Quyết định đã cho chị O là người được trực tiếp nuôi cháuPhan Hữu Hoàng N sinh ngày 20.6.2015 là con chung của vợ chồng như thỏa thuậncủa hai bên đương sự; Khi đó, chị O chưa yêu cầu anh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT
LỚP: 109-CLC44B
BÀI TẬP THẢO LUẬN TUẦN 5:
NHÓM 05
1 Nguyễn Hoàng Hà Mi (Nhóm trưởng) 1953801013105
GIẢNG VIÊN: TS ĐẶNG THANH HOA
Trang 3V/v tranh chấp tiền cấp dưỡng
nuôi con chung
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Loan Hoà
Các Hội thẩm nhân dân:
1 Ông: Nguyễn Đức Dũng
2 Ông: Lê Quang Hoà
- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Thanh Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên toà: Bà
Cao Thị Hải Long - Kiểm sát viên
Ngày 07 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc mởphiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 236/2017/TLST - HNGĐ ngày 15tháng 11 năm 2017 về việc Yêu cầu đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung theoQuyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2018/QĐXX-ST ngày 11 tháng 01 năm 2018 vàtheo ấn định ngày xét xử tại Quyết định hoãn phiên toà số 01/2018/QĐST-HPT ngày26/0102018 giữa các đương sự
Trang 41 Nguyên đơn: Chị Phạm Thị O - Sinh năm 1992
Địa chỉ: Xóm 8, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An Có mặt
2 Bị đơn: Anh Phan Hữu H - Sinh năm 1990
Địa chỉ: Xóm 8, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 14.11.2017 và các lời khai, biên bản phiên họp côngkhai chứng cứ và biên bản phiên hòa giải, trong quá trình giải quyết vụ án cũng nhưtại phiên tòa sơ thẩm- nguyên đơn chị Phạm Thị O trình bày: Chị Phạm Thị O và anhPhan Hữu H đã được Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An ra Quyết địnhcông nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 176/2017/QĐST-HNGĐ ngày 31/8/2017 Quyết định đã cho chị O là người được trực tiếp nuôi cháuPhan Hữu Hoàng N sinh ngày 20.6.2015 là con chung của vợ chồng như thỏa thuậncủa hai bên đương sự; Khi đó, chị O chưa yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung
và đồng ý cho anh H tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng đến thời gian nàychị rơi vào tình trạng việc làm không ổn định, thu nhập ít nên việc nuôi con gặp khókhăn Hiện nay anh Phan Hữu H đã có công ăn, việc làm là công nhân cơ khí, làmviệc theo công trình, việc làm ổn định nhưng cụ thể thu nhập mỗi tháng bao nhiêu thìtôi không biết cụ thể.Vì vậy chị yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Phan Hữu H phải
có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Phan Hữu Hoàng N mỗi tháng là2.000.000 đồng, kể từ tháng 12/2017 cho đến khi cháu Hoàng N trưởng thành, đủ 18tuổi Nếu anh H không chấp nhận yêu cầu thì đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Hcấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật
Tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại bản tự khai, biên bản hòa giải, anh PhanHữu H trình bày: Nội dung của chị O trình bày trước Tòa án về thời gian giải quyết lyhôn, con chung và nuôi con chung là đúng, anh không có ý kiến gì Tuy nhiên, anhkhông chấp nhận yêu cầu của chị O vì hiện nay anh không có việc làm nên không cóthu nhập, chị O yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 2.000.000 đồngthì bản thân anh không có khả năng, anh xin tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con- khinào có công ăn việc làm ổn định thì sẽ cấp dưỡng nuôi con cho chị O sau
Trang 5Tòa án đã tiến hành xác minh mức thu nhập bình quân của người lao động tự dotrên địa bàn xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thấy rằng: năm 2017, mức thu nhập bìnhquân của một người lao động tự do đạt mức 30,5 triệu đồng/năm tương đương với2.550.000đ/người/tháng.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc phát biểu quanđiểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành và người tham gia
tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước lúc nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đãthực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự
Việc thụ lý đúng thẩm quyền; xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng;chuyển hồ sơ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát, thời hạn giải quyếtđúng quy định của pháp luật
Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 81,
82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xét các tình tiết về mức thu nhập của người laođộng phổ thông trên địa bàn xã N, tuổi của con chung và hoàn cảnh sống của các bên,
