1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BÀI TẬP THẢO LUẬN TUẦN 2

10 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 20,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

*Trả lời: Nhận định sai Vì chủ thể được gọi là bị đơn ngoài bị nguyên đơn khởi kiện thì còn có thể bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khỏi kiện để yêu cầu Tòa án g

Trang 1

BÀI TẬP THẢO LUẬN TUẦN 2 CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

Phần 1 Nhận định

1 Bị đơn là người gây thiệt hại cho nguyên đơn và bị nguyên đơn khởi kiện.

*Trả lời: Nhận định sai

Vì chủ thể được gọi là bị đơn ngoài bị nguyên đơn khởi kiện thì còn có thể bị

cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khỏi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm

Cơ sở pháp lý:Khoản 3 điều 68 BLTTDS 2015

2 Tư cách tố tụng của đương sự có thể bị thay đổi tại phiên tòa sơ thẩm.

*Trả lời: Nhận định sai

Vì tư cách tố tụng của đương sự chỉ có thể bị thay đổi tại phiên tòa sơ thẩm khi người khởi kiện rút toàn bộ đơn khởi kiện của mình, tuy nhiện bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố thì lúc này bị đơn trở thành nguyên đơn và ngược lại, nguyên đơn sẽ trở thành bị đơn Còn tại phiên tòa phúc thẩm, nếu nguyên đơn muốn rút đơn khởi kiện thì hội đồng xét xử sẽ hỏi ý kiên cuả bị đơn:

“a Bị đơn không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn

b Bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.”, (khoản 1 Điều 299 BLTTDS 2015) Vậy nên, tư cách tố tụng của các đương sự

sẽ không thể thay đổi trong giai đoạn này

Cơ sở pháp lý: Điều 68 BLTTDS 2015, Khoản 1 Điều 299 BLTTDS 2015

3 Một người có thể đại diện cho nhiều đương sự trong vụ án dân sự

*Trả lời: Nhận định đúng

Trang 2

Bởi vì: Nếu họ đang là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện thì họ không được làm người đại diện Hay nói một cách đơn giản, một người không được đại diện cho nhiều đương sự trong cùng một vụ án dân sự khi quyền và lợi ích hợp pháp của

họ đối lập nhau

Do vậy, nếu họ đại diện cho nhiều đương sự trong cùng một vụ án dân sự mà quyền và lợi ích hợp pháp của những người được đại diện này không đối lập với nhau thì một người đại diện có thể đại diện cho nhiều đương sự

Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 87 BLTTDS 2015

Câu 4: Việc thay đổi người tiến hành tố tụng có thể do chánh án quyết định.

*Trả lời: Nhận định đúng

Bởi vì: Căn cứ khoản 2 Điều 46 BLTTDS 2015 và khoản 1 Điều 47 Bộ luật này có quy định Chánh án Tòa án có nhiệm vụ, quyền hạn về quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa

=> Như vậy, Quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa thuộc thẩm quyền của Chánh án tòa

án Còn tại phiên tòa, quy định tại khoản 2 Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự

2015, thì quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử

Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 47 BLTTDS 2015

Câu 5: Phó chánh án TAND tối cao có thể trở thành người tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự.

*Trả lời: Nhận định đúng

Bởi vì: Tại khoản 2 Điều 47 BLTTDS 2015 có quy định khi Chánh án vắng mặt, một Phó Chánh án được Chánh án ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án, trừ quyền kháng nghị quy định tại điểm g khoản 1 Điều này Phó Chánh án chịu trách nhiệm trước Chánh án về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được ủy nhiệm

Trang 3

Vậy, Phó Chánh án TAND tối cao có thể trở thành người tiến hành trong tố tụng dân sự khi có sự ủy nhiệm từ Chánh án TAND tối cao một khi Chánh án vắng mặt

Cơ sở pháp lý: Điều 47 BLTTDS

Câu 6: Cá nhân có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ phải là người đủ

18 tuổi trở lên.

