Điểm a khoản 1 Điều 37 BLTTDS 2015 quy định Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc “Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
Trang 1BÀI TẬP THẢO LUẬN TUẦN 3 THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
GIẢNG VIÊN: NGUYỄN TRẦN BẢO UYÊN
LỚP: CLCQTL45(A)
DANH SÁCH NHÓM 3 MÔN: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Ký hiệu chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 BLTTDS 2015 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015
2 BLDS 2015 Bộ luật Dân sự 2015
3 NQ 03/2012/NQ-HĐTP Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP
Trang 3Phần 1 Nhận định (Trả lời đúng, sai về các nhận định và nêu cơ sở pháp lý)
1 Tranh chấp về cho thuê lại lao động là tranh chấp về dân sự
Nhận định sai
Theo điểm b khoản 3 Điều 32 BLTTDS 2015, tranh chấp về cho thuê lại lao động là tranh chấp liên quan đến lao động chứ không phải tranh chấp dân sự
CSPL: điểm b khoản 3 Điều 32 BLTTDS 2015
2 Thẩm quyền xét xử tranh chấp về hợp đồng chuyển giao công nghệ thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Nhận định sai
Điểm a khoản 1 Điều 37 BLTTDS 2015 quy định Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc “Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26,
28, 30 và 32 của Bộ luật này trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này” Theo đó, điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015 quy định Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp “về dân
sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này” Do đó, quy định tại khoản 4
Điều 26 BLTTDS 2015 rằng “tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công
nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Bộ luật này”, tức tranh chấp
về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ không có mục đích lợi nhuận sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
Vì vậy, không phải tranh chấp về hợp đồng chuyển giao công nghệ nào cũng
có thẩm quyền xét xử thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh
CSPL: khoản 4 Điều 26, khoản 2 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 BLTTDS 2015
3 Tòa án không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động
Nhận định sai
Căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015 quy định “Những tranh
chấp về lao động và tranh chấp liên quan đến lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;” Tuy
nhiên, trường hợp này không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải nhưng vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án về tranh chấp lao động
CSPL: điểm c khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015
4 Tòa dân sự không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại
Nhận định sai
Căn cứ theo khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015 quy định về “Những tranh chấp
phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích sinh lợi” thì thuộc thẩm quyền giải quyết
của TAND cấp huyện và theo quy định tại khoản 1 Điều 36 BLTTDS 2015 thì “Tòa
dân sự Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm
Trang 4Tòa án nhân dân cấp huyện”.Như vậy, Tòa dân sự có thẩm quyền giải quyết tranh
chấp về kinh doanh, thương mại Cụ thể là Toà dân sự Tòa án nhân dân cấp huyện vẫn có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
CSPL: khoản 1 Điều 30; khoản 1 Điều 36 BLTTDS 2015
5 Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài
Nhận định Sai
Căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 37 BLTTDS 2015 quy định: “1 Tòa án
nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc sau đây:…b) Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật này, trừ những yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 2
và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này; ” Như vậy, dựa vào quy định trên để dẫn
chiếu tới khoản 5 Điều 27 về “Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án” có “ 5 Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam… bản
án, quyết định về dân sự, của Tòa án nước ngoài…” Tuy nhiên, Tòa án Việt Nam
chỉ xem xét để công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trong các trường hợp quy định cụ thể tại Điều 423 Do đó, Tòa án nhân dân cấp tỉnh sẽ chỉ có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài ở những trường hợp được luật quy định tại Điều 423 BLTTDS 2015
CSPL: khoản 5 Điều 27, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 423 BLTTDS 2015
Phần 2 Bài tập
Ông A và bà B kết hôn hợp pháp năm 2007, có đăng ký kết hôn tại phường K, quận X thành phố Y Năm 2008 bà B sang Pháp làm ăn Nhiều lần
bà B gửi tiền và hàng về Việt Nam cho ông A sử dụng Tuy nhiên, giữa bà B và ông A quan hệ tình cảm không còn, xuất phát từ việc mâu thuẫn trong đời sống tình cảm và tài sản.
Tháng 02 năm 2020 bà B về Việt Nam, ông A làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án quận X thành phố Y cho ly hôn Tòa án đã thụ lý Tại Tòa án, bà B đồng ý ly hôn Tài sản bà B giao cho ông A sở hữu toàn bộ Con chung không
có nên không giải quyết Trước khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử bà B làm đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt bà và quay lại nước Pháp để sinh sống Tòa án
đã ra bản án cho ông A ly hôn với bà B.
a Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp?
Ông A nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án quận X thành phố Y cho ly hôn với
bà B Căn cứ theo Điều 1 BLTTDS 2015, đây là tranh chấp về hôn nhân về gia đình, cụ thể là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS 2015
CSPL: Điều 1, khoản 1 Điều 28 BLTTDS 2015
b Theo anh, chị, Tòa án quận X thành phố Y giải quyết vụ án trên là đúng thẩm quyền theo cấp của Tòa án không? Tại sao?
Trang 5Theo nhóm em, Tòa án quận X thành phố Y giải quyết vụ án trên là đúng thẩm quyền của Tòa án bởi các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, đây là vụ án dân sự giải quyết tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS 2015 Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS
2015 thì Tòa án nhân dân cấp huyện hoàn toàn có thẩm quyền đối với loại tranh chấp này Về thẩm quyền theo lãnh thổ thì căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 39, Tòa
án nơi bị đơn là cá nhân (Bà B) cư trú sẽ có thẩm quyền giải quyết, cụ thể ở đây có thể xem là Tòa án quận X Vì vậy nếu xét theo thẩm quyền theo các cấp tòa án lẫn theo lãnh thổ thì Tòa án quận X thành phố Y giải quyết vụ án là hoàn toàn đúng thẩm quyền
Thứ hai, theo thông tin đề bài thì năm 2008 bà B sang Pháp làm ăn Và đến tháng 2 năm 2020, khi bà B đã về Việt Nam ông A mới nộp đơn khởi kiện và đã được Tòa án quận X thụ lý Căn cứ theo khoản 3 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều
37 BLTTDS thì tranh chấp có đương sự ở nước ngoài sẽ không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện mà sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh Tuy nhiên, căn cứ theo tình tiết đề bài, thì thời điểm tố tụng bắt đầu bằng việc ông A nộp đơn khởi kiện và Tòa án quận X chấp nhận thụ lý, khi đó bà B đã về/đang ở VN vì vậy nếu căn cứ theo khoản 3 Điều 35 BLTTDS và trên tinh thần của khoản 1 Điều 7 NQ 03/2012/NQ-HĐTP về việc đương sự ở nước ngoài phải
được xác định “không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân
sự” Vì vậy, căn cứ theo các quy định trên, thì sẽ không có yếu tố đương sự đang ở
nước ngoài, vì vậy việc tiến hành giải quyết vụ án của Tòa án quận X vẫn đúng thẩm quyền
Thứ ba, tình tiết trước khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử thì bà B nộp đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và quay lại Pháp về bản chất không làm thay đổi tính chất tố tụng của vụ việc (không có yếu tố nước ngoài) mà chỉ là việc bà B thay đổi nơi cư trú Vì vậy căn cứ theo khoản 3 Điều 39 BLTTDS quy định về thẩm quyền Tòa án theo lãnh thổ thì việc Tòa án quận X vẫn tiếp tục tiến hành giải quyết vụ án là phù hợp khi Tòa án quận X đã thụ lý và giải quyết tranh chấp đúng theo quy định của BLTTDS về thẩm quyền ngay từ khi quan hệ tranh chấp ly hôn phát sinh Ngoài ra, căn cứ theo khoản 1 Điều 228 BLTTDS thì việc tòa án quận X vẫn tiếp tục xét xử khi bà B quay về Pháp là hợp lệ vì bà B đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt
Thứ tư, căn cứ theo Điều 471 BLTTDS và tinh thần của Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP tại điểm a khoản 5 Điều 7 quy định về việc không thay đổi thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài thì khi Tòa án cấp huyện đã thụ lý theo đúng thẩm quyền, và trong quá trình giải quyết thì mới có sự thay đổi về đương sự ở nước ngoài thì Tòa án cấp huyện (Tòa án quận X)
đã thụ lý vẫn tiếp tục giải quyết Căn cứ theo thời điểm tố tụng thì lúc Tòa thụ lý bà
B vẫn đang ở Việt Nam và trong quá trình giải quyết cụ thể là trước khi tiến hành xét xử bà B mới quay lại Pháp, hơn nữa trong tranh chấp không hề có bất cứ yếu tố nước ngoài nào khác như tài sản, con chung, Do đó, áp dụng các quy định trên thì việc Tòa án quận X vẫn tiếp tục giải quyết tranh chấp là đúng thẩm quyền đồng thời phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 39 BLTTDS 2015, như hướng giải thích nêu trên
Tóm lại, theo quy định của BLTTDS 2015 và cả tinh thần của NQ 03/2012/NQ-HĐTP thì Tòa án nhân dân quận X đã làm đúng thẩm quyền theo cấp
Trang 6CSPL: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản , khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 39, Điều 471 BLTTDS 2015, trên tinh thần của khoản 1, điểm a khoản 5 Điều 7 NQ 03/2012/NQ-HĐTP
Phần 3 Phân tích án
- Đọc Bản án số 04/2018/DSPT ngày 12/02/2018 của TAND tỉnh Thái Nguyên.