đề nghị buộc anh Phan Hữu H phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng khoảng từ1.000.000đ đến 1.200.000đ cho đến khi cháu trưởng thành 18 tuổi kể từ tháng12.2017 Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập lời khai các đương sự, họp phiêncông khai chứng cứ, tiến hành hòa giải hợp lệ; việc các đương sự cung cấp tài liệu,chứng cứ cũng như việc Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ đúng trình tự quy địnhcủa pháp luật tố tụng dân sự Các đương sự không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi,quyết định của những người tiến hành tố tụng
Anh Phan Hữu H (bị đơn) được triệu tập hợp lệ phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫnvắng mặt không có lí do chính đáng; Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự,Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự là đúng quy định của pháp luật
[2] Về nội dung:
Trang 6Về quan hệ tranh chấp: Xét ngày 31/8/2017, Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc
đã giải quyết đơn li hôn của chị O và ban hành Quyết định công nhận thuận tình ly
hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 176/2017/QĐST-HNGĐ Trong Quyết định
đã tuyên giao cháu Phan Hữu Hoàng N là con chung của vợ chồng cho chị Phạm Thị
O trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc Do sự thỏa thuận của hai bên đương sự nên tạmhoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Phan Hữu H Như vậy, việc chịPhạm Thị O khởi kiện yêu cầu anh Phan Hữu H đóng góp tiền nuôi con chung và việcTòa án thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng quy định của pháp luật
[3] Về nội dung tranh chấp:
Xét vợ chồng có một con chung là Phan Hữu Hoàng N, sinh ngày 20.6.2015(giới tính: Nam); Hiện nay cháu đang do chị O nuôi dưỡng Nguyện vọng của chịPhạm Thị O là mong muốn được tiếp tục nuôi con và yêu cầu anh Phan Hữu H cấpdưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật với một khoản tiền hàng tháng là2.000.000 đồng kể từ tháng 12 năm 2017 cho đến khi cháu N trưởng thành 18 tuổi.Ngược lại, anh Phan Hữu H trình bày anh không có việc làm ổn định nên chưa có điềukiện đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con
Xét các tài liệu thu thập được về mức thu nhập, tuổi của con chung và hoàn cảnhsống của trẻ em trong giai đoạn hiện nay, trên cơ sở quy định của pháp luật Hội đồngxét xử thấy trách nhiệm nuôi con là của chung hai vợ chồng do vậy cần buộc anh PhanHữu H có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con theo quy định Tuy nhiên, xét không
có tài liệu chứng minh anh Phan Hữu H có công ăn việc làm ổn định cũng như mứcthu nhập cụ thể nên cần dựa vào mức thu nhập bình quân của lao động phổ thông trênđịa bàn xã N năm 2017 để xem xét Căn cứ vào mức thu nhập của hai bên đương sựtrình bày; mức thu nhập lao động phổ thông trên địa bàn xã N là 30,5 triệu đồng trênmỗi lao động (tương đương 2.550.000 đồng/tháng/người) và điều kiện tối thiểu đểnuôi dưỡng cháu N trong điều kiện xã hội hiện tại nên cần buộc anh Phan Hữu H phảiđóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị Phạm Thị O mỗi tháng 1.000.000 đồng chođến khi cháu trưởng thành 18 tuổi.Thời gian cấp dưỡng tính từ 01.12.2017 như yêucầu của chị O là phù hợp
Trang 7[4] Về án phí: Anh Phan Hữu H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôicon.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộluật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016-UBTVQH14 của Quốc hội về Lệ phí, ánphí Tòa án;
Xử:
Buộc anh Phan Hữu H có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con là cháuPhan Hữu Hoàng N sinh ngày 20.6.2015 mỗi tháng 1.000.000đ Thời gian cấp dưỡng
từ ngày 01 tháng 12 năm 2017 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi trưởng thành
(Cháu Phan Hữu Hoàng N là con chung của anh Phan Hữu H và chị Phạm Thị Ođược Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc giao cho chị Phạm Thị O trực tiếp nuôi dưỡngsau khi li hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của cácđương sự số 176/2017/QĐST-HNGĐ ngày 31/8/2017)
Quyết định này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án Dân sựthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuậnthi hành án, quyền yêu cầu thi hành án và tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thihành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự Thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án Dân sự
