TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT DÂN SỰ Môn Luật Tố tụng dân sự BÀI TẬP THẢO LUẬN TUẦN 2 CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ Lớp 127 DS46B Nhóm 9 DANH SÁCH CÁC SINH VIÊ[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
- -
Môn: Luật Tố tụng dân sự
BÀI TẬP THẢO LUẬN TUẦN 2:
CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
DANH SÁCH CÁC SINH VIÊN THỰC HIỆN
1 Nguyễn Ngọc Diễm Quỳnh 2153801012185
5 Trịnh Thị Thúy Quỳnh 2153801012191
Niên khóa: 2022 – 2023
Trang 22
MỤC LỤC
DANH SÁCH PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ THÀNH VIÊN TRONG NHÓM 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
PHẦN 1 NHẬN ĐỊNH 4
1 Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng khi có căn cứ rõ ràng cho rằng người tiến hành tố tụng có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ 4
2 Chỉ những người thực hiện hành vi khởi kiện mới trở thành nguyên đơn trong vụ án dân sự 4
3 Người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi dân sự không thể trở thành bị đơn trong vụ án dân sự 5
4 Tất cả các đương sự đều có quyền ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng 5
5 Luật sư tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự thì được phép thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng thay cho đương sự 6
PHẦN 2 BÀI TẬP 7
Bài tập 1 7
Bài tập 2 8
PHẦN 3 PHÂN TÍCH ÁN 12
1 Tòa án các cấp xác định tư cách đương sự như thế nào? Cơ sở để các Tòa án xác định? 12
2 Nhận xét về nhận định của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm về việc xác định tư cách đương sự theo cả hai hướng đồng ý và không đồng ý (Lưu ý nêu rõ luận cứ cho các nhận xét) 13
3 Từ các phân tích trên, tóm tắt vụ án xoay quanh vấn đề pháp lý được xác định
14
Trang 3DANH SÁCH PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ THÀNH VIÊN TRONG NHÓM
1 Nguyễn Ngọc Diễm Quỳnh 2153801012186 Phần 3 Phân tích án câu 2,
câu 3
2 Lò Thụy Hồng Nhung 2153801012160 Nhận định câu 3, 4; Phần 3
Phân tích án câu 1
3 Bạch Thị Hà Phương 2153801012173 Phần 2 bài tập 1
4 Đặng Tú Quyên 2153801012180 Nhận định câu 1, 2, 5
5 Trịnh Thị Thúy Quỳnh 2153801012191 Phần 2 bài tập 2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 44
PHẦN 1 NHẬN ĐỊNH
1 Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng khi có căn cứ rõ ràng cho rằng người tiến hành tố tụng có thể không vô
tư trong khi làm nhiệm vụ
Nhận định sai
Theo khoản 2 Điều 46 BLTTDS, những người tiến hành tố tụng dân sự gồm có: Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án; Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên
Trong đó, đối với giải quyết vụ án dân sự, Chánh án Tòa án chỉ có thẩm quyền ra quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa, còn tại phiên tòa thì việc thay đổi sẽ
do Hội đồng xét xử quyết định (Điều 56 BLTTDS 2015) Còn đối với việc thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên trước khi mở phiên tòa sẽ do Viện trưởng Viện kiểm sát
có thẩm quyền quyết định, còn thay đổi tại phiên tòa sẽ do Hội đồng xét xử quyết định (Điều 62 BLTTDS 2015)
Như vậy, không phải Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định thay đổi đối với mọi người tiến hành tổ tụng mà còn tùy thuộc vào thời điểm yêu cầu là trước hay sau phiên tòa/phiên họp và tùy thuộc vào người tiến hành tố tụng là ai (là Chánh án, Thẩm phán, Kiểm sát viên…) mà dẫn đến chủ thể có thẩm quyền quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng sẽ khác nhau
Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 46, Điều 56, Điều 62 BLTTDS 2015
2 Chỉ những người thực hiện hành vi khởi kiện mới trở thành nguyên đơn trong vụ án dân sự
Nhận định sai
Theo khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015, nguyên đơn là người khởi kiện hoặc là người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân
sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm Ngoài ra, cơ quan,
tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn
Ví dụ: A, 9 tuổi, bị B xâm phạm đến quyền lợi của mình Bản thân A không thể tự mình khởi kiện bởi vì bản thân A chưa có đủ năng lực hình vi tố tụng dân sự do đó A bắt buộc phải thông qua người đại diện hợp pháp của mình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trong trường hợp này, A là người được cơ quan, tổ chức, cá nhân
Trang 5khác (cụ thể là ba mẹ của A) khởi kiện thay chứ A không phải là người trực tiếp thực hiện hành vi khởi kiện Mặc dù không thực hiện hành vi khởi kiện nhưng A trong trường hợp vẫn là nguyên đơn, còn cha mẹ của A thì tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp của A
Như vậy, không chỉ những người thực hiện hành vi khởi kiện mới trở thành nguyên đơn mà những người thỏa mãn các điều kiện quy đinh tại khoản 2 Điều 68 cũng có thể trở thành nguyên đơn trong vụ án dân sự
Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015
3 Người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi dân sự không thể trở thành bị đơn trong vụ án dân sự
Nhận định: Sai
Đương sự là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia
tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó Như vậy, người chưa thành niên vẫn có thể trở thành bị đơn trong vụ án dân sự
Còn nếu đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự thì trước thời điểm thụ lý,
bị đơn sẽ là người đại diện hợp pháp của đương sự; sau thời điểm thụ lý thì họ vẫn là bị đơn
Cơ sở pháp lý: khoản 6 Điều 69, Điều 88 BLTTDS 2015; Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP
4 Tất cả các đương sự đều có quyền ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng
Nhận định sai
Việc đại diện cho đương sự: “Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng” Theo đó, BLTTDS đã có quy định cấm các đương sự trong việc ly hôn ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia
tố tụng
Điểm a khoản 1 Điều 87 quy định: “Nếu người được ủy quyền cũng là đương sự
trong cùng một vụ việc với người ủy quyền mà quyền, lợi ích hợp pháp của người được
ủy quyền đối lập với quyền, lợi ích của người ủy quyền” Điểm b khoản 1 Điều 87 quy
định: “Nếu người được ủy quyền đang là đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một người khác (người đã ủy quyền) mà quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự đó
Trang 66
đối lập với quyền, lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ việc (người sắp ủy quyền) Như vậy 2 trường hợp thuộc Điều 87 trên cũng đã có quy định cấm không được ủy quyền theo quy định của pháp luật hiện hành
Cơ sở pháp lý: khoản 4 Điều 85 BLTTDS 2015; điểm a, b khoản 1 Điều 87 BLTTDS
2015
5 Luật sư tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương
sự thì được phép thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng thay cho đương
sự
Nhận định sai
Căn cứ theo khoản 6 Điều 76 BLTTDS 2015 thì luật sư tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự chỉ được phép thực hiện các quyền và nghĩa
vụ tố tụng thay cho đương sự trong phạm những điều được quy định tại các khoản 1, 6,
16, 17, 18, 19 và 20 Điều 70 BLTTDS 2015, cụ thể:
“Điều 70 Quyền, nghĩa vụ của đương sự
1 Tôn trọng Tòa án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa
6 Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình
16 Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và chấp hành quyết định của Tòa án trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc
17 Đề nghị Tòa án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng
18 Đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ việc theo quy định của Bộ luật này
19 Đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến vụ án hoặc đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng
20 Tranh luận tại phiên tòa, đưa ra lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng.”
Ngoài ra, những quyền, nghĩa vụ khác được quy định tại Điều 70 này thì luật sư tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự không được phép thực hiện thay cho đương sự
Trang 7Như vậy, không phải luật sư tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự thì được phép thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng thay cho đương sự
mà chỉ được thực hiện một số quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật
Cơ sở pháp lý: khoản 6 Điều 76; Điều 70 BLTTDS 2015
PHẦN 2 BÀI TẬP
Bài tập 1
Tháng 9/2018 ông M (cư trú tại Quận 9, TP Hồ Chí Minh) ký hợp đồng cho Công
ty cổ phần N (trụ sở ở Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương), thuê căn nhà thuộc
sở hữu riêng của ông M tại Quận 3, TP Hồ Chí Minh với mục đích làm kho chứa hàng Tháng 3/2019, Công ty N đã cho ông K thuê lại một phần mặt bằng tầng trệt căn nhà đó
để ở mà không được sự đồng ý của ông M Khi phát hiện sự việc, ông M đã yêu cầu công ty N chấm dứt việc cho ông K thuê nhưng Công ty N không chấp nhận
Do đó, tháng 9/2019 ông M khởi kiện yêu cầu Công ty N trả nhà với lý do không thực hiện đúng các thoả thuận trong hợp đồng, tự ý cho thuê lại khi không có sự đồng ý của bên cho thuê; yêu cầu Công ty N thanh toán số tiền thuê nhà của tháng 8 và tháng 9/2019 Tòa án đã thụ lý vụ án theo quy định của pháp luật để giải quyết Ông V giám đốc của Công ty N đã tham gia tố tụng trong vụ án này
Sau khi thụ lý vụ án, Công ty N đã nộp đơn đến Tòa án yêu cầu ông M phải trả lại cho Công ty N số tiền 20 triệu đồng mà Công ty N đã sửa chữa căn nhà trong thời gian thuê
a Xác định tư cách đương sự
Quan hệ tranh chấp phát sinh: Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự Trong vụ án này: Ông M khởi kiện ra Tòa án yêu cầu Công ty N trả nhà với lý do không thực hiện đúng các thoả thuận trong hợp đồng, tự ý cho thuê lại khi không có sự đồng ý của ông Công ty N là người ký hợp đồng thuê nhà với ông M và bị kiện đòi trả lại nhà và thanh toán số tiền thuê của tháng 8 và tháng 9/2019 Ông K đã thuê lại một phần mặt bằng tầng trệt căn nhà của Công ty N thuê của ông B Như vậy các đương sự của vụ án trên được xác định như sau:
- Nguyên đơn: Ông M
- Bị đơn: Công ty N
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông K
Trang 88
b Tòa án có thể chấp nhận đơn yêu cầu của Công ty N để xét xử chung trong vụ
án do ông M khởi kiện không? Tại sao?
