KHÁI QUÁT VỀ GÓP VỐN BẰNG GIÁ TRỊ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI VIỆT NAM
Khái niệm, đặc điểm quyền sở hữu trí tuệ
1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ
Tài sản trí tuệ, sản phẩm của trí óc con người, đại diện cho tri thức của nhân loại và có thể được thể hiện qua các vật thể hữu hình với số lượng bản sao không giới hạn Quyền sở hữu trí tuệ không chỉ là quyền sở hữu các bản sao mà còn là quyền đối với thông tin chứa đựng trong các bản sao đó Để bảo vệ những tài sản trí tuệ này, quyền sở hữu trí tuệ đã được thiết lập, nhằm bảo đảm quyền lợi cho các tổ chức và cá nhân đã phát minh và chế tạo ra chúng.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thuật ngữ sở hữu trí tuệ và Quyền sở hữu trí tuệ đã được sử dụng chính thức từ Bộ luật dân sự năm 1995 và các đạo luật sau đó Quyền sở hữu trí tuệ không được định nghĩa trực tiếp nhưng được thể hiện qua cấu trúc và nội dung của phần thứ 6 Bộ luật dân sự, cho thấy đây là một chế định pháp lý bao gồm quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp được bảo vệ bởi pháp luật Đây là loại quyền sở hữu đặc biệt liên quan đến các sản phẩm sáng tạo từ lao động trí óc của con người Bộ luật dân sự năm 2005 đã mở rộng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ bao gồm cả quyền đối với giống cây trồng.
Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền liên quan đến tài sản vô hình, phản ánh thành quả lao động sáng tạo và uy tín kinh doanh của các chủ thể Những quyền này được pháp luật quy định và bảo vệ, nhằm đảm bảo quyền lợi cho những người sáng tạo và kinh doanh.
Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) định nghĩa sở hữu trí tuệ là khái niệm rộng, bao gồm các quyền liên quan đến sản phẩm văn hóa.
Các kết quả của hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, và văn học nghệ thuật bao gồm 8 học, nghệ thuật, khoa học, sự trình diễn của nghệ sĩ, các chương trình phát thanh và truyền hình, cùng với những sáng chế, phát minh khoa học, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại và chỉ dẫn thương mại Ngoài ra, việc chống cạnh tranh không lành mạnh và bảo vệ các quyền khác cũng là những yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ thành quả trí tuệ.
Quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản vô hình đặc biệt, mang giá trị kinh tế tương tự như các tài sản vô hình khác Với những đặc trưng riêng, quyền sở hữu trí tuệ được pháp luật quốc gia công nhận và bảo hộ đặc biệt.
Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 định nghĩa quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của cá nhân hoặc tổ chức đối với tài sản trí tuệ do con người sáng tạo ra Quyền này bao gồm sự độc quyền cho phép một người, nhóm người hoặc tổ chức khai thác, sử dụng và quyết định về các sản phẩm từ hoạt động sáng tạo trí tuệ.
1.1.2 Đặc điểm quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ là một loại quyền tài sản, mang đầy đủ đặc tính của quyền tài sản, cho phép chủ sở hữu toàn quyền kiểm soát tài sản của mình và ngăn cấm người khác sử dụng mà không có sự cho phép Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của tài sản trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ còn có những đặc điểm riêng biệt để phân biệt với các quyền sở hữu khác.
Thứ nhất, tính vô hình của đối tượng sở hữu trí tuệ
Đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ mang đặc trưng vô hình, hoàn toàn trái ngược với tài sản vật chất hữu hình Là sản phẩm của sự sáng tạo trí tuệ, đối tượng này cần được vật chất hóa và thể hiện qua các vật cụ thể Điều này có nghĩa rằng tài sản sở hữu trí tuệ vô hình phải được phản ánh và thể hiện thông qua những vật thể hữu hình Một vật thể hữu hình có thể vừa là đối tượng của quyền sở hữu tài sản vật chất, vừa chứa đựng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ Đặc tính vô hình của quyền sở hữu trí tuệ chính là đặc trưng quan trọng nhất.
Thứ hai, căn cứ phát sinh và xác lập quyền
Quyền sở hữu trí tuệ được xác lập và phát sinh khác với tài sản hữu hình, trong đó quyền sở hữu tài sản hữu hình bắt đầu từ thời điểm chủ sở hữu thiết lập quyền chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản đó.
Bộ luật dân sự xác định quyền sở hữu dựa trên nhiều căn cứ, bao gồm quyền sở hữu do lao động, hoạt động sản xuất và kinh doanh hợp pháp; quyền chuyển nhượng theo thỏa thuận hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước; thu hoa lợi, lợi tức; tạo ra vật mới từ việc trộn lẫn, sáp nhập hoặc chế biến; quyền thừa kế tài sản; và quyền chiếm hữu tài sản vô chủ, vật bị đánh rơi, bỏ quên, chôn dấu, gia súc, gia cầm thất lạc, cũng như vật nuôi di chuyển tự nhiên Ngoài ra, quyền chiếm giữ tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục và công khai cũng được công nhận theo quy định của pháp luật (Điều 170).
