Trước khi sửa đổi, ban hành Luật Thương mại 2005 thì Luật Thương mại 1997 của Việt Nam trong Điều 80 xác định yếu tố quốc tế của HĐMBHHQT giống như cách xác định của Trung Quốc, tức là c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CAO PHƯƠNG NGỌC
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ THỰC TIỄN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu kiến thức lý thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nông Quốc Bình
Các số liệu, kết quả trong bài luận văn là hoàn toàn trung thực
Học viên
Cao Phương Ngọc
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài này, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Nông Quốc Bình, người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Em cũng trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo tại Khoa Sau đại học, đặc biệt là các thầy cô giáo đã giảng dạy lớp cao học khóa XX – Khoa Pháp luật quốc tế; cảm ơn hệ thống Thông tin thư viện của Trường cùng các anh chị em học viên khóa XX đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2014
Học viên
Cao Phương Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG
HÓA QUỐC TẾ VÀ LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG
5
1.1 Khái quát về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 5
1.1.1 Khái niệm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 5
1.1.2 Đặc điểm của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 10
1.2 Luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 13
1.2.1 Nguồn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 14
1.2.2 Xác định pháp luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế
20
CHƯƠNG 2 : QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LUẬT
ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
25
2.1 Các văn bản pháp luật điều chỉnh về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế tại Việt Nam
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VỀ LUẬT ÁP DỤNG CHO HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
Trang 53.1.2 Thực tiễn còn tồn tại đối với các doanh nghiệp 56
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về HĐMBHHQT và nâng cao năng lực của doanh nghiệp khi ký kết HĐMBHHQT
62
3.2.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý 62
3.2.2 Nâng cao năng lực của các doanh nghiệp khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong đời sống xã hội, hợp đồng là một hình thức pháp lý thích hợp và hiệu quả trong việc đảm bảo sự vận động của hàng hóa và tiền tệ Khi nền kinh tế phát triển thì việc điều chỉnh bằng pháp luật quan hệ hợp đồng ngày càng cần thiết, càng được coi trọng và hoàn thiện Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển, đặc biệt phải kể đến việc trở thành thành viên thứ
150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) khiến cho các quan hệ thương mại quốc tế giữa thương nhân trong nước và thương nhân nước ngoài được thiết lập ngày càng nhiều Đồng nghĩa với nó là số lượng ngày càng tăng của các hợp đồng giao dịch thương mại quốc tế, trong đó phải kể đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Có thể khẳng định, vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ngày càng quan trọng; phần vì đối tác là những doanh nhân chuyên nghiệp, rất am hiểu luật trong việc giải quyết tranh chấp; phần vì các hợp đồng quốc tế không được mặc nhiên công nhận là sẽ được luật Việt Nam điều chỉnh
Chính những “yếu tố nước ngoài” trong hợp đồng dân sự nói chung và HĐMBHHQT nói riêng dẫn đến hiện tượng cùng một lúc có thể có nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia điều chỉnh hợp đồng Từ đó, việc xác định luật
áp dụng cho HĐMBHHQT để bảo vệ lợi ích của các bên khi giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tất yếu sẽ gặp nhiều khó khăn Hơn nữa, sự khác nhau về quốc tịch, về khoảng cách địa lý, về môi trường kinh doanh, phong tục tập quán khiến cho các bên tham gia ký kết gặp nhiều khó khăn trong việc tìm hiểu hệ thống pháp luật của phía đối tác
Để góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và hiểu biết pháp luật của các doanh nghiệp Việt Nam cũng như góp phần đưa hệ thống pháp luật Việt
Trang 7Nam tiến gần hơn đến các chuẩn mực pháp lý chung của quốc tế, việc tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề xác định luật áp dụng trong HĐMBHHQT là một điều cần thiết
Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Pháp luật Việt Nam áp
dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - Thực tiễn và hướng hoàn thiện”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xung quanh vấn đề “Luật áp dụng trong HĐMBHHQT”có rất nhiều
công trình nghiên cứu đã được công bố Mỗi một công trình tập trung nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau Cụ thể:
PGS.TS Nông Quốc Bình với một số công trình nghiên cứu đã công
bố trên các tạp chí chuyên ngành như: “Phạm vi áp dụng và không áp dụng của Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”;“Sự mềm dẻo trong một số điều khoản của Công ước Viên năm 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” đăng trên Tạp chí Luật học số 04/2011 hay “Xác định pháp luật áp dụng điều chỉnh Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - một số vấn đề lý luận và thực tiễn.”
Tiến sỹ Nguyễn Minh Hằng với một số công trình như: “Giải quyết
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” trên tạp chí diễn đàn Doanh nghiệp năm 2007; “Sửa đổi Điều 769 BLDS 2005” hay “Việt Nam và việc gia nhập Công ước Viên năm 1980”
Thạc sỹ Nguyễn Bá Bình với công trình nghiên cứu đã được công bố
năm 2008 như: “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, vài suy nghĩ về nội hàm khái niệm cũng như việc xác định tính hợp pháp của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” và một số bài viết liên quan đăng trên trang web:
nguyenbabinh.blogspot.com
Trang 8Thạc sỹ Bùi Thị Thu với bài viết“Một số vấn đề về chọn Luật áp dụng
trong hợp đồng thương mại quốc tế theo Công ước Rome 1980 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng.”đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Thạc sỹ Bành Quốc Tuấn với bài viết như: “Thỏa thuận luật áp dụng
trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài.”
3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Bằng việc phân tích và nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế, mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ một số vấn đề cơ bản về các quy định của pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật quốc tế về Luật áp dụng cho HĐMBHHQT, phân tích những vướng mắc còn tồn tại của pháp luật Việt Nam cũng như thực tiễn lựa chọn luật áp dụng của các bên tham gia hợp đồng và các cơ quan giải quyết tranh chấp Từ đó đưa ra khuyến nghị cũng như phương hướng hoàn thiện pháp luật
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ của luận văn là:
Nghiên cứu các vấn đề cơ bản của HĐMBHHQT và luật áp dụng trong HĐMBHHQT
Phân tích, lập luận, đánh giá các quy định của Pháp luật Việt Nam và
so sánh với các quy định trong các Điều ước quốc tế và pháp luật một số quốc gia trên thế giới Từ đó chỉ ra những vướng mắc còn tồn tại của Pháp luật Việt Nam
Đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật và các giải pháp thực tế nhằm nâng cao hiệu quả lựa chọn luật áp dụng cho HĐMBHHQT
4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn trước hết nêu những vấn đề lý luận cơ bản về HĐMBHHQT
và đi vào phân tích, đánh giá các quy định trong hệ thống pháp luật Việt Nam
về vấn đề luật áp dụng cho HĐMBHHQT Tiếp đó, đi sâu tìm hiểu các vấn đề thực tiễn về luật áp dụng cho HĐMBHHQT tại Việt Nam, từ đó đưa ra những
Trang 9kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành cũng như
đề ra một số giải pháp cho những vướng mắc mà các doanh nghiệp Việt Nam mắc phải về vấn đề này trong quá trình kinh doanh