- Thực hiện các công việc sau:
1 Xác định chủ thể và nội dung kháng cáo trong Bản án phúc thẩm nêu trên
1 Cơ quan tiến hành tố tụng : TAND tỉnh Thái Nguyên , VKSND tỉnh Thái Nguyên
2 Người tiến hành tố tụng:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quế
- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Năm và ông Phùng Văn Thành
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thoan-thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang - Kiểm sát viên
3 Chủ thể tham gia tố tụng :
- Nguyên đơn: Ông T1, sinh năm 1929; Trú tại: xóm A1, xã L, huyện ĐH (nay thuộc thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên) Vắng mặt tại phiên tòa
- Bị đơn:
+ Ông T2, sinh năm 1967; Trú tại: A2, HVT, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên tòa)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cho ông T2 có ông Luật sư LS -thuộc Văn phòng Luật sư LS-đoàn Luật sư thành phố Hà Nội (có mặt tại phiên tòa) + Bà H, sinh năm 1971; Trú tại: A2, HVT, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt tại phiên tòa);
Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông M, sinh năm 1949 (có mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà S, sinh năm 1962; (vợ ông T1)
Nội dung kháng cáo: bị đơn T2 và bà H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên bác yêu cầu của nguyên đơn đòi vợ chồng ông 1,4 tỷ đồng và buộc ông T1 phải trả lại cho vợ chồng ông 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng)
2 Hướng giải quyết của Hội đồng xét xử phúc thẩm? Nhận xét về quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm theo cả hai hướng đồng ý và không đồng ý? (Lưu ý nêu rõ luận cứ cho các nhận xét)
- Hướng giải quyết của Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Hội đồng xét xử phúc thẩm đã ra quyết định “Hủy bản án sơ thẩm số
17/2017/DSST ngày 19 tháng 10 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên, chuyển hồ sơ về cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.” (căn cứ được Tòa áp dụng theo quy định khoản 3 điều 308
BLTTDS 2015) Do Toà án phúc thẩm nhận định rằng Toà án sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là xác định sai quan hệ pháp luật dẫn đến việc xác định sai thẩm quyền xét xử của Toà án nên toà cấp phúc thẩm không xem xét về nội
Trang 7dung, cần phải hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án mới đảm bảo được quyền
và nghĩa vụ của các đương sự
- Đồng ý với quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Toà án phúc thẩm nhận định “Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là quan hệ
tranh chấp hợp đồng vay nợ là sai quan hệ pháp luật, đây phải xác định là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.” là phù hợp với quy định của
pháp luật
Bởi vì căn cứ theo Điều 500 BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng về quyền sử
dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất.”