Quyền sở hữu trí tuệ được hình thành từ trí tuệ và cảm hứng của con người, mang tính sáng tạo và riêng biệt Việc xác định quyền sở hữu trí tuệ không thể áp dụng theo các quy tắc tài sản hữu hình thông thường Do đó, quyền sở hữu trí tuệ thường được xác lập thông qua quy trình đăng ký bảo hộ hoặc thông qua việc chuyển nhượng, thừa kế từ chủ sở hữu.
Một số quyền như quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền đối với bí mật kinh doanh và quyền đối với tên thương mại có những trường hợp ngoại lệ Những quyền này được xác lập và phát sinh dựa trên các điều kiện cụ thể mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký bảo hộ.
Thứ ba, quyền sở hữu trí tuệ bị giới hạn bởi quốc gia bảo hộ và thời hạn bảo hộ
Quyền sở hữu trí tuệ khác với quyền sở hữu thông thường ở chỗ bị giới hạn bởi không gian và thời gian Quyền này chỉ được công nhận và bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia cụ thể, như sáng chế công nghiệp tại Việt Nam chỉ được bảo vệ khi có văn bằng bảo hộ và trong lãnh thổ Việt Nam Sáng chế là sản phẩm trí tuệ, thể hiện qua hiện vật và chứa đựng sự sáng tạo của người phát minh Giá trị của sáng chế chỉ được công nhận khi nó được áp dụng vào sản xuất, góp phần tạo ra lợi nhuận và đáp ứng nhu cầu vật chất của con người Điều này cho thấy quyền sở hữu trí tuệ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của khoa học kỹ thuật và kinh tế xã hội, đồng thời mang tính lãnh thổ tuyệt đối do khó kiểm soát phạm vi phát tán của tài sản vô hình này.
Khái quát về góp vốn thành lập công ty
1.2.1 Khái niệm góp vốn thành lập công ty
Mục tiêu chính của mọi doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận, và các cá nhân, tổ chức tham gia như thành viên hay cổ đông đều mong muốn hưởng lợi từ đó Việc phân chia lợi nhuận giữa các thành viên phải dựa trên tỷ lệ vốn góp vào quỹ chung của công ty, đảm bảo tính công bằng Khi các hình thức đóng góp ngày càng đa dạng nhằm thu hút nhiều cá nhân và tổ chức tham gia kinh doanh, pháp luật cần thiết lập các quy định rõ ràng về loại tài sản góp vốn, định giá tài sản và chuyển nhượng quyền sử dụng các loại tài sản khác nhau.
Theo Luật Doanh nghiệp 2014, góp vốn là hành động đóng góp tài sản nhằm hình thành vốn điều lệ của công ty Hành vi này bao gồm việc góp vốn để thành lập doanh nghiệp mới hoặc tăng cường vốn điều lệ cho doanh nghiệp đã có Trong nghiên cứu này, chúng tôi chủ yếu tập trung vào việc góp vốn để thành lập doanh nghiệp.
1.2.2 Thỏa thuận góp vốn thành lập công ty
Góp vốn thành lập công ty là một bước quan trọng trong quy trình đăng ký doanh nghiệp, khác với hoạt động góp vốn thông thường Hình thức góp vốn có thể được thể hiện qua hợp đồng văn bản riêng hoặc trong Điều lệ công ty Hợp đồng thỏa thuận góp vốn cần nêu rõ việc cá nhân, tổ chức góp vốn tài sản hợp pháp để hợp tác sản xuất, kinh doanh, và hưởng quyền lợi từ doanh nghiệp mới theo quy định của pháp luật dân sự và doanh nghiệp, bao gồm nguyên tắc tự do ý chí, giới hạn tài sản góp vốn và ngành nghề kinh doanh.
Pháp luật Việt Nam coi hợp đồng thành lập doanh nghiệp và điều lệ doanh nghiệp là một, trong khi pháp luật quốc tế xem điều lệ doanh nghiệp là các quy tắc nội bộ liên quan đến quản lý nhân sự và văn hóa doanh nghiệp Hợp đồng thành lập doanh nghiệp ghi rõ phần góp vốn, số vốn đóng góp hay cổ phần, cách thức phân chia lợi nhuận và trách nhiệm của từng thành viên hoặc nhóm thành viên.
1.2.3 Tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp
Những doanh nghiệp thành lập theo hiệu lực của Luật doanh nghiệp năm
Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 hạn chế việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ, khi chỉ cho phép sử dụng các tài sản như vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tuy nhiên, với sự ra đời của Luật doanh nghiệp năm 2014, quy định đã được sửa đổi, cho phép tài sản góp vốn bao gồm Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật và các tài sản khác có thể định giá bằng Đồng Việt Nam.