5 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả luận văn kết hợp sử dụng phương pháp luận theo chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả sử dụng thêm phương pháp so sánh để xem xét, đối chiếu với quy định của pháp luật quốc tế; sử dụng phương pháp hệ thống, phân tích và tổng hợp để đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam Tất cả đều nhằm mục đích làm sáng tỏ cơ sở lý luận của vấn đề Luật áp dụng trong HĐMBHHQT tại Việt Nam, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động này trên thực tế
6 Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và luật áp dụng trong hợp đồng
Chương II: Quy định của pháp luật Việt Nam về luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Chương III: Thực tiễn chọn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam và hướng hoàn thiện
Trang 10CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
VÀ LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG 1.1 Khái quát về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.1.1 Khái niệm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Có thể nói rằng việc làm rõ khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có ý nghĩa pháp lý và thực tiễn hết sức quan trọng bởi nó gắn liền với việc xác định luật nào được áp dụng để điều chỉnh quan hệ của các bên trong hợp đồng Nếu hợp đồng là hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường (hợp đồng nội địa) thì sẽ được luật trong nước điều chỉnh Nếu là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì nó sẽ được điều chỉnh bằng pháp luật thương mại quốc tế: có thể là luật pháp của các quốc gia khác nhau, các Điều ước quốc tế,
và trong nhiều trường hợp liên quan đến cả tập quán thương mại quốc tế, nên cần thiết phải lựa chọn luật nào trong số đó để áp dụng cho hợp đồng Không những thế mà trong một số trường hợp còn cho phép xác định được pháp luật của quốc gia nào được sử dụng để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Tuy nhiên, việc xác định tính quốc tế của hợp đồng hiện nay dường như được hiểu không giống nhau
Theo quan điểm của Luật Thương mại Pháp đã được giới học giả nghiên cứu: khi xác định yếu tố quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế, người ta căn cứ vào hai tiêu chuẩn kinh tế và pháp lý Theo các tiêu chuẩn kinh tế, một hợp đồng quốc tế là hợp đồng tạo nên sự di chuyển qua lại biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giữa hai nước, nói cách khác, hợp đồng đó thể hiện quyền lợi của thương mại quốc tế Theo tiêu chuẩn pháp lý, một hợp đồng được coi là hợp đồng quốc tế nếu nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp
lý của nhiều quốc gia như quốc tịch, nơi cư trú của các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng…
Trang 11Theo Luật thương mại Trung Quốc: “hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là những hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa được xác lập giữa các doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế khác của Trung Quốc với doanh nghiệp,
cá nhân, tổ chức nước ngoài.” Như vậy, tính chất quốc tế của hợp đồng được
xác định cũng dựa trên dấu hiệu quốc tịch của các bên Trước khi sửa đổi, ban hành Luật Thương mại 2005 thì Luật Thương mại 1997 của Việt Nam trong Điều 80 xác định yếu tố quốc tế của HĐMBHHQT giống như cách xác định của Trung Quốc, tức là cũng dựa trên dấu hiệu quốc tịch của thương nhân:
“Hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hoá được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên
là thương nhân nước ngoài”
Tuy nhiên, nếu xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên dấu hiệu quốc tịch thì sẽ gặp phải những khó khăn, phức tạp trong thực tiễn bởi:
Thứ nhất, pháp luật của nhiều quốc gia khác nhau xác định quốc tịch của pháp nhân không giống nhau Có quốc gia xác định quốc tịch pháp nhân theo nơi đăng ký pháp nhân (các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật Anh Mỹ);
có quốc gia xác định quốc tịch theo địa chỉ thường trú của pháp nhân – thường là nơi thường trú của cơ quan điều hành - nơi có cơ quan quản lý thực
tế (các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa như Pháp, Đức, Ba Lan…); có quốc gia xác định quốc tịch của pháp nhân tại nơi pháp nhân tiến hành các hoạt động thương mại…Vì có nhiều cách xác định quốc tịch như vậy nên để xác định tính quốc tế của một HĐMBHHQT là không hề đơn giản,
có thể với quốc gia này thì đó là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhưng với quốc gia khác thì không phải
Trang 12Thứ hai, nếu xác định tính quốc tế của hợp đồng dựa trên dấu hiệu quốc tịch trong một số trường hợp sẽ gặp khó khăn khi xác định pháp luật áp dụng
Ví dụ, công ty A được đăng ký thành lập trên lãnh thổ Pháp nhưng lại
có trụ sở điều hành trên lãnh thổ của Anh, như vậy theo pháp luật Pháp, công
ty A có quốc tịch Anh, còn theo pháp luật của Anh thì công ty A lại có quốc tịch Pháp Công ty A ký kết hợp đồng bán hàng cho một công ty B ở Việt Nam và xuất phát từ quy phạm xung đột, luật áp dụng cho hợp đồng là luật của quốc gia người bán, vậy trong trường hợp này, luật của quốc gia nào sẽ được áp dụng, luật của Pháp hay luật của Anh?
Chính vì lý do trên mà trong mua bán hàng hóa quốc tế người ta thường không xác định tính quốc tế của hợp đồng dựa trên dấu hiệu quốc tịch
Theo Công quốc Lahaye năm 1964 về mua bán hàng hóa quốc tế các động sản hữu hình(Convention relating to a Uniform Law on the International Sale of Goods)tại khoản 1 Điều 1 thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải thỏa mãn hai điều kiện sau đây:
Thứ nhất, được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau;
Thứ hai, phải thỏa mãn ít nhất một trong ba yếu tố sau đây:
- Hàng hóa phải được chuyên chở hoặc phải được chuyên chở từ lãnh thổ của quốc gia này đến lãnh thổ của quốc gia khác;
- Khi mà những hành vi thể hiện sự chào hàng và chấp nhận chào hàng được thực hiện trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau;
- Khi việc giao hàng phải được thực hiện trên lãnh thổ của quốc gia khác không phải là nơi thực hiện những hành vi chào hàng và chấp nhận chào hàng
Trang 13Như vậy, theo Công quốc Lahaye năm 1964thì tính chất quốc tế thể hiện ở các tiêu chí như: các bên giao kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và hàng hóa, đối tượng của hợp đồngđược chuyển qua biên giới một nước, hoặc là việc trao đổi ý chí giao kết hợp đồng giữa các bên được lập
ở những nước khác nhau Nếu các bên giao kết không có trụ sở thương mại thì sẽ dựa vào nơi cư trú thường xuyên của họ Yếu tố quốc tịch của các bên không có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố nước ngoài của HĐMBHHQT
Được thông qua năm 1964 và đã có hiệu lựa nhưng Công ước Lahaye không được áp dụng một cách rộng rãi cũng như không gây được ảnh hưởng trong thực tiễn ký kết và thực hiện HĐMBHHQT vì nhiều lý do như: nó được soạn thảo bởi đại diện của các quốc gia phát triển, chưa tính đến quyền lợi của các quốc gia đang phát triển, và đặc biệt lý do quan trọng nhất là các tiêu chuẩn chủ quan và khách quan được Công ước sử dụng để xác định tính quốc
tế của HĐMBHHQT chồng chéo và không có ý nghĩa thực tiễn Ví dụ trường hợp người bán có trụ sở thương mại trên lãnh thổ của Việt Nam giao hàng cho người mua có trụ sở thương mại trên lãnh thổ của Thái Lan theo HĐMBHHQT, khi hàng hóa đã nằm trên lãnh thổ của Thái Lan, vì một lý do nào đó người mua từ chối nhận hàng và khi đó người bán buộc phải sang Thái Lan để bán số hàng này cho người mua khác có trụ sở thương mại cũng nằm trên lãnh thổ Thái Lan Như vậy, tất cả các hoạt động liên quan đến việc mua bán lần thứ hai đều diễn ra trên lãnh thổ Thái Lan: Hàng hóa đã nằm tại Thái Lan – không thỏa mãn điều kiện thứ nhất; các hành vi chào hàng và chấp nhận chào hàng cũng như việc giao hàng được thực hiện ngay trên lãnh thổ của Thái Lan – không thỏa mãn điều kiện thứ hai và thứ ba Như vậy, theo quy định của Điều 1 Công ước Lahaye 1964 thì hợp đồng này không thể được coi là HĐMBHHQT và vì vậy không thể áp dụng các quy định của Luật
Trang 14Thương mại quốc tế mà cụ thể là không thể áp dụng ngay chính Công ước Lahaye 1964 để điều chỉnh nó