Từ nội dung vụ án, có thể thấy từ đầu đã có sự thoả thuận việc vợ chồng ông T1, bà S chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông T2, bà H 57ha đất rừng Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, ông T1 vẫn chưa chuyển nhượng hết đất theo hợp đồng đặt cọc; và ông T1 cũng không còn đủ đất vì đã chuyển nhượng cho con của ông T1 nên mới phát sinh việc hai bên viết giấy vay nợ để vay lại của ông T1, bà S 1.400.000.000đ trong số tiền 2.000.000.000đ mà ông T2 đã đặt cọc Như vậy, việc Toà án sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật trên là hợp đồng vay tài sản là không đúng vì ông T2 viết giấy vay tiền ngày 06/6/2011 là vì ông phát hiện ông T1 không có đất bán theo trong hợp đồng chuyển nhượng nên ông mới tìm cách lấy lại tiền, do đó đây phải là quan hệ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Đồng thời, căn cứ khoản 9 Điều 26 BLTTDS 2015 thì tranh chấp về quyền sử dụng đất sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, và chiếu theo điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015 quy định Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải
quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp “về dân sự, hôn nhân và gia đình quy
định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này” Không những thế, căn cứ theo quy định tại điểm c khoản
1 Điều 39 BLTTDS thì “đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có
bất động sản có thẩm quyền giải quyết”, ở đây 57ha đất rừng này được xác định là
đối tượng tranh chấp là bất động sản thuộc huyện HĐ, tỉnh Thái Nguyên Vì vậy, lúc này khi quan hệ pháp luật của vụ việc được xác định là quan hệ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì thẩm quyền giải quyết sẽ thuộc về Toà
án nhân dân huyện HĐ
Từ những căn cứ đã nêu trên, có thể thấy rằng việc Hội đồng xét xử phúc thẩm
ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm do Tòa sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng là xác định sai quan hệ pháp luật và chuyển hồ sơ về cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án là hoàn toàn đúng với quy định của pháp luật
CSPL: Điều 500 BLDS 2015, khoản 9 Điều 26, a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015
- Không đồng ý với quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Tòa phúc thẩm xác định đây là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không hợp lý vì căn cứ theo Điều 46 BLDS 2015:
Trang 8“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”
Ngày 06/6/2011, ông T2 đến nhà ông T1 đặt vấn đề cần vốn làm ăn và đề nghị vay lại của vợ chồng ông T1 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) và sẽ trả lãi theo lãi suất của Ngân hàng nên ông T1 đã đồng ý cho vợ chồng ông T2 và bà H vay và thiết lập giấy vay ghi rõ số tiền và thời hạn trả, có chữ ký đầy đủ của hai bên Điều này chứng tỏ ông T2 đã thực hiện hành vi vay tài sản cụ thể là vay tiền của ông T1 thông qua giấy vay (có thể xem là hợp đồng vay tài sản) Như vậy, ta nên xem đây là tranh chấp về hợp đồng vay nợ chứ không phải là tranh chấp về hợp đồng quyền sử dụng đất như Tòa phúc thẩm đã tuyên bố
Ngoài ra, nhận định “ phải coi ông yêu cầu của ông T2, bà H là yêu cầu phản
tố và hướng dẫn cho ông T2, bà H làm thủ tục yêu cầu phản tố theo quy định của
Bộ Luật tố tụng dân sự để xem xét yêu cầu của ông T2, bà H thì mới giải quyết được triệt để vụ án.” là chưa phù hợp vì căn cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 72 BLTTDS 2015, nếu yêu cầu phản tố của bị đơn không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác" Như vậy, trong trường hợp này nếu yêu cầu phản tố của ông T2, bà H không được Tòa án chấp nhận thì ông T2, bà H vẫn có quyền khởi kiện một vụ án khác mà không nhất thiết phải tiến hành thủ tục yêu cầu phản tố trong vụ án này
CSPL: Điều 46 BLDS 2015, khoản 6 Điều 72 BLTTDS 2015
3 Xác định vấn đề pháp lý từ việc giải quyết câu hỏi nêu trên và Tóm tắt bản
án
Vấn đề pháp lý căn cứ theo tình tiết của Bản án là: Xác định sai quan hệ pháp
luật tranh chấp dẫn đến việc xác định sai thẩm quyền xét xử của Tòa án
