên

thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay

Phụ lục 02: Tình hình hoạt động của các cóng tv chúng khoán trong

năm 2000 và 6 tháng đầu năm 2001

Trang 7

1 Lv do chọn đề tài:

Ngày 20 tháng 7 năm 2000 Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh chính thức đi vào hoạt động Đây là một ngày lịch sử đối với thị trường chứng khoán Việt Nam bởi nó đánh dấu sự ra đời của một loại hình thị trường tài chính hoàn loàn mới trong nền kinh tế Việt Nam, đó là thị trường chứng khoán Phiên giao dịch dầu tiên đã đưực thực hiện 8 ngày sau ngày khai truong Trung lam giao địch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh, nụày 28 tháng 07 năm 2000

Qua liưn một năm hoạt động, thị trường chứng khoán Việi Nam dã dạt dược một số thành tựu quan trọng Tính đến phiên giao dịch thứ 153 (ngày 01 tháng 08 năm 2001), chí số VNlndex đạt 395,63 điếm, trên thị trường hiện có 06 loại cố phiếu

và 07 loại trái phiếu niêm yết với tổng trị giá giao dịch đạt 690 tỷ đồng Đê đạt được những thành tích này, chúng ta không thể không nhắc tới sự đóng góp vô cùng to lớn của các công ly chứng khoán, một tổ chức trung gian trên thị trường

Một trong những nguyên tấc hoạt động vô cùng quan trọng của thị trường chứng khoán là nguyên tắc trung gian mua bán, tức là mọi hoạt động mua, bán chứng

và hoạt động Tuy nhiên, do còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn về một loại hình kinhdoanh hoàn toàn mới, đó là kinh doanh chứng khoán và thiếu kinh nghiệm về hoạt độim thực tiền của một thị trưừim tài chính mới dó là ihị I rười IU cluiìm khoán nen

Trang 8

khoán nói riêng.

Muôn có một thị trường chứng khoán hoạt động công bằng, hiệu quá và minh bạch, trước hết, chúng ta cần xây dựng một môi trường pháp lý ổn định, thống nhất

và đồng bộ cho các định chế tài chính trung gian trên thị trường hoạt động Cũng

chính vì lý do này, chúng tôi quyết định chọn ván dề Pháp luật Việt Nam hiẹn hành

về công ty chứng khoán-Thực trạng và phương hướng, g iả i pháp hoàn thiện để

làm đề tài nghiên cứu

2 Phạm vi nghiên cứu:

Luận vãn thạc sỹ luật học với đề tài Pháp luật Việt N am hiện hành về cõng

ty chứng khoán-Thực trạng và phưong hướng, giải ph áp hoàn thiện tập trung

nghiên cứu các quy phạm pháp luật Việt Nam hiện hành thuộc nhiều ngành luật, nhiều vãn bản pháp luật khác nhau có liên quan đến tổ chức và hoạt động của công ly chứne khoán đê rút ra các vấn dé bất cập trong các quy phạm pháp luật và xây dựng phương hướng chung cũng như các giái pháp cụ thế đế hoàn thiện khung pháp lý hiện hành về công ty chứng khoán

Mặt khác, khi xây dựng những viên gạch đầu tiên trong hệ thống các văn bán pháp luật chuyên ngành về chứng khoán và thị trường chứng khoán nói chung cũng như vể công tv chứng khoán nói riêng, chúng ta đã học hỏi rất nhiều kinh nghiệm lý luận và thực tiễn trong hệ thống pháp luật của các nước di trước chúng ta trong lĩnh vực này Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn, chúng tôi có đề cập đến những vấn để lý luận tổng quan Iihâì vc công ly chứng khoán cũng như ve các nguyên tác chung trong hệ thống pháp luật về công ty chứng khoán đã được nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận Việc nghiên cứu này nhằm tạo cơ sớ vững chác cho việc lìm hiếu nội duns; điều chính của pháp luật Việt Nam hiên hành về công ty chứng khoán

và xây dựng, hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật hiện hành

Trang 9

ngành luật và nằm trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau Do vậy, trong Luận vãn này, thông qua việc nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận chung vc công ty chứnu khoán, chúng tồi muốn làm sáng tỏ khái niệm, vai trò, đặc điếm pháp

lý cúa cônc ty chứng khoán và xây dựng một môi trường pháp lý chung cho tổ chức

và hoạt dộng của công ty chứng khoán

Với mục đích trên, Luận vãn P h áp luật Việt N am hiện hành vê cóng ty chứng khoán-T hự c trạng và ph ư ơn g hướng, g iả i p h áp hoàn thiện có 4 nhiệm vụ cụ

thể sau:

❖ Nghiên cứu và khái quát các vấn đề pháp lý m ang tính lý luận chung về công ty chứng khoán như khái niệm, vai trò của công ty chứng khoán đối với thị trườnu chứng khoán cũng Iìhir dối với nền kinh tế nói chung, đặc điếm pháp lý cuacông ty chứng khoán Đây chính là các yếu lô tác động đến nội dung điều chinh của pháp luật đối với công ly chứng khoán, là cơ sở để hiếu các quy pham pháp luật vỏ công ty chứnu khoán;

❖ Nghiên cứu, phân tích và khái quát các nguyên tắc chung trong hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới về công ty chứng khoán, bao gồm cả các nguyên tắc chung trong hệ thống các quy phạm pháp luật chuyên ngành và các nguyên tác chung trong hệ thông các quy phạm pháp luật chung đế hiếu rõ hơn cũng như dể phục vụ cho mục đích hoàn thiện các quy phạm pháp luật Việt Nam về công ty chứng khoán;

❖ Phán tích các nội dung cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành

về công ty chứng khoán, hao gồm cá các quy phạm pháp luật chung và các qu) phạm pháp luật chuyên naành Từ đó, đánh giá về những nội dung điều chính của pháp luật, rút ra những vấn đề tồn tại, mâu thuẫn, không đồng bộ trong hệ thống pháp luật hiện hành về cône ty chứng khoán đê xây dựne phương hướng, ciái pháp hoàn thiện;

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn Pháp luật Việt N am hiện hành về công ty chứng khoán-Thực

trạng và phư ơng hướng, giải pháp hoàn thiện được thực hiện trên cơ sở phươiiíĩ

pháp luận của chu nghĩa duy vật biện chứng, theo tư tướng và quan điểm chí đạo của

Đ ảne và Nhà nước về chính sách, phương hướng xây dựng và phát triển thị trường

vốn tại Việt Nam

Cụ thể là Luận văn có sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

**** Phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm tìm hiểu và khái quát những nội

dung pháp lý cơ bản về công ty chứng khoán, pháp luật về công ty chứng khoán cũng

như thực tiễn áp dụng pháp luật về công ty chứng khoán;

*ĩ* Phương pháp so sánh nhằm hiểu rõ hơn các vấn đề pháp lý về công ty

chứng khoán giữa các hệ thống pháp luậl của các nước khác nhau trên thô giói với hệ

thống pháp luật Việt Nam;

❖ Phương pháp thông kê, khảo sát thực tiễn nhằm đưa ra các số liệu phục vụ cho việc đánh giá của Luận văn về hiệu quả áp dụng của các quy phạm pháp luật trên

thực tế

5 Kết cấu của Luận vãn:

Luận văn gồm 3 chương sau:

CHUƠNG I: C ơ s ở LÝ LUẬN VÀ THỤC TlỄN x â y d ụ n g c á c q u y

PHAM PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÔNG TY CHÚNG KHOÁN

CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIÊN HÀNH VỀ CÔ NG TY

CHÚNG KHOÁN

Trang 11

KHOÁN.

Trang 12

CHƯƠNG I

CÁ C QUY PHẠM PH ÁP LUẬT VIỆT NAM VỂ CÔ NG TY CHÚNG KHOÁN

1 Khái niệm công ty chứng khoán:

Dưới góc độ pháp lý, công ty chứng khoán được hiểu là doanh nghiệp được thành lập theo quy định pháp luật của từng nước để thực hiện các hoạt động kinh doanh chứns; khoán

Ví dụ, theo quy định pháp luật Trung Quốc, công ty chứng khoán là công ty trách nhiêm hữu han hoãc công ty cổ phần làm nghiêp vu kinh doanh chứng khoán1; công ty chứng khoán, theo quy định của pháp luật Nhật Bản, là công ty cổ phần được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán2; công ty chứng khoán (hay còn gọi

là công ty đầu tư) ở các nước EU được hiểu là pháp nhân thực hiện các dịch vụ đầu tư cho bên thứ ba như là nghề nghiệp chính của mình Tuy nhiên, các nước thành viên EU

có thể quy định công ty chứng khoán có thể thành lập dưới hình thức không có tư cách pháp nhân nếu địa vị pháp lý của công ty dưới hình thức đó đủ để đảm bảo quyền lợi của bên thứ ba như khi công ty được thành lập dưới hình thức có tư cách pháp nhân3

‘Luật Chứng khoán ngày 29/1 2 /1 9 9 8 cúa Trung Quốc, Đ iều 118.

: Luật số 25 năm 1948 về Chứng khoán và sỏ' giao dịch chứng khoán Nhật Bản (sửa đổi năm 1992), Điều 2 Chi thị số 93/22/E E C ngày 10/05/1993 của EU về các dịch vụ đẩu tư trong lĩnh vực chứng khoán Điểu 1: ở các nước EU, công ly đầu tư được hiểu là côn g ty chứng khoán, các dịch vụ đầu tư được hiếu là các dịch vụ kinh doanh cliứng khoán kể từ sau Chi thị này.

Trang 13

Để được coi là công ty chứng khoán, doanh nghiệp phải tham gia vào một hoặc một số loại hình kinh doanh sau:

*l* Mỏi giới chứng khoán;

❖ Tự doanh;

♦> Bảo lãnh phát hành chứng khoán;

♦> Quản lý danh mục đầu tư;

❖ Tư vấn đầu tư.

Ngoài các loại hình kinh doanh trên, công ty chứng khoán chỉ được phép thực hiện một số hoạt động có liên quan đến chứng khoán như tư vấn tài chính, lưu ký chứng khoán v.v Công ty chứng khoán không được tham gia hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực khác như điện tử, tin học, viễn thông, xây dựng, vận tải vì pháp luật của các nước thường đưa ra các quy định cần thiết để đảm bảo tính độc lập, khách quan của một ngành dịch vụ tài chính đặc biệt là kinh doanh chứng khoán với các ngành nghề kinh doanh khác Cá biệt, một số nước cũng cho phép công ty chứng khoán được thực hiện

cả hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán mà không có sự tách biệt với công ty quản lý quỹ

2 Vai trò của công ty chúng khoán:

Nghiên cứu các quy định pháp luật về công ty chứng khoán, chúng tôi thấy pháp luật các nước thường thừa nhận công ty chứng khoán có 3 vai trò chủ yếu sau:

2.1 Vai trò tạo cơ c h ế huy động vốn:

Thông qua hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán và hoạt động môi giới chứng khoán, công ty chứng khoán là cầu nối giữa các chủ thể phát hành cần có vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh với những người có nhu cầu cần đầu tư khoản tiền rỗi rãi của họ để kiếm lợi nhuận và giữa những người đầu tư với nhau

Trang 14

2.2 Vai trò tạo cơ chê giá chứng khoán:

2.2.1 C ơ ché giá chứ ng khoán trên th ị trường sơ cấp:

Khi thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán cho các tổ chức phát hành, công ty chứng khoán thực hiện vai trò tạo cơ ch ế giá chứng khoán của mìnhthông qua việc xác định và tư vấn cho tổ chức phát hành mức giá phát hành hợp lý đốivói các chứng khoán trong đợt phát hành Thông thường, mức giá phát hành thường do các công ty chứng khoán xác định trên cơ sở tiếp xúc, tìm hiểu và thỏa thuận với các nhà đầu tư tiềm năng lớn trong đợt phát hành đó và tư vấn cho tổ chức phát hành

2.2.2 C ơ c h ế g iá chứng khoán trên th ị trường th ứ cấp:

Thông qua thị trường chứng khoán, dù là thị trường đấu lệnh4 hay thị trường đấu

g i á \ công ty chứng khoán luôn có vai trò giúp các nhà đầu tư đánh giá đúng và chính xác về giá trị các khoản đầu tư của m ình bởi vì giá đó được xác định theo quy luật cung cầu của thị trường

Ngoài ra, pháp luât m ôt số nước còn quy đinh các công ty chứng khoán buôc phải dành ra m ột tỷ lệ nhất định trong giao dịch của mình để m u a vào khi giá chứng khoán đang giảm và bán ra khi giá chứng khoán cao trên thị trường Thông qua đó, công ty chứng khoán đã góp phần vào việc điều tiết giá chứng khoán, bình ổn thị trường

2.3 Vai trò tạo c ơ c h ế ch u yến chứ ng khoán sang tiền m ặ t và ngược lại:

Nhò' có các công ty chứng khoán, các nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển chứng khoán mà họ đang nắm giữ sang tiền mặt và ngược lại m à không phải chịu thiệt hại đáng kể đối với giá trị khoản đầu tư của mình

4 Thị trường đấu lệnh (auction market hay order-driven market) là thị trường trong đó lệnh cua các nhà đầu tư dược ghép với nhau tại mức giá phù hợp với cả bên mua và bên bán không thông qua các nhà tạo lập thị trường ' Thị trường dấu giá (quote-driven market) là thị trường trong đó các nhà lạo lập thị nường đưa ra giá mua và bán cúa các loại chứng khoán mà họ đảm nhận, Irên cơ sớ đó, các nhà đẩu tư tư quyết định giao dịch các chứng khoán

dó ilióníỊ qua việc lựu chọn mức giá phù hợp với mình chứ không thông qua việc đặt lệnh.

Trang 15

Với 3 vai trò chính trên đáy, công ty chứng khoán đã thể hiện rõ là một tổ chức định chê tài chính trung gian, thực hiện m ột trong ba nguyên tắc quan trọng nhất cua thị trường chứng khoán, đó là nguyên tắc trung gian thị trường.

Mô hình này có ưu điểm là tách biệt giữa hoạt động kinh doanh tiền tệ và hoạt động kinh doanh chứng khoán, qua đó hạn c h ế bót rủi ro cho hệ thống ngân hàng, một

hệ thống vốn đã tiềm ẩn nhiều rủi ro trong hoạt động kinh doanh tiền tệ Mô hình công

ty chứns; khoán chuyên doanh có ở các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc

3.2.2 M ô hình đa n ăn g toàn p h ầ n :

Theo mô hình này, các ngân hàng được phép kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm cùng với hoạt động kinh doanh tiền tệ m à không cẩn phải thành lập cáccông ty con độc lập M ô hình này được áp dụng ở các nước châu Au, Mỹ, Uc

Trang 16

ƯU điểm của mô hình đa n ăn g là:

♦> Các ngân hàng có thể bù lợi nhuận và rủi ro giữa các lĩnh vực kinh doanh tiền

tệ, chứng khoán và bảo hiểm nên có sức chống đỡ về mặt tài chính trước các biến động

của thị trường chứng khoán cao hơn các mô hình khác;

♦> Các ngân hàng thường có ưu thế về đội ngũ nhân viên có chuyên môn cao

trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, có ưu thế về cơ sở vật chất kỹ thuật và quan trọng là

có ưu thế về m ạn g lưới khách hàng để thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán so

với các công ty chứng khoán chuyên ngành mới thành lập;

**** Ngoài ra, các ngân hàng thông qua hoạt động tín dụng có thể nắm bắt được độ

tín nhiệm của các doanh nghiệp, trên cơ sở đó giúp cho việc phán tích chứng khoán

được tốt hơn

Tuy nhiên, m ô hình n ày cũ n g có nhữ ng hạn chê n h ấ t định, cụ th ê là:

♦> Thị trường cổ phiếu phát triển chậm vì lợi ích chủ yếu của hệ thống ngân hàng

là dùng vốn huy đông đươc để cho vay lấy lãi Do đó, hê thống ngân hàng thường quan

tâm cho khách hàng vay vốn để phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh hơn là giúp

họ huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu;

❖ Trong trường hợp có biến động trên thị trường chứng khoán thì các biến động nàv có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh tiền tệ và ngược lại, nếu có những biến

động trên thị trường tiền tệ thì những biến động này có thể ảnh hưởng đến thị trường

chứng khoán do không có sự tách bạch giữa kinh doanh chứng khoán và kinh doanh

tiền tệ trong hệ thống ngân hàng

Từ những ưu điểm và nhược điểm của hai m ô hình công ty chứng khoán nêu trên

và xuất phát từ yêu cầu phòng ngừa rủi ro, đảm bảo m ột thị trường hoạt động an toàn và

cũng chính là bảo vệ lợi ích của người đầu tư, m ô hình công ty chứng khoán của Việt

Nam là sự kết hợp giữa m ô hình công ty chuyên doanh và m ô hình đa năng m ột phần

Điều này thể hiện ỏ' việc Nghị định 48 /1998/N Đ -CP ngày 11 tháng 07 năm 1998 của

Trang 17

Chính phú về chứng khoán và thị trường chứng khoán quy định các tổ chức tín dụng, các công ty bảo hiểm, các tổng công ty muốn tham gia kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty chứng khoán độc lập Ngoài ra, các cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật có thể thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần để kinh doanh chứng khoán.