Chính vì lý do đó mà hiện nay trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc
tế người ta thường sử dụng Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về mua bán quốc tế hàng hóa (gọi tắt là CISG) để xác định tính quốc tế của hợp đồng Điều 1 CISG quy địnhHĐMBHHQT là hợp đồng mua bán hàng hóa trong đó các bên ký kết có trụ sở thương mại đặt ở những nước khác nhau Như vậy, tính chất quốc tế của HĐMBHHQT theo CISG chỉ dựa trên dấu hiệu duy nhất
là trụ sở thương mại của các bên phải nằm trên những nước khác nhau Việc xây dựng khái niệm HĐMBHHQT dựa trên yếu tố lãnh thổ, hay trụ sở giao dịch giống như quy định của CISG sẽ cho phép xác định tính chất quốc tế của hợp đồng trở nên đơn giản hơn nhiều so với việc dựa trên dấu hiệu quốc tịch
và các dấu hiệu khác Tuy nhiên, theo tiêu chí này sẽ gặp khó khăn trong trường hợp các bên có nhiều trụ sở thương mại Điều 10 Công ước đã giải quyết vấn đề này khi quy định rằng: trường hợp nếu một trong các bên hay tất
cả các bên có nhiều hơn một trụ sở thương mại thì cần phải chú ý đến trụ sở thương mại liên quan mật thiết với hợp đồng, còn nếu các bên không có trụ sở thương mại thì cần phải xác định địa điểm thường trú của họ
Theo pháp luật Việt Nam: Luật Thương mại 2005 không đưa ra tiêu chí
để xác định tính chất quốc tế của HĐMBHHQT mà liệt kê những hoạt động được coi là mua bán hàng hóa quốc tế Điều 27 nêu rõ mua bán quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu Các hình thức này được giải thích rõ tại Điều
28, Điều 29, Điều 30 của Luật thương mại năm 2005 Thông qua nội dung này có thể thấy Luật Thương mại Việt Nam đã sử dụng tiêu chí hàng hóa phải
là động sản, hàng có thể được di chuyển qua biên giới của Việt Nam hoặc qua biên giới của một nước (vùng lãnh thổ, hoặc di chuyển qua khu chế xuất, khu
Trang 15vưc hải quan riêng…) để xem xét tính quốc tế của HĐMBHHQT Như vậy, nếu đối tượng của hợp đồng mua bán là bất động sản thì hợp đồng đó không phải là HĐMBHHQT cho dù bất động sản được bán cho người nước ngoài Mua bán bất động sản với người nước ngoài phải theo một cơ chế pháp lý riêng
Từ những phân tích trên có thể khái quát về HĐMBHHQT như sau:
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu
tố nước ngoài Tuy nhiên, yếu tố nước ngoài trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được viện giải theo pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế theo những tiêu chí khác nhau Trong đó, tiêu chí trụ sở thương mại của các bên trong hợp đồng đặt tại các quốc gia khác nhau được pháp luật nhiều quốc gia thừa nhận như một tiêu chuẩn cơ bản và quan trọng trong việc xác định một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.1.2 Đặc điểm của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trước hết HĐMBHHQT mang đầy đủ những đặc điểm của một hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung Về mặt bản chất, HĐMBHHQT là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ mua bán hàng hóa Đối tượng của HĐMBHHQT là hàng hóa được phép lưu thông trên thị trường theo pháp luật quốc gia nhất định.Chủ thể của HĐMBHHQT cũng bao gồm bên bán và bên mua, bình đẳng với nhau trong quan hệ mua bán, không phụ thuộc vào quốc tịch, quy mô, loại hình doanh nghiệp… HĐMBHHQT cũng là hợp đồng song vụ, có đền bù
Khác với hợp đồng mua bán hàng hóa nội địa, HĐMBHHQT có những nét đặc trưng sau:
Thứ nhất, về chủ thể HĐMBHHQT Trên thực tế thì pháp luật thương
mại quốc tế không có sự điều chỉnh đặc biệt nào đối với chủ thể của HĐMBHHQT Điều này được giải thích bởi chủ thể của hoạt động này (cá
Trang 16nhân hay pháp nhân – thương nhân) có được quyền ký kết hợp đồng phù hợp với pháp luật quốc gia áp dụng đối với các chủ thể đó Theo quy định của pháp luật Việt Nam, HĐMBHHQT được coi là hợp pháp khi chủ thể của hợp đồng hợp pháp, tức là có năng lực pháp luật và năng lực hành vi đồng thờingười ký kết có thẩm quyền ký kết hợp đồng
Đối với chủ thể bên nước ngoài, các thương nhân là cá nhân thì dựa vào yếu tố quốc tịch Cụ thể tại khoản 1 Điều 761 BLDS 2005 quy định:
“năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch.”Đối với các thương nhân
là pháp nhân thì xác định trên nơi đăng ký thành lập, cụ thể khoản 1 Điều 765
BLDS 2005 quy định “năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó thành lập.”
Thứ hai, về đối tượng của HĐMBHHQT Hàng hóa là đối tượng của
HĐMBHHQT là động sản, tức là hàng có thể chuyển qua biên giới của một nước Tuy nhiên vấn đề đặt ra là những hàng hóa nào có thể là đối tượng của HĐMBHHQT Công ước Viên 1980 không đưa ra định nghĩa mà chỉ liệt kê phạm vi hàng hóa không áp dụng trong Điều 2 của Công ước như sau:
“Công ước này không áp dụng vào việc mua bán:
a Các hàng hóa dùng cho cá nhân, gia đình hoặc nội trợ, ngoại trừ khi người bán, vào bất cứ lúc nào trong thời gian trước hoặc vào thời điểm ký kết hợp đồng, không biết hoặc không cần phải biết rằng hàng hóa đã được mua để sử dụng như thế
b Bán đấu giá
c Ðể thi hành luật hoặc văn kiện uỷ thác khác theo luật
d Các cổ phiếu, cổ phần, chứng khoán đầu tư, các chứng từ lưu thông hoặc tiền tệ
e Tàu thủy, máy bay và các chạy trên đệm không khí
Trang 17Như vậy, pháp luật các nước nói chung có những quan niệm khác nhau
về hàng hóa Sự khác nhau này dẫn đến hệ quả là cùng một thực thể nhưng theo pháp luật nước này thì được phép mua bán, còn theo pháp luật nước khác thì có thể bị cấm mua bán
Đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hàng hóa sẽ được dịch chuyển qua lại biên giới hải quan một hoặc nhiều quốc gia khác nhau, dễ thấy nhất là các hợp đồng xuất nhập khẩu Cho nên, những hàng hóa này không chỉ đơn thuần là được phép mua bán mà phải còn được phép xuất nhập khẩu theo quy định của pháp luật quốc gia hữu quan Ở Việt Nam, chỉ những hàng hóa được phép xuất khẩu, nhập khẩu không thuộc danh mục cấm lưu thông, cấm xuất khẩu, được ban hành kèo theo Nghị định 12/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại 2005 và các văn bản luật chuyên ngành mới có thể trở thành đối tượng của HĐMBHHQT Ví dụ như Nhà nước
ta quy định cấm xuất khẩu vũ khí đạn dược; di vật, cổ vật; động thực vật hoang quý hiếm Nhà nước ta cũng cấm nhập khẩu một số mặt hàng như: vũ khí, đạn dược; pháo các loại; phế liệu, phế thải, hóa chất độc hại…Như vậy, các mặt hàng trên không thể trở thành đối tượng của HĐMBHHQT
Khi gia nhập WTO, những mặt hàng xuất – nhập khẩu mà Nhà nước kiểm soát phải thay đổi cho phù hợp với các quy định chung của Tổ chức: đồng ý cho nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà từ thời điểm gia nhập, nhưng chỉ có doanh nghiệp Nhà nước được quyền nhập khẩu toàn bộ mặt hàng này
Trang 18Thứ ba, về đồng tiền thanh toán trong HĐMBHHQT Đối với các hợp
đồng mua bán trong nước, đồng tiền thanh toán là nội tệ Trong HĐMBHHQT, các bên có thể thỏa thuận chọn đồng tiền thanh toán là đồng tiền của nước người mua, nước người bán hoặc của một nước thứ ba nào đó…Do đó, đồng tiền thanh toán trong HĐMBHHQT thường là ngoại tệ đối với ít nhất một bên hoặc cả hai bên của hợp đồng
Thứ tư, về hình thức HĐMBHHQT Nguyên tắc tự do lựa chọn hình
thức của hợp đồng cũng được áp dụng trong HĐMBHHQT Theo Điều 11 Công ước Viên: HĐMBHHQT không nhất thiết phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức hợp đồng
Sự tồn tại của hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, trong đó có
cả lời khai của người làm chứng Với quy định như vậy ta thấy thuận lợi cho các bên giao kết hợp đồng Công ước Viên 1980 đã quy định thêm ở Điều 96, nếu luật một quốc gia thành viên nào quy định hợp đồng phải được ký kết dưới hình thức văn bản mới có giá trị thì yêu cầu phải được thể hiện dưới hình thức văn bản phải được tôn trọng
1.2 Luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Đối với HĐMBHHQT nói riêng và hợp đồng quốc tế nói chung, vấn đề
mà các bên quan tâm nhất là giá trị pháp lý của những thỏa thuận trong hợp đồng, liệu hợp đồng có được thừa nhận và có hiệu lực pháp lý hay không?