Nhà làm luật Việt Nam vẫn áp dụng phương pháp liệt kê để hướng dẫn các loại tài sản được góp vốn, điều này có thể dẫn đến sự không đầy đủ và hạn chế hình thức góp vốn của cá nhân, tổ chức Trong khi đó, nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản và Đức thường không sử dụng phương pháp liệt kê trong việc định nghĩa khái niệm này.
Tài sản được phân thành hai loại chính là động sản và bất động sản, mỗi loại đều có quy định riêng biệt Việc xác định và thỏa thuận về tài sản chung giữa các cá nhân, tổ chức là rất quan trọng trong quá trình thành lập.
Dựa vào quy định nêu trên, ta có thể phân loại tài sản để góp vốn thành lập công ty gồm những đối tượng sau:
Luật doanh nghiệp 2014 đã cập nhật khái niệm về tiền và giấy tờ có giá, xác định rõ tiền thông hành tại Việt Nam và ngoại tệ tự do chuyển đổi theo quy định pháp luật Việc pháp luật cho phép góp vốn bằng tiền tương tự như việc đầu tư để mua quyền lợi trong doanh nghiệp, với điều kiện rằng quyền lợi này được tạo ra bởi những người góp vốn và sẽ hình thành trong tương lai.
Theo quy định hiện hành, vàng được xem là tài sản hợp pháp để góp vốn Tuy nhiên, Nghị định 24/2012/NĐ-CP lại coi việc thanh toán bằng vàng là hành vi vi phạm trong kinh doanh vàng, dẫn đến mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật Điều này đặt ra câu hỏi về tính hợp lý của việc cho phép cá nhân và tổ chức góp vốn bằng vàng, khi mà để đưa vốn vào kinh doanh, họ phải chuyển đổi sang tiền mặt Sự chênh lệch tỷ giá giữa thời điểm góp vốn và thời điểm chuyển đổi có thể gây thiệt hại đáng kể cho doanh nghiệp.
Giá trị quyền sử dụng đất tại Việt Nam được xác định thông qua thỏa thuận giữa các bên, vì đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý Để góp vốn bằng quyền sử dụng đất, các bên cần định giá tài sản này, có thể tự thỏa thuận hoặc thuê tổ chức chuyên nghiệp Quyền sử dụng đất là tài sản phải đăng ký, do đó, khi thực hiện góp vốn, bên góp vốn phải chuyển quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp theo thỏa thuận đã đạt được.
Doanh nghiệp và tổ chức là những chủ thể cần đăng ký để nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Sau khi hoàn tất việc đăng ký quyền sử dụng đất, việc góp vốn của các thành viên hoặc cổ đông trong doanh nghiệp sẽ được hoàn thành Đây là đặc điểm nổi bật của hình thức góp vốn bằng tài sản đặc thù, cụ thể là giá trị quyền sử dụng đất.
Giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật Điểm mới của
Luật Doanh Nghiệp 2014 đã cải tiến so với Luật Doanh Nghiệp 2005 bằng cách quy định rõ ràng về hình thức góp vốn thông qua giá trị quyền sở hữu trí tuệ Luật liệt kê các đối tượng có thể được sử dụng để góp vốn, bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật.
Các loại tài sản trí tuệ có thể được sử dụng để góp vốn thành lập doanh nghiệp bao gồm: mạng lưới phân phối hàng hóa và dịch vụ, tên thương mại, biển hiệu, nhãn hiệu và bí mật kinh doanh.
Luật Doanh nghiệp 2014 quy định rõ ràng về việc định giá tài sản và chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tương tự như giá trị quyền sử dụng đất Các điều luật liên quan đến tài sản đặc thù này được nêu cụ thể để đảm bảo tính minh bạch và hợp pháp trong các giao dịch.
Ngoài tài sản vật chất, tri thức và kinh nghiệm làm việc cũng là những yếu tố quan trọng có thể coi là tài sản góp vốn Tri thức được hiểu là khả năng của cá nhân hoặc nhóm trong việc thực hiện các quy trình nhằm tạo ra sự chuyển hóa dự đoán được từ các vật liệu Các yếu tố này thường khó định nghĩa và nhận diện, có thể liên quan đến quy trình hoạt động của doanh nghiệp hoặc kinh nghiệm quản lý nhân sự của người lãnh đạo.
2 Điều 35, khoản 2 Luật doanh nghiệp 2014
Góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ được công nhận là một loại tài sản có thể định giá bằng tiền và chuyển nhượng trong giao dịch dân sự, cho phép chủ sở hữu sử dụng để góp vốn, mua bán, hoặc tặng cho Theo Luật doanh nghiệp 2014, tài sản góp vốn có thể bao gồm quyền sở hữu trí tuệ, và việc góp vốn bằng loại tài sản này được pháp luật thừa nhận Tuy nhiên, sự mâu thuẫn có thể phát sinh khi xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ trong việc góp vốn thành lập doanh nghiệp, do quy định về sự chuyển giao tài sản từ bên góp vốn sang doanh nghiệp nhận góp vốn Giá trị quyền sở hữu trí tuệ cần được hiểu là giá trị tiền tệ của quyền này trong thời gian bảo hộ.
3 Điều 35, khoản 1 Luật doanh nghiệp 2014
Việc xác định giá trị của tài sản trí tuệ là một thách thức lớn, bởi khái niệm "giá trị sở hữu trí tuệ" thường khó xác định ngay lập tức khi tài sản trí tuệ được hình thành Cần phải xem xét thời điểm định giá, hoàn cảnh và nhiều yếu tố biến đổi khác để có được một đánh giá chính xác Đối tượng mà các bên hướng đến khi góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ chính là quyền được sử dụng các tài sản này Việc định đoạt giá trị quyền sở hữu trí tuệ có thể do các bên tự quyết định, tuy nhiên, sự không thống nhất về đối tượng góp vốn vẫn tồn tại.
Việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ yêu cầu người góp vốn phải đảm bảo doanh nghiệp khai thác tài sản để tạo ra lợi ích Đồng thời, người góp vốn sẽ có quyền lợi tương ứng theo thỏa thuận trong điều lệ công ty Do quy mô rộng lớn của quyền sở hữu trí tuệ, việc thỏa thuận giữa các bên trong định giá và xác định quyền lợi cần tuân thủ đúng pháp luật sở hữu trí tuệ.
Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ được định nghĩa là việc các chủ thể quyền chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản trí tuệ của mình để tham gia góp vốn vào việc thành lập doanh nghiệp.
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Nội dung các quy định hiện hành về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ
Pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ quy định rõ ràng về việc thành lập doanh nghiệp, quyền sở hữu trí tuệ, thỏa thuận góp vốn, cũng như nghĩa vụ và quyền lợi liên quan Các quy định này bao gồm phương thức góp vốn, thời điểm và thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản góp vốn, cùng hình thức và nội dung hợp đồng góp vốn Những quy định này tạo cơ sở pháp lý cho việc điều chỉnh mối quan hệ trong hoạt động góp vốn và đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật như Luật doanh nghiệp, Luật thương mại, Bộ luật dân sự, và Luật sở hữu trí tuệ.
Quá trình nghiên cứu góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ cần xem xét các yếu tố cấu thành của quan hệ pháp luật góp vốn, bao gồm cả những yếu tố đặc thù liên quan đến việc thành lập công ty Chủ thể góp vốn là yếu tố quan trọng đầu tiên cần được đề cập trong hoạt động này.
2.1.1 Chủ thể góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ
Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014, chủ thể góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ bao gồm tổ chức và cá nhân có quyền góp vốn, mua cổ phần hoặc phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, và công ty hợp danh Tuy nhiên, các cơ quan nhà nước và đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để góp vốn vào doanh nghiệp nhằm thu lợi riêng bị cấm tham gia góp vốn.
Theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, chỉ những cá nhân và tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp các quyền liên quan mới có quyền sử dụng tài sản để góp vốn.
Khái niệm "chủ sở hữu hợp pháp với các quyền" đề cập đến cá nhân hoặc tổ chức có quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tài sản sở hữu trí tuệ, bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, và quyền đối với giống cây trồng, tất cả đều được pháp luật bảo hộ Các điều kiện để bảo hộ pháp lý quyền năng của chủ thể được quy định cụ thể cho từng loại tài sản trí tuệ, với cơ chế hình thành bảo hộ khác nhau tùy thuộc vào từng đối tượng Dựa vào cơ chế xác lập bảo hộ, có thể phân loại chủ thể thành hai nhóm: chủ sở hữu xác lập trên cơ chế bảo hộ tự động và chủ sở hữu xác lập trên cơ chế đăng ký bảo hộ.
2.1.1.1 Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ xác lập theo cơ chế bảo hộ tự động
Cơ chế bảo hộ tự động đối với chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ cho phép các quyền hợp pháp được bảo vệ mà không cần thủ tục đăng ký, miễn là đáp ứng đủ điều kiện về nội dung và hình thức theo quy định của pháp luật Cơ chế này áp dụng cho quyền tác giả và quyền liên quan, với sự bảo hộ bắt đầu từ thời điểm đối tượng quyền được hình thành dưới hình thức vật chất, bất kể đã công bố hay chưa, đã đăng ký hay chưa.
Theo Luật sở hữu trí tuệ 2005, tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả được xác định là tổ chức hoặc cá nhân có tác phẩm được bảo vệ quyền tác giả, bao gồm cả những người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm đó.
4 Điều 18 khoản 3 Luật doanh nghiệp 2014
5 Điều 35, Khoản 2 Luật doanh nghiệp 2014
Tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả có thể là những người trực tiếp sáng tạo tác phẩm hoặc những người đầu tư công sức và tài chính vào quá trình sáng tác Dựa trên định nghĩa này, có thể xác định các chủ sở hữu quyền tác giả khác nhau.