4 Một sỏ đặc điểm pháp lý của công ty chứng khoán:

Đặc điểm pháp lý của công ty chứng khoán được thể hiện qua các quy định về tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán nhìn dưới góc độ của những người xây dựng pháp luật

Công ty chứng khoán cũng như tất cả các doanh nghiệp khác đều có một số đặc điểm pháp lý chung trong quá trình hoạt động Chính xuất phát từ các đặc điểm này mà các nhà làm luật xây dựng nên các quy phạm pháp luật thích hợp để điều chính hoạt động của doanh nghiệp nói chung và của công ty chứng khoán nói riêng Trong phạm

vi đề tài nghiên cứu này, chúng tôi m uốn đi sâu nghiên cứu các đặc điểm pháp lý của công ty chứng khoán không phải từ giác độ địa vị pháp lý của công ty chứng khoán mà chúng tôi m uốn nghiên cứu từ giác độ các xung đột lợi ích trong quá trình hoạt động của công ty để thấy được những đặc điểm pháp lý mang tính đặc trưng của công ty ehứng khoán

Theo chúng tôi, các đặc điểm pháp lý của công ty chứng khoán là: sự xung đột lợi ích trong quá trình hoạt động kinh doanh chứng khoán, sự ảnh hưởng của quyền tự

do kinh doanh của công ty tới sự an toàn của thị trường chứng khoán, yêu cầu chặt chẽ

về tiềm lực tài chính và trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Việc nghiên cứu các đặc điểm này là cơ sỏ' nền tảng để chúng ta hiểu được nội dung các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động của công ty chứng khoán

4.1 X u n g đ ột lọi ích trong quá trình hoạt động kỉnh doanh chứng khoán:

Trang 18

Như trên đã đề cập, một công ty chứng khoán có ihể thực hiện đồng thời nhiều loại hình kinh doanh chứng khoán, trong đó có những loại hình kinh doanh trực tiếp và mang lại lợi nhuận cho chính bản thân công ty, đó là hoạt động tự doanh và hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán; còn những loại hình kinh doanh khác như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư là những hoạt động phục vụ khách hàng và chí mang lại lợi ích gián tiếp cho công ty thông qua tiền phí dịch vụ khách hàng trả cho công ty Do vậy, xung đột lợi ích là vấn đề tất yếu sẽ xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty.

N h ữ n g xung đột lọi ích này có th ể là:

4.1.1 X u n g đột lợi ích giữa công ty chứng khoán vói các nhà đầu tư:

Khi công ty thực hiện hoạt động môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu

tư do khách hàng ủy thác cùng lúc với hoạt động tự doanh của chính công ty, nếu không vì lợi ích của khách hàng, công ty có thể đưa lệnh tự doanh của mình vào Sở giao dịch trước lệnh mua bán chứng khoán của khách hàng hoặc tư vấn cho khách hàng mua bán thật nhiều để hưởng hoa hồng môi giới, v.v

4.1.2 X u n g đ ột lợi ích giữa công ty chứng khoán với công ty p h á t hành

Trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng bảo lãnh phát hành chứng khoán, xung đột lợi ích giữa công ty chứng khoán và công ty phát hành có thể xảy ra bất cứ lúc nào vì mỗi bên trong mối quan hệ này đều có những quyền và lợi ích khác nhau Đặc biệt, xung đột lợi ích này được thể hiện qua việc xác định giá phát hành lần đầu ra công chúng Công ty chứng khoán tất nhiên sẽ mong muốn giá phát hành không quá cao để thu lợi nhuận, còn tổ chức phát hành lại mong muốn bán được các chứng khoán của mình với giá cao để tăng vốn cho công ty

4.1.3 X u n g đột lợi ích giữa công ty chứng khoán với các công ty chứng khoán khác:

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, giữa các công ty chứng khoán có thể có những x u n s đột lợi ích nhất định để giành thị trường và khách hàng của nhau

Trang 19

doanh của công ty chứng khoán, trong khi công ty lại luôn có xu hướng tự do trong kinh doanh và trốn tránh sự kiểm soát này dưới nhiều hình thức.

4.1.5 X u n g đột lọi ích giữa công ty chứng khoán với chính các nhản viên của công

ty và giữ a nhãn viên của công ty với khách hàng:

Những nhàn viên của công ty chứng khoán thường có điều kiện thuận lợi để kiếm lợi nhuận riêng cho bản thân mình trong khi thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh, gây ảnh hưởng đến lợi ích của công ty và của các khách hàng

Chính xuất phát từ sự tất yếu về xung độl lợi ích này mà các nhà làm luật cần phải xem xét, cân nhắc khi xây dựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh đối với công ty chứng khoán để đảm bảo lợi ích của các bên tham gia

4.2 S ự ảnh hưởng của quyền tụ do kinh doanh của công ty chứng khoán tói sự an toàn của thị trường:

Kinh doanh chứng khoán là m ột loại hình kinh doanh hứa hẹn lợi nhuận cao nhưng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro cho công ty, cho các nhà đầu tư cũng như cho cả nền kinh tế Chính vì vậy, giữa quyền tự do trong hoạt động kinh doanh của công ty với

sự an toàn của thị trường luôn có sự ảnh hưởng, tác động lớn tới nhau Xuất phát từ sự đặc biệt về lĩnh vực và ngành nghề kinh doanh nên so với các loại hình doanh nghiệp khác, pháp luật luôn có "một cái nhìn khắt khe hơn" đối với các công ty chứng khoán

và luôn tìm cách dung hòa giữa tính hấp dẫn về mặt kinh tế và tính an toàn pháp lý Do vậy, thị trường chứng khoán là một thị trường rất tự do nhưng cũng theo kỷ luật rất chặt chẽ

4.3 Yêu cầu chặt c h ẽ vê tiềm lực tài chính, đạo đức n gh ề nghiệp và trình độ chuyên

m ôn n ghiệp vụ sâu trong quá trình hoạt động kinh doanh:

Trang 20

Giống như lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, kinh doanh chứng khoán là một loại hình dịch vụ tài chính có liên quan đến lợi ích của nhiều ngành, nhiều người Mặt khác,

do kinh doanh trong lĩnh vực mà sản phẩm rất vô hình nên vài trò của các cá nhân trong công ty chứng khoán rất quan trọng,

Trong kinh doanh chứng khoán, sự ảnh hưởng của cá nhân thể hiện trên một sô khía cạnh sau:

♦> Là một thị trường năng động nên các cá nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán cần phải ra quyết định nhanh, do đó, sự phân cấp quản lý trong công ty chứng khoán rất cao Một nhân viên có thể được giao một hạn mức kinh doanh nào đó và nếu hạn mức này càng lớn thì quyết định của cá nhân đó có ảnh hưởng càng lớn tới kết quả hoạt động và tình hình tài chính của công ty

♦> Nhân viên của công ty chứng khoán thường xuyên tiếp xúc với khách hàng và được khách hàng tham khảo ý kiến Chất lượng tư vấn của nhân viên công ty sẽ có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới hình ảnh của công ty và của toàn bộ thị trường trong con mắt những người đầu tư Sự thiếu đạo đức nghề nghiệp và trình độ chuyên môn nghiệp

vụ trong hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ dẫn đến những tác hại lớn về kinh tế, xã hội Sự đổ vỡ của một công ty chứng khoán gây nên những hậu quả dây chuyền và làm mất niềm tin của công chúng vào thị trường Ví dụ, trong quá trình thực hiện bảo lãnh phát hành cho một tổ chức phát hành, nhân viên của công ty chứng khoán tất yếu sẽ nắm được các thông tin quan trọng về tình hình hoạt động kinh doanh cũng như về đọt phát hành đó của tổ chức phát hành và do vậy, nhân viên này rất có thể sẽ thực hiện các giao dịch nội gián để thu lợi nhuân riêng cho bản thân, gây thiệt hại cho các nhà đầu tư khác