Để giải quyết các vấn đề liên quan đến hợp đồng đó phải căn cứ vào một hệ thống pháp luật nhất định Như vậy, một hợp đồng luôn phải có mối liên hệ với một hệ thống pháp luật nhất định Không thể có hợp đồng nằm ngoài các quy định của pháp luật
Trong thực tiễn không có hợp đồng nào là hoàn hảo, đặc biệt đối với các hợp đồng có tính chất quốc tế Các bên không thể luôn dự tính được những điều sẽ xảy ra trong tương lai, trong trường hợp các bên không thống
Trang 19nhất với nhau về một vấn đề trong quá trình giao kết, hoặc trong quá trình thực hiện hợp đồng có thể dẫn đến tranh chấp, khi đó một loạt vấn đề pháp lý được đặt ra nhằm xét hiệu lực pháp lý của hợp đồng như: cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp? Pháp luật được áp dụng giải quyết tranh chấp của các bên là pháp luật nước nào? Tất cả đều phụ thuộc vào các quy định của hệ thống pháp luật điều chỉnh hợp đồng đó
Hệ thống pháp luật được áp dụng đề xem xét hiệu lực của hợp đồng
chính là Luật áp dụng điều chỉnh quan hệ hợp đó
Vậy nên, việc xác định Luật áp dụng đối với hợp đồng là một vấn đề có
ý nghĩa quan trọng, nó không chỉ quyết định trong việc xem xét giá trị pháp lý của hợp đồng mà còn có ý nghĩa trong việc giải thích, bổ sung những khiếm khuyết trong các hợp đồng có tính chất quốc tế, nhất là khi các bên giao kết thường đến từ các quốc gia khác nhau, ít am hiểu về pháp luật, thông lệ của nhau Mục đích của việc xác định pháp luật áp dụng đối với hợp đồng là nhằm bảo đảm trật tự, an toàn, sư ổn định và công bằng cho các bên
1.2.1 Nguồn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Xuất phát từ quan điểm “ý chí tự nguyện” nên bản thân HĐMBHHQT
đã là một văn bản có tính pháp lý quy định quyền và nghĩa vụ của các bên ký kết Về mặt lý luận, nếu mọi quy định về quyền và nghĩa vụ được thỏa thuận đầy đủ và chi tiết trong hợp đồng thì người ta không phải vận dụng đến các nguồn luật khác Song, trong thực tiễn ít có trường hợp này bởi vì không một
tổ chức, cá nhân nào có đủ điều kiện để thỏa mãn một bản hợp đồng chi tiết đến mức không cần viện dẫn đến bất cứ nguồn luật nào Cho dù HĐMBHHQT được ký kết hoàn chỉnh, chi tiết đến đâu thì bản thân nó cũng không thể dự kiến, chứa đựng tất cả những tình huống có thể phát sinh trong thực tế Chính vì vậy, HĐMBHHQT phải được điều chỉnh bằng những nguồn luật nhất định Đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, luật trong
Trang 20nước sẽ đương nhiên được áp dụng, nghĩa là chỉ xem xét đến nguồn pháp luật quốc gia Trong khi đó, HĐMBHHQT do có yếu tố nước ngoài nên có nguồn luật điều chỉnh phức tạp hơn, bao gồm điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia, tập quán thương mại và án lệ
1.2.1.1 Điều ước quốc tế
Điều ước quốc tế về mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng nhằm ấn định, thay đổi, hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với nhau trong quan hệ có liên quan đến hàng hóa quốc
tế
Một trong những vấn đề vô cùng quan trọng khi đề cập đến Điều ước quốc tế là trong trường hợp nào điều ước quốc tế được áp dụng Đó là những trường hợp sau:
- HĐMBHHQT quy định
- Hợp đồng không quy định, tuy nhiên quốc gia mà chủ thể mua bán mang quốc tịch lại là thành viên điều ước quốc tế điều chỉnh lĩnh vực các bên đang tham gia, nên nó đương nhiên là nguồn luật điều chỉnh cho hợp đồng
Chẳng hạn, theo Điều 1 của CISG thì CISG được áp dụng cho các HĐMBHHQT giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau trong các trường hợp sau:
- Khi các quốc gia này là thành viên của CISG
- Khi theo các quy tắc của Tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật quốc gia thành viên của CISG
Như vậy, những quy định trong CISG sẽ thay thế cho luật của bất kỳ quốc gia nào là thành viên của CISG trong việc điều chỉnh các HĐMBHHQT Tuy nhiên, đó chỉ là giải pháp mang tính nguyên tắc bởi vì theo quy định tại Điều 6 của CISG thì các bên tham gia hợp đồng được quyền loại trừ việc áp
Trang 21dụng một phần hoặc toàn bộ CISG nếu như các bên không muốn áp dụng CISG để điều chỉnh hợp đồng của mình Điều đó cho thấy, ý chí của các bên giao kết hợp đồng được ưu tiên Sự ưu tiên đó thể hiện ở chỗ, nếu các bên có thỏa thuận chọn luật áp dụng và sự thỏa thuận đó cho thấy các bên đã loại trừ việc áp dụng CISG thì CISG sẽ không được áp dụng, cho dù các bên giao kết hợp đồng có trụ sở tại các quốc gia là thành viên của CISG Cho đến nay, Công ước Viên được coi như một chuẩn mực của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực hợp đồng là “Luật Quốc tế về mua bán hàng hóa”
Bên cạnh Công ước Viên 1980, còn có các điều ước quốc tế chứa đựng các quy phạm xung đột như Công ước Lahaye 1955 về luật áp dụng đối với việc mua bán các động sản hữu hình, Công ước Rome 1980 về luật áp dụng đối với quan hệ nghĩa vụ hợp đồng được ký kết giữa các nước thuộc liên minh châu Âu, Hiệp ước Mexico 1944 được 18 nước thuộc châu Mỹ La tinh ký kết…cũng trở thành nguồn luật quan trọng, đươc các bên thường xuyên tham chiếu áp dụng
Trong mua bán hàng hóa quốc tế, Điều ước quốc tế có vai trò đặc biệt quan trọng Nó là công cụ pháp lý hữu hiệu để giải quyết xung đột pháp luật
và hạn chế việc áp dụng các quy phạm của pháp luật quốc gia Sở dĩ nói hạn chế việc áp dụng các quy phạm pháp luật quốc gia không phải vì việc áp dụng chúng là không tốt, mà bởi vì: nó giúp tránh được những khó khăn thì phải đàm phán lựa chọn luật quốc gia làm luật áp dụng cho hợp đồng Trên thực tế, việc lựa chọn luật quốc gia thường gặp phải rất nhiều khó khăn Mỗi bên đều muốn chọn luật của nước mình để áp dụng, nhằm tạo lợi thế cho mình vì họ hiểu rõ về hệ thống pháp luật của họ, điều đó dẫn đến việc không bên nào chịu nhường bên nào trên bàn đàm phán chọn luật Mặt khác, việc lựa chọn luật nước ngoài có thể đem lại những rủi ro pháp lý cho các doanh nghiệp do thiếu sự hiểu biết đầy đủ về luật đó
Trang 221.2.1.2 Luật quốc gia
Pháp luật quốc gia với tư cách là nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa của quốc gia đó Luật quốc gia trở thành luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong những trường hợp sau đây:
Khi hợp đồng quy định: Các bên quy định về luật áp dụng là luật quốc
gia ngay từ giai đoạn đàm phán, ký kết hợp đồng, bằng cách chỉ rõ trong hợp
đồng rằng luật của một nước nào đó sẽ được áp dụng Ví dụ: “Mọi vấn đề không được quy định hoặc không quy định đầy đủ trong hợp đồng này sẽ được giải quyết theo luật Việt Nam” Hoặc “Các vấn đề phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này được giải quyết theo luật nước người bán” Các bên
cũng có thể thỏa thuận luật áp dụng cho hợp đồng sau khi ký hợp đồng hoặc tranh chấp đã phát sinh
Khi hợp đồng mẫu quy định: Trong rất nhiều HĐMBHHQT, để tiết
kiệm thời gian, các bên thường chỉ quy định những nội dung cơ bản liên quan đến đối tượng mua bán và giá cả Những nội dung còn lại, các bên thường dẫn chiếu đến hợp đồng mẫu Hợp đồng mẫu thường được các tập đoàn, công ty buôn bán lớn soạn thảo Những hợp đồng mẫu này chỉ có giá trị khi được các bên tham chiếu bằng cách chỉ rõ trong HĐMBHHQT rằng quyền và nghĩa vụ của các bên được điều chỉnh bởi hợp đồng mẫu kèm theo Trong trường hợp này, hợp đồng mẫu sẽ có giá trị bắt buộc đối với các bên và nếu trong hợp đồng mẫu có quy định điều khoản về luật áp dụng thì luật đó đương nhiên sẽ
là luật áp dụng cho HĐMBHHQT mà hai bên đã ký kết
Khi Tòa án hoặc Trọng tài quyết định: Cơ quan giải quyết tranh chấp
bao gồm Tòa án và Trọng tài không chỉ có thẩm quyền xét xử mà còn có thẩm quyền lựa chọn luật áp dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp Do đó, pháp luật quốc gia có thể được áp dụng nếu cơ quan giải quyết tranh chấp quyết định sẽ áp dụng nguồn luật này cho hợp đồng
Trang 23Khi có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến: trong trường hợp này, các
bên không thỏa thuận luật áp dụng nhưng trong các nguồn luật liên quan có quy phạm dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật của quốc gia nào đó thì pháp luật được dẫn chiếu sẽ được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng Ví dụ: để xác định năng lực ký kết và thực hiện hợp đồng, tư pháp quốc tế của hầu hết các nước đều quy định áp dụng luật quốc tịch của các bên chủ thể Theo đó, pháp luật của nước mà các bên chủ thể mang quốc tịch sẽ là pháp luật quy định về năng lực pháp luật và năng lực hành vi giao kết hợp đồng của các bên Vậy, ở đây