Tác giả hoặc đồng tác giả trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, đóng góp thời gian, tài chính, kỹ thuật, công sức để tạo ra tác phẩm;
Cá nhân, tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả, có thể thông qua giao kết hợp đồng;
Cá nhân, tổ chức được thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật;
Cá nhân, tổ chức được chuyển giao một số hoặc toàn bộ quyền tác giả;
Đối với các tác phẩm khuyết danh, nếu tác phẩm vẫn trong thời hạn bảo hộ và chủ sở hữu quyền tác giả đã qua đời mà không có người thừa kế, hoặc người thừa kế từ chối nhận di sản, hoặc không có quyền hưởng di sản, thì tác phẩm sẽ thuộc về Nhà nước nếu tác giả đã chuyển giao quyền cho Nhà nước.
Theo Luật sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu quyền tác giả có quyền nhân thân và quyền tài sản đối với các tác phẩm văn học, khoa học và nghệ thuật Quyền nhân thân bao gồm quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền đứng tên thật hoặc bút danh, và quyền công bố tác phẩm Ngoài ra, tác giả còn có quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, ngăn cản việc sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm gây tổn hại đến danh dự và uy tín Quyền tài sản cho phép tác giả thực hiện các hành vi như tạo tác phẩm phái sinh, biểu diễn tác phẩm trước công chúng, sao chép, phân phối và truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua các phương tiện khác nhau.
6 Điều 13, Khoản 1 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009
7 Điều 19 Luật sở hữu trí tuệ 2005
Chủ sở hữu quyền tác giả có quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh và chương trình máy tính thông qua các phương tiện kỹ thuật Nếu cá nhân hoặc tổ chức vừa là chủ đầu tư vừa là tác giả, họ sẽ nắm giữ đầy đủ quyền lợi Trong trường hợp tác giả không phải là chủ đầu tư, tác giả sẽ giữ quyền nhân thân, trong khi chủ đầu tư sở hữu quyền tài sản Tuy nhiên, tùy thuộc vào thỏa thuận giữa các bên, chủ đầu tư có thể được cấp một số quyền nhân thân nhất định đối với tác phẩm.
Quyền liên quan đến quyền tác giả (Quyền liên quan) bảo vệ quyền lợi của tổ chức và cá nhân đối với các cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, và chương trình phát sóng Chủ thể sở hữu quyền liên quan không trực tiếp sáng tạo tác phẩm gốc nhưng có sự đóng góp về công sức, trí tuệ, và tài chính trong việc thể hiện hoặc truyền tải tác phẩm đến công chúng Đối tượng của quyền liên quan thường khác biệt so với tác phẩm gốc, thể hiện sự sáng tạo trong việc mở rộng nội dung đến với đông đảo công chúng Quyền tài sản của tác giả cho phép họ tạo ra tác phẩm phái sinh và truyền đạt tác phẩm qua nhiều phương tiện khác nhau, khẳng định sự bảo hộ pháp lý đối với sáng tạo của họ Pháp luật cũng công nhận những đóng góp của chủ thể quyền liên quan, cho thấy sự thay đổi nhất định của tác phẩm gốc mà không vi phạm quyền của tác giả ban đầu.
Việc làm phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả không chỉ ảnh hưởng tiêu cực mà còn giúp tác phẩm được truyền đạt đến một lượng công chúng lớn hơn, từ đó nâng cao giá trị của tác phẩm.
Luật sở hữu trí tuệ quy định các chủ thể của quyền liên quan bao gồm:
Diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người khác trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật (sau đây gọi chung là người biểu diễn);
Tổ chức, cá nhân được chuyển giao một số hoặc toàn bộ quyền liên quan với đối tượng là cuộc biểu diễ ;
Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là tổ chức hoặc cá nhân chịu trách nhiệm định hình âm thanh và hình ảnh trong các buổi biểu diễn hoặc các sản phẩm âm thanh, hình ảnh khác.
Tổ chức khởi xướng và thực hiện việc phát sóng (sau đây gọi là tổ chức phát sóng)
Chủ sở hữu quyền liên quan có quyền nhân thân và quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn, tương tự như chủ sở hữu quyền tác giả Người biểu diễn, nếu vừa là người đóng góp và là chủ đầu tư, sẽ nắm giữ cả quyền nhân thân lẫn quyền tài sản Trong trường hợp chủ đầu tư là cá nhân hoặc tổ chức độc lập, người biểu diễn giữ quyền nhân thân, trong khi chủ đầu tư sở hữu quyền tài sản Tuy nhiên, nếu hợp đồng đầu tư có thỏa thuận khác, một phần quyền nhân thân có thể được chuyển giao cho chủ đầu tư Ngoài ra, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức phát sóng cũng có quyền tài sản đối với các sản phẩm của họ.