Chính vì vậy, để bảo vệ các nhà đầu tư, kiểm soát các rủi ro hệ thống và đảm bảo một thị trường hiệu quả, có trật tự và công bằng, công ty chứng khoán phải có tính

ổn định, vững chắc về tài chính và nhân viên công ty phải có đạo đức nghề nghiệp cũng như phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt Xuất phát từ những yêu cầu này mà

Trang 21

pháp luật quy dinh nhũng diéu kiện nhát định đế thành lập vù duv ui sự ton tai cưa cong

ly chứng khoán

CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THÊ GIỚI:

1.2 Hê thông pháp luật vé công ty chứng khoán:

Do một trong những đặc điểm cúa công ty chứng khoán là công tv luôn chịu sự (liều chinh của nhiều niùmh luât khác nhau trong quá trình tổ chức và hoai dong nen hè thống pháp luật về công ty chứng khoán rất rộng, bao gồm các quv phạm pháp luâl ihuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, không thế giới hạn tro na khuôn khổ một vãn bán và cũng không thê bó hẹp trong phạm vi của một ngành luật, mội lĩnh vực pháp luật cụ

Trên thế giới, pháp luật về công ly chứng khoán bao gồm 2 loại quy phạm pháp luật sau: các quy phạm pháp luật chung và các quy phạm pháp luật chuyên ngành

1.2.1 Các quy phạm pháp luật chung bao gồm :

ỉ 2.1.1 Pháp luát thương mai:

Trang 22

ơ các nước, phấp luật thương mại có phạm vi điều chỉnh rất rộng, bao gồm cả hoạt động của công ty, cơ cấu tổ chức quản lý, chuyển đổi công ty, phá sản công ty

Ví dụ: Bộ luật Thương mại Cộng hòa Pháp, Bộ luật Thương mại Thái Lan

ỉ 2.1.2 Pháp luật dán sự:

Pháp luật dân sự điều chỉnh khái niệm tài sản nói chung (trong đó bao gồm cả chứng khoán) và quyền sở hữu tài sản cũng như các vấn đề liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản

1.2.1.3 Pháp luật vê thuế:

Pháp luật thuế quy định về hệ thống thuế mà các công ty chứng khoán có nghĩa

vụ phải nộp trong quá trình hoạt động

1.2.1.4 P háp luật về vi ph ạm hành chính và hỉnh sự:

Pháp luật về các vi phạm hành chính và hình thức xử phạt quy định về -các hành

vi vi phạm pháp luật và hình thức xử phạt hành chính đối với các hành vi đó Pháp luật hình sự quy định các tội danh liên quan đến hoạt động trên thị trường chứng khoán và các ch ế tài áp dụng đối với các tội danh đó trong Bộ luật (luật) Hình sự

Tuy nhiên, có những nước các hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán, các tội phạm về chứng khoán và thị trường chứng khoán và chế tài áp dụng cũng được quy định ngay trong Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, ví dụ Luật chứng khoán số B.E.2535 năm 1992 của Thái Lan, Luật số 96-597 ngày 02 tháng 07 năm

1996 của Cộng hòa Pháp về Hiện đại hóa các hoạt động tài chính, Luật chứng khoán số

280 năm 1983 của Malaysia, Luật Kiểm soát chứng khoán số 753 ngày 30 tháng 12 năm 1996 của Cộng hòa Áo, Luật giao dịch chứng khoán năm 1998 của Cộng hòa Liên bang Đức,

1.2.1.5 Pháp luật tô tụng:

Trang 23

Pháp luật tố tụng quy định trình tự, thủ tục và cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự và thương mại, trong đó bao gồm cả các tranh chấp liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng khoán Tuy nhiên, luật chứng khoán một số nước cũng quy định trình tự thủ tục, cơ quan giải quyết các tranh chấp liên quan đến chứng khoán riêng, ví dụ: Thái Lan, Cộng hòa Pháp,

1.2.2 Các quy ph ạm p h áp luật chuyên ngành:

Các quy phạm pháp luật chuyên ngành là các quy phạm trực tiếp điểu chỉnh hoạt động của các công ty chứng khoán như Luật chứng khoán, Luật ngân hàng và Luật tín dụng (ở các nước theo mô hình đa năng) và các văn bản dưới luật do các cơ quan quản

lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán ban hành như: Quy chế tổ chức

và hoạt động của công ty chứng khoán, Quy tắc tính vốn khả dụng, văn bản hướng dẫn việc cấp giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán,

2 Một sô nguyên tác chung trong pháp luật về công ty chứng khoán của các nuóc

trên thê giói:

2.1 Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán:

2.1.1 M ục đích của việc quy định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của công ty

chứng khoán:

Pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán của các nước đều quy định những nguyên tắc tổ chức và hoạt động bắt buộc đối với các công ty chứng khoán nhằm

ba mục đích sau:

2.1.1.1 Bảo vệ các nhà đầu tư:

Các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán đặc biệt rất dễ bị xâm hại do sự quản

lý kém của các trung gian và các chủ thể kháe trên thị trường, nhưng khả năng tự phòng

vệ của từng nhà đầu tư lại bị hạn chế Mặt khác, sự phức tạp của các giao dịch chứng khoán và của các thủ đoạn lừa đảo trên thị trường đòi hỏi phải có sự cưỡng chế mạnh

Trang 24

mẽ từ các quy định của pháp luật về chứng khoán Khi có sự vi phạm pháp luật, các nhà đầu tư cần được bảo vệ thông qua sự cưỡng chế mạnh mẽ của pháp luật.

Chính vì vậy, các nhà đầu tư cần được bảo vệ khỏi những hành vi lừa dối, thao túng, bao gồm cả các giao dịch nội gián, giao dịch chạy trước khách hàng và sự lạm dụng tài sản của khách hàng tù' phía các công ty chứng khoán

Việc cung cấp thông tin đầy đủ cho quyết định của các nhà đầu tư là phương tiện quan trọng nhất để bảo vệ các nhà đầu tư Các nhà đầu tư cần có đủ khả năng đo lường các rủi ro cũng như các khoản lợi nhuận tiềm năng của các khoản đầu tư mà họ tiến hành, vì vậy, cần phải bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư

2.1.1.2 B ảo đảm sự công bằng, hiệu quả và minh bạch của thị trường:

Sự công bằng của thị trường có mối liên hệ mật thiết với việc bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư, đặc biệt là để ngăn chặn các hoạt động giao dịch trái pháp luật Cấu trúc của thị trường không nên ưu đãi vô lý cho một số người này hơn những người khác trên thị trường Vì vậy, các quy định pháp luật nên nhằm đảm bảo rằng các nhà đầu tư đều được cung cấp các công cụ như nhau để tham gia vào thị trường hay dể nắm được các thông tin về giá cả và đảm bảo một sự đối xử công bằng với lệnh mua, bán chứng khoán của tất cả các nhà đầu tư

Trong một thị trường hiệu quả, việc cung cấp các thông tin có liên quan phải được thực hiện đúng thời điểm, công khai và phải phản ánh được các thông tin về giá cả chứng khoán Các quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán cần thúc đẩy sự hiệu quả của thị trường

Sự minh bạch của thị trường cần được xác định ở mức độ m à ở đó các thông tin

về giao dịch (cả trước và sau giao dịch) được công bố công khai trên cơ sở đúng thời điểm Các quy định pháp luật cần đảm bảo mức minh bạch cao nhất có thể cho thị trường

2.1.1.3 G iảm sự rủi ro hệ thông trên thị trường:

Trang 25

Mặc dù không thể ngăn chặn mọi sự đổ vỡ tài chính của các trung gian trên thị trường nhưng các quy định pháp luật cần hướng tói giảm thiểu rủi ro do sự phá sản của các công ty chứng khoán đem lại (trong đó bao gồm cả các quy định về kiểm soát nội

bộ và các yêu cầu về vốn) Khi xảy ra sự đổ vỡ tài chính của các trung gian trên thị trường, pháp luật cẩn tìm cách giảm các ảnh hưởng của sự phá sản đó, đặc biệt là cần

nỗ lực tránh cho các công ty bị phá sản khỏi các rủi ro

Vì vậy, các trung gian trên thị trường cần tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về mức vốn pháp định, mức vốn trong quá trình hoạt động và các yêu cầu mang tính cẩn trọng khác do pháp luật quy định

Tuy nhiên, chấp nhận rủi ro là một yếu tố cần thiết đối với một thị trường năng động và pháp luật không nên kiềm chế một cách không cần thiết sự chấp nhận rủi ro hợp pháp Hơn thế, pháp luật nên thúc đẩy và cho phép việc quản lý có hiệu quả rủi ro

và đảm bảo các yêu cầu về vốn và về sự cẩn trọng của các công ty đủ để chấp nhận những rủi ro thích đáng

2.7.2 Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán:

Xuất phát từ ba mục đích nêu trên, Tổ chức quốc tế các ủ y ban chứng khoán - IOSCO (International Organization of Securities Commisions) đã đưa ra khuyến nghị gồm 9 nguyên tắc cơ bản với các nước thành viên trong việc quy định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của công chứng khoán6

Các nguyên tắc đó là:

2.1.2.1 Tính toàn vẹn và sụ tận tụy:

Công ty chứng khoán phải tuân thủ các tiêu chuẩn về tính toàn vẹn và giao dịch công bằng, phải hành động với sự cẩn thận vì lợi ích của khách hàng và vì sự toàn vẹn của thị trưòng;

' O bjectives and Princịpes Í Securities R egulation, IOSCO September 1998.