TÓM TẮT BẢN ÁN
Tháng 5 năm 2011, ông T2 cùng vợ là bà H đã thỏa thuận với vợ chồng ông T1 và bà S về việc mua 57ha đất rừng tại huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên của ông T, sau khi kiểm tra thực tế thì ông T2 đã đồng ý mua với giá 2.000.000.000đ (Hai tỷ đồng) Ngày 16/05/2011, ông T2 và bà H đặt cọc cho vợ chồng ông T1 và bà S số tiền 2.000.000.000đ (Hai tỷ đồng) để mua đất của ông T1, nội dung này được xác thực trong hợp đồng công chứng số 1146 quyển 1 do UBND xã KM chứng thực Nhưng cho đến ngày 01/09/2017 thì vợ chồng ông T1 chỉ mới sang tên cho vợ chồng ông T2 56.230m2 tương đương 196.805.000đ (Một trăm chín mươi sáu triệu, tám trăm linh năm nghìn đồng)
Sau đó, ông T2 biết ông T1 không đủ đất để bán cho mình vì ông T1 đã tách cho con và chưa đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do vậy ông T2 đã vay lại của vợ chồng ông T1 số tiền Một tỷ bốn trăm triệu đồng trong số tiền 2.000.000.000đ (Hai tỷ đồng) mà ông T2 đã đặt cọc trong hợp đồng mua đất Việc vay lại này được thiết lập trong giấy vay ghi rõ số tiền và thời hạn trả, có chữ ký đầy đủ hai bên kèm theo thỏa thuận về lãi suất
Cuối năm 2012, ông T1 khởi kiện, yêu cầu ông T2 và bà H trả số tiền đã vay
và yêu cầu trả lãi theo quy định của pháp luật Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông T1 (Buộc ông T2 và bà H phải có trách nhiệm liên đới trả cho ông T1 và bà S số tiền gốc và lãi là 2.198.000.000đ) Ngoài ra, Ông T2 và
Trang 9bà H phải nộp số tiền án phí sơ thẩm là 75.960.000đ (bảy mươi lăm triệu, chín trăm sáu mươi nghìn đồng) và án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật
Ngày 30/10/2017, ông T2 và bà H làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm
và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên bác yêu cầu của nguyên đơn, đồng thời buộc ông T1 phải trả lại cho vợ chồng ông 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng)
Tại phiên tòa phúc thẩm, Tòa án nhận định rằng: Vợ chồng ông T1, bà S có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông T2, bà H 56.230m2 đất rừng tương đương 5.7 ha trong hợp đồng đặt cọc 57ha mà vợ chồng ông T2 đã giao kết với vợ chồng ông T1 Nhận thấy ông T1 chưa chuyển nhượng hết đất theo hợp đồng đặt cọc, mặt khác ông T1 không còn đủ đất vì đã chuyển nhượng cho con của ông T1, vì vậy mới có việc hai bên viết giấy vay nợ với nội dung vợ chồng ông T2 nợ
vợ chồng ông T1 1.400.000.000đ (một tỷ, bốn trăm triệu đồng) Xét thấy, phải xác định quan hệ này là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thay vì quan hệ tranh chấp hợp đồng vay nợ như Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định Vì vậy khi vợ chồng ông T2 yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án phải coi yêu cầu của ông T2, bà H là yêu cầu phản tố và hướng dẫn cho ông T2, bà H làm thủ tục yêu cầu phản tố theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự để xem xét yêu cầu của ông T2,
bà H thì mới giải quyết được triệt để vụ án Do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng xác định sai quan hệ pháp luật nên cấp phúc thẩm không xem xét về nội dung, cần phải hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án mới đảm bảo được quyền và nghĩa vụ của các đương sự
Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
bị đơn còn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi xác định không đúng quan hệ pháp luật, từ đó dẫn đến việc xác định sai thẩm quyền xét xử của Tòa án, đây phải là quan hệ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và Tòa án giải quyết phải là Tòa án nhân dân huyện ĐH
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
A Văn bản quy phạm pháp luật
1 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015
2 Bộ luật Tố tụng Dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015
3 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự
Trang 101 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2022), Giáo trình Luật Tố tụng
Dân sự Việt Nam (Tái bản, có sửa đổi, bổ sung), Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt
Nam