Đánh giá việc áp dụng các quy định pháp luật về góp vốn thành lập công
Pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ đã đáp ứng nhu cầu của xã hội, với khung pháp lý được xây dựng và hoàn thiện theo sự phát triển của nền kinh tế Từ việc công nhận đầu tư kinh doanh cá nhân và quyền lập hội kinh doanh, đến việc bảo hộ tài sản trí tuệ, khung pháp lý đã dần phù hợp với thực tiễn thị trường và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam Gần đây, việc ban hành các quy định mới đã tiếp tục củng cố khung pháp lý này.
Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn đã quy định rõ ràng quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp thông qua quyền sở hữu trí tuệ của cá nhân và tổ chức.
Để hoàn thiện quản lý nhà nước về tài sản trí tuệ, các yêu cầu về nội dung và thủ tục góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ rất quan trọng Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chỉ được phép góp vốn khi là chủ sở hữu hợp pháp Để khẳng định quyền sở hữu, cá nhân và tổ chức cần tuân thủ quy định về đăng ký bảo hộ đối với tài sản trí tuệ yêu cầu đăng ký, đồng thời có ý thức tự bảo vệ quyền lợi của mình đối với các quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ tự động.
Việc mở rộng loại tài sản được góp vốn không chỉ hỗ trợ quá trình huy động vốn kinh doanh mà còn đóng góp tích cực cho nền kinh tế Nhiều tài sản trí tuệ chỉ phát huy giá trị khi được áp dụng vào sản xuất và kinh doanh, mang lại giá trị lớn cho chủ sở hữu Hệ thống pháp luật cho phép góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ mở ra cơ hội cho các chủ sở hữu nhận thức về việc đầu tư kinh doanh, từ đó tạo ra lợi nhuận mà không cần phải trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh doanh.
Thuật ngữ “giá trị quyền sở hữu trí tuệ” không phản ánh đúng bản chất của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ Bên nhận góp vốn mong muốn quyền sử dụng và khai thác tài sản trí tuệ, chứ không phải giá trị quy đổi ra tiền Giá trị tài sản chỉ được nâng cao khi tài sản trí tuệ được áp dụng trong sản xuất, kinh doanh kết hợp với các nguồn lực khác của doanh nghiệp.
Giá trị quy đổi của quyền sở hữu trí tuệ hiện nay không còn mang lại hiệu quả như trước, khi mà nó không chỉ đơn thuần được sử dụng để góp vốn mà còn ảnh hưởng đến lợi nhuận.
Mặc dù quy định về tài sản góp vốn đã được mở rộng để bao gồm quyền sở hữu trí tuệ, nhưng việc áp dụng thực tiễn có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp Quyền sở hữu trí tuệ thường được chú trọng vào các lĩnh vực như sáng chế, nhãn hiệu và tên thương mại, dẫn đến việc doanh nghiệp có thể bỏ qua những tài sản khác có giá trị gia tăng, chẳng hạn như mạng lưới phân phối, danh sách khách hàng thân thiết và nguồn cung ứng nguyên vật liệu, cũng như các yếu tố bí mật kinh doanh như thông tin nội bộ.
Luật quy định rằng quyền sở hữu trí tuệ bao gồm cả tài sản công nghệ và bí quyết kỹ thuật có thể được sử dụng làm tài sản góp vốn Tuy nhiên, điều này có thể gây nhầm lẫn vì công nghệ thường được xem là sở hữu công nghiệp, như kiểu dáng công nghiệp và thiết kế mạch tích hợp Bí quyết kỹ thuật cũng được coi là bí mật kinh doanh, thuộc quyền sở hữu công nghiệp Nếu nhà làm luật chỉ muốn nhấn mạnh vào những loại tài sản trí tuệ cụ thể này, điều đó có thể làm giảm tính khách quan của điều luật.
Pháp luật Việt Nam hiện chưa có quy định cụ thể về thẩm quyền thẩm định giá trị quyền sở hữu trí tuệ trong việc góp vốn thành lập doanh nghiệp, chỉ yêu cầu đối với tài sản thuộc sở hữu nhà nước Điều này cho phép các bên tự do thỏa thuận giá trị tài sản, nhưng cũng tạo ra lỗ hổng cho doanh nghiệp khi định giá cao hơn giá trị thực tế Việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ không yêu cầu nộp thuế, dẫn đến tình trạng các thành viên/cổ đông tự ý nâng giá trị tài sản để tăng uy tín cho doanh nghiệp, từ đó thu hút sự chú ý từ các nhà đầu tư.
51 được đối tác, gây cho đối tác sự nhầm tưởng vào giá trị và khả năng hoạt động của công ty
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN
HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY BẰNG
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI VIỆT NAM
Thực trạng hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
Hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam hiện gặp nhiều khó khăn do hệ thống văn bản pháp luật chưa quy định chi tiết và đầy đủ Điều này ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp.
