Do đó, để đạt được mới mục đích nêu trên, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý có liên quan đến thành viên HĐQT và vai trò của HĐQT tại ngân hàng thương mại cổ phần theo quy
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
NGUYỄN THỊ NHƯ TRINH
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
- THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT
TP.HỒ CHÍ MINH - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
Nguyễn Thị Như Trinh
Pháp Luật Việt Nam Về Hội Đồng Quản Trị
CủaNgân Hàng Thương Mại Cổ Phần
- Thực trạng và Giải pháp
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số chuyên ngành : 603850
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Thanh Bình
TP.HỒ CHÍ MINH – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực Toàn bộ nội dung được trình bày cũng như các kết quả đạt được của luận văn này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Bình Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với lời cam đoan của mình./
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Nhƣ Trinh
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BKS : Ban kiểm soát
ĐHĐCĐ : Đại hội đồng cổ đông
HĐQT : Hội đồng quản trị
LCTCTD : Luật các tổ chức tín dụng
LDN 1999 : Luật Doanh nghiệp 1999
LDN 2005 : Luật Doanh nghiệp 2005
Trang 6MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài 2
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀQUẢN TRỊ VÀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 6
1.1 Khái quát về Quản trị 6
1.1.1 Định nghĩa về Quản trị 6
1.1.2 Sự khác nhaugiữa quản trị và quản lý công ty 9
1.1.3 Vai trò và lợi ích của quản trị Ngân hàng hiệu quả 10
1.2 Hội đồng quản trị 11
1.2.1 Lịch sử hình thành Hội đồng quản trị 12
1.2.2 Đặc điểm của Hội đồng quản trị 15
1.2.3 Cơ cấu của Hội đồng quản trị 18
1.2.3.1 Số lượng của thành viên Hội đồng quản trị 18
1.2.3.2 Điều kiện trở thành thành viên Hội đồng quản trị 19
1.2.3.3 Phẩm chất, năng lực của thành viên Hội đồng quản trị 21
1.2.3.4 Các dạng thành viên Hội đồng quản trị 23
1.2.3.5 Chức năng giám sát của HĐQT 29
1.2.3.6 Mô hình Hội đồng quản trị của các nước trên thế giới và Việt Nam 30
Trang 7CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VÀ HƯỚNG HOÀN
THIỆN 35
2.1 Thành viên HĐQT không điều hành 37
2.2 Thành viên Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần là tổ chức 41 2.3 Thành viên Hội đồng quản trị độc lập 44
2.3.1 Số lượng thành viên Hội đồng quản trị độc lập 47
2.3.2 Các tiêu chí xác định thành viên độc lập 51
2.3.3 Hiệu quả hoạt động của thành viên HĐQT độc lập 54
2.4 Chức năng giám sát của Hội đồng quản trị 57
2.4.1 Quyền và trách nhiệm của Hội đồng quản trị 57
2.4.2 Quyền giám sát hoạt động điều hành kinh doanh của Tổng giám đốc/Giám đốc 61
2.5 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về hội đồng quản trị ngân hàng thương mại cổ phần 62
KẾT LUẬN 71
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quản trị Doanh nghiệp là một vấn đề trọng yếu đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của một Doanh nghiệp Quản trị Doanh nghiệp tốt sẽ giúp cho công ty tạo được niềm tin vững chắc từ các NĐT tại thị trường trong nước và quốc tế Một bộ máy được thiết lập với sự phân công rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn kết hợp với việc quản trị rủi ro và kiểm soát nội bộ hiệu quả sẽ giúp cho Doanh nghiệp không những nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, khả năng tiếp cận thị trường vốn mà còn đóng góp một phần quan trọng vào việc tạo ra giá trị thương hiệu và niềm tin của công chúng
Ngân hàng thương mại cổ phần là tổ chức tín dụng, là doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất là cầu nối giữa các
cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu Hoạt động của ngân hàng thương mại phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, của các loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội Chính vì nhiệm vụ đó, ngân hàng thương mại đòi hỏi vốn điều lệ cao hơn, đồng thời phải tuân thủ những quy định nghiêm ngặt và phức tạp hơn liên quan đến công tác quản trị
Xuất phát từ đặc điểm của của công ty cổ phần nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng: chức năng sở hữu tách bạch với chức năng quản lý
Cổ đông là người bỏ vốn đầu tư, HĐQT là người quản lý vốn, TGĐ là người dùng vốn đó để kinh doanh HĐQT do chủ sở hữu ngân hàng chỉ định sẽ có quyền quản
lý và kiểm soát các hoạt động hàng ngày đối với tài sản và nguồn lực của ngân hàng Trong khi đó TGĐ và các thành viên Ban điều hành không chịu rủi ro tài chính lớn khi ngân hàng thua lỗ cũng như không có lợi ích cuối cùng khi ngân hàngcó lợi nhuận, những rủi ro và lợi ích này thuộc về những người chủ ngân hàng với cách là NĐT Do đó, một nguy cơ có thể nảy sinh là Ban điều hành có thể điều hành Doanh nghiệp vì lợi ích riêng của họ chứ không vì lợi ích của chủ đầu tư Trong đó, nguy cơ người quản lý Doanh nghiệp nói chung bao gồm cả HĐQT và
Trang 9ban điều hành lạm dụng quyền lực và vị thế của mình để thực hiện các giao dịch tư lợi nhằm mục đích phục vụ lợi ích của bản thân hoặc tổ chức, cá nhân khác là rất lớn Vì thế pháp luật cần có quy định để đảm bảo các chủ thể đó thực hiện tốt chức năng của mình và đặc biệt là bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu Doanh nghiệp
Trong ngân hàng thương mại cổ phần, HĐQT là cơ quan hoạch định chính sách phát triển của ngân hàng, cơ quan tuyển chọn bộ máy điều hành và là đại diện của chủ sở hữu Nếu HĐQT hoạt động tốt thì ngân hàng phát triển tốt, các quyết định và hành động của Ban điều hành thể hiện đúng ý chí và đảm bảo lợi ích của cổ đông và những người có lợi ích liên quan nhằm vào sự phát triển dài hạn của ngân hàng
Khuôn khổ pháp lý về quản trị, điều hành ngân hàng Thương mại cổ phần đã
có nhiều thay đổi và cải thiện một cách đáng kể trong những năm gần đây ở Việt Nam Việc thay thế Luật ngân hàng Nhà nước và LCTCTDnăm 1997 bằng Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam và LCTCTDvào năm 2010, cũng như việc ban hành mới quy định về quản trị Công ty đối với Công ty đại chúng là một vài ví dụ về những thay đổi tích cực trong khuôn khổ pháp lý Tuy nhiên sau một thời gian áp dụng, pháp luật về quản trị điều hành ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam
đã phát sinh những mâu thuẫn, bất cập, chưa phù hợp với các chuẩn mực quốc tế
Chính vì vậy, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam về Hội đồng quản trị của Ngân hàng TMCP – Thực trạng và giải pháp”làm luận văn cao
học của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Tại Việt Nam từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, báo cáo
khoa học về vấn đề quản trị công ty như: “Một số giải pháp cơ bản quản trị công ty
cổ phần” của Nguyễn Đình Cung; “Quản trị công ty cổ phần của các công ty cổ phần ở Việt Nam” của Trương Lê Quốc Công; “Quản trị doanh nghiệp –quan trọng nhưng lại là khâu yếu” của TS Đinh Văn Ân; “Chế độ pháp lý về quản trị công ty theo LDN”của Châu Quốc An… Những công trình này đã có những đóng
Trang 10góp to lớn về mặt khoa học, tuy nhiên đề tài chỉ tập trung vào phân tích các vấn đề
có tính nguyên tắc về quản trị của Công ty Cổ phần nói chung Do đó, trong luận văn của mình, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu phân tích các vấn đề quản trị điều hành của ngân hàng thương mại cổ phần trên cơ sở đánh giá những tồn tại, hạn chế của pháp luật về quản trị điều hành tại các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam
để từ đó đề xuất hướng hoàn thiện cụ thể