dù các bên không thỏa thuận luật áp dụng nhưng khi xác định năng lực pháp luật của các bên chủ thể trong hợp đồng, người ta vẫn áp dụng pháp luật quốc gia do quy phạm xung đột dẫn chiếu đến để xem xét hiệu lực của hợp đồng về
tư cách chủ thể của các bên
Như vậy, luật quốc gia của một nước có thể tác động đến mối quan hệ của các bên trong HĐMBHHQT thông qua những cách tác động nêu trên, mà những cách thức này đôi khi lại không được các bên chú ý
1.2.1.3 Tập quán thương mại quốc tế
Với tư cách là những “chứng cứ thực tiễn chung được thừa nhận như những quy phạm pháp luật”, tập quán quốc tế được coi là “luật giữa các thương nhân” hay Lex mercatoriatrong thương mại quốc tế Đây cũng là
nguồn thường được các doanh nghiệp lựa chọn đối với quan hệ thương mại quốc tế nói chung và quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng, trong trường hợp không có điều ước quốc tế hoặc không có pháp luật quốc gia điều chỉnh, hoặc có nhưng quy định không đầy đủ Đặc biệt, thực tiễn giao dịch thương mại quốc tế thường có nội dung rất phức tạp, không ngừng thay đổi, liên quan đến nhiều quan hệ phát sinh ở nhiều quốc gia khác nhau, trong khi Luật Thương mại của mỗi quốc gia được xây dựng lên chỉ phù hợp với trình
độ phát triển và hoàn cảnh của quốc gia đó, mang tính ổn định và đặc thù của
Trang 24mỗi quốc gia Bởi vậy, cộng đồng các thương nhân trong giao thương quốc tế
đã tự xây dựng và hình thành từ những thói quen áp dụng thường xuyên, được các bên thừa nhận…tạo ra một hệ thống các quy tắc ứng xử (mang tính tập
quán) Các quy phạm này mang tính phi nhà nước, nằm ngoài và độc lập với
hệ thống pháp luật quốc gia nên còn gọi là quy phạm có tính siêu quốc gia
Không thể phủ nhận được vai trò quan trọng của tập quán thương mại quốc tế trong hoạt động thương mại quốc tế vì đây là những nguyên tắc được hình thành từ lâu đời, được áp dụng phổ biến trong các quan hệ quốc tế Để điều chỉnh các quan hệ pháp lý quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế, nhiều tập quán quốc tế đã được tập hợp, pháp điển hóa thành các quy phạm luật thành văn của quốc gia và các điều ước quốc tế được xây dựng chủ yếu dựa trên các quy phạm tập quán
Tập quán thương mại quốc tế sẽ được áp dụng cho HĐMBHHQT trong những trường hợp sau:
bổ sung qua nhiều năm và gần đây nhất là 2010 có hiệu lực từ 01/01/2011 Ngoài ra còn có một số tập quán thông dụng khác như Quy tắc chung về tập quán và thực hành tín dụng chứng từ UCP 600, Bộ nguyên tắc của UNIDROIT, Luật mẫu của trọng tài UNCITRAL ban hành năm 1985, Công
ước New York năm 1958
Tuy nhiên, do tính chất tùy nghi của tập quán quốc tế (tập quán quốc tế không có giá trị hiệu lực bắt buộc áp dụng), nên việc lựa chọn và áp dụng các
Trang 25tập quán quốc tế cũng còn phụ thuộc vào sự công nhận của pháp luật của các quốc gia và các điều ước quốc tế Mặc dù vậy, trước xu thế toàn cầu hóa các quan hệ thương mại quốc tế, cần thiết phải xây dựng được các quy tắc quốc tế chung thống nhất điều chỉnh quan hệ hợp đồng quốc tế Chính vì vậy, “các nguyên tắc hợp đồng châu Âu” đã ra đời và tại châu Á – khu vực phát triển năng động cũng đang có nhu cầu xây dựng “các nguyên tắc pháp luật hợp đồng ASEAN” nhằm tạo điều kiện cho việc phát triển thương mại tại khu vực, tăng cường độ an toàn và hiệu quả pháp lý cho các quan hệ hợp đồng
1.2.2 Xác định pháp luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế
1.2.2.1 Pháp luật do các bên chủ thể lựa chọn áp dụng
Về lý thuyết, luật điều chỉnh nội dung hợp đồng trước hết là luật do các bên thỏa thuận lựa chọn (vì bản thân nội dung hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên) Đó có thể là luật nơi giao kết hợp đồng, luật nơi thực hiện hợp đồng, luật của nước nơi có hàng hóa là đối tượng của hợp đồng,v.v…Các bên khi giao kết hợp đồng có thể lựa chọn bất kỳ hệ thống pháp luật nào đề điều chỉnh nội dung hợp đồng, miễn là việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia có liên quan
Các bên có thể lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng trong khi thỏa thuận đàm phán hoặc sau khi ký kết hợp đồng tức là lúc tranh chấp đã phát sinh
1.2.2.2 Pháp luật do cơ quan xét xử lựa chọn
Các chủ thể hợp đồng có quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng để giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, trên thực tế khi một tranh chấp liên quan đến HĐMBHHQT phát sinh sẽ có trường hợp các bên không thỏa thuận luật áp dụng hoặc thỏa thuận chung chung, luật do các bên lựa chọn không được chấp nhận,…Trong những trường hợp như vậy, cơ quan giải quyết tranh chấp bao gồm Tòa án và Trọng tài không chỉ có thẩm quyền xét xử mà còn có thẩm
Trang 26quyền lựa chọn luật áp dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, việc lựa chọn pháp luật phải dựa trên những cơ sở pháp lý nhất định
Thứ nhất, việc chọn luật áp dụng được xác định trên nguyên tắc luật
Tòa án Theo nguyên tắc của Luật Tòa án thì cơ quan Tòa án phải tuân theo pháp luật tố tụng của nước mình trong quá trình xét xử cho dù luật nội dung
áp dụng là luật nước mình hay luật nước ngoài Trong trường hợp luật nội dung áp dụng là luật nước ngoài mà có những quy định trái với nguyên tắc pháp lý cơ bản của quốc gia có cơ quan tiến hành xét xử, thì cơ quan xét xử
có quyền lựa chọn luật nội dung là luật nước mình
Thứ hai, việc chọn pháp luật để xét xử dựa trên những thẩm quyền
đương nhiên của cơ quan xét xử Trong trường hợp xét xử tranh chấp trước cơ quan Trọng tài thì cơ quan Trọng tài có thể căn cứ vào điều lệ, quy chế của mình để xác định pháp luật xét xử với tư cách sử dụng quyền đương nhiên của mình
Thứ ba, việc chọn pháp luật áp dụng được kết hợp trên nhiều nguyên
tắc khác nhau Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp, các cơ quan xét xử có thể kết hợp nhiều nguyên tắc để làm cơ sở chọn pháp luật áp dụng cho công việc xét xử
Đối với Trọng tài thương mại:Nếu các bên không quy định luật áp dụng, chính Hội đồng Trọng tài sẽ xác định các quy tắc áp dụng cho nội dung
vụ tranh chấp Bởi không giống như một thẩm phán của một Tòa án quốc gia, một Trọng tài viên quốc tế không làm việc tại một cơ quan có thẩm quyền quốc gia nơi tiến hành Trọng tài, nên Trọng tài viên không tuân theo Lex fori
Vì vậy, Trọng tài viên không có nghĩa vụ áp dụng luật thực chất của nước nơi diễn ra tố tụng trọng tài, nếu các bên tranh chấp không quy định áp dụng luật thực chất này Trọng tài viên cũng không phải áp dụng quy tắc xung đột luật của nơi tiến hành Trọng tài
Trang 27Các quyết định Trọng tài đã được công bố cho thấy rõ ràng các Trọng tài viên quốc tế đã sử dụng rất nhiều phương pháp để xác định quy tắc luật áp dụng Đa số các Trọng tài viên xác định quy tắc luật áp dụng bằng cách sử dụng một trong ba phương pháp sau:
- Áp dụng quy tắc xung đột của các nước có mối quan hệ với vụ tranh chấp được đưa ra Trọng tài
Theo nguyên tắc này, Hội đồng Trọng tài xem xét quy tắc xung đột luật của từng hệ thống pháp luật liên quan tới tranh chấp Ưu điểm của phương pháp này là tính đến khả năng dự đoán phương thức giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, phương pháp này sẽ không hiệu quả trong trường hợp việc áp dụng các quy tắc xung đột luật khác nhau không đưa đến sự lựa chọn một luật duy nhất
- Dựa trên những nguyên tắc chung của luật tư pháp quốc tế
Phương pháp này sử dụng một số nguyên tắc chung hoặc được chấp nhận phổ biến được rút ra từ những bộ quy tắc xung đột luật quan trọng nhất Nguyên tắc thường được các Trọng tài viên sử dụng là nguyên tắc “mối liên
hệ mật thiết nhất”
- Phương pháp trực tiếp
Phương pháp trực tiếp là Hội đồng Trọng tài trực tiếp tiến hành giải quyết tranh chấp mà trước tiên không nêu vấn đề các quy tắc xung đột luật áp dụng Theo phương pháp này, Hội đồng Trọng tài xác định nhân tố liên hệ mà Hội đồng thấy có tính quyết định hoặc quan trọng giữa hợp đồng và luật mà Hội đồng quyết định áp dụng Nhân tố này có thể liên quan tới nơi thực hiện đặc trưng, quan trọng của hợp đồng, nơi thực hiện hợp đồng, nơi cư trú của người bán, v.v…
Đối với Cơ quan Tòa án:Cơ quan xét xử không chỉ có thẩm quyền xét
xử mà còn có cả thẩm quyền chọn pháp luật áp dụng trong quá trình xét xử
Trang 28Tuy nhiên, việc chọn luật phải dựa trên những cơ sở pháp lý nhất định Việc chọn pháp luật áp dụng được xác định trên nguyên tắc Luật Tòa án (lex fori) Theo nguyên tắc này thì cơ quan Tòa án phải tuân theo pháp luật tố tụng nước mình trong quá trình xét xử Tuy nhiên, trong một số trường hợp, Lex fori cũng được xem như nguyên tắc buộc cơ quan xét xử phải áp dụng luật nội dung của nước mình để xét xử Việc áp dụng luật của nước có cơ quan xét xử
để giải quyết tranh chấp có thể xảy ra trong trường hợp áp dụng bảo lưu trật
tự công cộng Trong trường hợp này, cơ quan xét xử có quyền áp dụng pháp luật nội dung của nước mình để giải quyết tranh chấp
Về thứ tự áp dụng, Tòa án Việt Nam sẽ áp dụng luật do các bên thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp về hợp đồng đó (nếu luật các bên lựa chọn phù hợp với các nguyên tắc chung của pháp luật Việt Nam) Trường hợp các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận luật áp dụng không phù hợp thì Tòa án sẽ áp dụng pháp luật của Việt Nam để giải quyết tranh chấp Tư pháp các nước trên thế giới đều thừa nhận nguyên tắc này
Trang 29Tiểu kết chương 1
HĐMBHHQT là hợp đồng mua bán có yếu tố nước ngoài Chính yếu tố nước ngoài đó là tiêu chí phân biệt hợp đồng này với các loại hợp đồng “nội địa” khác Vì thế, HĐMBHHQT có những đặc điểm như nguồn luật điều chỉnh, đối tượng, chủ thể, phương tiện thanh toán…Việc xác định Luật áp dụng đối với HĐMBHHQT có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng cũng như giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng Nguồn luật điều chỉnh HĐMBHHQT bao gồm: Điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia và các tập quán thương mại quốc tế HĐMBHHQT là một quá trình phức tạp liên quan đến nhiều loại giao dịch khác nhau, nhiều chủ thể khác nhau và chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật nên trong quá trình nghiên cứu cần làm nổi bật những vấn đề pháp lý liên quan đến loại hợp đồng này
Trang 30CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LUẬT ÁP DỤNG
TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
2.1 Các văn bản pháp luật điều chỉnh về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam
Pháp luật Việt Nam có một hệ thống các văn bản điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài Bao gồm Bộ luật, Luật, Nghị định, Quyết định…và nhiều văn bản mang tính chuyên ngành quy định các vấn đề liên quan đến hàng hóa
Hệ thống quy định về HĐMBHHQT của nước ta hiện nay bao gồm:
Bộ luật dân sự 2005, tại phần thứ 7 chia làm hai phần bao gồm: phần một quy định các nguyên tắc chung như nguyên tắc áp dụng pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, pháp luật nước ngoài (điều 759); phần hai quy định một loạt các quy phạm xung đột về việc xác định năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cá nhân, pháp nhân nước ngoài (Điều 761, Điều 762, Điều 765), quy phạm xung đột về nội dung hợp đồng, hình thức hợp đồng có tính chất quốc tế
Luật Thương mại 2005, tại chương I mục 3 quy định về hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu, về việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp đối với hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế (Điều 31), về quyền thực hiện các biện pháp xúc tiến thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam (Điều 91, Điều 103, Điều 131), còn các quy định khác không có sự phân biệt giữa hợp đồng mua bán trong nước và hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Luật Hàng hải năm 2005, tại Điều 3 quy định về pháp luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng hàng hải trong thương mại
Trang 31Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006 tại Điều 4 các nguyên tắc
áp dụng pháp luật khi có xung đột pháp luật
Ngoài các văn bản pháp luật cơ bản trên, nhà nước ta còn ban hành các Quyết định, Nghị định như sau:
Nghị định 12/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/01/2006 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các họat động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài, kèm theo danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu (phụ lục số 01), hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu theo giấy phép của Bộ Thương mại, hàng hóa thuộc diện quản lý chuyên ngành và nguyên tắc quản lý (phụ lục 2) Theo quy định, đối với hàng hóa xuất khẩu theo hạn ngạch do nước ngoài quy định, Bộ Thương mại thống nhất với các bộ quản lý sản xuất và Hiệp hội ngành hàng để xác định phương thức giao hạn ngạch đảm bảo yêu cầu công khai, minh bạch, hợp lý Đối với hàng hóa thuộc danh mục quản lý xuất nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan, Bộ Thương mại công bố lượng hạn ngạch thuế quan, phương thức điều hành nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan đối với từng mặt hàng sau khi tham khảo ý kiến Bộ tài chính và các Bộ quản lý sản xuất liên quan
Nghị định 12/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/01/2006 cũng đưa
ra những quy định để điều chỉnh đối với một số mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định riêng bao gồm:
_ Xuất khẩu gạo các loại và lúa hàng hóa
_ Nhập khẩu xăng dầu, nhiên liệu
_ Nhập khẩu ô tô các loại đã qua sử dụng
_ Tái xuất khẩu các loại vật tư nhập khẩu chủ yếu mà Nhà nước bảo đảm cân đối ngoại tệ để nhập khẩu
_ Nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà
Trang 32_ Xuất khẩu, nhập khẩu hàng phục vụ an ninh, quốc phòng
_ Nhập khẩu gỗ các loại từ các nước có chung đường biên giới
Như vậy, tiếp nối và thay thế cho Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/07/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại 1997, Nghị định số 12/2006/NĐ-CP tiếp tục thể hiện tinh thần cải cách mạnh mẽ của Chính phủ trong việc điều hành hoạt động xuất, nhập khẩu
Nghị định 90/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/05/2007 quy định chi tiết về quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu của thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam, khi cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền xuất khẩu đối với hàng hóa được phép xuất khẩu, nhập khẩu
Nghị định 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam
Cơ chế giải quyết tranh chấp trong hợp đồng được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 Trong đó, tại Điều 34 quy định về thẩm quyền xét
xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh với tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài; tại Điều 35 quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án theo lãnh thổ và tại phần
IV là thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam
Bên cạnh đó, Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định về thẩm quyền, phạm vi và nguyên tắc giải quyết tranh chấp của cơ quan Trọng tài thương mại Cụ thể, Điều 7 Luật Trọng tài thương mại quy định các bên trong quan
hệ hợp đồng có quyền tự do thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho quan
hệ hợp đồng và cơ quan Trọng tài sẽ áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn
để giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng Tuy nhiên, quyền tự do lựa chọn luật của các bên bị hạn chế Ngoài ra, các bên còn có quyền thỏa thuận
Trang 33chọn tập quán thương mại quốc tế để điều chỉnh quan hệ tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài
Nhìn vào hệ thống các văn bản trên có thể thấy chúng ta đã và đang cố gắng xây dựng một hệ thống pháp luật tốt nhất có thể nhằm điều chỉnh quan
hệ về HĐMBHHQT Theo quy định như hiện nay, BLDS 2005 là nguồn luật điều chỉnh chung về hợp đồng mua bán, còn những vấn đề cơ bản về HĐMBHHQT là do Luật Thương mại 2005 điều chỉnh Luật Thương mại
2005 cùng những văn bản pháp lý chuyên ngành đã thực sự giúp quan hệ thương mại quốc tế được mở rộng và ngày càng chuyên nghiệp hơn, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các cá nhân, tổ chức có cơ hội tiến hành các hoạt động giao lưu, buôn bán với nước ngoài, phát triển nền kinh tế nói chung, đồng thời thể hiện tư duy đổi mới trong quá trình hội nhập của đất nước ta