Trang 26

2.1.2.2 Các điều khoản cam kết:

Công ty chứng khoán phải có hợp đồng cam kết bằng vãn bản với khách hàng, trong đó ghi rõ trách nhiệm của công ty đối với khách hàng;

2.1.2.3 Thông tin về khách hàng:

Công ty chứng khoán phải tìm hiểu các thông tin liên quan đến tình hình và mục đích đầu tư của khách hàng có liên quan đến dịch vụ mà công ty cung cấp cho khách hàng;

2.1.2.4 Thông tin cho khách hàng:

Công ty chứng khoán phải cung cấp cho khách hàng các thông tin đầy đủ và cần thiết đối với quyết định đầu tư của khách hàng theo đúng cách thức và thời gian thỏa thuận;

2.1.2.5 Tài sản của khách hàng:

Khi công ty chứng khoán quản lý hay chịu trách nhiệm về các tài sản cần được bảo vệ an toàn của khách hàng, công ty phải chuẩn bị sự bảo vệ cần thiết đối với các tài sản đó theo đúng với trách nhiệm m à công ty đã chấp nhận;

2.1.2.6 Các hành vi trên thị trường:

Công ty chứng khoán phải tuân thủ các tiêu chuẩn về các hành vi thực hiện trên thị trường và tuân thủ các quy định pháp luật liên quan;

2.1.2.7 Kiểm soát hoạt động:

Công ty chứng khoán phải đặt ra cho mình các chính sách hiệu quả, các biện pháp và thủ tục kiểm tra hoạt động trong nội bộ công ty "Tính hiệu quả" của các biện pháp và thủ tục kiểm tra hoạt động này được đánh giá trên cơ sở chúng có hợp lý để đảm bảo:

Trang 27

♦> Sự trao đổi thông tin hiệu quả giữa công ty và các khách hàng, bao gồm ca việc công bố thông tin theo yêu cầu cho khách hàng;

♦> tính toàn vẹn trong các hoạt động tự doanh của công ty, bao gồm việc đối xử vói tất cả khách hàng m ột cách công bằng, trung thực và chuyên nghiệp;

♦> sự an toàn trong việc quản lý tài sản của công ty và của khách hàng chống lạimọi sự sử dụng hay chiếm hữu bất họp pháp các tài sản đó;

♦> việc duy trì c h ế độ k ế toán và lưu giữ các hồ sơ hợp lệ;

♦> hoạt động phù hợp với các quy định pháp luật có liên quan; và

♦♦♦ phân chia hợp lý các nhiệm vụ và chức năng quan trọng trong công ty, đặcbiệt là các nhiệm vụ và chức năng m à nếu do cùng m ột cá nhân thực hiện có thể dẫn đến những sai phạm khó bị phát hiện hay có thể dẫn đến sự lạm dụng và đưa đến rủi ro cho công ty và cho các khách hàng;

2.1.2.9 Giao dịch cho chính lợi ích của công ty:

Công ty chứng khoán cần có các chính sách rõ ràng về các giao dịch mà công ty được phép tiến hành vì lợi ích của chính mình

Các khuyến nghị trên đây của IOSCO đã được pháp luật của tất cả các nước ghi nhận khi đặt ra các nguyên tắc bắt buộc trong tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán Ví dụ: Luật số 96-597 ngày 02 tháng 07 năm 1996 của Cộng hòa Pháp về Hiệnđại hóa các hoạt độim tài chính, Điều 58; Luật giao dịch chứng khoán năm 1998 cùa

Trang 28

Cộng hòa Liên bang Đức, Phần 5, từ Điều 31 đến Điều 36; Luật Kiểm soát chứng khoán năm 1996 của Cộng hòa Áo, từ Điều 11 đến Điều 18, Luật Giao dịch chứng khoán Nhật Bản (sửa đổi năm 1992), Điều 42, v.v

2.2 C ơ chê kiểm soát việc tham gia hoạt động kinh doanh chúng khoán của các

Trên thế giới, để kiểm soát việc các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán, pháp luật các nước thường áp dụng một trong hai cơ chế sau: Cơ chế đãng ký kinh doanh chứng khoán và cơ chế cấp giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán

2.2.1 C ơ c h ế đ ăn g ký kinh doanh chứng khoán:

Cơ c h ế đăng ký kinh doanh chứng khoán được áp dụng ở những nước có thị trường chứng khoán phát triển ở trình độ cao như Anh, Mỹ, Nhật Bản (từ sau năm 1999) Ớ những nước này, cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán chỉ đưa ra các tiêu chuẩn nhất định, chủ thể nào đáp ứng đủ các tiêu chuẩn

đó và thực hiện thủ tục đăng ký với cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán Ịà được tham gia hoặc rút khỏi thị trường Cách thức đăng ký hoạt động thể hiện quyền tự do của các chủ thể kinh doanh chứng khoán

2.2.2 C ơ c h ế cấp giấy p h ép h oạt động kinh doanh chứng khoán:

Ngược lại với cơ chế đăng ký kinh doanh chứng khoán, ở cơ chế cấp giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán, việc tham gia và rút khỏi thị trường của các chủ thể

bị hạn ch ế do các cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán đạt ra các điều kiện và các thủ tục chặt chẽ để cấp giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán cho các chủ thể muốn tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán

2.2 2 1 Đ iều kiện cấp G iấy ph ép hoạt động kinh doanh chứng khoán:

chủ thể:

" 1

Trang 29

Kinh doanh chứng khoán là một hoạt động kinh doanh tiềm ẩn nhiều rủi ro và

những biến động trong hoạt động kinh doanh chứng khoán có ảnh hưởng dây chuyền

đến toàn bộ nền kinh tế cũng như ảnh hưởng xấu đến lợi ích của những người đầu tư

Do vậy, pháp luật của các nước theo cơ chế cấp giấy phép hoạt động kinh doanh chứng

khoán đều đặt ra những điều kiện rất nghiêm ngặt trong việc cấp Giấy phép hoạt động

kinh doanh chứng khoán cho các công ty chứng khoán Đó là các điều kiện về hình

ihức pháp lý, về cơ sở vật chất kỹ thuật, về vốn và các điều kiện về nhân sự đối với các

chủ thể kinh doanh chứng khoán

tỉ) Đ iều kiện về hình thức ph áp lý:

Hình thức pháp lý của công ty chứng khoán rất khác nhau tùy theo quy định

pháp luật của từng quốc gia Ví dụ, ở Mỹ, Hồng Kông, Malaysia, Pháp và một số nước

thác, công ty chứng khoán có thể được thành lập ở cả 3 hình thức: công ty hợp danh,

công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần7 Trong khi đó ở Nhật Bản, chỉ có công

ly cổ phần mới được tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán8, hay có những

nước như Cộng hòa Áo, công ty đầu tư (công ty chứng khoán) chỉ được lập dưới hai

lình thức là công ty cổ phần và hựp tác xã

Tuy nhiên, phổ biến nhất trong các quy định pháp luật của các nước vẫn là việc

hừa nhận hai hình thức pháp lý cơ bản đối với công ty chứng khoán là công ty trách

ihiệm hữu hạn và công ty cổ phần Điều này là vì những lý do cơ bản sau:

♦> Đ ể bảo vệ lợi ích của khách hàng, tránh tình trạng thao túng doanh nghiệp vì

ợi ích của m ột số người;

❖ Đ ảm bảo chế độ thông tin, báo cáo chặt chẽ và đảm bảo việc quản lý công ty liệu quả;

Luật Chứng khoán năm 1934 của Mỹ (Đ iều 2); Luật số 96-597 vồ Hiện đại hóa các hoạt động lài chính năm

1996 của Cộng hòa Pháp (Điều 12); Luật Chứng khoán số 280 năm 1983 của M alaysia, Đ iều I,

Luật số 25 về Chứng khoán và thị trường chứng khoán Nhật Bản (năm 1948 và sửa dối năm 1992), Điểu 28.

1 I uặt Kiếm soát eiao dịch chứng khoán năm 1998 của Cộng hòa A o Đ iêu 20.

Trang 30

♦> Đảm bảo sự tổn tại ổn định của công ty khi có một hay một số thành viên nào

đó rút khỏi công ty

b) Đ iều kiện vê CO' sở vật chất, kỹ thuật:

Do đặc trưng của hoạt động kinh doanh chứng khoán là cần phải có sàn giao dịch để làm địa điểm tiếp xúc với nhà đầu tư, cần có địa điểm và thiết bị để nhận và truyền lệnh, công b ố thông tin liên quan đến chứng khoán và giao dịch chứng khoán nên để đảm bảo hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán, pháp luật các nước đều quy định điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật khi cấp Giấy phép hoạt động cho các công ty chứng khoán

Ví dụ, m ột trong các điều kiện để thành lập công ty chứng khoán ở Trung Quốc

là công ty phải có địa điểm kinh doanh cố định và có thiết bị giao dịch đủ tiêu ch uẩn10; điều kiện về trụ sở kinh doanh và các điều kiện về kỹ thuật phù hợp với bản chất của các dịch vụ đầu tư cũng là một trong những điều kiện để ú y ban về các công ty đấu tư

và công ty tín dụng của Pháp xem xét khi cấp giấy phép hoạt động cho các công ty đầu

tư của nước n à y " ; điều kiện này cũng được pháp luật về chứng khoán của Áo đặt ra khi cấp giấy phép hoạt động cho các công ty đầu tư 12

c) Đ iều kiện vê vốn:

Nói chung xu hướng ở tất cả các nước hiện nay là không quy định về mức vốn pháp định đối với các doanh nghiệp Tuy nhiên, do kinh doanh chứng khoán là kinh doanh trong m ột lĩnh vực đặc biệt, có ảnh hưởng đến lợi ích của công chúng đầu tư nên

sự tồn tại ổn định, lâu dài của công ty chứng khoán và sức mạnh tài chính của công ty trong m ột môi trường dễ biến động cần phải được đảm bảo Chính vì vậy, pháp luật nhiều nước vẫn quy định điều kiện về mức vốn đối với các công ty chứng khoán

111 Luật chứng khoán Trung Quốc ngày 29 tháng 12 năm 1998, Đ iều 121 Khoản 2.

11 Luật số 96 -5 9 7 ngày 02 tháng 07 năm 1996 về hiện đại hóa các hoạt động tài chính của Cộng hòa Pháp, Điêu

1 2

Luật Kiểm soái chứng khoán (năm 1998) của Áo, Điều 16.

Trang 31

Vốn pháp định của công ty chứng khoán thường được quy định cụ thể cho từng loại hình kinh doanh Một công ty càng tham gia vào nhiều loại hình thì càng cần phải

có nhiều vốn Trên cơ sở các yếu tố khác nhau như quy m ô thị trường, giao dịch dự kiến, khả năng tài chính của các tổ chức tham gia thị trường, v.v , mỗi quốc gia khác nhau có các quy định khác nhau về mức vốn pháp định đối với các công ty chứng khoán Ví dụ, các công ty chứng khoán Hàn Quốc muốn tham gia ba loại hình kinh doanh: môi giói, tự doanh, bảo lãnh phát hành chứng khoán phải có vốn điều lệ tối thiếu là 50 tỷ Won, nếu chỉ tham gia hai loại hình kinh doanh là môi giới và tự doanh thì công ty phải có mức vốn điều lệ tối thiểu là 30 tỷ W o n 13; ở cộng hòa Áo, mức vốn pháp định đối vói công ty cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư, tự doanh là 650,000 ATS, cung cấp dịch vụ quản lý danh mục đầu tư là 1,750,000 A ST14; ở Pháp, công ty đầu tư thực hiện một trong các hoạt động: nhận và truyền lệnh cho khách hàng, thực hiện lệnh cho khách hàng, quản lý danh mục đầu tư cần có ít nhất là 1 triệu ữ ansc, mức vốn pháp định đối với các hoạt động khác là 12,5 triệu íra n cs15 Nhưng cũng có những hệ thống pháp luật, ví dụ như Hồng Kông, vấn đề vốn pháp định lại không được đặt ra đối với các công ty chứng khoán

d) Điểu kiện v ề nhân sự:

Nhân tố con người chiếm vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự thành công của thị trường chứng khoán Vì đây là một ngành có kỹ thuật phức tạp, rủi ro cao nên đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ nhanh nhậy, tinh thông nghiệp vụ và có tư cách đạo đức nghề nghiệp Mặt khác, như trên đã phân tích, các cá nhân trong công ty chứng khoán có vai trò đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động của công ty Do đó, điều kiện về nhân sự luôn được đặt ra trong quy định pháp luật của các nước khi xem xét cấp giấy phép hoạt động kinh doanh cho các công ty chứng khoán

Nghị định số 15312 ngày 22 tháng 03 năm 1997 thi hành Luật Chứng khoán và giao dịch chứng khoán Hàn Quốc, Đ iều 14.

14 Luật Kiểm soát giao dịch chứng khoán Cộng hòa Á o năm 1998, Đ iểu 20

15 Quyết định số 9 8-06 11 này 07 tháng 12 năm 1998 của Uy ban Pháp quy vổ Ngán hàng và Tài chính Pháp vế mức vốn pháp định của các công ty đầu tư, cônụ, ty tín dụng.

Trang 32

Điều kiện đó là những người quản lý hay nhân viên của công ty chứng khoán phái có đầy đủ kiến thức và kinh nghiệm cũng như độ tín nhiệm, tính trung thực Thông thường, tất cả các nước đều yêu cầu nhân viên của công ty chứng khoán phải có giấy phép hành nghề Ví dụ, pháp luật Trung Quốc quy định: nhân viên quản lý chính và nhân viên nghiệp vụ phải có tư cách hành nghề chứng k h o án 16; pháp luật Cộng hòa Áo quy định một trong các điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động cung cấp các dịch

vụ đầu tư là người quản lý phải có trình độ nghề nghiệp, kinh nghiệm và phẩm chất để thực hiện các dịch vụ đầu tư 17; pháp luật Cộng hòa Pháp quy định nhân viên của các công ty chứng khoán phải có thẻ hành nghề do Hội đồng chứng khoán c ấ p :s

2.2.2.2 Trình tự, thủ tục cấp Giấy p h ép hoạt động kinh doanh chứng khoán:

Các nước theo cơ chế cấp giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán như Malaysia, Cộng hòa Pháp, Trung Quốc, đều quy định công ty chứng khoán phải có

si ấy phép riêng biệt đối với từng loại hình kinh doanh chứng k h o á n 19

Thông thường, để cấp Giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán, pháp luật các nước Thường yêu cầu các cộng ly phải nốp các tài liêu sau:

♦> Đơn đề nghị cấp Giấy phép hoạt động;

♦> Điều lệ công ty;

♦> Phương án hoạt độ n s của công ty

2.3 Các loại hình kinh doanh của công ty chứng khoán:

Các loại hình kinh doanh chứng khoán được chia làm hai loại: các loại hình kinh doanh chính và các loại hình kinh doanh phụ trợ Việc phân loại này có thể khác nhau tùv theo quy định pháp luật của từng nước Ví dụ, Thái Lan và một số nước Đông Nam

1' Luật chứng khoán Trung Quốc ngày 29 tháng 12 năm 1998, Điều 121.

1 Luật Kiểm soát chứng khoán năm 1996 của Á o, Đ iều 20 Khoản 3.

Is Luật số 8 8 -7 0 ngày 22 tháng 1 năm 1988 về chứng khoán của Cộng hòa Pháp, Đ iều 6 và Đ iểu 9.