3 Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm góp phần phân tích và khái quát một số vấn đề cơ sở lý luận về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần Đồng thời phân tích thực trạng quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần từ đó rút ra được những kết quả đã đạt được cũng như nhìn nhận những bất cập, hạn chế, tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia khác về vấn đề này Trên cơ sở đó tác giả sẽ đề xuất một số giải pháp, kiến nghị mang tính
cụ thể, đồng bộ nhằm hoàn thiện các quy định về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay ở nước ta
Quản trị doanh nghiệp là một vấn đề khá rộng lớn và nhiều vấn đề để nghiên cứu Do đó, để đạt được mới mục đích nêu trên, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý có liên quan đến thành viên HĐQT và vai trò của HĐQT tại ngân hàng thương mại cổ phần theo quy định của LDN, LCTCTD, Nghị định 59/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của ngân hàng Thương mại, Thông tư 121/2012/TT-BTC về quản trị Công ty đại chúng Đề tài cũng trình bày, phân tích một số vấn đề về thành viên HĐQT theo pháp luật của một số quốc gia khác cũng như so sánh với các nguyên tắc quản trị của Tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế (OECD) từ đó rút ra một số ưu điểm phù hợpvới thực tiễn tại Việt Nam cần áp dụng trong thực tế
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 11Trong giai đoạn từ năm 2004 đến 2006, Việt Nam đã nổ lực nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của mình để sẵn sàng cho việc gia nhập WTO.Trong bối cảnh
đó, Quốc hội Việt Nam đã ban hành rất nhiều văn bản luật mới được đánh giá là bước đột phá trong cải cách kinh tế nói chung và cải thiện môi trường kinh doanh nói riêng tại Việt Nam.Cùng với đó, loại hình ngân hàng Thương mại cổ phần ở nước ta đã được hình thành và phát triển Sự ra đời các ngân hàng Thương mại cổ phần là nhân tố thúc đẩy tiến trình đổi mới nền kinh tế chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý vĩ mô của nhà nước Tuy nhiên loại hình ngân hàng Thương mại cổ phần
đã và đang bộc lộ nhiều bất cập về quản trị và điều hành và chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn Để lành mạnh hoá thị trường tài chính, tiền tệ và hoạt động hệ thống ngân hàng, việc tăng cường chấn chỉnh công tác quản trị đặc biệt là cơ cấu tổ chức HĐQT ở các ngân hàng Thương mại cổ phần đang là một yêu cầu bức xúc nhằm từng bước tăng cường tính hiệu quả trong quản trị và điều hành của loại hình ngân
hàng Thương mại này Do vậy, việc chọn đề tài về “Pháp luật Việt Nam về Hội đồng quản trị của ngân hàng Thương mại cổ phần – Thực trạng và giải pháp”
hy vọng sẽ góp phần vào chủ trương đẩy mạnh tái cấu trúc hoạt động của hệ thống ngân hàng Thương mại tại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận là các nguyên tắc quản trị theo thông lệ quốc tế đã được xây dựng trong suốt một thập kỷ qua
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thu thập thông tin và phương pháp so sánh, đối chiếu các quy định về quản trị điều hành ngân hàng thương mại cổ phần theo quy định pháp luật Việt Nam với thông lệ quốc
tế và quy định pháp luật của một số quốc gia tiến bộ trên thế giới để lý giải các vấn
đề trong luận văn và đề xuất các giải pháp hoàn thiện
6 Kết cấu luận văn
Trang 12Đề tài được xây dựng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu được bố cục như sau:
Luận văn gồm có ba phần: Mở đầu, phần nội dung chính và kết luận
Phần nội dung chính chia làm hai chương
- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản trịvà Hội đồng quản trị ngân hàng thương mại cổ phần
- Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật về HĐQT ngân hàng thương mại cổ phần và hướng hoàn thiện
Trang 13CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ VÀ HĐQT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
1.1 Khái quát về quản trị
1.1.1 Định nghĩa về quản trị
Cho đến nay trên thế giới không có một định nghĩa duy nhất về quản trị công
ty (Corporate gorvernance) có thể áp dụng cho mọi trường hợp và mọi thể chế Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về quản trị công ty hiện hữu phần lớn phụ thuộc vào các tác giả, thể chế, cũng như quốc gia hay truyền thống pháp lý
Theo IFC, quản trị công ty là “những cơ cấu và những quá trình để định hướng và kiểm soát công ty” Vào năm 1999, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD đã xuất bản một tài liệu mang tên “Các nguyên tắc Quản trị Công ty” (OECD Principles of Corporate Governance), trong đó có đưa ra một định nghĩa chi tiết hơn về quản trị công ty như sau:
“Quản trị công ty là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công
ty […], liên quan tới các mối quan hệ giữa BGĐ, HĐQT và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan Quản trị công ty cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của một công ty Quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được BGĐ
và HĐQT theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty
Trang 14một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng nguồn lực một cách tốt hơn” 1
Nhìn chung, phần lớn các định nghĩa lấy bản thân công ty làm trung tâm đều
có một số điểm chung và có thể được tóm lượt lại như sau:
Quản trị công ty là một hệ thống các mối quan hệ, được xác định bởi các
cơ cấu và quy trình: Mối quan hệ giữa các cổ đông và BGĐ bao gồm việc
các cổ đông cung cấp vốn cho BGĐ để thu được lợi nhuận mong muốn từ khoản đầu tư của mình Về phần mình, BGĐ có trách nhiệm cung cấp cho các
cổ đông các báo cáo tài chính và các báo cáo hoạt động thường kỳ một cách minh bạch Các cổ đông cũng bầu ra một thể chế giám sát được gọi là HĐQT hoặc BKS để đại diện cho quyền lợi của mình Trách nhiệm chính của thể chế này là đưa ra định hướng chiến lược cho BGĐ và giám sát họ BGĐ chịu trách nhiệm trước thể chế này, và thể chế này lại chịu trách nhiệm trước các cổ đông thông qua Đại hội đồng cổ đông Các cơ cấu và các quy trình xác định những mối quan hệ này thường xoay quanh các cơ cấu quản lý năng lực hoạt động và các cơ chế báo cáo khác nhau
Những mối quan hệ này nhiều khi liên quan tới các bên có lợi ích khác nhau, đôi khi là những lợi ích xung đột: Sự khác biệt về lợi ích có thể tồn
tại ngay giữa các bộ phận quản trị chính của công ty, tức là giữa Đại hội đồng
cổ đông, HĐQT, và/hoặc TGĐhoặc các thành viên Ban điều hành khác Xung đột lợi ích cũng có thể tồn tại ngay trong mỗi bộ phận quản trị, chẳng hạn giữa các cổ đông (đa số và thiểu số, kiểm soát và không kiểm soát, cá nhân và
tổ chức) và các thành viên HĐQT (điều hành và không điều hành, bên trong
và bên ngoài, độc lập và phụ thuộc) Các công ty cần phải xem xét và đảm bảo sự cân bằng giữa những lợi ích xung đột này
Tất cả các bên đều liên quan tới việc định hướng và kiểm soát công ty:ĐHĐCĐ, đại diện cho các cổ đông, đưa ra các quyết định quan trọng, ví dụ
về việc phân chia lãi lỗ HĐQT chịu trách nhiệm chỉ đạo và giám sát chung,
1
Các Nguyên tắc Quản trị Công ty của OECD (xem thêm trang web: www.oecd.org)
Trang 15đề ra chiến lược và giám sát BGĐ Cuối cùng, BGĐ điều hành những hoạt động hàng ngày, chẳng hạn như thực hiện chiến lược đã đề ra, lên các kế hoạch kinh doanh, quản trị nhân sự, xây dựng chiến lược marketing, bán hàng
Nguồn: IFC, tháng 3 năm 2014
Mặt khác, từ góc độ bên ngoài, quản trị công ty tập trung vào những mối quan
hệ giữa công ty với các bên có quyền lợi liên quan Các bên có quyền lợi liên quan