*Trả lời: Nhận định sai

Bời vì: Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân

sự Đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì năng lực hành vi tố tụng dân sự của họ được xác định theo quyết định của Tòa án

Do vậy, cá nhân có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ phải là người đủ

18 tuổi trở lên và không phải là cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Cơ sở pháp lý: Điều 69 BLTTDS 2015

Câu 7: Người làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là đương sự.

*Trả lời: Nhận định sai

Quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là quan hệ giữa tòa án, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, đương sự , người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người định giá tài sản, và những người liên quan phát sinh trong tố tụng dân sự và được pháp luật tố tụng dân sự điều chỉnh

Các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật tố tụng dân sự không có sự bình đẳng giữa các chủ thể, trong đó có Tòa án, Cơ quan thi hành án là các chủ thể có vai trò quyết định đối với việc giải quyết vụ việc dân sự Vụ việc dân sự

là vụ việc phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động do Tòa án giải quyết Vụ việc dân sự được chia làm 2 loại: vụ án dân sự và việc dân sự

Trang 4

Vụ án dân sự là việc có sự tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các đương

sự mà họ không thể thương lượng được nên nhờ Tòa án giải quyết

Việc dân sự là loại vụ việc dân sự mà phát sinh, chấm dứt, thay đổi các quan

hệ pháp luật phải do tòa án xem xét quyết định như: Tòa án xem xét yêu cầu tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết; bị hạn chế hay bị mất năng lực hành vi dân sự, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là mất tích hay đã chết; yêu cầu hủy bỏ việc kết hôn trái pháp luật,…

=>Như vậy các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự phát sinh trong vụ việc dân sự phải do Tòa án xem xét quyết định chứ không do đương sự

Câu 8: Người chưa thành niên có thể tự mình tham gia tố tụng khi xét thấy cần thiết.

*Trả lời: Nhận định sai

Theo khoản 3 Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định đương sự từ đủ

18 tuổi trở lên có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác trong tố tụng dân sự Khoản

4 quy định người chưa đủ 6 tuổi tham gia tố tụng thông qua người đại diện, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ do người đại diện thực hiện; khoản 5 quy định người từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi cũng tham gia tố tụng thông qua người đại diện, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ do người đại diện thực hiện; khoản 6 quy định người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi tự mình tham gia tố tụng trong trường hợp tham gia lao động bằng hợp đồng lao động hoặc trường hợp giao dịch bằng tài sản riêng, còn các giao dịch khác thì cũng phải tham gia tố tụng thông qua người đại diện

Vì thế, nếu là người chưa thành niên thì sẽ tham gia tố tụng thông qua người đại diện

Cơ sở pháp lý: Điều 69 BLTTDS

Câu 9: Luật sư tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự thì được phép thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng thay cho đương sự.

*Trả lời: Nhận định sai

Trang 5

Bởi vì, Quyền, nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được quy định tại Điều 76 BLTTDS chỉ có thể thực hiện một số quyền và nghĩa vụ tố tụng cho đương sự chứ không phải tất cả

Cơ sở pháp lý: Điều 76 BLTTDS 2015

Câu 10: Thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu là người thân thích của người đại diện đương sự.

*Trả lời: Nhận định đúng

Các trường hợp Thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi được quy định tại Khoản 1 Điều 53 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) Cụ thể bao gồm:

a) Trường hợp quy định tại Điều 52 của Bộ luật này;

Cụ thể như sau:

- Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;

- Đã tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương

sự, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án đó;

- Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ

b) Họ cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau;

c) Đã tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc tiến hành tố tụng vụ án đó với tư cách là Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án

Việc thay đổi Thẩm phán trước khi mở phiên tòa do Chánh án hoặc Phó Chánh

án Tòa án được phân công giải quyết vụ án quyết định

Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì do Chánh án Tòa án trên một cấp quyết định

Việc thay đổi Thẩm phán tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định trước khi bắt đầu xét hỏi bằng cách biểu quyết tại phòng nghị án Khi xem xét thay

Trang 6

đổi thành viên nào thì thành viên đó được trình bày ý kiến của mình, Hội đồng quyết định theo đa số Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa

Cơ sở pháp lý: Điều 53 BLTTDS 2015

Phần 2 Bài tập

TAND thành phố Y thụ lý một vụ án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà T (nguyên đơn) và bà H (bị đơn) và Chánh án đã phân công cho một Thẩm phán B giải quyết Sau đó, Thẩm phán B đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án Một thời gian sau, Thẩm phán B được điều

chuyển công tác về TAND tỉnh P, nên Chánh án TAND thành phố Y đã giao vụ án cho Thẩm phán khác giải quyết.