Quyền được đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn được quy định tại khoản 1 Điều 200
BLTTDS 2015 như sau: “Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của
mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.”
Theo khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP: “Được coi là yêu cầu phản
tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu Toà án giải quyết.” Như vậy
có thể thấy rằng yêu cầu của bị đơn Công ty N đưa ra hoàn toàn độc lập và không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn là ông M đã đưa ra trước đó nên yêu cầu của Công ty N được coi là yêu cầu phản tố đối với ông M
Yêu cầu phản tố của Công ty N được Tòa án chấp nhận vì yêu cầu này thuộc điểm a
khoản 2 Điều 200 BLTTDS 2015: “Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của
nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập” Bên cạnh đó,
theo khoản 3 Điều 200 BLTTDS 2015 thì nếu đơn yêu cầu phản tố của Công ty N nộp trước khi phiên họp mở thì sẽ được xét xử chung trong vụ án mà ông M khởi kiện
Bài tập 2
Từ ngày 27/01/2015 đến ngày 16/01/2016, Công ty cổ phần Thương mại - Sản xuất
- Xuất nhập khẩu Maxgarmex do bà Trương Thị Tường Vân (Giám đốc) ký kết 06 Hợp đồng tín dụng vay tiền với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Quảng Ngãi (gọi tắt là Ngân hàng Quảng Ngãi)
Các Hợp đồng tín dụng số 01, 02, 03, 04 và 05 được đảm bảo bằng 4 Hợp đồng cầm
cố tài sản số 01/HĐCCTS ngày 27/01/2015, số 02/HĐCCTS ngày 21/02/2015, số 03/HĐCCTS ngày 21/03/2015, số 04/HĐCCTS ngày 03/6/2015, tài sản được đảm bảo đều là các thiết bị may có tổng giá trị là 4.857.247.700 đồng
Còn đối với Hợp đồng tín dụng số 06, thì ngày 7/01/2016, bà Trương Thị Tường Vân cùng chồng là ông Lê Hùng Sơn có ký Hợp đồng bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 01/TC, với nội dung: Vợ chồng ông, bà Trương Thị Tường Vân, Lê Hùng Sơn đem ngôi nhà cấp 4B có diện tích 24,14m2 trên diện tích đất 72m2 tại 118/6A đường Nguyễn Sơn (đường số 01 cũ), phường 18, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10497/98 ngày
Trang 921/8/1998 do Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cấp mang tên ông, bà Trương Thị Tường Vân, Lê Hùng Sơn bảo lãnh cho khoản vay tại Hợp đồng tín dụng số 06 này Đến hạn thanh toán khoản vay, Ngân hàng Quảng Ngãi đã nhiều lần yêu cầu Công
ty cổ phần Thương mại - Sản xuất - Xuất nhập khẩu Maxgarmex thanh toán các khoản
nợ vay nhưng Công ty không chịu thanh toán Ngày 15/3/2018, Ngân hàng Quảng Ngãi khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty cổ phần Thương mại - Sản xuất - Xuất nhập khẩu Maxgarmex do bà Trương Thị Tường Vân làm Giám đốc phải trả tổng số tiền 4.064.248.333 đồng, trong đó, tiền gốc là 3.050.000.000 đồng, tiền lãi (tính đến ngày 4/7/2018) là 1.014.248.333 đồng và đề nghị phát mãi tài sản đã cầm cố, thế chấp, bảo lãnh để thanh toán nợ vay
Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 04/KDTM-ST ngày 4/5/2019, Tòa
án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã xác định tư cách đương sự như sau:
Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Quảng Ngãi;
Bị đơn: Công ty cổ phần Thương mại-Sản xuất-Xuất nhập khẩu Maxgarmex; Đồng thời, Tòa sơ thẩm tuyên xử: “Buộc Công ty cổ phần Thương mại-Sản xuất-Xuất nhập khẩu Maxgarmex do bà Trương Thị Tường Vân đại diện theo pháp luật phải trả cho Ngân hàng Quảng Ngãi tiền gốc 3.050.000.000 đồng và tiền là 1.014.248.333 đồng Tổng cộng 4.064.248.333 đồng Bà Trương Thị Tường Vân còn phải tiếp tục trả lãi của tiền gốc vay kể từ ngày 05/7/2018 cho đến khi thanh toán xong nợ vay