2.2 Nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Theo quan điểm truyền thống, các quan hệ pháp lý trong lĩnh vực hợp đồng thường được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật nước nơi giao kết (locus regit actum), do xuất phát từ việc cho rằng, hợp đồng là một loại hành vi pháp
lý nên phải được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật nước nơi thực hiện hành
vi
Đến thế kỷ XIX, với sự phát triển của khoa học, công nghệ và xu thế toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, nguyên tắc trên không còn phù hợp và dần được thay thế bởi nguyên tắc “tự do ý chí” trong lĩnh vực hợp đồng Quan điểm này đề cao vai trò ý chí của các bên giao kết hợp đồng, theo đó các bên được tự do thỏa thuận, quy định trong hợp đồng của mình mọi vấn đề phù hợp với lợi ích của họ Nguyên tắc này trở thành một nguyên tắc chung trong tư pháp quốc tế các nước và được xây dựng trong hệ thống pháp luật nhiều quốc gia cũng như các điều ước quốc tế trong lĩnh vực hợp đồng
Trang 34Hiện nay, pháp luật Việt Nam có ba nhóm nguyên tắc xác định Luật áp dụng điều chỉnh quan hệ hợp đồng Cụ thể là luật áp dụng để xác định hình thức hợp đồng, xác định hiệu lực nội dung hợp đồng và luật áp dụng xác định
tư cách chủ thể của các bên giao kết
2.2.1 Luật áp dụng cho hình thức Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hình thức hợp đồng là cách thức biểu đạt sự thỏa thuận, ý chí của các bên Sở dĩ pháp luật đưa ra yêu cầu về hình thức bởi cần phải chứng minh sự tồn tại của hợp đồng Trong pháp luật các nước đều có các quy định hợp đồng chỉ có thể có hiệu lực nếu tuân thủ một số điều kiện về hình thức nhất định
Cụ thể có hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất: HĐMBHHQT có thể được ký kết bằng lời nói, bằng văn bản, bằng hành vi hoặc các hình thức gián tiếp như đơn thư chào hàng, đặt hàng, fax, thư điện tử,…do các bên tự do thỏa thuận Các nước theo quan điểm này hầu hết là các nước có nền kinh tế thị trường phát triển như Anh, Pháp, Mỹ…Công ước Viên 1980 của Liên hợp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế đã xây dựng các quy phạm thực chất thống nhất về điều kiện này,
cụ thể công ước cho phép các bên có thể xác lập hợp đồng với mọi hình thức
kể cả thông qua người làm chứng Tuy nhiên, Công ước Viên cũng cho phép các quốc gia có quyền bảo lưu không áp dụng Điều 11 này, theo đó một hợp đồng quốc tế bắt buộc phải tuân thủ những điều kiện nhất định về hình thức của pháp luật quốc gia mới được công nhận có hiệu lực (Điều 96)
Quan điểm thứ hai: Một số nước lại đưa ra các yêu cầu bắt buộc về hình thức đối với một số hợp đồng nhất định mới được công nhận hiệu lực pháp lý Ví dụ: Hợp đồng quốc tế phải được ký kết dưới hình thức văn bản, phải được phê chuẩn, hoặc có công chứng…mới có hiệu lực Đây là quan điểm của một số nước đang phát triển
Trang 35Do có sự khác biệt giữa hai quan điểm như vậy nên phát sinh xung đột pháp luật về hình thức của hợp đồng Để giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng, các nước thường áp dụng hệ thuộc Luật nơi ký kết hợp đồng để giải quyết
Hiện nay pháp luật các nước quy định khác nhau về hình thức HĐMBHHQT Có nước quy định hình thức hợp đồng phải thể hiện bằng văn bản hay có nước quy định hình thức hợp đồng chỉ cần thể hiện bằng miệng hay bằng một hành vi cụ thể Do vậy, phát sinh xung đột pháp luật về hình thức của hợp đồng Để giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng,
các nước thường áp dụng hệ thuộc Luật nơi giao kết hợp đồng để giải quyết
Về vấn đề hình thức của HĐMBHHQT, pháp luật Việt Nam hiện nay theo quan điểm thứ hai, cụ thể: tại khoản 2 Điều 27 Luật Thương mại 2005
quy định: “Mua bán hàng hóa quốc té phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng các hình thức có giá trị pháp lý tương đương”
Các hình thức có giá trị pháp lý tương đương ở đây bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật Điều này có nghĩa là pháp luật Việt Nam đã thừa nhận những hợp đồng ký theo hình thức số hóa, mua bán qua mạng, bản fax, thư điện tử…có giá trị pháp lý như ký bằng văn bản Như vậy, nếu Việt Nam tham gia vào Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế thì Việt Nam được quyền bảo lưu không áp dụng Điều 11 của Công ước, vì pháp luật Việt Nam quy định HĐMBHHQT phải được ký kết bằng văn bản
Về vấn đề luật áp dụng cho hình thức HĐMBHHQT, pháp luật Việt Nam hiện nay không đưa ra một quy định riêng nào mà vấn đề này được giải
quyết thông qua Điều 770 BLDS 2005: “Hình thức của hợp đồng dân sự phải tuân theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng Trong trường hợp hợp đồng được giao kết ở nước ngoài mà vi phạm hình thức hợp đồng thì vẫn có
Trang 36hiệu lực về hình thức hợp đồng tại Việt Nam, nếu hình thức của hợp đồng không trái với quy định của pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Quy phạm này là phù hợp với nhu cầu thực tế Nó cho phép các bên tham gia ký kết hợp đồng tiến hành một cách thuận tiện các thủ tục về hình thức tại nơi ký kết hợp đồng mà pháp luật của nơi ký kết hợp đồng yêu cầu Như vậy, theo quy định trên, xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng sẽ
được giải quyết theo: Luật nơi ký kết hợp đồng.Theo hệ thuộc này, hợp đồng
được ký kết ở đâu sẽ phải tuân thủ luật của nước đó về hình thức hợp đồng
Xuất phát từ việc cho rằng, hành vi giao kết hợp đồng là một dạng hành
vi pháp lý, nên hành vi pháp lý luôn phải tuân thủ pháp luật nước nơi thực hiện hành vi (nguyên tắc locus regit actum)…Nguyên tắc này có hai ý nghĩa, một mặt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các giao kết dân sự có yếu tố nước ngoài, phải tôn trọng pháp luật nơi thực hiện hành vi, mặt khác nhằm bảo đảm cho trật tự của pháp luật quốc gia nơi thực hiện hành vi Nguyên tắc “locus regit actum” có hai tính chất:
Thứ nhất, nguyên tắc này có tính chất bắt buộc trong trường hợp đối với một số loại hợp đồng đặc biệt đòi hỏi hợp đồng phải tuân thủ một số điều kiện nhất định mới có hiệu lực (ví dụ các hợp đồng liên quan đến bất động sản, hợp đồng vay tín dụng, mua bán li xăng…phải được công chứng, đăng
ký, phê chuẩn)
Thứ hai, nguyên tắc này cũng mang tính chất tùy nghi, chủ yếu áp dụng đối với các loại hợp đồng mà luật không yêu cầu tuân thủ các điều kiện hình thức (giao dịch dân sự thông thường…) Trong trường hợp này hình thức hợp đồng có thể vẫn được công nhận mặc dù không phù hợp với luật nơi giao kết
Điều 770, BLDS Việt Nam 2005 quy định: “Trong trường hợp hợp đồng được giao kết ở nước ngoài mà vi phạm hình thức hợp đồng theo pháp luật
Trang 37của nước đó, nhưng không trái với quy định về hình thức hợp đồng theo pháp luật Việt Nam, thì hình thức hợp đồng vẫn được công nhận tại Việt Nam”
Như vậy, Tư pháp quốc tế Việt Nam thừa nhận hiệu lực về hình thức của một hợp đồng nếu nó đáp ứng được điều kiện của một trong hai hệ thống pháp luật nước nơi giao kết hoặc pháp luật Việt Nam Quy định này đã mở rộng phạm vi hiệu lực về hình thức hợp đồng, không những tạo điều kiện cho các giao dịch quốc tế phát triển mà còn góp phần ngăn chặn sự lạm dụng về vấn đề hợp đồng vô hiệu hình thức mà một trong các bên cố tình vi phạm
Pháp luật Việt Nam cũng quy định những trường hợp ngoại lệ, đây là những trường hợp không áp dụng luật nơi giao kết hợp đồng để xác định hiệu lực hình thức, mà luôn áp dụng pháp luật Việt Nam Đó là các trường hợp:
- Hợp đồng liên quan đến việc xây dựng hoặc chuyển giao quyền sở hữu công trình, nhà cửa và các bất động sản khác trên lãnh thổ Việt Nam (Khoản
3 Điều 770, BLDS)
- Hợp đồng được giao kết tại Việt Nam và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam thì phải tuân theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Khoản 1, Điều 769)
Ngoài ra, luật nơi giao kết hợp đồng cũng sẽ có hai trường hợp đặc biệt là: trường hợp giao kết vắng mặt và thông qua hợp đồng điện tử Vậy hợp đồng giao kết vắng mặt và hợp đồng điện tử là gì? Pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về những trường hợp này?