là những cá nhân hay tổ chức có các quyền lợi trong công ty mà các quyền lợi ấy có thể xuất phát từ những quy định của luật pháp, của hợp đồng, hay xuất phát từ các mối quan hệ xã hội hay địa lý Các bên có quyền lợi liên quan không chỉ có các NĐT mà còn bao gồm các nhân viên, các chủ nợ, các nhà cung cấp, các khách hàng, các cơ quan pháp luật, các cơ quan chức năng của nhà nước, và các cộng đồng địa phương nơi công ty hoạt động
Các cổ đông (Đại hội đồng cổ đông)
Các thành viên Hội đồng quản trị
Các thành viên Ban giám đốc
Bổ nhiệm và miễn nhiệm Đại diện và báo cáo
Bổ nhiệm, miễn nhiệm, chỉ đạo và giám sát Báo cáo và trả lời
Trang 16Theo quan điểm của tác giả, về khía cạnh nội bộ, quản trị doanh nghiệp là các thoả thuận về quyền hạn, nghĩa vụ, vai trò và trách nhiệm của các cơ quan khác nhau trong doanh nghiệp bao gồm HĐQT, Ban điều hành, các cổ đông lớn và cổ đông thiểu số Các thoả thuận này thể hiện trong điều lệ của doanh nghiệp và quy chế quản trị nội bộ Ở khía cạnh bên ngoài, các thoả thuận này bị chi phối bởi các quy tắc, luật lệ bên ngoài nhằm tạo ra một sân chơi bình đẳng, minh bạch, công bằng bất kể là từ cổ đông hay HĐQT
1.1.2 Sự khác nhau giữa quản trị và quản lý công ty
Cho đến nay vẫn tồn tại sự nhầm lẫn khái niệm quản trị công ty với khái niệm quản lý công ty Quản trị công ty tập trung vào các cơ cấu và các quy trình của công ty nhằm đảm bảo sự công bằng, tính minh bạch, tính trách nhiệm và tính giải trình Trong khi đó, quản lý công ty tập trung vào các công cụ cần thiết để điều hành doanh nghiệp Có thể nói quản trị công ty được đặt ở một tầm cao hơn nhằm đảm bảo rằng công ty sẽ được quản lý theo một cách sao cho nó phục vụ lợi ích của các cổ đông
Hình 2: So sánh các hoạt động trong Quản trị công ty với các hoạt động
trong quản lý công ty
Quản lý điều hành Quyết định và kiểm soát Quản lý hoạt động
Giải trình và Giám sát
Quản trị công ty
Quản trị chiến lược
Quản lý công ty
Trang 17Nguồn: Robert I Tricker, Quản trị công ty, 1984
1.1.3 Vai trò và lợi ích của quản trị Ngân hàng hiệu quả
Quản trị ngân hàng thương mại là một vấn đề rất quan trọng vì nhiều lý do Thứ nhất ngân hàng thương mại chiếm vị trí chủ đạo trong hệ thống tài chính của các nền kinh tế đang phát triển và là công cụ cực kỳ quan trọng của tăng trưởng kinh tế Thứ hai, do thị trường tài chính tại các nền kinh tế đang phát triển thường phát triển chậm, ngân hàng thương mại thường được coi là nguồn cung cấp tài chính quan trọng nhất đối với phần lớn các doanh nghiệp Thứ ba, ngoài việc cung cấp phương tiện thanh toán, ngân hàng thương mại ở các nước đang phát triển còn
là kênh thu nhận tiền gửi tiết kiệm chính cả nền kinh tế
Có thể thấy ngân hàng thương mại là trung gian tài chính quan trọng của nền kinh tế, do đó, công chúng và thị trường có sự nhảy cảm rất lớn đối với bất kỳ khó khăn nào nảy sinh từ những hạn chế rất nhỏ trong ngân hàng2 Ngân hàng quản trị kém có thể gây ra sự sụp đổ của chính nó, do đó đặt ra các chi phí công cộng và hệ quả đáng kể do ảnh hưởng của việc vỡ nợ tới hệ thống bảo hiểm tiền gửi, khả năng lan rộng ảnh hưởng vĩ mô trong toàn bộ nền kinh tế, chẳng hạn như hiệu ứng domino và những ảnh hưởng đối với hệ thống thanh toán Điều này đã được minh hoạ trong các cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ giữa năm 2007 Quản trị kém khiến công chúng mất lòng tin vào khả năng quản lý tài sản và nguồn vốn của ngân hàng, trong đó có nguồn tiền gửi của công chúng, từ đó có thể là ngòi nổ cho cuộc khủng hoảng thanh khoản Ngoài trách nhiện với các cổ đông, các ngân hàng
2
Hà Thị Thanh Bình (2013), Một số vấn đề pháp lý về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, Số 05 (78), tr.25-36
Trang 18thương mại cổ phần cũng phải có trách nhiệm với các khoản tiền gửi của khách hàng và các bên liên quan Bởi vậy, hoạt động của ngân hàng thương mại luôn chịu
sự điều chỉnh của hệ thống luật định chặt chẽ và sự giám sát thường xuyên Trong
đó có nhiều hướng dẫn và khuyến nghị về quản trị ngân hàng thương mại đã được ban hành
Quản trị ngân hàng có hiệu quả đóng một vai trò quan trọng ở nhiều cấp độ Ở cấp độ ngân hàng, những ngân hàng thực hiện tốt việc quản trị thường có khả năng tiếp cận dễ dàng hơn tới các nguồn vốn giá rẻ, và thường đạt được hiệu quả hoạt động cao hơn so với các ngân hàng khác Những ngân hàng kiên trì theo đuổi các tiêu chuẩn cao trong quản trị ngân hàng sẽ giảm thiểu nhiều rủi ro liên quan tới các khoản đầu tư trong ngân hàng Đối với những ngân hàng tích cực thực hiện các biện pháp quản trị công ty lành mạnh cần phải có một đội ngũ nhân viên chủ chốt nhiệt tình và có đủ năng lực để xây dựng và thực thi các chính sách quản trị công ty hiệu quả Những ngân hàng này thường đánh giá cao công sức của những nhân viên
đó và bù đắp xứng đáng cho họ, trái với nhiều ngân hàng khác thường không nhận thức rõ hoặc phớt lờ lợi ích của các chính sách và những biện pháp quản trị Đồng thời, các ngân hàng thực hiện những biện pháp quản trị công ty hiệu quả như vậy thường hấp dẫn hơn trong con mắt của các NĐT, những người sẵn sàng cung cấp vốn cho ngân hàng với chi phí thấp hơn
Nhìnchung, những ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng và công ty cổ phần nói chung thực hiện tốt việc quản trị công ty sẽ đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế quốc dân và cho xã hội Những ngân hàng này thường là những ngân hàng vững mạnh có thể tạo ra của cải vật chất và giá trị khác cho các cổ đông, người lao động, cộng đồng và quốc gia; trái lại, những ngân hàng có hệ thống quản trị công ty yếu kém sẽ dẫn đến việc người lao động bị mất công ăn việc làm, mất tiền trợ cấp
và thậm chí có thể còn làm giảm niềm tin trên thị trường chứng khoán
1.2 Hội đồng quản trị
Trang 19HĐQT đóng vai trò trung tâm trong khuôn khổ quản trị ngân hàng HĐQT chịu trách nhiệm chỉ đạo và xây dựng chiến lược của ngân hàng bao gồm cả kế hoạch kinh doanh và tài chính thường niên, cũng như xây dựng và kiểm soát các hoạt động của BGĐ HĐQT hoạt động vì lợi ích của ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của tất cả các cổ đông, giám sát hoạt động của TGĐ và các thành viênBGĐ điều hành Một HĐQT độc lập, chuyên nghiệp và có hiệu quả đóng vai trò thiết yếu trong việc thực thi những biện pháp quản trị công ty hiệu quả
HĐQT là một trong ba cơ quan trong tổ chức của ngân hàng thương mại cổ phần Đây là cơ quan đại diện cho chủ sở hữu thực hiện quyền quản lý ngân hàng Điều này có nghĩa là quyền lực của đông người (ngân hàng có số lượng cổ đông lên tới hàng triệu người) nay tập trung cho một số người Số người này tập hợp thành một cơ quan, gọi là HĐQT Đi theo sự phát triển của ngân hàng thương mại cổ phần, quyền lực của ngân hàng ngày càng tập trung vào cơ quan quản lý của ngân hàng là HĐQT Điều này về khía cạnh lập pháp chính là tư tưởng HĐQT nằm ở vị trí trung tâm của ngân hàng – có vai trò trọng yếu và quyền lực to lớn HĐQT là cơ quan điều hành, liên quan đến sự thắng bại, suy thịnh của ngân hàng Nói một cách khác, HĐQT là cơ quan then chốt của cơ cấu quản lý ngân hàng Xét về vị trí này, người ta phát hiện quyền lực của ngân hàng cội nguồn từ quyền lực HĐQT Rồi sau
đó, một phần quyền lực sẽ được chuyển giao cho TGĐ
Về bản chất, ngân hàng thương mại cổ phần là công ty đối vốn, tài sản của công ty bắt nguồn từ sự đóng góp của các cổ đông Cổ đông đại diện cho phần vốn góp lớn hơn sẽ có vai trò quan trọng hơn trong quá trình quản lý công ty Tuy nhiên, sau khi cổ đông đã thực hiện quyền bầu ra HĐQT, BKS thì quyền lực một phần đã được trao cho cơ quan đã được bầu