Sau phiên xử sơ thẩm của TAND thành phố Y, đương sự kháng cáo Thẩm phán B được phân công xét xử phúc thẩm vụ án này Tại phiên tòa, đương

sự yêu cầu thay đổi Thẩm phán B Hội đồng xét xử tuyên bố hoãn phiên tòa

để thực hiện việc thay đổi Thẩm phán B.

Anh/ chị hãy nhận xét hành vi tố tụng trên của Tòa án phúc thẩm?

*Trả lời:

Hành vi tố tụng trên của Tòa án phúc thẩm là không hợp lý

- Được biết, trước đó Chánh án đã phân công cho một Thẩm phán B giải quyết vụ việc trên Thẩm phán B đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án

và sau đó vụ việc được giao cho một Thẩm phán khác giải quyết và ra bản án sơ thẩm Việc phân công thẩm phán B xét xử phúc thẩm là phù hợp Bởi lẽ, căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 53 BLTTDS 2015 thì trường hợp Thẩm phán đã tham gia xét xử vụ án dân sự nhưng chưa ra được bản án thì có thể tham gia xét

xử hai lần trong cùng một vụ án,

- Việc đương sự yêu cầu thay đổi Thẩm phán B chưa đủ căn cứ để Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để thực hiện thay đổi Theo quy định tại khoản 14 Điều

70 “Quyền, nghĩa vụ của đương sự…14.Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này." Do vậy, khi có đủ căn cứ để yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, thì đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người tiến hành hành tố tụng Nhưng trong trường hợp trên

Trang 7

có thể thấy không đủ căn cứ thay đổi người tiến hành tố tụng mà ở đây là Thẩm phán B

=>Do vậy, việc giải quyết vụ việc trên của Tòa án phúc thẩm là chưa thuyết phục

Phần 3 Phân tích án

- Đọc Bản án số: 135/2017/DS-PT;

- Tóm tắt tình huống;

Tại nhà đất tranh chấp tọa lạc k1,10/2, đường BHN, ấp ĐN, xã HA,TP.BH, tỉnh ĐN là của Chùa LT cho ông Diệp L, bà Đỗ Thị D( là cha mẹ ruột của ông S) mướn, sau đó trước năm 1975 Chùa LT giao toàn quyền sử dụng đất cho ông

L, bà D Năm 1983 ông L, bà D sang Pháp định cư, trước khi đi ông L, bà D có nhờ người cháu là bà Ngũ Trung T giữ giùm nhà đất trên Cùng năm này giữa 2 bên có làm thủ tục mua bán nhà hợp thức hóa thủ tục xuất nhập cảnh Ngày 30/5/2009 ông S có đưa bà D về thăm gia đình, bà D cũng đã thường xuyên gửi tiền về giúp đõ gia đình bà T và bà T tự nguyện làm tờ cam kết ngày 19/6/2009,

bà T thừa nhận đứng tên giùm cho bà D phần tài sản mà bà D đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V680506 do UBND TP BH Đồng Nai cấp 01/10/2002 Ngày 27/6/2009 bà D qua đời tại ngôi nhà trên, sau đó ông S bà

N trở về Pháp tiếc tục làm ăn Một năm sau, ông S bà N về Việt Nam làm giỗ cho bà D thì thấy bà T lấy ½ ngôi nhà và ½ thừa đất của mảnh sân để xây nhà cho gia đình bà T ở mà không có sự đồng ý của ông S bà N Qua nhiều năm hòa giải không thành ông S bà N khởi kiện yêu cầu bà T phải có trách nhiệm hoàn trả lại quyền sử dụng diện tích đất 587,8m2 cho ông S bà N theo giá đất hiện nay

- Xác đinh vấn đề pháp lý có liên quan:

 Điều 25, Điều 179, Điều 195 BLTTDS 2015

 Điều 255, Điều 256, Điều 305 BLDS 2015

 Điều 113, Điều 121 Luật Đất Đai 2003

 Pháp lệnh số 10/2009 UBTVQH ngày 27/2/2009 về án phí, lệ phí tòa án

- Trả lời các câu hỏi sau:

1 Yêu cầu phản tố là gì? Yêu cầu độc lập là gì?

Trang 8

*Trả lời:

- Yêu cầu phản tố là những điều bị đơn đưa ra đề nghị Toà án buộc nguyên đơn phải thực hiện đối với mình Khi tham gia tố tụng dân sự, ngoài quyền phản đối yêu cầu của nguyên đơn thì bị đơn còn có quyền đưa ra yêu cầu lại đối với nguyên đơn( khoản 4, Điều 72 và Điều 200 BLTTDS 2015)

-Yêu cầu độc lập là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự

là người không phải người khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ

án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ và họ có đưa ra yêu cầu độc lập với yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn(Điều 56, Điều 73, Điều 201 BLTTDS 2015)

2 Có phải mọi yêu cầu của bị đơn đưa ra đều là yêu cầu phản tố hay

không? Hãy cho biết các điều kiện để một yêu cầu được coi là yêu cầu phản tố?

*Trả lời:

Không Bởi trong nhiều trường hợp có thể yêu cầu của bị đơn sẽ không được Tòa án chấp thuận mà nó tùy thuộc vào vụ việc đó, nếu trong trường hợp bên nguyên đơn khởi kiện không đúng hoặc khởi kiện sai thì bị đơn có thể kháng cáo bản án hay vụ việc đó Do đó Tòa án có thể xem xét sẽ chấp nhận 1 phần hoặc toàn bộ bản án tùy thuộc vào vụ việc khởi kiện mà bị đơn kháng cáo

Các điều kiện để một yêu cầu được coi là yêu cầu phản tố:

- Tại khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 13 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP

bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn

- Theo khoản 2 Điều 176 BLTTDS, để yêu cầu phản tố được Tòa án chấp nhận thụ lý, giải quyết trong cùng vụ án thì yêu cầu đó phải đảm bảo một trong các điều kiện: (1) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; (2) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ

Trang 9

yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và (3) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn

3 Có phải mọi yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra đều là yêu cầu độc lập hay không? Hãy cho biết các điều kiện để một yêu cầu được coi là yêu cầu độc lập?

*Trả lời:

Không Trong trường hợp yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng một vụ án thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khởi kiện vụ án khác Do đó không phải trong mọi yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra đều là yêu cầu độc lập

Điều kiện để một yêu cầu được coi là yêu cầu độc lập:

- Theo khoản 1 Điều 177 BLTTDS, yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa

vụ liên quan được chấp nhận là yêu cầu độc lập khi đảm bảo đầy đủ 03 điều kiện gồm: (1) Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ; (2) yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết và (3) yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn

- Theo khoản 2 Điều 177 BLTTDS, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét

xử sơ thẩm Về thời điểm bắt đầu, BLTTDS không quy định như yêu cầu phản

tố Tuy nhiên, thời điểm bắt đầu có thể xác định khi người có quyền lợi và nghĩa

vụ liên quan được Tòa án thông tin chính thức về vụ án đang giải quyết Việc thông tin này có thể qua thông báo thụ lý vụ án nếu như người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được xác định ngay trong đơn khởi kiện của người khởi kiện; hoặc thông qua văn bản yêu cầu tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án mà có căn cứ xác định việc giải quyết vụ án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ

4 Giả sử tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu phản tố thì Tòa án có bắt buộc phải chấp nhận hay không?

Trang 10

*Trả lời:

Có Căn cứ tại khoản 1, khoản 2, Điều 193 BLTTDS năm 2015 nếu Trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 4 Điều 189 của

Bộ luật này thì Thẩm phán thông báo bằng văn bản nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho người khởi kiện để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn do Thẩm phán ấn định nhưng không quá 01 tháng; trường hợp đặc biệt, Thẩm phán có thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày

Ngày đăng: 23/04/2020, 21:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w