Vướng mắc về ghi nhận phần vốn góp bằng quyền sở hữu trí tuệ
Vấn đề ghi nhận góp vốn thành lập công ty với đối tượng là quyền sở hữu trí tuệ, một loại tài sản vô hình, có những đặc thù riêng so với các tài sản khác như tiền tệ hay vàng Hình thức xác nhận góp vốn thường là hợp đồng thương mại, trong đó giá trị quyền sở hữu trí tuệ được quy đổi thành tiền mặt, gây khó khăn cho hệ thống kế toán doanh nghiệp Điều này cũng tạo ra nhiều vướng mắc khi chủ sở hữu quyền muốn rút vốn hoặc khi bên nhận vốn góp không muốn tiếp tục hợp tác.
Ghi nhận nhưng không chuyển giao
Thủ tục góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ yêu cầu chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản trí tuệ cho công ty mới Mặc dù quy định rõ trách nhiệm của bên chuyển giao, nhiều trường hợp thành viên, cổ đông chưa thực hiện việc chuyển giao quyền khai thác giá trị của quyền sở hữu trí tuệ, mặc dù đã ghi nhận trong điều lệ công ty Điều này xảy ra ngay cả khi doanh nghiệp đã nhận Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và bắt đầu hoạt động.
Doanh nghiệp thường yêu cầu đền bù bằng tiền mặt cho quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt khi họ muốn tạo thanh thế ngay từ khi đăng ký kinh doanh Tuy nhiên, khi hoạt động thực tế, công ty có thể không có quyền sử dụng tài sản trí tuệ đã đăng ký, mặc dù vốn điều lệ và giá trị sản nghiệp không thay đổi Ngoài ra, cũng có trường hợp bên góp vốn không muốn chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ hoặc không có quyền để thực hiện việc chuyển giao này.
Hạn chế trong vấn đề thẩm định giá trị tài sản góp vốn
Trong thực tế, các doanh nghiệp nhận góp vốn từ quyền sở hữu trí tuệ chủ yếu là công ty con hoặc công ty nhánh, với các đối tượng sở hữu trí tuệ như nhãn hiệu, tên thương mại, sáng chế và kiểu dáng công nghiệp Bên góp vốn thường là các công ty mẹ có vốn lớn và là cổ đông, thành viên quyết định trong công ty Hình thức hoạt động này dẫn đến vấn đề định giá tài sản góp vốn không phản ánh đúng thực tế thị trường, khi bên góp vốn có quyền quyết định một cách đơn phương về giá trị quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn.
Hệ thống pháp luật áp dụng cho hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ còn chồng chéo, chưa khả thi
Hoạt động góp vốn thành lập công ty thông qua quyền sở hữu trí tuệ phải tuân thủ cả pháp luật doanh nghiệp và pháp luật sở hữu trí tuệ Sự kết hợp giữa hai hệ thống pháp luật này tạo ra nhiều thách thức cho doanh nghiệp, bao gồm các vấn đề liên quan đến chủ thể, đối tượng góp vốn và thủ tục hoàn thành góp vốn Điều này có thể gây khó khăn trong việc thực hiện quy trình pháp lý đúng cách, dẫn đến tâm lý lo ngại cho các doanh nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp ngại huy động vốn từ tài sản có giá trị cao do gặp phải nhiều rào cản pháp lý Sự mâu thuẫn giữa hai ngành luật cũng góp phần làm tăng thêm khó khăn cho quá trình này.
Hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ không chỉ liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ mà còn gắn liền với các lĩnh vực pháp luật khác như kế toán, tài chính và thuế thu nhập doanh nghiệp Mỗi bước trong quy trình này đều phải tuân thủ các quy định pháp lý khác nhau, và chính chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có thể chưa nhận thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình theo các văn bản pháp luật hiện hành.
Kiến nghị giải pháp cải thiện thực trạng hoạt động góp vốn thành lập công
3.2.1 Xây dựng hệ thống hóa văn bản pháp luật riêng biệt
Cần thiết phải xây dựng một hành lang pháp lý thống nhất cho phép cá nhân và tổ chức góp vốn đầu tư bằng quyền sở hữu trí tuệ, nhằm khắc phục những hạn chế trong quy định pháp luật hiện tại Việc phát triển hệ thống pháp luật cụ thể sẽ giúp doanh nghiệp thực hiện dễ dàng hơn và mang lại hiệu quả lớn cho nền kinh tế Các điểm quan trọng cần lưu ý trong quá trình xây dựng hệ thống pháp luật này bao gồm việc đảm bảo tính khả thi và minh bạch trong các quy định.
Để hệ thống pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, việc tiếp thu ý kiến từ các bên liên quan là vô cùng cần thiết Những chủ thể này không chỉ là người thực thi pháp luật mà còn là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các quy định Nếu các điều luật được soạn thảo gây hiểu nhầm, cản trở tự do kinh doanh hoặc làm khó khăn trong các thủ tục như đăng ký bảo hộ quyền, đăng ký kinh doanh hay định giá tài sản góp vốn, thì việc xây dựng một hệ thống pháp luật riêng sẽ không mang lại hiệu quả.