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khithi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoảntiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo mức quy định tại khoản2 Điều 468 Bộluật Dân sự năm 2015
Về án phí: Anh Phan Hữu H phải chịu 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con
sơ thẩm
Trang 85 Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên
án Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bảnsao bản án hoặc niêm yết bản sao bản án
Đinh Loan Hòa
Tóm tắt Bản án 16/2018/DS-PT ngày 22/10/2018
Nguyên đơn: chị H1
Bị đơn: anh H2
Nguyên đơn kiện bị đơn về vụ việc anh Nông Văn L (chồng chị nguyên đơn) điều khiển xe
mô tô va chạm vào xe ô tô do bị đơn điều khiển làm anh L bị trọng thương nặng, sau đó đã tửvong Gia đình bị đơn có đưa cho gia đình nguyên đơn 10.000.000 đồng để chi phí việc maitáng cho anh L Sau này do hai bên không thống nhất thỏa thuận được số tiền mà gia đìnhnguyên đơn yêu cầu nên nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hà Giangyêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc anh H2 phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại với tổng sốtiền là 432.431.000 đồng
Tại Bản án số: 02/2018/DS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2018, Toà án nhân dân huyện V đãquyết định: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “đòi bồi thường thiệt hại về tính mạng bị xâmphạm do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra” của chị Hoàng Thị Kim H1; Buộc anh Phùng ĐìnhH2 phải bồi thường các khoản chi phí
Không nhất trí với Bản án sơ thẩm, Ngày 22/6/2018, bị đơn anh kháng cáo Bản án dân sự sơthẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm: Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; Hủy bản án
sơ thẩm số: 02/2018/DS-ST ngày 18/6/2018 của Toà án nhân dân huyện V vì đúng với quyđịnh của pháp luật Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bịđơn thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm
* Xét theo Bản án số: 16/2018/HDGĐ-ST
- Các đương sự được xác định như sau:
Trang 9Thứ nhất, về nguyên đơn ở đây là Chị Phạm Thị O (sinh năm 1992)
Thứ hai, về bị đơn là Anh Phan Hữu H (sinh năm 1990)
Căn cứ theo khoản 3 Điều 69 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: “Đương sự là người từ đủmười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành
vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác” Theo đó, nguyên đơn đủ điều kiện để khởi kiệntheo quy định của pháp luật
- Những chủ thể tham gia tố tụng khác được xác định như sau:
Thứ nhất, cơ quan tiến hành tố tụng ở Bản án này bao gồm: Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc
và Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc
Thứ hai, người tiến hành tố tụng bao gồm: Thẩm phán (Ông Đinh Loan Hoà), Hội thẩm nhândân ( Ông Nguyễn Đức Dũng, Ông Lê Quang Hoà ), Thư ký phiên toà (Ông Vương ThanhMinh), Kiểm sát viên (Bà Cao Thị Hải Long)
Trang 10V/v tranh chấp về kết quả bán đấu giá
tài sản và yêu cầu hủy quyết định cá
- Nguyên đơn:Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967 Địa chỉ: Khối 1, phường P,thành phố T, tỉnh Quảng Nam
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Thị Bích H, có mặt Địa chỉ: thành
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh
Quảng Nam Địa chỉ: thành phố H, tỉnh Quảng Nam
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông
Nguyễn Văn D - Chủ tịch
1 Ông Trần C - Giám đốc
2 Bà Kiều Thị Yến H1, vắng mặt Địa chỉ: thành phố T, tỉnh Quảng Nam
3 Ông Đào Duy K - Luật sư - Văn phòng Luật sư Đ, vắng mặt Địa chỉ: thànhphố T, tỉnh Quảng Nam
4 Bà Lưu Thị L - Luật sư - Văn phòng Luật sư L, vắng mặt Địa chỉ: phường
P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam
Trang 11Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1 Ông Nguyễn Văn Thành N – Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trườngthành phố H (Văn bản ủy quyền ngày 02/8/2018), có đơn xin xét xử vắng mặt
2.Trung tâm Phát triến quỹ đất thành phố H, tỉnh Quảng Nam Địa chỉ: thànhphố H, tỉnh Quảng Nam
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm nội dung vụ án như sau:
Tại các văn bản có tại hồ sơ vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bàNguyễn Thị T là bà Châu Thị Thủy B trình bày:
Ngày 04/5/2018 bà T tham gia đấu giá quyền sử dụng đất tại UBND phường T, thànhphố H, tỉnh Quảng Nam do Công ty cố phần T Quảng Nam bán đấu giá tài sản và bà T