Đối với trường hợp giao kết vắng mặt, chúng ta phân tích một trường hợp thực tế như sau: Ngày 8/11/2005, công ty AAA Việt Nam gửi chào hàng bán hạt điều cho công ty Rumanel của Đức qua mạng Ngày 17/11/2005, công
ty Rumanel nhận được chào hàng Ngày 2/12/2005, Rumanel đã gửi lại chấp nhận ký kết hợp đồng vô điều kiện, đồng ý mua 800 tấn hạt điều Ngày
Trang 3815/12/2005, công ty AAA nhận được chấp nhận chào hàng của công ty Rumanel
Có hai vấn đề cần giải quyết ở đây: đó là vấn đề hình thức hợp đồng trong trường hợp này sẽ được xác định như thế nào? Hợp đồng được giao kết vào thời điểm nào?
Về hiệu lực hình thức hợp đồng: Theo pháp luật Việt Nam, tại Điều
771, BLDS Việt Nam 2005 quy định: “Trong trường hợp giao kết hợp đồng vắng mặt thì việc xác định nơi giao kết hợp đồng phải tuân theo pháp luật của nước nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi có trụ sở chính của pháp nhân là bên
đề nghị giao kết hợp đồng.” Như vậy, trong hợp đồng này, bên đề nghị giao
kết hợp đồng là công ty AAA Việt Nam, nền việc xác định nơi giao kết hợp đồng sẽ theo quy định của luật Việt Nam, hợp đồng giữa công ty AAA và công ty Rumanel phải tuân thủ các quy định về hình thức của pháp luật Việt Nam
Về thời điểm giao kết hợp đồng: Luật Thương mại 2005 quy định “Hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là đã ký kết kể từ thời điểm bên chào hàng nhận được thông báo chấp nhận toàn bộ các điều kiện đã ghi trong chào hàng trong thời hạn trách nhiệm của người chào hàng” (Điều 55) Như vậy,
trong trường hợp này, ngày 15/12/2005 công ty AAA Việt Nam nhận được thông báo chấp nhận chào hàng từ công ty Rumanel Đức, đó chính là thời điểm hợp đồng được giao kết Vì đây là hợp đồng thông qua chào hàng (offer)
và chấp nhận chào hàng (acceptance), nên việc xác định thời điểm có hiệu lực của chào hàng và chấp nhận chào hàng là khác nhau Pháp luật các nước cũng
có quy định khác nhau về hai thời điểm này Pháp luật các nước Anh – Mỹ coi thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên được chào hàng gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho bưu điện, không phụ thuộc bên kia có nhận được hay không (trong tình huống trên là ngày 2/12/2005) Pháp luật các
Trang 39nước châu Âu lục địa và quan điểm của Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế thì hợp đồng được coi là ký kết từ thời điểm chấp nhận chào hàng tới nơi người chào hàng, nghĩa là bên chào hàng nhận được lời chấp nhận trong thời hạn hiệu lực của chào hàng (trong tình huống trên là ngày 15/12/2005) Với quy định như vậy, CISG cho phép các bên có thể thu hồi chào hàng và chấp nhận chào hàng nếu thông báo thu hồi đến trước hoặc cùng lúc với chào hàng và chấp nhận chào hàng (tức là khi chúng chưa có hiệu lực) Quan điểm của Việt Nam trên tinh thần của Điều 55 Luật Thương mại phù hợp với quy định của các nước trong châu Âu lục địa và Công ước Viên
Đối với trường hợp là hợp đồng điện tử; trước sự phát triển của khoa học công nghệ và sự mở rộng của các giao dịch thương mại quốc tế, nơi giao kết hợp đồng không phải lúc nào cũng được xác định một cách dễ dàng vì thương mại điện tử ngày càng trở nên phổ biến, các hợp đồng được giao kết trong môi trường thương mại điện tử ngày càng nhiều Trường hợp này không xác định được nơi giao kết hợp đồng, vì giao dịch đã được thực hiện dưới hình thức số hóa
Điều 33, Luật Giao dịch điện tử 2005 quy định: “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu” Nói cách khác, hợp
đồng điện tử là hợp đồng được ký kết thông qua các phương tiện điện tử như thư điện tử, điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật Giá trị pháp lý của hợp đồng giao kết trong thương mại điện tử không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì không có sự kiểm tra hay can thiệp trực tiếp của thương nhân vào từng bước của quá trình giao kết hợp đồng Hợp đồng được coi có giá trị tương đương như hình thức giao bằng văn bản Thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm khách hàng nhận được trả lời của thương nhân chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng1
1 Xem Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2006 của Chính phủ về Thương mại điện tử
Trang 402.2.2 Luật áp dụng cho nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Nội dung hợp đồng là toàn bộ sự thỏa thuận của các bên được quy định trong hợp đồng, thể hiện ý chí và lợi ích của các bên, thông thường đó là các điều khoản trong hợp đồng
Hầu hết các tranh chấp trong thực tiễn mua bán hàng hóa quốc tế hiện nay là các tranh chấp liên quan đến nội dung hợp đồng (về đối tượng, số lượng, chất lượng, giao hàng chậm…) Đây là các tranh chấp khi một trong các bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Như vậy, xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng là vấn đề phổ biến nhất trong các quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài nói chung và HĐMBHHQT nói riêng
2.2.2.1.Khi các bên chọn pháp luật áp dụng cho hợp đồng
Nhiều quy định của Việt Nam cho phép các bên chọn pháp luật áp dụng cho hợp đồng, trong đó có cả HĐMBHHQT Điều đó có nghĩa là, theo các quy định này, điều khoản về pháp luật áp dụng cho hợp đồng có giá trị pháp
lý và được bảo vệ
Theo Điều 769 khoản 1 BLDS “quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng dân sự được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác” Vậy, nếu các bên có thỏa thuận về
pháp luật áp dụng cho hợp đồng, pháp luật được chọn sẽ điều chỉnh hợp đồng Hay nói cách khác, BLDS Việt Nam cho phép các bên lựa chọn pháp luật áp dụng cho hợp đồng nói chung và HĐMBHHQT nói riêng
Quyền lựa chọn pháp luật điều chỉnh hợp đồng cũng được thừa nhận
trong Điều 4 khoản 2 Bộ luật Hàng hải Việt Nam: “các bên tham gia hợp đồng hàng hải mà trong đó có ít nhất một bên là tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, thì có quyền thỏa thuận áp dụng luật hoặc tập quán hàng hải nước ngoài hoặc quốc tế trong các quan hệ hợp đồng.”