Cần sự kết hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước liên quan
Tình trạng chồng chéo trong áp dụng các quy định pháp luật xuất phát từ sự thiếu tương tác giữa các cơ quan quản lý nhà nước Điều này đặc biệt rõ ràng trong hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu.
Sở hữu trí tuệ liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật như sở hữu trí tuệ, pháp luật doanh nghiệp, kê khai thuế và ghi nhận kế toán Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý trong việc hướng dẫn thực hiện pháp luật, công nhận quyền góp vốn và thủ tục góp vốn sẽ giúp nguồn đầu tư bằng quyền sở hữu trí tuệ trở thành một kênh đầu tư mạnh mẽ tại thị trường Việt Nam.
Cần xây dựng nghị định điều chỉnh và hướng dẫn
Các văn bản pháp luật điều chỉnh việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ hiện nay còn rời rạc, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tra cứu và thực hiện Ngoài Luật sở hữu trí tuệ và Luật doanh nghiệp, còn có nhiều văn bản dưới luật và hướng dẫn từ Bộ Tài chính về thẩm định giá trị tài sản vô hình và kế toán tài sản này Vì vậy, cần xây dựng một Nghị định thống nhất do Chính phủ ban hành để quy tụ đầy đủ các quy phạm pháp luật liên quan Nghị định này không chỉ cần định nghĩa rõ ràng về tài sản góp vốn là quyền sở hữu trí tuệ mà còn quy định quyền và nghĩa vụ của các bên, thủ tục góp vốn, cũng như đặc điểm hành vi xâm phạm và hình thức truy cứu trách nhiệm.
Lập các tổ công tác thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện pháp luật
Khi có văn bản pháp luật quy định rõ ràng về việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ, cần chú trọng phát hiện kịp thời các vi phạm pháp luật và xâm phạm quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan, đồng thời áp dụng biện pháp xử lý nhanh chóng và hiệu quả.
3.2.3 Vai trò của quản lý nhà nước trong hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ
Hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ không chỉ liên quan đến bên góp vốn và bên nhận góp vốn mà còn phụ thuộc vào vai trò của cơ quan quản lý nhà nước Việc ghi nhận quyền sở hữu trí tuệ như tài sản góp vốn giúp các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình hiệu quả hơn Các cơ quan nhà nước, bao gồm cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan đăng ký bảo hộ, cũng như Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và đầu tư, đều có thẩm quyền trong quá trình góp vốn này.
Bộ Khoa học và công nghệ
Cần thiết có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc đơn giản hóa thủ tục đăng ký doanh nghiệp và xây dựng hướng dẫn cụ thể cho quy trình góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ Sự hợp tác này nhằm tạo ra hướng dẫn hiệu quả, tránh tình trạng chồng chéo và không khả thi trong thực tiễn.
3.2.4 Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của chủ thể tham gia
Các bên tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ cần nhận thức rõ quyền và nghĩa vụ của mình Để bảo vệ quyền lợi và đảm bảo hoạt động trơn tru cho doanh nghiệp sau khi thành lập, chủ sở hữu góp vốn phải thực hiện đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến thủ tục góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là bước quan trọng thể hiện sự hiểu biết pháp luật của chủ sở hữu Chỉ khi nhận thức rõ các điều kiện và giới hạn bảo hộ, cũng như những điểm yếu có thể bị xâm phạm, chủ sở hữu mới có thể bảo vệ quyền lợi của mình hiệu quả.
Việc nhận biết đầy đủ giá trị của quyền sở hữu trí tuệ là rất quan trọng, vì nó không chỉ tạo điều kiện cho quản lý nhà nước về việc xác lập quyền và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, mà còn cung cấp cơ sở cho các chủ thể khác tham gia vào doanh nghiệp.
Pháp luật về thủ tục góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ yêu cầu xác định chủ sở hữu hợp pháp, thẩm định giá trị quyền sở hữu trí tuệ và thực hiện quy trình chuyển giao quyền Các bên tham gia góp vốn cần bảo vệ quyền lợi của mình và tối đa hóa giá trị quyền sở hữu trí tuệ để tạo ra lợi nhuận Việc tuân thủ đúng quy trình không chỉ giúp quản lý nhà nước dễ dàng hơn mà còn tạo ra môi trường kinh doanh lý tưởng, thu hút đầu tư Để thực hiện đúng pháp luật trong việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ, cá nhân và tổ chức cần có ý thức mạnh mẽ, kiến thức về sở hữu trí tuệ và quyền lợi, trách nhiệm của mình Hệ thống văn bản pháp luật và thông tin cần được hoàn thiện và cập nhật để giảm thiểu vi phạm, bảo vệ lợi ích xã hội.