H Luùl Chứng khoán M alaysia năm 1983, Điểu 12.13,14.15; Luật số 96-597 ngày 02 tháng 07 năm 1996 cua

Cộnu hòa Pháp Điều 1 1; Luật Chứng khoán Tru lìa Quốc ngày 29 Iháng 12 năm 1998, Điểu 129.

Trang 33

A xếp hoạt động tư vấn đầu tư là hoạt động kinh doanh chính20, nhưng các nước EƯ lại xếp loại hình kinh doanh này là hoạt động kinh doanh phụ trợ21 Theo pháp luật một số mrớc, công ty chứng khoán được tự do thực hiện các loại hình kinh doanh phụ trợ khi

đã dược cấp giấy phép hoạt động đối với các loại hình kinh doanh chính mà không cần xin cấp giấy phép hoạt động đối vói loại hình kinh doanh phụ trợ22 Tuy nhiên, cũng có những nước không có sự phân biệt giữa các loại hình kinh doanh chính và kinh doanh phụ trợ, ví dụ Trung Quốc, Malaysia, Hàn Quốc,

2.3.1 Các loại hình kinh doanh chính:

Nói chung, pháp luật các nước đều ghi nhận các loại hình kinh doanh chính của công ty chứng khoán bao gồm:

♦> Hoạt động môi giới chứng khoán;

♦> Hoạt động tự doanh;

♦> Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán;

♦> Hoạt động quản lý danh mục đầu tư;

2.3.1.1 H oạt động m ôi g ió i chứng khoán:

Môi giới là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó một công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế tại Sở giao dịch hay thị trường OTC m à chính khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh

tế của việc giao dịch đó

Hoạt động môi giới bao gồm các bước sau:

❖ Mớ tài khoản cho khách hàng;

211 Luật Chứng khoán vù sỏ' Giao dịch Thái Lan, B.E.2535, Điều 4.

21 Chi thị số 93/22/E E C ngày lơ tháng 05 năm 1993 của Hội dồng Châu Âu về các dịch vụ đầu tư trong lình vực chứng khoán, Phụ lục c về các hoạt động phụ trợ.

Luạt số 9 6 -5 9 7 ngày 02 tháng 07 năm 1996 của Cộng hòa Pháp, Đ iều 6 Khoản 2.

Trang 34

V Nhận lệnh mua, bán chứng khoán của khách hàng;

❖ Chuyển lệnh của khách hàng tới thị trường phù hợp để thực hiện lệnh;

❖ Xác nhận kết quả giao dịch cho khách hàng;

♦> Thanh toán tiền/giao chứng khoán cho khách hàng

Trong các quy định về hoạt động môi giới chứng khoán, pháp luật các nước trên thế giới đều thừa nhận một số nguyên lý chung sau:

a) V ề hợp đồng m ở tài khoản cho khách hàng:

Pháp luật của các nước nói chung đều quy định việc mở và quản lý tài khoản của khách hàng phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản giữa công ty chứng khoán và khách hàng Hợp đồng này do công ty chứng khoán và khách hàng thỏa thuận nhưng phải bao gồm những nội dung cơ bản do pháp luật quy định hoặc những điều khoản cơ bản của hợp đồng phải được cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán phê ch uẩn2'

b) V ề địa điểm nhận lệnh :

Để bảo vệ các nhà đầu tư, tránh các trường hợp lừa đảo trên thị trường và nhàm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản lý Nhà nước, pháp luật một số nước, ví dụ như Trung Quốc, Thái L an 24 và một số nước khác yêu cầu các công ty chứng khoán phải nhận lệnh của khách hàng tại trụ sở chính hoặc trụ sở chi nhánh công ty

Tuy nhiên có những nước, ví dụ như Cộng hòa Pháp lại cho phép các công ty đầu tư được ủy thác cho các cá nhân hoặc pháp nhân không phải là công ty đầu tư hay công ty tín dụng thực hiện việc nhận và truyền lệnh cho khách hàng với điều kiện công

■ ’ V í dụ: Luật Chứng khoán Trung Quốc ngày 29 tháng 12 năm 1998, Đ iều 4; Luật Chứng khoán và Sở giao dịch Thái Lan, Đ iều I 12; Q uyết định s ố 9 8 -2 8 năm 1998 của Hội đồng thị trường tài chính Cộng hòa Pháp (CMF)

Đ iéu 2-4-12.

- 4 Luật Chứng khoán ĩrung Ouốc ntĩày 29 tháng 12 năm 1998, Điểu 98; Luật Chứng khoán và Sớ giao dịch Thái Lan, Đ iều 144.

Trang 35

ty đau tu' sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm về các hành vi của các cá nhân hoặc pháp nhân

do mình ủy thác25

C) Vê việc quấn lý tài sản ký quỹ của khách hàng:

Công ty chứng khoán phải quản lý tiền và chứng khoán của khách hàng tách biệt với tiền và chứng khoán của công ty cũng là một yêu cầu hết sức nghiêm ngặt mà pháp luật các nước đều đặt ra đối với các công ty chứng khoán để bảo vệ lợi ích của những người đầu tư

Quy định trên xuất phát từ lý do sau: để giao dịch chứng khoán, thông thường thì khách hàng phải ký quỹ tiền mặt hoặc chứng khoán cho công ty chứng khoán Tý lệ ký quỹ này rất khác nhau theo quy định pháp luật của từng nước Tài sản của khách hàng trong công ty chứng khoán, nếu được quản lý liêng biệt vói tài sản đã có của công ty chứng khoán, thì cho dù trong trường hợp công ty bị phá sản, tình trạng tài chính đó cũng không ảnh hưởng đến khách hàng mà tài sản tạm gửi của khách hàng sẽ được trả

về cho họ

Nguyên tắc quản lý tài sản riêng biệt đã được quy định trong pháp luật của nhiều nước, ví dụ Điều 138 Luật chứng khoán ngày 29 tháng 12 năm 1998 của Trung Quốc, hay có những nước như Nhật Bản, họ đã ban hành một Pháp lệnh về bảo quản tài sản riêng biệt của các công ty chứng khoán

d) Vê việc tiết lộ thông tin của khách hàng và cung cấp thông tin giao dịch cho khách hàng:

Khi thực hiện hoạt động môi giới chứng khoán, công ty chứng khoán không được tiết lộ các thông tin về tài khoản của khách hàng nếu chưa được khách hàng đồng

ý, trừ trường hợp do pháp luật quy định

Sau khi thực hiện giao dịch mua, bán chứng khoán cho khách hàng, việc lập báo cáo giao dịch xác nhận hành vi giao dịch và kết quả giao dịch gửi cho khách hàng là

Ouvei dinh niíày 26 lliáng 08 năm 1998 của CMF, Điều 4 -2 -3 3 “ i

Trang 36

m ột nghĩa vụ bắt buộc đối với các công ty chứng khoán được pháp luật các nước ghi

n h ậ n ’6,

e) Vé m ột s ố hành vi bị cấm khi thực hiện hoạt động m ôi g ió i chứng khoán:

Ngoài ra, khi thực hiện hoạt động môi giới cho khách hàng, nói chung, pháp luật các nước đều đưa ra một số quy định cấm đối với công ty chứng khoán như sau:

♦> Làm trái lệnh đặt mua, bán chứng khoán của khách hàng;

♦> Không cung cấp báo cáo xác nhận giao dịch cho khách hàng theo thời gian đúng quy định;

♦> Sử dụng không đúng mục đích chứng khoán hoặc tiền trên tài khoản của khách hàng;

♦> Tự tiện mua, bán chứng khoán trên tài khoản của khách hàng hoặc mượn danh nghĩa khách hàng để mua bán chứng khoán

2.3.1.2 Hoạt động tự (loanh:

Tự doanh là một loại hình kinh doanh chứng khoán trong đó công ty chúng khoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình thông qua tài khoản tự doanh của công ty Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt giữa hoạt động tự doanh và hoạt động môi giới: công ty chứng khoán không thực hiện theo bất cứ hợp đồng đại diện nào mà thực hiện giao dịch nhân danh công ty và vì lợi ích của công ty để ký kết các giao dịch với người thứ ba

Hoạt động tự doanh theo pháp luật của các nước EU và một số nước khác gồm

có 3 hoạt động tách biệt27:

26 Ví dạ: Luật Chứng khoán và sỏ' giao dịch Nhật Bản năm 1948, sửa đổi năm 1992, Đ iều 48: Luật Chứng khoán

Trung Quốc ngày 29 iháng 12 năm 1998, Điều 140.