Việc xác lập HĐQT nằm ở vị trí trung tâm của quyền lực ngân hàng là một kết quả tất yếu trong sự phát triển của nền kinh tế, cũng như ngân hàng thương mại
cổ phần Tuy nhiên, các nhà làm luật đã thấy yếu tố lợi bất cập hại khi quyền lực của HĐQT ngày càng bành trướng, trong một khả năng có thể, nó tiềm ẩn nguy cơ phá hoại cơ chế phân quyền và chế ước của quyền lực của công ty Trước nguy cơ
Trang 20này, các nhà làm luật đã nổ lực tìm giải pháp hạn chế quyền lực của HĐQT như tăng cường giám sát hoạt động của HĐQT, hay bổ sung thành viên HĐQT độc lập hay quy định thành viên HĐQT hạn chế một số việc nhất định, …
và đi theo sự trưởng thành và phát triển của nó, vấn đề quản trị công ty trở thành sự quan tâm nghiên cứu rộng rãi của các quốc gia trên thế giới
Sự tách biệt quyền sở hữu với quyền quản lý kinh doanh là một đặc trưng mang tính bản chất của ngân hàng thương mại cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác Từ đặc điểm này đã đưa ra một vấn đề mang tính trọng yếu và then chốt đó chính là cơ cấu tổ chức quản lý ngân hàng cổ phần Cơ cấu tổ chức của một ngân hàng thương mại cổ phần là một tổ chức bị ảnh hưởng lớn đến tư tưởng “phân quyền và chế ước” của lý luận chính trị dân chủ phương tây để xây dựng nền dân chủ pháp quyền Ngân hàng thương mại cổ phần của các nước tuy có thể có bộ máy quản lý khác nhau nhưng tư tưởng lập pháp cũng như các điều luật lại có điểm giống nhau là xét ở góc độ pháp lý Điểm nổi bật là ba cơ quan quyền lực và chức năng (ĐHĐCĐ, HĐQT và TGĐ, BKS) phân chia các quyền năng quyết định, quản
lý điều hành và kiểm soát mà ẩn sau nó chính là nguyên tắc mỗi bên có quyền, trách nhiệm rõ ràng, chế ước lẫn nhau Phân quyền và chế ước là vấn đề trọng tâm, then chốt của mỗi ngân hàng nói chung, trong đó mạnh mẽ nhất, nổi bậc nhất là ngân hàng thương mại cổ phần – loại hình công ty đối vốn triệt để
Trang 21Trong ngân hàng thương mại cổ phần, những quyền cụ thể quan trọng nhất bao gồm: (i) quyết định định hướng của công ty; (ii) bổ nhiệm và miễn nhiệm thành viên HĐQT; (iii) quyết định mức lương của HĐQT, (iv) quyết định mua công ty khác; (v) quyết định sáp nhập, chia tách, mua bán, giải thể và thanh lý công ty; (vi) kiểm soát và khống chế thành quả, năng suất quản lý của công ty
Các quyền trên thuộc về ĐHĐCĐ – người chủ sở hữu ngân hàng Về bản chất, ngân hàng thương mại cổ phần là công ty đối vốn, tài sản của công ty bắt nguồn từ
sự đóng góp của các cổ đông Cổ đông đại diện cho phần vốn góp lớn hơn sẽ có vai trò quan trọng hơn trong quá trình quản lý công ty Tuy nhiên, sau khi cổ đông đã thực hiện quyền bầu ra HĐQT, BKS thì quyền lực một phần đã được trao cho cơ quan đã được bầu Hơn nữa, có thể thấy rằng quyền lực của cổ đông ít khi hiện diện (một năm một lần thông qua ĐHĐCĐ) và nhiều khi chỉ ẩn sau mục tiêu của ngân hàng Chính vì vậy, cơ cấu quyền lực trongngân hàng được thiết lập và vận hành trong kết quả dự định và mong muốn của các cổ đông Quyền lực của ngân hàng phải được vận dụng và hướng tới các mục tiêu do ĐHĐCĐ quyết định
Xuyên suốt quá trình phát triển của ngân hàng, các yếu tố như vốn và kỹ thuật
là cần thiết nhưng bản thân nó khó đem lại thành công nếu như cách thức tổ chức
và năng lực của nhóm người quản lý, điều hành yếu kém Dần dần, người ta hướng đến quản trị doanh nghiệp một cách chuyên nghiệp hơn Trong đó, với một cơ cấu
tổ chức phức tạp như ngân hàng thương mại cổ phần, việc có các chuyên gia về quản lý và điều hành công ty là điều tối cần thiết Đó chính là bước phát triển vững chắc của ngân hàng hiện đại Bởi vậy, quyền lực về quản trị của ngân hàng từ bàn tay của các cổ đông chuyển sang các tổ chức quản trị nội bộ của ngân hàng thương mại Theo quy mô của tổ chức ngày càng to lớn, quyền lực của ngân hàng cũng trở nên mạnh hơn Có thể nói, cơ cấu tổ chức, năng lực quản trị của ngân hàng đã trở thành cội nguồn của quyền lực ngân hàng
Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan rằng, với quy mô phát triển của Ngân hàng ngày càng lớn mạnh, điều này có nghĩa là ngân hàng cần có những quyết định nhanh chóng nhưng đầy phức tạp Nếu so sánh với khả năng nắm bắt
Trang 22được thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của công ty với những người quản trị, thì cổ đông không thể nào biết được các thông tin một cách đầy đủ Nói một cách khác, quyền lực từ các cổ đông được chuyển sang cơ quan đại diện danh nghĩa của các cổ đông – HĐQT Có thể nhận thấy một điều: sau khi giao quyền cho HĐQT, xét ở một khía cạnh nào đó, quyền lực của cổ đông đã bị giảm sút Trường hợp ngân hàng bị làm ăn thua lỗ, cổ đông sẽ phải lên tiếng phản đối hoặc tìm cách bán hết cổ phần mà mình đang nắm giữ Đa số các cổ đông – nhất là cổ đông nhỏ đang ở địa vị yếu, khi bầu cử thành viên HĐQT hoặc BKS, họ bỏ phiếu dựa trên danh sách người ứng cử do ban quản lý công ty chuẩn bị sẵn hoặc họ có thể từ bỏ quyền bỏ phiếu Trong trường hợp này ở một chừng mực nhất định, người ta có thể nhận ra rằng quyền lực của cổ đông không xuất phát từ chính họ mà phần lớn bắt nguồn từ HĐQT hoặc GĐ (TGĐ) – sau đây gọi tắt là TGĐ Vì họ, HĐQT hoặc TGĐ – người đó nắm giữ quyền lực to lớn là đưa ra danh sách đề cử các chức danh quan trọng của công ty
Phần lớn pháp luật điều chỉnh quản trị ngân hàng thương mại cổ phần liên quan đến HĐQT, với nhiều quy định cụ thể được xây dựng nhằm củng cố lòng tin của NĐT, của người gửi tiền rằng các thành viên HĐQT sẽ làm những điều đúng đắn HĐQT chịu trách nhiệm quản lý hoặc định hướng cho các hoạt động của ngân hàng Điều minh chứng cho vị trí trung tâm của HĐQT, ngay từ đầu thế kỷ 20, Luật Công ty cổ phần Đức (1937) đã quy định: HĐQT chỉ đạo công ty (Điều 76), đại diện công ty trong hoạt động tố tụng và ngoài tố tụng (Điều 78) Còn ĐHĐCĐ chỉ quyết định những vấn đề đặc thù mà phát luật và điều lệ công ty đã quy định Đối với các vấn đề thuộc về phạm vi nghiệp vụ kinh doanh, ĐHĐCĐ có quyền quyết định khi HĐQT yêu cầu (Điều 119) Điều 80 Luật Công ty Anh có quy định: nghiệp vụ công ty do HĐQT điều hành HĐQT có thể thực hiện tất cả các quyền
mà pháp luật công ty và điều lệ công ty không quy định là thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ, chỉ cần HĐQT tuân thủ các quy định của luật công ty và các quy chế do ĐHĐCĐ ban hành
Trang 23Việc xác lập HĐQT nằm ở vị trí trung tâm của quyền lực ngân hàng là một kết quả tất yếu trong sự phát triển của nền kinh tế, cũng nhưngân hàng thương mại
cổ phần Tuy nhiên, các nhà làm luật đã thấy yếu tố lợi bất cập hại khi quyền lực của HĐQT ngày càng bành trướng, trong một khả năng có thể, nó tiềm ẩn nguy cơ phá hoại cơ chế phân quyền và chế ước của quyền lực của công ty Trước nguy cơ này, các nhà làm luật đã nổ lực tìm giải pháp hạn chế quyền lực của HĐQT như tăng cường giám sát hoạt động của HĐQT, hay bổ sung thành viên HĐQT độc lập hay quy định thành viên HĐQT hạn chế một số việc nhất định, …
1.2.2 Đặc điểm của HĐQT
Các ngân hàng thương mại cổ phần có một cơ cấu quản trị trong đó gần như hầu hết các quyết định cơ bản được đặt vào tay của HĐQT HĐQT có các đặc điểm
cơ bản sau:
Thứ nhất, HĐQT do các cổ đông bầu ra Việc này có tác dụng giúp bảo đảm
rằng HĐQT sẵn sàng đáp ứng trước lợi ích của các chủ sở hữu công ty, những người chịu mọi chi phí và lợi ích các quyết định của công ty và quyền lợi của họ không được bảo vệ chặt chẽ bằng hợp đồng như các thành phần liên quan khác của công ty Yêu cầu về HĐQT được bầu của ngân hàng thương mại cổ phần làm cho hình thức ngân hàng thương mại cổ phần khác với hình thức pháp lý khác
Thứ hai, trên cương vị chính thức, HĐQT tách biệt với TGĐ Sự tách biệt này
thay đổi tuỳ theo việc HĐQT có một cấp hay hai cấp (sẽ được trình bày cụ thể tại phần sau) Trong các hội đồng có hai cấp, TGĐ công ty chiếm cấp thứ hai (cấp dưới) của hội đồng, độc lập với các HĐQT Ngược lại, trong các hội đồng có một cấp, các GĐ điều hành được tuyển dụng cũng có thể là thành viên của HĐQT, hay thậm chí thống trị hội đồng Sự phân bổ quyền lực HĐQT và TGĐ, về pháp lý giữa
họ chính thức chia toàn bộ những quyết định của ngân hàng mà không đòi hỏi sự chấp thuận của cổ đông ra thành những quyết định đòi hỏi sự phê chuẩn của HĐQT
và những quyết định thuộc thẩm quyền của TGĐ
Trang 24Sự phân biệt chính thức giữa HĐQT và TGĐ làm thuận tiện cho sự tách biệt giữa một mặt là sự phát động và thực hiện những quyết định kinh doanh, thuộc thẩm quyền TGĐ và mặt khác là việc giám sát và phê chuẩn các quyết định của TGĐ Sự tách biệt này một mặt đóng vai trò kiểm tra chất lượng ra quyết định của TGĐ, mặt khác, nó cũng thực hiện chức năng then chốt là cho phép các đối tác thứ
ba dựa vào một định chế rõ ràng để ràng buộc chính thức đối với ngân hàng trong các giao dịch giữa ngân hàng với người ngoài
Thứ ba, HĐQT được phân biệt chính thức với các cổ đông của ngân hàng Sự
tách biệt này giúp tiết kiệm chi phí của việc ra quyết định để quản lý các hoạt động của ngân hàng Ngoài ra, khi HĐQT được thành lập một cách tách biệt thì nó còn
có thể giúp kiểm tra về những hành vi cơ hội chủ nghĩa của các cổ đông nắm quyền kiểm soát – hoặc là đối với các cổ đông khác, hoặc là đối với các đối tác khác liên quan đến công ty như người gửi tiền hay người lao động Cũng như thế, HĐQT có thể mang đến cho cổ đông nhỏ hay các thành phần khác như người lao động vả người gửi tiền một cơ hội tiếp cận thông tin đáng tin cậy hay tham gia trực tiếp vào việc ra quyết định của ngân hàng Đồng thời, thông qua việc giao phó cho các cá nhân được bổ nhiệm một vai trò cụ thể là người ra quyết định đại diện cho ngân hàng Điều này giúp đẩy mạnh khả năng HĐQT sẽ hành động chủ yếu vì lợi ích của tất cả các thành phần có liên quan trong ngân hàng thông qua các nguyên tắc và áp lực xã hội
Thứ tư, HĐQT là cơ quan làm việc theo chế độ tập thể Mặc dù, các thành
viên HĐQT có nhiệm vụ riêng và phải chịu trách nhiệm cá nhân về những công việc đó nhưng vai trò của HĐQT lại thuộc về thẩm quyền của tập thể Có nghĩa là các thành viên HĐQT không được trực tiếp chỉ đạo cán bộ quản lý làm bất kỳ điều
gì với tư cách là cá nhân Không một thành viên HĐQT nào có thể thay mặt công ty
để cung cấp một sự đảm bảo hoặc cam kết điều gì Vì thế, sẽ không có thẩm quyền riêng của từng cá nhân trừ khi cá nhân này được HĐQT uỷ quyền thực hiện một số nhiệm vụ nhất định thuộc quyền hạn của HĐQT và cũng trừ trường hợp một số quyền riêng của Chủ tịch HĐQT
Trang 25Thứ năm, HĐQT thường có nhiều thành viên và là một cơ cấu đa dạng Cơ
cấu này – trái với cơ cấu tập trung quyền lực trong một người được uỷ thác, như trong nhiều công ty tín thác tư nhân – tạo thuận lợi cho việc giám sát lẫn nhau và kiểm tra việc ra quyết định theo phong cách riêng Mức độ đáp ứng hữu ích của cơ cấu hội đồng lại phụ thuộc vào cơ cấu sở hữu của ngân hàng Ví dụ, khi sự sở hữu ngân hàng chỉ tập trung vào tay một hay một vài cổ đông, hội đồng sẽ có vai trò quan trọng để bảo vệ quyền lợi của những cổ đông không nắm quyền kiểm soát thoát khỏi sự áp đặt hoặc gây phương hại từ cổ đông nắm quyền kiểm soát; hơn là
để bảo vệ các cổ đông thoát khỏi sự lạm quyền của TGĐ
Đa dạng là một nhân tố quan trọng trong việc xây dựng một HĐQT Tất cả các thành viên phải là các cá nhân đủ điều kiện nhưng sự đa dạng của các kinh nghiệm, giới tính, chủng tộc và tuổi Tuy nhiên, sự đa dạng không được hiểu theo nghĩa là thành viên đại diện cho quyền lợi riêng Thay vào đó, các thành viên nên đại diện cho quyền lợi của tất cả các cổ đông
1.2.3 Cơ cấu của HĐQT
1.2.3.1 Số lượng của thành viên HĐQT
Số lượng thành viên HĐQTcủa ngân hàng thương mại cổ phần phải nằm trong giới hạn được quy định trong LCTCTD Theo đó, HĐQT của ngân hàng thương mại cổ phần phải có tối thiểu 5 thành viên và tối đa là 11 thành viên3
Theo quy định của Thông tư 121/2012/TT-BTC quy định về quản trị công ty
áp dụng cho các công ty đại chúng, HĐQT phải có tối thiểu 3 thành viên và tối đa
11 thành viên4 Đồng thời phải có tối thiểu 1/3 số thành viên là thành viên HĐQT độc lập đối với Công ty niêm yết.5
Về cơ bản pháp luật các quốc gia nói chungquy định số lượng thành viên HĐQT nhắm tới một quy mô sao cho ngân hàng có thể tổ chức các cuộc thảo luận
có hiệu quả và có tính chất xây dựng Đồng thời, HĐQT phải luôn đưa ra quyết
Trang 26định kịp thời, hợp lý cũng như tổ chức một cách hiệu quả công việc của các Uỷ ban trực thuộc HĐQT, nếu những Uỷ ban này được thành lập
Số lượng thành viên HĐQT cần được quyết định dựa trên yêu cầu của pháp luật, cũng như nhu cầu cụ thể của ngân hàng và cổ đông Việc có quá ít hay quá nhiều thành viên HĐQT đều có thể làm giảm hiệu quả của quá trình ra quyết định Một HĐQT có quy mô quá nhỏ có thể khiến ngân hàng không được hưởng lợi ích
từ các kỹ năng đa dạng và kinh nghiệm phù hợp do các thành viên đem lại Trong khi đó, một HĐQT có quy mô quá lớn sẽ gây khó khăn cho việc quản lý và khiến cho việc tìm kiếm sự đồng thuận trở thành một công việc khó khăn và mất nhiều thời gian Thách thức trong việc lựa chọn một HĐQT có quy mô phù hợp nằm ở chỗ phải tạo được sự cân bằng phù hợp
1.2.3.2 Điều kiện trở thành thành viên HĐQT
Theo LDN, LCTCTD, một thành viên HĐQT phải đáp ứng những yêu cầu sau đây:6
Có đủ năng lực hành vi dân sự, không thuộc đối tượng bị cấm quản lý doanh nghiệp theo quy định của LDN Những cá nhân không được tham gia quản lý doanh nghiệp bao gồm:
Cán bộ, công chức (theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức)
Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam
Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước (trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác)
Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự
6
Điều 110, LDN
Trang 27 Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh.7
Là cá nhân sở hữu hoặc người được ủy quyền đại diện sở hữu ít nhất 5% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp là thành viên độc lập của HĐQT hoặc có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật hoặc có ít nhất 03 năm là người quản lý của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp hoạt động trong ngành bảo hiểm, chứng khoán, kế toán, kiểm toán hoặc có ít nhất 05 năm làm việc trực tiếp tại các bộ phận nghiệp vụ trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, kiểm toán hoặc kế toán
Theo quy định về quản trị công ty tại Thông tư 121/2012/TT-BTC:Thành viên HĐQT của một công ty không được đồng thời là thành viên HĐQT của trên năm (05) công ty khác, trừ trường hợp là thành viên HĐQT của các công ty trong cùng tập đoàn hoặc các công ty hoạt động theo nhóm công ty, bao gồm công ty mẹ - công ty con, tập đoàn kinh tế hoặc là người đại diện của công ty quản lý quỹ, công
ty đầu tư chứng khoán.8
LDNvà LCTCTDcó quy định một cá nhân đại diện cho một pháp nhân có thể được bầu chọn vào HĐQT với ý nghĩa đại diện phần vốn góp của doanh nghiệp tại ngân hàng Tuy nhiên trong trường hợp này, cá nhân được bầu chọn vào HĐQT chỉ
có thể công tác với tư cách là một thành viên HĐQT do Cổ đông bầu ra và miễn nhiệm chứ không phải với tư cách là đại diện của pháp nhân đó, tức là cá nhân ấy phải hành động vì lợi ích của công ty mà cá nhân ấy đang làm thành viên HĐQT chứ không phải vì lợi ích của công ty mà cá nhân ấy làm đại diện
Khi bắt đầu nhiệm kỳ, tất cả các thành viên HĐQT đều phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện theo yêu cầu của pháp luật, quy chế quản trị công ty và các quy định nội bộ của công ty Nếu có những thay đổi liên quan đến lĩnh vực này trong nhiệm kỳ của mình, các thành viên HĐQT phải thông báo cho Chủ tịch HĐQT
Trang 28Mọi điều kiện đối với thành viên HĐQT đều được áp dụng cho những thành viên HĐQT mới được bầu chọn bổ sung
Theo đề nghị của HĐQT, ĐHĐCĐ sẽ thông qua một nghị quyết về những điều kiện cần thiết cho việc bầu chọn thành viên HĐQT, có xem xét đến bản chất hoạt động và mục tiêu của ngân hàng Các điều kiện này có thể là những điều kiện chung, áp dụng cho mọi thành viên HĐQT, và cũng có thể là điều kiện cụ thể, áp dụng cho một thành viên nào đó trong HĐQT
Theo các thông lệ tốt về quản trị, để tránh xung đột lợi ích, không nên bầu chọn những cá nhân sau đây vào HĐQT:
Thành viên HĐQT của một ngân hàng là đối thủ cạnh tranh
Thành viên BGĐ của một ngân hàng là đối thủ cạnh tranh
Nhân viên của một ngân hàng là đối thủ cạnh tranh
Không nên đề cử vào HĐQT những cá nhân là người thân của nhà cung cấp, các đơn vị phụ thuộc, hay nhân viên của một đơn vị kiểm toán độc lập
Đối với ngân hàng nói riêng và doanh nghiệp nói chung, các chiến lược, sản phẩm, dịch vụ và tất cả quy trình, quy định nội bộ đều mang những lợi thế cạnh tranh và tính bảo mật nhất định Chính vì vậy, để tránh xung đột lợi ích liên quan đến các bí mật kinh doanh giữa các đối thủ cạnh tranh trực tiếp, thông lệ quốc tế đều khuyến nghị không nên bầu những cá nhân nêu trên vào HĐQT
1.2.3.3 Phẩm chất, năng lực của thành viên HĐQT
Với vai trò là trung tâm trong cơ cấu quản trị của ngân hàng thương mại cổ phần, các thành viên HĐQT cần phải có những kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết để đóng góp cho công tác của HĐQT Theo IFC, thành viên HĐQT phải có những phẩm chất và năng lực cần thiết như sau:
Hình 3: Những phẩm chất cá nhân và năng lực cần có ở các thành viên
HĐQT
Trang 29• Kinh nghiệm trong ngành
• Khả năng đánh giá công việc kinh doanh
• Kiến thức chuyên môn đặc biệt,
ví dụ: Tài chính và kế toán; Quản trị rủi ro và Kiểm soát nội bộ; Quản trị chiến lược
Nguồn: IFC, tháng 3 năm 2004
Đa số các công ty của Việt Nam cho rằng kinh nghiệm công tác trong công ty
và trong ngành, cũng như sự trưởng thành của cá nhân là các tiêu chí quan trọng khi lựa chọn thành viên HĐQT Điều này đã được cụ thể hoá tại Điều 50 LCTCTD
2010 Ngược lại, các tiêu chí khác như sự độc lập, kiến thức chuyên môn và năng lực lãnh đạo được xem là thứ yếu Như vậy có thể suy ra rằng những lợi ích mà sự độc lập của các thành viên HĐQT mang lại vẫn chưa được nhìn nhận đầy đủ tại các công ty của Việt Nam
Do đó, Điều lệ của ngân hàng cần nêu rõ những tiêu chí về phẩm chất và năng lực của thành viên HĐQT Các thành viên HĐQT cần có những phẩm chất và năng lực sau đây:
Có khả năng cân bằng lợi ích của tất cả các bên có quyền lợi liên quan và đưa ra những quyết định hợp lý
Có kinh nghiệm chuyên môn và trình độ học vấn cần thiết để hoạt động một cách có hiệu quả
Có kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, am hiểu về thị trường, sản phẩm và đối thủ cạnh tranh
Có khả năng biến kiến thức và kinh nghiệm thành các giải pháp thực tiễn Tuy nhiên, có thể ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc xác định liệu một thành viên tiềm năng nào đó của HĐQT có những phẩm chất và năng lực như vậy hay không Hơn nữa, việc mô tả ngắn gọn những yêu cầu về phẩm chất và năng lực
Trang 30trong Điều lệ có thể không đủ rõ ràng và vì thế không có mấy giá trị Thay vào đó, các ngân hàng có thể cần phải đưa những tiêu chí trên vào các quy chế quản trị nội
bộ - một quy chế bắt buộc phải có theo quy định tại Thông tư 121/2012/TT-BTC Trong thực tế, các công ty của Hoa Kỳ sử dụng tài liệu hướng dẫn quản trị công ty cho mục đích này
Các cổ đông cần được biết về những phẩm chất và năng lực của thành viên HĐQT và danh sách các ứng viên cho HĐQT cần chỉ rõ, vào thời điểm bầu chọn, liệu một ứng viên nào đó đang hoặc sẽ là:
TGĐ
Thành viên BGĐ điều hành
Cán bộ hoặc nhân viên của công ty
Có khả năng đáp ứng những yêu cầu về phẩm chất và năng lực đối với một thành viên HĐQT độc lập
Theo đó, lý lịch của các ứng viên vào HĐQT cần phải được kiểm tra để xem
có những sai phạm lớn trong công tác quản lý trước kia và có tiền án tiền sự hay không, đồng thời để tìm hiểu xem liệu các ứng viên đó có đáp ứng những yêu cầu
đề ra trong LCTCTD, Quy chế quản trị công ty và Điều lệ của công ty hay không Điều này có thể đảm bảo trong suốt nhiệm kỳ của mình, HĐQT phải luôn bao gồm những thành viên có đầy đủ kiến thức, năng lực, trình độ chuyên môn cần thiết để lãnh đạo ngân hàng một cách thành công
1.2.3.4 Các dạng thành viên HĐQT
Thông lệ quốc tế phân biệt các dạng thành viên HĐQT tuỳ theo mức độ liên quan của thành viên HĐQT đối với công việc của ngân hàng, và xếp các thành viên HĐQT vào ba nhóm: điều hành, không điều hành và độc lập Tại Việt Nam, LDN không đề cập đến vấn đề này, trong khi Thông tư 121/2012/TT-BTC quy định về quản trị công ty đại chúng xếp thành viên HĐQT vào ba nhóm: (i) các thành viên điều hành, (ii) các thành viên không điều hành và (iii) các thành viên độc lập Như vậy, có thể thấy Thông tư 121/2012/TT-BTC đã có những quy định rất tiến bộ phù
Trang 31hợp với thông lệ quốc tế Thành viên HĐQT độc lập của ngân hàng thương mại cổ phần được quy định các tiêu chí khá chặt chẽ tại Điều 22 của Nghị định 59/2009/NĐ-CP, theo đó, thành viên độc lập trong HĐQT” là những người đáp ứng các tiêu chí sau đây:
Không phải là người đang làm việc cho ngân hàng hoặc công ty trực thuộc của ngân hàng hoặc đã làm việc cho ngân hàng hoặc công ty trực thuộc của ngân hàng bất kỳ thời gian nào trong 03 năm liền kề trước đó
Không phải là người đang hưởng lương và thù lao, phụ cấp khác của ngân hàng ngoài những khoản đã được hưởng theo tiêu chuẩn thành viên HĐQT
Vợ, chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của người đó không thuộc một trong các trường hợp sau: sở hữu từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên đối với ngân hàng thương mại cổ phần; là người quản lý, thành viên Ban kiểm soát của ngân hàng hoặc công ty trực thuộc của ngân hàng vào thời điểm hiện tại hoặc bất kỳ thời gian nào trong 03 năm liền kề trước đó
Không phải là người quản lý, thành viên Ban kiểm soát của ngân hàng tại bất kỳ thời điểm nào trong 05 năm liền kề trước đó; không trực tiếp hoặc đại diện sở hữu từ 1% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của ngân hàng thương mại cổ phần
Không cùng người có liên quan theo quy định tại Khoản 11 Điều 5 Nghị định này sở hữu từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của ngân hàng thương mại cổ phần
Nhiều ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam được kiểm soát bởi một hoặc một nhóm cổ đông lớn, những người biết rõ về các hoạt động của ngân hàng
và có thể kiểm soát việc quản lý ngân hàng một cách chặt chẽ Các chủ sở hữu còn lại thường là phân tán và nhiều cổ đông trong số này, thường là các cổ đông nhỏ lẻ, thiếu nguồn lực và thông tin để giám sát các hoạt động quản lý và để bảo vệ mình trước sự lạm dụng có thể xảy ra từ phía cổ đông lớn Do đó, trong ngân hàng
Trang 32thương mại cổ phần, thành viên độc lập trong HĐQT đóng một vai trò đặc biệt quan trọng
Mặc dù thuật ngữ “thành viên HĐQT điều hành” không được định nghĩa một cách cụ thể trong LDN, theoquy định về quản trị công ty đại chúng, thuật ngữ này thường được hiểu là bao gồm những thành viên HĐQT đồng thời nắm giữ một vị trí điều hành trong công ty, đó là các vị trí:
GĐ hoặc TGĐ, Phó TGĐ
Kế toán trưởng
Cán bộ quản lý khác được HĐQT bổ nhiệm
Nói một cách khác, thành viên trong BGĐ đồng thời đóng vai trò là thành viên trong HĐQT được gọi là thành viên HĐQT điều hành
Theo Quy định tại Nghị định 59 về tổ chức, hoạt động của ngân hàng thương mạitối thiểu ½ tổng số thành viên HĐQT phải là thành viên HĐQT không điều hành và độc lập9
Theo quy định của một số quốc gia trên thế giới, thành viên HĐQT không điều hành của một công ty thường được hiểu là những thành viên HĐQT không nắm giữ một vị trí điều hành trong công ty, tức là không phải thành viên trong BGĐ Thành viên HĐQT không điều hành cần có những phẩm chất sau đây để hoạt động một cách có hiệu quả:
Liêm chính và có tiêu chuẩn đạo đức cao
Phán quyết chuẩn xác
Khả năng và ý chí đương đầu với thách thức và tìm tòi cái mới
Khả năng giao tiếp tốt
Phần lớn các bộ quy tắc quốc gia và quốc tế về quản trị công ty khuyến nghị HĐQT nên được hợp thành từ đa số thành viên không điều hành Bởi vì những thành viên này là những người có thểcung cấp cái nhìn khách quan từ bên ngoài và phán quyết không thiên vị Đồng thời, họ có thể bổ sung các kinh nghiệm và kiến
9
Khoản 2, Điều 16, Nghị định 59/2009/NĐ-CP
Trang 33thức từ bên ngoài cho các thành viên HĐQT còn lại cũng như cung cấp các mối quan hệ hữu ích cho sự phát triển của ngân hàng
Tại phần lớn các quốc gia trong EU, thành viên HĐQT không điều hành thường thực hiện công việc giám sát chức năng tài chính và ra quyết định chiến lược của công ty Ngoài các lĩnh vực trên, có ba mảng công việc cần đến sự giám sát khách quan của thành viên HĐQT không điều hành10 như là:
Bổ nhiệm thành viên HĐQT
Thù lao cho các cán bộ quản lý cấp cao và thành viên HĐQT
Kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập
Tại Anh Quốc, báo cáo Higgs phân chia vai trò của một thành viên HĐQT không điều hành gồm bốn vấn đề11
như sau:
Chiến lƣợc: các thành viên HĐQT không điều hành cần phải đóng góp
vào việc xây dựng chiến lược của ngân hàng
Kết quả hoạt động: các thành viên HĐQT không điều hành cần phải xem
xét kỹ lưỡng kết quả hoạt động của BGĐ trong việc đạt được những mục đích và mục tiêu đã đề ra và giám sát việc báo cáo kết quả hoạt động
Rủi ro: các thành viên HĐQT không điều hành cần kiểm tra để đảm bảo
rằng các thông tin tài chính được công bố là chính xác, và việc kiểm soát tài chính cùng hệ thống quản trị rủi ro trong ngân hàng là vững mạnh và không thể xâm phạm
Nhân sự: các thành viên HĐQT không điều hành chịu trách nhiệm xác
định mức thù lao phù hợp dành cho các thành viên HĐQT điều hành, có vai trò chính trong việc bổ nhiệm, và đôi khi là miễm nhiệm, các cán bộ quản lý cấp cao, cũng như trong việc quy hoạch cán bộ quản lý
Đối với thành viên HĐQT độc lập, so với các công ty cổ phần thông thường,
ở ngân hàng thương mại cổ phần tiêu chí độc lập được xác định khá rõ ràng và khá phù hợp với các thông lệ quốc tế Các thông lệ tốt trong Quản trị công ty cho rằng
Trang 34thành viên HĐQT độc lập nên là người không nhận được những khoản thù lao tài chính lớn hoặc các lợi ích khác từ công ty trong ba năm gần nhất, chẳng hạn:
Không phải là nhân viên của công ty hoặc là một cổ đông nắm giữ trên 10% số cổ phần của công ty
Không nhận thanh toán hay thanh toán những khoản tài chính lớn từ công
ty, hoặc là cổ đông lớn của một công ty đã thanh toán hoặc nhận thanh toán những khoản tài chính lớn từ công ty (ngưỡng giá trị thanh toán cần được quy định bởi ĐHĐCĐ và được chỉ rõ trong Điều lệ của công ty)
Không phải là một kiểm toán viên độc lập của công ty
Các thành viên HĐQT độc lập có thể có đóng góp lớn vào những quyết định quan trọng của ngân hàng, đặc biệt là trong việc đánh giá thành tích điều hành ngân hàng, đặt ra các mức thù lao đối với thành viên Ban điều hành và thành viên HĐQT, rà soát báo cáo tài chính, và giải quyết mâu thuẫn trong ngân hàng Các thành viên HĐQT độc lập đem lại cho cổ đông niềm tin rằng những quyết định mà HĐQT đưa ra là vô tư và không thiên vị Các thông lệ quôc tế cũng khuyến khích các ngân hàng nên công bố thông tin về các thành viên HĐQT độc lập trong báo cáo thường niên của mình12
IFC định nghĩa “thành viên HĐQT độc lập” là thành viên HĐQT đáp ứng được tất cả các yêu cầu sau:
Không phải là nhân viên của công ty hay nhân viên của các bên liên quan của công ty trong 5 năm gần nhất;
Không phải là, và không liên quan tới doanh nghiệp đóng vai trò tư vấn cho công ty hoặc các bên có liên quan của công ty;
Không liên quan tới một khách hàng hoặc một nhà cung cấp quan trọng của công ty hoặc các bên liên quan của công ty;
Không có hợp đồng dịch vụ cá nhân với công ty, các bên liên quan của công ty hoặc các chức năng quản lý cấp cao của công ty;
12
Martin Hilb (2008), Quản trị hội đồng doanh nghiệp kiểu mới, Nhà xuất bản Trẻ
Trang 35 Không liên quan tới một tổ chức phi lợi nhuận nhận những khoản tiền đóng góp lớn từ công ty hoặc các bên liên quan của công ty;
Không phải là cán bộ điều hành của một công ty nơi có một GĐ nào đó của công ty có chân trong HĐQT của công ty đó;
Không phải là thành viên trong gia đình trực hệ của một cá nhân đang là, hoặc trong 5 năm gần nhất đã là, một cán bộ điều hành của công ty hoặc các bên liên quan của công ty;
Hiện tại, và trong 5 năm gần nhất, không có liên quan tới và không phải là nhân viên của một công ty kiểm toán hiện nay hay trước kia của công ty hoặc của các bên liên quan của công ty;
Không phải là cá nhân kiểm soát của công ty (hoặc là thành viên của một nhóm các cá nhân và/hoặc các pháp nhân kiểm soát công ty) hoặc là anh chị em, cha mẹ, ông bà, con cái, cô, dì, chú, bác, anh chị em họ, cháu của
cá nhân đó hoặc là vợ, chồng, vợ goá, chồng goá, người thừa kế, người có quan hệ hôn nhân hoặc người thừa kế của những người kể trên (hoặc một
uỷ thác hay dàn xếp mà những cá nhân đã kể trên là người thụ hưởng duy nhất) hoặc là nhà điều hành, nhà quản lý hoặc đại diện cá nhân của bất kỳ
cá nhân nào được nói đến trong mục này hiện đã chết hoặc mất năng lực hành vi;
(Trong định nghĩa này, một cá nhân được xem là “có liên quan” với một bên nào đó nếu cá nhân ấy: (i) có quyền sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp đối với bên đó; hoặc (ii) là nhân viên của bên đó; “các bên liên quan” đối với công ty là một cá nhân hoặc một pháp nhân nào đó kiểm soát công ty,
bị kiểm soát bởi công ty, hoặc nằm dưới sự kiểm soát chung với công ty)
Rõ ràng so với các quy định của IFC về thành viên HĐQT độc lập thì các tiêu chí của pháp luật Việt Nam còn khá sơ sài, chính vì thế vai trò của thành viên HĐQT độc lập trong hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay còn khá yếu và chưa phát huy được vai trò của mình
Trang 36Các bộ quy tắc quốc gia và quốc tế về quản trị công ty có những định nghĩa tương tự về thành viên HĐQT độc lập Chẳng hạn, tại Anh Quốc, một thành viên HĐQT không điều hành được xem là độc lập khi HĐQT xác định rằng thành viên HĐQT đó độc lập về tính chất và độc lập trong phán quyết, và không có các mối quan hệ hay các tình huống có thể ảnh hưởng tới, hoặc có vẻ như ảnh hưởng tới, phán quyết của thành viên HĐQT đó Những mối quan hệ hoặc những tình huống như vậy bao gồm những mối quan hệ hoặc những tình huống trong đó một thành viên HĐQT:
Là một nhân viên cũ của công ty hoặc tập đoàn, và công việc của cá nhân
đó (hoặc các mối quan hệ vật chất của cá nhân đó với công ty) kết thúc chưa đầy 5 năm trước đó