đã trúng đấu giá 01 lô đất thửa số 06 (Lô số 06), tờ bản đồ số 64, tại phường T, thànhphố H, tỉnh Quảng Nam
Sau khi đấu giá xong bà T được biết Công ty cổ phần T Quảng Nam không đủ tư cáchchủ thể để nhận ủy quyền bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật, quy chế bánđấu giá tài sản không đảm bảo quy định của pháp luật và người điều hành cuộc bánđấu giá tài sản không đảm bảo quy định của pháp luật cũng như cuộc bán đấu giá tàisản có nhiều vi phạm pháp luật Cụ thể là: Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 23 Luậtđấu giá năm 2016 quy định: Doanh nghiệp đấu giá tư nhân có chủ doanh nghiệp làđấu giá viên, đồng thời là giám đốc doanh nghiệp, công ty đấu giá hợp danh có ít nhấtthành viên hợp danh là đấu giá viên, tổng giám đốc hoặc giám đốc của công ty hợpdanh là đấu giá viên, nhưng thực tế ông Trần Đình K giám đốc Công ty cổ phần TQuảng Nam là người đại diện theo pháp luật nhưng không phải là đấu giá viên nênkhông đủ tư cách chủ thể để nhận ủy quyền của Trung tâm phát triển quỹ đất thànhphố H bán đấu giá tài sản là 10 lô đất nêu trên theo quy định của pháp luật
Căn cứ vào khoản 4 Điều 6 Luật đấu giá quy định “Cuộc đấu giá phải có đấu giá viênđiều hành” và căn cứ vào điểm e khoản 1 Điều 9 Luật đấu giá quy định “Các hành vi
bị cấm khác của Luật liên quan” Tuy nhiên, ông Đào Duy K điều hành cuộc bán đấugiá không phải là đấu giá viên và thực tế ông Khánh là luật sư điều hành cuộc bán đấugiá là vi phạm Luật luật sư năm 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2012 Mặt khác,cuộc bán đấu giá có nhiều vi phạm như không lập biên bản và không xử lý người trảgiá cao nhất sau đó rút lại giá đã trả đã làm ảnh hưởng đến cuộc bán đấu giá tài sản
Trang 12Bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá tài sản ngày 04/5/2018 củaCông ty cổ phần T Quảng Nam đối với thủa đất số 06 (Lô số 06), tờ bản đồ số 64, tạiphường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam và hủy một phần Quyết định phê duyệt kếtquả trúng đấu giá quyền sử dụng đất số 1205/QĐ-UBND ngày 29/5/2018 của Ủy bannhân dân thành phố H đối với thửa đất vừa nêu theo quy định của pháp luật.
Bị đơn: Công ty cổ phần T Quảng Nam do người đại diện theo ủy quyền ông Lê TrầnThanh Nghị trình bày:
Công ty cổ phần T Quảng Nam được thành lập năm 2004, trước đây là đơn vị thuộc
Sở Tài chính Quảng Nam, người đại diện theo pháp luật gồm có ông Nguyễn Thành T
Chủ tịch Hội đồng quản trị, ông Dương Tuấn A Tổng giám đốc, bà Trần Thị Ly N Giám đốc thẩm định giá, ông Trần Đình K - Giám đốc đấu giá
-Theo quyết định số 22B/QĐ-HĐQT ngày 09/3/2018 của Công ty cổ phần T QuảngNam đã bổ nhiệm ông Trần Đình K giữ chức vụ Giám đốc đấu giá, nhiệm vụ điềuhành hoạt động đấu giá theo sự phân công của Hội đồng quản trị và theo quy định vềpháp luật đấu giá Ông Trần Đình K được Bộ Tư pháp cấp chứng chỉ hành nghề đấugiá số 784/TP/ĐG-CCHN ngày 07/8/2013, căn cứ theo Điều 10, Điều 14, điểm b Điều
18 Điều 19 Luật đấu giá tài sản năm 2016 thì ông Trần Đình K có đủ tư cách để nhận
ủy quyền của Trung tâm phát triển quỹ đất H theo đúng trình tự, quy định của phápluật về đấu giá tài sản
Về vấn đề không lập biên bản đối với những người trả giá thấp hơn giá khởi điểm tạiphiên đấu giá là hoàn toàn không có căn cứ bởi vì theo phiếu trả giá của từng lô đấtqua từng vòng đấu thì không có khách hàng nào trả giá thấp hơn so với giá khởi điểm
Về ông Đào Duy K đã được Bộ Tư pháp cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá số1750/TP/ĐG-CCHN ngày l7/4/2017, thẻ đấu giá viên số 22/ĐGV do Giám đốc Sở Tưpháp tỉnh Quảng Nam cấp ngày 19/4/2018 nên ông Khánh có đủ điều kiện để điềuhành tại cuộc đấu giá tài sản ngày 04/5/2018 theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 19Luật đấu giá tài sản năm 2016
Cuộc đấu giá tài sản ngày 04/5/2018 tổ chức đấu giá 10 lô đất tại khối T, phường T,thành phố H là hoàn toàn đúng trình tự, quy định của pháp luật về đấu giá
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh QuảngNam do ông Nguyễn Thành N đại diện trình bày:
Quá trình lập các thủ tục để đưa ra đấu giá các lô đất tại khối T, phường T, thành phố
H và quá trình tổ chức đấu giá đã được Trung tâm phát triển quỹ đất và Công ty cổphần T Quảng Nam tiến hành đúng theo trình tự thủ tục được quy định tại Quyết định
số 11/2016/QĐ-ƯBND ngày 05/5/2016 của UBND tỉnh Quảng Nam Tại thời điểm tổ