Q uyết (.lịnh nãm 1998 cua CMF Cộng hòa Pháp, Điểu 2-1-5.

Trang 37

♦> Mua, bán chứng khoán cho chính công ty để thu lợi nhuận từ chênh lệch giá

qua các lần mua, bán chứng khoán;

♦> Tạo lập thị trường: ở hoạt động này, công ty chứng khoán có nghĩa vụ mua

vào khi giá chứng khoán giảm để kìm giá và phải bán ra khi giá chứng khoán lên để

nhằm giữ giá chứng khoán

❖ Hoạt động giao dịch vừa mang tính chất cho chính công ty, vừa cho người thứ

ba Hoạt động này được định nghĩa như hoạt động giao dịch chứng khoán mà công ty

chứng khoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình trong quá trinh công ty thực

hiện hoạt động môi giới

Nói chung, pháp luật các nước đều yêu cầu công tv chứng khoán tách biệt hai

nghiệp vụ môi giới và tự doanh để tránh xung đột lợi ích giữa công ty và khách hàng,

qua đó báo vệ lợi ích của những nhà đầu tư

Mội số nước còn đưa ra các quy định cấm sau đây đối với công ty chứng khoán

khi thực hiện hoạt động tự doanh28:

♦> Chứng khoán m à công ty chứng khoán mua theo lệnh của khách hàng hoặc

cho chính mình không được bán ra cùng ngày;

♦> Nghiệp vụ tự doanh của công ty chứng khoán phải sử dụng vốn của mình hoặc

vốn được huy động theo quy định của pháp luật;

♦> Nghiệp vụ tự doanh của công ty chứng khoán phải được thực hiện với danh

nghĩa của chính mình, không được mượn danh nghĩa của người khác hoặc thực hiện với

danh nghĩa cá nhân;

♦> Công ty chứng khoán không được cho người khác mượn sử dụng tài khoản tự

doanh của mình;

2S Luậi Chứng khoán Trung Quốc ngày 29 tháng 12 năm 1998, Đ iều 7 ] , 106, 133, 134 Luật Giao dịch chứng

khoán và thao túng giá cua Nhật Bán, Điều 159; Luật Chứng khoán năm 1983 của Malaysia Đ iều 84 85.

Trang 38

♦> Công ty chứng khoán không được tiến hành các giao dịch trá hình, tức là các giao dịch mua, bán chứng khoán mà không có sự dịch chuyển quyền sở hữu làm anh hướng tới giá cả và khối lượng chứng khoán giao dịch trên thị trường;

❖ Công ty chứng khoán không được tiến hành các giao dịch thông đồng, tức là câu kết với người khác mua, bán chứng khoán của nhau nhưng không nắm giũ' theo thời gian làm ảnh hưởng tới giá và khối lượng chứng khoán giao dịch;

❖ Công ty chứng khoán không được tiến hành các giao dịch hiện thực, tức là giao dịch nhằm mục đích lôi kéo hấp dẫn mua, bán để làm cho công chúng hiểu nhầm

là việc mua, bán một loại chứng khoán nào đó đang diễn ra sôi động, hoặc làm biến động giá chứng khoán

♦> Bảo lãnh c ố g ắn g tôi đa:

Đây là hình thức bảo lãnh mà công ty bảo lãnh phát hành hứa sẽ cố gắng đến mức tối đa để phân phối hết số chúng khoán cần phát hành cho công ty phát hành

29 Luật Chứng khoán và Sở giao dịch Thái Lan, Đ iều 4; Luật số 96-597 ngày 02 tháng 07 năm 1996 cùa Cộng hòa

Pháp Điểu 4 và R evue số 3 của CMF tháng 1 1 năm 1997; Luật Chứng khoán và Sờ giao dịch Nhạt Bản, Đ iều 2

Khoán (r Luật Chứng khoán Mỹ năm 1933, Sec 2( 11) ; Luật Chứng khoán và Sở giao dịch Hàn Quốc, Điều 2 (6).

Trang 39

Trường hợp không phân phối hết, số chứng khoán còn lại được trả về cho công ty phát

hành Công ty bảo lãnh được hưởng hoa hổng trên số chứng khoán được bán ra

♦> Bảo lãnh bảo đảm tất cả hoặc không:

Đây là trường hợp áp dụng khi công ty phát hành chứng khoán cần một số vốn

nhất định để giải quyết m ột mục tiêu kinh doanh của công ty Nếu huy động được đủ số

vốn cần thiết đó theo quy định trong hợp đồng bảo lãnh phát hành, công ty sẽ thực hiện

đợt phát hành, nếu không huy động đủ số vốn như mong m uốn, công ty phát hành sẽ

hủy bỏ kết quả phát hành của đọt phát hành đó

Khi thực hiện bảo lãnh phát hành chứng khoán, nói chung, pháp luật các nước

đổu yêu cầu công ty chứng khoán phải tuân thủ một số quy định sau:

♦> Ký họp đồng với công ty phát hành, hợp đồng phải ghi rõ các nội dung mà

pháp luật quy định;

♦> Các trường họp bắt buộc phải có tổ hợp bảo lãnh phát hành;

♦> Thời hạn tối đa để thực hiện bảo lãnh phát hành chứng khoán;

❖ Giá chứng khoán thường được xác định trên cơ sở thăm dò của nhà bảo lãnh phát hành với các nhà đầu tư lớn trong đợt phát hành

2.3.1.4 H oạt động quản lý danh mục đầu tư:

Hoạt động quản lý danh mục đầu tư là hoạt động mà công ty chứng khoán tiến

hành trên cơ sở hợp đồng ủy quyền bằng vãn bản với khách hàng để quản lý tài khoản

của khách hàng Danh mục đầu tư có thể do khách hàng tự quyết định hoặc do công ty

chứng khoán lựa chọn và khách hàng thông qua danh mục đó

Việc thực hiện hoạt động quản lý danh mục đầu tư có thể do công ty chứng

khoán tiến hành cùng với các hoạt động kinh doanh chứng khoán khác, nhưng cũng có

thể do một công ty chuyên quản lý danh mục đầu tư tiến hành Điều này tùy thuộc vào

Trang 40

quy định pháp luật của từng nước Ví dụ, ở một số nước nước EƯ, hoạt động quản lý danh mục đầu tu' do một công ty riêng biệt gọi là công ty quản lý danh mục đầu tu' (entreprise de gestion de porteíeuille) thực hiện, tách biệt khỏi những hoạt động kinh doanh chứng khoán khác của các công ty đầu tu' nói chung (entreprise d'investissement) Công ty quản lý danh mục đầu tu' có trình tự thủ tục và cơ quan cấp giấy phép hoạt động riêng so vói công ty đầu tư khác.

Khi thực hiện hoạt động quản lý danh mục đầu tư, công ty chứng khoán phải ký hợp đồng bằng văn bản với khách hàng Họp đồng này do các bên thỏa thuận nhưng phải có các nội dung cơ bản do pháp luật quy định30

Nói chung, pháp luật các nước thường quy định các hành vi bị cấm sau đây khi công ty chứng khoán thực hiện hoạt động quản lý danh mục đầu tư cho khách hàng-*1:

♦> Cấm các hành vi chạy trước: Khi nhận được sự ủy thác của khách hàng về việc mua, bán chứng khoán, công ty không được tính toán hơn thua để tiến hành mua, bán chứng khoán của cùng một công ty phát hành mà khách hàng yêu cầu, trước khi việc mua, bán liên quan đến ủy thác đó được thực hiện;

♦> Cấm nhận ủy thác mua, bán chứng khoán khi công ty chứng khoán biết là vi phạm quy chế giao dịch của người trong nội bộ (giao dịch nội gián);

❖ Cấm hứa với khách hàng về việc cung cấp lợi nhuận đặc biệt

2.3,2 Các loại hình kinh doanh ph ụ trợ:

Ở các nước có sự phân chia giữa loại hình kinh doanh chính và loại hình kinh doanh phụ trợ, thông thường, được xếp vào loại hình kinh doanh phụ trợ các hoạt động sau:

♦> Hoạt động tư vấn đầu tư;

31 Chi thị số 8 5 /6 1 1/CEE cùa Hội đồng Châu Âu ngày 20 tháng 12 năm 1985.

V í dụ Luật Chứng khoán và Sở giao dịch Nhật Bản, Đ iều 42; Pháp lệnh về Quy ch ế hành vị của công ty chứng khoán và thành viên Ran Giám đốc công ty.

Ngày đăng: 02/08/2020, 20:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w