Có, hoặc tự có trong vòng ba năm qua, quan hệ kinh doanh quan trọng với công ty, hoặc trực tiếp, hoặc có tư cách là đối tác, cổ đông, thành viên HĐQT, hay cán bộ cao cấp của một tổ chức từng có mối quan hệ như vậy với công ty
Đã từng hoặc đang được nhận thù lao từ công ty ngoài khoản thù lao dành cho thành viên HĐQT, tham gia vào quyền chọn cổ phần của công ty hoặc một hoạt động/chương trình nào đó liên quan đến kế hoạch trả lương, hoặc là thành viên trong chương trình hưu bổng của công ty
Có mối quan hệ gia đình gần gũi với một cố vấn, một thành viên HĐQT hoặc một cán bộ cấp cao trong công ty
Là thành viên HĐQT của công ty khác, hoặc có mối quan hệ mật thiết với các thành viên HĐQT khác thông qua hoạt động ở một công ty, tổ chức khác
Đại diện cho một cổ đông lớn
Đã là thành viên HĐQT quá mười năm
1.2.3.5 Chức năng giám sát của HĐQT
Trang 37Trong các ngân hàng thương mại cổ phần, ra đời xuất phát từ nhu cầu huy động những nguồn vốn lớn từ số đông các NĐT, các cổ đông không điều hành trực tiếp mà giao quyền cho thành viên điều hành ngân hàng BGĐ có quyền thực hiện các hoạt động hàng ngày đối với tài sản và nguồn lực của ngân hàng Lúc này, nảy sinh sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền điều hành ngân hàng Người điều hành không phải là người sở hữu ngân hàng có thể thiếu động cơ để thực hiện việc kiểm soát và phối hợp một cách hiệu quả các hoạt động của ngân hàng Bởi vì BGĐngân hàng không phải là người chịu rủi ro cuối cùng trong trường hợp ngân hàng thua lỗ và cũng không phải là người hưởng lợi cuối cùng trong trường hợp ngân hàng có lãi Vì vậy, xuất hiện nguy cơ là BGĐngân hàng có thể làm việc vì quyền lợi riêng của họ hơn là vì quyền lợi của cổ đông Do đó, các cổ đông phải kiểm soát công tác sử dụng vốn, tài sản của BGĐ – đây chính là chức năng giám sát Các cổ đông có thể trực tiếp thực hiện chức năng giám sát hoặc thông qua một
cơ quan đại diện đó chính là HĐQT Các thành viên HĐQT do các cổ đông bầu ra nhằm bảo vệ quyền lợi của họ Một trong những chức năng chính của HĐQT là giám sát các cán bộ quản lý, điều hành trực tiếp công việc hàng ngày của ngân hàng
Đây là một chức năng quan trọng của HĐQT, giám sát ở đây không có nghĩa
là hậu kiểm mà giám sát được hiểu là các vấn đề hoạt động của ngân hàng, HĐQT phải biết rõ, nắm bắt từ đó điều chỉnh kịp thời chức năng định hướng của HĐQT13 HĐQT giám sát hoạt động của TGĐ – người được HĐQT bổ nhiệm để điều hành hoạt động hàng ngày của ngân hàng Hiệu quả chức năng giám sát của HĐQT đặt
ra các vấn đề sau: (i) HĐQT có lấy được thông tin về tài chính của ngân hàng; (ii) Các báo cáo tài chính có chứa đựng những nội dung quan trọng (giá trị, dòng tiền, lợi nhuận, ngân quỹ…); (iii) HĐQT có lấy được các thông tin về tình hình phi tài chính (thị phần, sự hài lòng của nhân viên, khách hàng, hoạt động của ngân hàng đối thủ…); (iv) HĐQT đã truyền đạt những yêu cầu và mong đợi của mình tới
13
Ngân hàng phát triển Châu Á, Hướng dẫn những thông lệ tốt nhất trong giám sát điều hành doanh nghiệp cho Việt Nam
Trang 38BGĐ, liên quan đến việc cung cấp thông tin; (v) HĐQT có thể kiểm chứng lại các thông tin đã được cung cấp…
Hai chức năng định hướng và giám sát của HĐQT có mối quan hệ lẫn nhau;
để chức năng định hướng được thực hiện tốt cần có chức năng giám sát Qua giám sát, biết rõ thực trạng hoạt động của ngân hàng để điều chỉnh việc định hướng Định hướng và giám sát phải luôn đi đôi với nhau thì HĐQT mới phát huy được đúng và đủ vai trò của mình trong sự phát triển của ngân hàng
1.2.3.6 Mô hình tổ chức HĐQTtrong công ty của các nước trên thế giới và
Việt Nam Trên thế giới về cơ cấu phân chia quyền lực của công ty cổ phần nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng, mỗi quốc gia có sự khác biệt nhất định Xuất phát từ tính khác biệt này, mô hình HĐQT của ngân hàng thương mại cổ phần tại mỗi quốc gia đó là khác nhau Trên thế giới có hai mô hình điển hình của HĐQT: mô hình quản trị đơn cấp và mô hình nhị cấp:
Hệ thống quản trị đơn cấp với đặc trưng là một HĐQT đơn cấp bao gồm các
thành viên điều hành và không điều hành Trong cơ cấu này, bộ phận giám sát thường được gọi là HĐQT Cơ cấu quản trị này có thể tạo điều kiện thuận lợi
để xây dựng những cơ cấu lãnh đạo vững mạnh và nâng cao hiệu quả của quá trình ra quyết định Tuy nhiên, các thành viên HĐQT điều hành và không điều hành đóng một vai trò thiết yếu trong việc giám sát các thành viên BGĐ điều hành và giảm thiểu các chi phí tác nhân Hệ thống này thường phổ biến tại những công ty có trụ sở tại những quốc gia theo truyền thống Luật án lệ (Common Law), chẳng hạn như Mỹ và Anh quốc
Hệ thống nhị cấp với đặc trưng là sự tồn tại của các bộ phận kiểm soát và
quản lý tách biệt Bộ phận thứ nhất được gọi là BKS, và bộ phận thứ hai gọi là BGĐ điều hành Với hệ thống này, công việc quản lý hàng ngày của công ty được giao cho BGĐ điều hành, và BGĐ điều hành chịu sự kiểm soát của BKS (BKS lại do ĐHĐCĐ bầu ra) Hai thể chế này có thẩm quyền riêng biệt và cơ cấu thành phần không được phép lẫn lộn, tức là các thành viên BGĐ không
Trang 39thể là thành viên của BKS và ngược lại Ưu điểm của hệ thống nhị cấp là một
cơ chế giám sát rõ ràng, nhưng mô hình này thường bị chỉ trích vì sự thiếu hiệu quả trong quá trình ra quyết định Hệ thống này được áp dụng phổ biến ở Đức
Ngoài hệ thống đơn cấp và nhị cấp, nhiều quốc gia còn công nhận một cơ cấu quản trị thứ ba, hệ thống hỗn hợp, vốn là sự hoà trộn của hai mô hình đã đề cập ở trên Theo mô hình này, mọi công ty cổ phần đều phải thành lập một BKS và một HĐQT, đồng thời thành lập một BGĐ điều hành
Cho dù là áp dụng hệ thống nào đi chăng nữa thì luôn có sự bù trừ giữa tính hiệu quả và mức độ kiểm soát Khi vấn đề tác nhân và xung đột lợi ích được ưu tiên giải quyết, các cổ đông có thể lựa chọn hệ thống nhị cấp, nhưng một hệ thống quản trị với sự giám sát chặt chẽ sẽ trói tay các cán bộ quản lý và khiến cho hoạt động kinh doanh cũng như việc ra quyết định trở nên thiếu hiệu quả Mặt khác khi các cổ đông và các cán bộ quản lý tin cậy lẫn nhau và công ty cần phải nâng cao hiệu quả
để khai thác các cơ hội kinh doanh tốt hơn, công ty có thể lựa chọn một hệ thống quản trị đơn cấp vốn thiêng về mặt quản lý hơn.Trong khi tất cả các hệ thống đều
có những điểm chung, vẫn còn tồn tại những sự khác biệt quan trọng và những sự khác biệt đó sẽ ảnh hưởng tới thẩm quyền, cơ cấu, hoạt động, trách nhiệm và bổn phận của các thành viên HĐQT
Theo LDN 2005 cấu trúc quản trị nội bộ của Công ty cổ phần ở Việt Nam, xét một cách toàn diện, không phải là cấu trúc hai tầng như mô hình của luật Đức Nó
có vẻ là cấu trúc mang tính pha trộn giữa hai mô hình nói trên Mô hình này được xây dựng trên cơ sở một tư tưởng lập pháp đó là: phân lập và chế ước quyền lực Điều này được thể hiện ở chỗ ĐHĐCĐ là cơ quan lập pháp và có quyền lực cao nhất trong công ty ĐHĐCĐ lập ra HĐQT và BKS HĐQT là cơ quan hành chính,
có quyền và nhiệm vụ chấp hành các quyết định của công ty và thực hiện giám sát mọi hoạt động quản lý kinh doanh HĐQT có nhiệm vụ quản lý công ty, bổ nhiệm
cơ quan điều hành, đồng thời giám sát hoạt động của cơ quan điều hành BKS là cơ quan kiểm soát, có quyền và nhiệm vụ kiểm soát các hoạt động của cơ quan hành
Trang 40chính Điều đặc biệt là mô hình quản trị nội bộ công ty cổ phần của Việt Nam về cơ bản thuộc cùng mô hình với Trung Quốc Cơ cấu HĐQT của Việt Nam theo kiểu phân quyền và chế ước lẫn nhau Có thể mô phỏng cơ cấu quản trị nội bộ của công
ty cổ phần theo luật Việt Nam như sau:
Hình 4: Cơ cấu quản trị nội bộ của công ty cổ phần
dự trữ bắt buộc…)
ĐHĐCĐ
BKS HĐQT
BGĐ