Buộc bà Trương Thị Tường Vân đại diện theo pháp luật phải nộp 31.064.248 đồng
án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm…”
Nhận xét hành vi tố tụng của Tòa sơ thẩm
Trả lời:
Việc Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi giải quyết sơ thẩm vụ án trên theo nhóm là không đúng thẩm quyền, xác định thiếu đương sự, xác định sai nguyên đơn và xác định thiếu trách nhiệm của người có nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự Cụ thể:
Thứ nhất, tranh chấp giữa Công ty cổ phần Thương mại - Sản xuất - Xuất nhập khẩu
Maxgarmex với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Quảng Ngãi được xác định là vụ án kinh doanh, thương mại theo Theo quy định tại khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015 thì hợp đồng tín dụng được xác lập giữa tổ chức tín dụng với tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận thì trong trường hợp trên thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm sẽ doTòa án Nhân dân cấp huyện giải quyết căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015
Trang 1010
Như vậy, việc TAND tỉnh Quảng Ngãi đã giải quyết vụ án trên là không đúng thẩm quyền
Thứ hai, về việc TAND tỉnh Quãng Ngãi xác định thiếu đương sự trong vụ án trên
cụ thể như sau:
Xét tại nội dung của vụ án có nêu rõ như sau: “Đối với Hợp đồng tín dụng số 06, thì
ngày 7/01/2016, bà Trương Thị Tường Vân cùng chồng là ông Lê Hùng Sơn có ký Hợp đồng bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 01/TC, với nội dung: Vợ chồng ông, bà Trương Thị Tường Vân, Lê Hùng Sơn đem ngôi nhà cấp 4B có diện tích 24,14m 2 trên diện tích đất 72m 2 tại 118/6A đường Nguyễn Sơn (đường số 01 cũ), phường 18, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10497/98 ngày 21/8/1998 do Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cấp mang tên ông, bà Trương Thị Tường Vân, Lê Hùng Sơn bảo lãnh cho khoản vay tại Hợp đồng tín dụng số 06 này.” Như vậy, bà Vân và ông Lê Hùng Sơn
(chồng bà Vân) đã bảo lãnh cho khoản vay tại Hợp đồng tín dụng số 06 của Công ty cổ
phần Thương mại - Sản xuất - Xuất nhập khẩu Maxgarmex Với dữ kiện “Giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10497/98 ngày 21/8/1998 do Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cấp mang tên ông, bà Trương Thị Tường Vân, Lê Hùng Sơn”, và được xác định rằng tài sản bảo lãnh cho hợp đồng số 06 trên là tài sản
chung của vợ chồng ông Sơn và bà Vân Do đó, khi ông Sơn đã dùng tài sản của mình bảo lãnh cho hợp đồng vay số 06 của Công ty cổ phần Thương mại - Sản xuất - Xuất nhập khẩu Maxgarmex nhưng Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi lại không xác định ông Sơn là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án trên theo quy định tại khoản
4 Điều 68 BLTTDS năm 2015
Thứ ba, về việc xác định việc Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xác định sai đương
sự trongvụ án nêu trên thể hiện như sau:
Theo quy định tại khoản 1, 4 Điều 85 và Điều 86 Bộ luật dân sự 2015, thì Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Quảng Ngãi là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân chứ không phải là pháp nhân Mà pháp nhân là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Trong trường hợp này không đề cập đến vấn đề “được ủy quyền” Do đó, căn cứ pháp lý Điều 186 BLTTDS thì trong vụ án này nguyên đơn phải là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chứ không phải là Ngân hàng Quảng Ngãi như Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định
Thứ tư, về việc xác định yêu cầu thanh toán khoản nợ với nguyên đơn: