Đồng thời tác giả nêu ra những thiếu sót, bất cập của pháp luật về bảo vệ môi trường trong quy hoạch kinh tế - xã hội như: Chưa điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh giữa cơ quan quản lý
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ TRÀ MY
PH¸P LUËT VÒ KIÓM SO¸T ¤ NHIÔM M¤I TR¦êNG
TRONG LÜNH VùC KHAI TH¸C §¸ QUA THùC TIÔN TØNH NINH B×NH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ TRÀ MY
PH¸P LUËT VÒ KIÓM SO¸T ¤ NHIÔM M¤I TR¦êNG
TRONG LÜNH VùC KHAI TH¸C §¸ QUA THùC TIÔN TØNH NINH B×NH
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS MAI HẢI ĐĂNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực khai thác đá qua thực tiễn tỉnh Ninh Bình” là công trình nghiên
cứu do tôi thực hiện Mọi số liệu, thông tin, tài liệu tham khảo sử dụng trong nội dung luận văn đều được tham khảo một cách trung thực và được trích nguồn đầy đủ, đúng quy định
Tác giả luận văn
Trần Thị Trà My
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ 10
1.1 Một số vấn đề về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá 10
1.1.1 Môi trường và ô nhiễm môi trường 10
1.1.2 Kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá 15
1.2 Kiểm soát ô nhiễm môi trường và quyền con người 20
1.2.1 Quyền con người đối với môi trường 20
1.2.2 Nội dung các quyền con người đối với môi trường 21
1.3 Một số vấn đề về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá 25
1.3.1 Khái niệm pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá 25
1.3.2 Vai trò của pháp luật đối với việc kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá 28
1.3.3 Quy định của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá 32
Kết luận Chương 1 37
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM
SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG
KHAI THÁC ĐÁ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH 38
2.1 Thực trạng khai thác đá trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 38
2.1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới hoạt động khai thác đá tỉnh Ninh Bình 38
2.1.2 Hiện trạng hoạt động khai thác đá tại tỉnh Ninh Bình 41
2.1.3 Tác động của hoạt động khai thác đá tới con người và môi trường 47
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực khai thác đá trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 51
2.2.1 Lập quy hoạch sử dụng tài nguyên đá 51
2.2.2 Hoạt động đánh giá tác động môi trường (ĐTM) 56
2.2.3 Kiểm soát ô nhiễm không khí 59
2.2.4 Kiểm soát ô nhiễm nước 63
2.2.5 Kiểm soát ô nhiễm đất 65
2.2.6 Quản lý chất thải rắn 66
2.2.7 Quản lý và kiểm soát tiếng ồn, độ rung 70
2.2.8 Quan trắc môi trường 72
2.2.9 Ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường 75
2.2.10 Xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường 78
Kết luận Chương 2 81
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ TẠI NINH BÌNH 82
3.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong hoạt động khai thác đá tại tỉnh Ninh Bình 82
Trang 63.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác
đá tại Ninh Bình 84
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực khai thác đá 84
3.2.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường 87
3.2.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường 89
3.2.4 Các giải pháp cụ thể khác 91
Kết luận Chương 3 98
KẾT LUẬN CHUNG 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHYT: Bảo hiểm y tế ĐTM: Đánh giá tác động môi trường TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Lượng khí thải trung bình do khai thác 300.000 m3
Bảng 2.1: Tổng hợp hiện trạng tài nguyên, trữ lượng các mỏ
đá xây dựng của tỉnh Ninh Bình (Theo các huyện) 43
Bảng 2.2: Tổng hợp hiện trạng tài nguyên, trữ lượng các mỏ
đất đá hỗn hợp - san lấp của tỉnh Ninh Bình (Theo
Bảng 2.3: Hiện trạng mỏ khai thác đá xây dựng, đá san lấp tỉnh
Bảng 2.4: Tổng hợp quy hoạch khai thác các mỏ đá xây dựng
đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 của tỉnh Ninh Bình (Theo các huyện) theo Quyết định số
Bảng 2.5: Tổng hợp quy hoạch khai thác đá hỗn hợp - vật liệu
san lấp giai đoạn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 của tỉnh Ninh Bình (Theo các huyện) theo Quyết định số 01/QĐ-UBND tỉnh Ninh Bình 55
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những thập kỉ gần đây, Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể và liên tục để kiểm soát ô nhiễm, tuy nhiên hiện trạng môi trường ở Việt Nam nói chung và tỉnh Ninh Bình nói riêng vẫn tiếp tục suy thoái và có
xu hướng gia tăng với những chỉ số ở mức báo động Nhiều chính sách cụ thể được đưa ra, nhiều văn bản pháp luật được ban hành nhằm kiểm soát tình trạng ô nhiễm môi trường trên các lĩnh vực, tại các địa phương cụ thể Tỉnh Ninh Bình trong những năm gần đây phát triển nhanh, mạnh các hoạt động công nghiệp, trong đó có hoạt động khai thác đá Hoạt động khai thác đá của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh trong một thời gian dài
đã gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng môi trường cũng như sức khỏe của người dân ở khu vực xung quanh.Tình trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động này đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ ở các mỏ khai thác đá đặt ra bài toán phức tạp về kiểm soát ô nhiễm môi trường
Tỉnh Ninh Bình đã chủ động và có nhiều giải pháp nhằm hạn chế ô nhiễm và kiểm soát tốt chất lượng môi trường trên địa bàn nói chung xuất phát từ nhận thức: bảo vệ môi trường có ý nghĩa cấp thiết với việc phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn tồn tại nhiều thách thức đặt ra cho tỉnh Ninh Bình trong việc bảo vệ môi trường, cụ thể là trong hoạt động khai thác đá trên địa bàn tỉnh
Trong công cuộc bảo vệ môi trường, pháp luật rõ ràng đóng một vai trò hết sức quan trọng Hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường
đã được hình thành và thực hiện trên thực tế đang thể hiện những tồn tại cụ thể trong lĩnh vực khai thác đá Hiện nay, chưa có nhiều đề tài khoa học
Trang 10nghiên cứu vấn đề pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực khai thác đá Mặc dù đề tài này đã được đề cập trong một số bài viết nhưng chưa được tập trung nghiên cứu chuyên sâu, bao quát toàn bộ và hầu hết các bài viết đều không nghiên cứu vấn đề dưới góc độ pháp luật, không có sự cập nhật thông tin tương ứng với quá trình thay đổi từ thực tiễn và quy định của pháp luật
Với những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật về kiểm soát
ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực khai thác đá qua thực tiễn tỉnh Ninh Bình” cho Luận văn thạc sĩ của mình Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu về vấn
đề này, luận văn nghiên cứu, tìm hiểu về hoạt động khai thác đá trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường bằng pháp luật tại tỉnh Ninh Bình; từ đó bước đầu có những lý giải về thực trạng môi trường tỉnh Ninh Bình những năm gần đây và đưa ra một số giải pháp nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá tại tỉnh Ninh Bình, hoàn thiện
hệ thống pháp luật về môi trường trong tương lai
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
“Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực khai thác đá qua thực tiễn tỉnh Ninh Bình” là một đề tài có nội dung nghiên
cứu khá rộng, cần xem xét trên nhiều góc độ Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn, tác giả giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu ở những nội dung cơ bản sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về ô nhiễm môi trường; tầm quan trọng của việc kiểm soát ô nhiễm môi trường; quyền của con người được sống trong môi trường trong lành, mối liên hệ giữa kiểm soát ô nhiễm môi trường
và bảo vệ quyền con người
- Nghiên cứu, tìm hiểu thực tế hoạt động khai thác đá tại tỉnh Ninh Bình,
cụ thể tại hai đơn vị điển hình: Thành phố Tam Điệp và huyện Nho Quan
Trang 11- Nghiên cứu, đánh giá các quy định hiện hành của pháp luật nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường; các quy định cụ thể nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
- Đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về kiểm soát
ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài trên đây được nghiên cứu nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản sau:
- Tập hợp, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng các khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường, quyền con người về môi trường, pháp luật về kiểm soát môi trường trong hoạt động khai thác đá
- Tìm hiểu, nghiên cứu hoạt động khai thác đá tại tỉnh Ninh Bình, những tác động của hoạt động khai thác đá đến môi trường và con người
- Đánh giá, lý giải thực trạng áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực khai thác đá tại tỉnh Ninh Bình
- Chỉ ra những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực khai thác đá tại tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về kiểm soát
ô nhiễm môi trường và các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực khai thác đá tại tỉnh Ninh Bình
4 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ô nhiễm môi trường từ lâu luôn là vấn đề được cả xã hội quan tâm Đã
có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này dưới nhiều góc độ: chính trị, pháp luật, kinh tế, môi trường, xã hội học… với quy mô rộng, hẹp khác nhau Riêng xét dưới góc độ pháp luật, vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi
Trang 12trường đã được đề cập trong nhiều đề tài khoa học, tuy nhiên đối với vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường cụ thể trong hoạt động khai thác đá đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này
Sự phát triển của kinh tế phải đi đôi với sự bền vững của môi trường nếu không quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa một cách vội vàng sẽ dẫn đến những hậu quả lâu dài Nền kinh tế trước mắt có thể tiến nhanh vượt bậc nhưng qua giai đoạn đỉnh cao sẽ suy thoái khi mà sự phát triển đó vượt ngưỡng chịu đựng của môi trường Tác giả Trần Thị Thùy Dương (2008) có
nghiên cứu: “Bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Việt Nam” [24] Đề tài khoa học trên tập trung nghiên cứu hệ
thống tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá tới môi trường sinh thái và bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam dưới góc độ của Khoa học Kinh tế chính trị Để làm tốt mục đích trên tác giả đã làm rõ mối quan hệ giữa công nghiệp hoá, hiện đại hoá và môi trường sinh thái; phân tích kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc giải quyết các vấn đề môi trường trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; phân tích thực trạng môi trường sinh thái và bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam; từ đó đưa ra một số giải pháp
cơ bản nhằm bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
Luận văn thạc sỹ “Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Văn Việt (2010) [59] đã khái quát
rõ nét về trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam và một số nước trên thế giới, nêu thực trạng vi phạm hành chính và truy cứu trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay, đề xuất các giải pháp dựa trên yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay từ việc học tập kinh
Trang 13Trước thực tế chất lượng môi trường đang xuống cấp nghiêm trọng, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người và các loài sinh vật, vấn
đề ô nhiễm môi trường trở thành một chủ đề nóng mà bất kì tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực nào đều quan tâm, nghiên cứu trong các đề tài khoa học
Nguyễn Đình Đức (2011) đã có đề tài: “Những vấn đề pháp lý về bảo vệ môi
trường trong quy hoạch kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay” [26] Trong
nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quy hoạch bảo vệ môi trường với việc phát triển kinh tế bền vững và phân tích nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ này Đồng thời tác giả nêu ra những thiếu sót, bất cập của pháp luật về bảo vệ môi trường trong quy hoạch kinh tế - xã hội như: Chưa điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh giữa
cơ quan quản lý nhà nước về môi trường với các cơ quan, tổ chức tư vấn thẩm định kế hoạch quy hoạch bảo vệ môi trường và vai trò của cộng đồng dân cư trong việc quy hoạch bảo vệ môi trường trong sự phát triển bền vững, chưa quan tâm đến việc kiểm tra, giám sát chủ đầu tư thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường sau khi đề án quy hoạch bảo vệ môi trường được thẩm định và đi vào hoạt động Từ những nhận định xuất phát từ hoạt động nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong quy hoạch kinh tế - xã hội ở Việt Nam thời gian tới
Luận án Tiến sĩ Luật học “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về
môi trường” của tác giả Dương Thanh An năm 2011 [1] đã tập trung phân
tích và tổng hợp một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về tội phạm môi trường, tác giả đã đưa ra những số liệu mới nhất về tội phạm môi trường trong thời gian đó Luận án được đánh giá là có nhiều đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn, đặc biệt đã đề xuất được các hướng để hoàn thiện các quy định của
Bộ luật Hình sự Việt Nam đối với loại tội phạm về môi trường
Trang 14Nguyễn Thị Xuân Trang (2012) với đề tài nghiên cứu: “Trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do xâm phạm môi trường theo quy định của bộ luật dân
sự năm 2005” [49] đã có những đóng góp nhất định vào lý luận trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng các khái niệm môi trường theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp, khái niệm trách nhiệm dân sự do xâm phạm môi trường… Luận văn đưa ra những nguyên nhân, điều kiện của các vụ xâm phạm môi trường, dự báo tình hình xâm phạm môi trường trong những năm tới Đồng thời, luận văn góp phần giải quyết một cách có hệ thống những vướng mắc xung quanh chế định bồi thường thiệt hại do xâm phạm môi trường
Năm 2013, tác giả Nguyễn Thị Tố Uyên đã có đề tài nghiên cứu với tựa
đề: “Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường” [56] Luận án đã nêu khái niệm “trách nhiệm pháp lý” trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường ở hai khía cạnh “tích cực” và “tiêu cực” Bản thân thuật ngữ “trách nhiệm pháp lý” cũng thường mang ý nghĩa tiêu cực, điều này cũng được thể hiện rõ trong luận án Thuật ngữ được làm rõ hơn khi tác giả khái quát những đặc trưng cơ bản của trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, hình thức thể hiện, phạm vi tác động và đối tượng tác động của pháp luật trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Tác giả đưa
ra những tiêu chí cần thiết khi hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: đảm bảo tính ổn định của pháp luật, tính chuẩn mực, tính nhất quán, tính minh bạch, việc hoàn thiện các quy định trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường phải đảm bảo được tính răn
đe và trừng phạt, trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường phải đảm bảo tính kịp thời, khi hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì phải đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong việc quy định các biện pháp xử phạt giữa các thành phần môi trường, việc hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực này phải đảm bảo
Trang 15tính thực thi trên thực tế, pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường phải đảm bảo tính công bằng giữa cá nhân và tổ chức
Công trình khoa học của tác giả Bùi Ngọc Hà (2013): “Nghiên cứu
những tác động chính của dự án khai thác đá núi Ông Voi và đề xuất các giải pháp cải tạo, phục hồi môi trường” [27] đã tập trung khảo sát, nghiên cứu
hiện trạng môi trường khu vực mỏ và nghiên cứu các tác động của việc khai thác đá núi Ông Voi cùng một số mỏ đá đang khai thác và đã khai thác xong trong khu vực Đồng thời, cũng nghiên cứu các phương pháp cải tạo phục hồi môi trường của một số mỏ ở Việt Nam và trên thế giới Từ đó đưa ra những giải pháp khả thi nhằm đưa khu vực đã khai thác thành khu vực có mục đích
sử dụng mới phù hợp với điều kiện sau khai thác; các điều kiện môi trường, tự nhiên được tái tạo lại gần giống như điều kiện trước khi khai thác
Bài viết của Thạc sĩ Nguyễn Thị Nga trên tạp chí Cộng sản (2015): “Bảo
vệ môi trường tự nhiên ở Việt Nam – Yêu cầu cấp thiết” [35] đã đưa ra hai mâu
thuẫn đó là: Mâu thuẫn giữa yêu cầu phải bảo vệ môi trường tự nhiên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nhận thức, ý thức trách nhiệm của các chủ thể và người dân; Mâu thuẫn giữa yêu cầu phải bảo vệ môi trường tự nhiên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với cơ sở vật chất - kỹ thuật, tiềm lực khoa học - công nghệ và nhân lực cho bảo vệ môi trường Cả hai vấn đề trên đã thể hiện nhiều hạn chế chưa được khắc phục trên thực tế Bên cạnh đó
là những bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật và công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tự nhiên chưa được khắc phục
Trên phạm vi tỉnh Ninh Bình năm 2013 có công trình nghiên cứu của
tác giả Trịnh Thị Hồng: “Giải pháp chính sách hạn chế ô nhiễm môi trường
trên cơ sở nhận diện xung đột môi trường tại làng nghề chế tác đá mỹ nghệ
xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình” [29] Tác giả chỉ ra xung đột
môi trường thể hiện ở ba dạng: xung đột về nhận thức, mục tiêu và lợi ích
Trang 16Trong đó xung đột về nhận thức khá mờ nhạt Xung đột mục tiêu và lợi ích là hai nguyên nhân chính, chủ yếu Nguyên nhân chính dẫn đến xung đột môi trường chính là do ô nhiễm môi trường, đây là yếu tố ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sức khoẻ của người dân tại địa phương Nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm tại làng nghề chế tác đá mỹ nghệ xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, tác giả đã đưa ra một số giải pháp chính sách như: Hoàn thiện hệ thống các văn bản về bảo vệ môi trường và cam kết bảo vệ môi trường đối với làng nghề; Hoàn thiện bộ máy quản lý môi trường cấp phường, xã, thị trấn: mang tính chuyên trách thay cho kiêm nhiệm như hiện nay; Tăng cường giám sát môi trường đối với các cơ sở sản xuất; Về mặt tài chính: Xây dựng cụ thể hơn chính sách hỗ trợ đầu tư về tài chính để giúp các cơ sở sản xuất xây dựng các hệ thống xử lý bụi, nước thải tại chỗ đạt quy chuẩn quốc gia về môi trường… Đặc biệt nâng cao năng lực quản lý gắn với sự tham gia của cộng đồng trong đó vai trò của người sản xuất và nơi sản xuất cần thể hiện rõ hơn, coi đây là lực lượng quan trọng nhất đối với việc quản lý sản xuất, cải thiện môi trường và sự phát triển bền vững của làng nghề
Các bài viết và đề tài nghiên cứu trên đây đã nghiên cứu vấn đề bảo vệ môi trường dưới nhiều góc độ, vấn đề trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực môi trường,
đã chỉ ra những hạn chế trong công tác bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay, trên
cơ sở những nghiên cứu khoa học kết hợp bài học từ thực tiễn các nước trên thế giới đã đề xuất những giải pháp hiệu quả nhằm hoàn thiện pháp luật về môi trường cũng như hoạt động bảo vệ môi trường của nước ta trong giai đoạn tới
Hoạt động khai thác khoáng sản luôn có những tác động rất lớn tới môi trường, tuy nhiên hiện nay các đề tài khoa học đa số nghiên cứu vấn đề này ở tầm vĩ mô, có rất ít các nghiên cứu trên địa bàn cụ thể dưới góc độ pháp luật Đặc biệt trong phạm vi tỉnh Ninh Bình, trong hoạt động khai thác đá thì chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường đối
Trang 17với hoạt động này Vì vậy khi lựa chọn đề tài “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm
môi trường trong hoạt động khai thác đá qua thực tiễn tỉnh Ninh Bình” tác giả
mong muốn sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường,
có sự tổng hợp, chuyên sâu về vấn đề khai thác đá trên địa bàn tỉnh, đưa ra những đề xuất từng bước nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá, đồng thời nâng cao ý thức pháp luật, ý thức bảo vệ môi trường trong nhân nhân, các cơ sở khai thác đá, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về lĩnh vực môi trường
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các yêu cầu của đề tài, trong quá trình nghiên cứu, tổng hợp và hoàn thiện khóa luận, tác giả đã sử dụng các phương pháp luận của triết học Mác - Lênin để đánh giá các sự vật, hiện tượng và đề xuất các phương hướng giải pháp theo quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, để làm rõ các khái niệm phạm trù trong luận văn và đánh giá thực tiễn một cách khách quan nhất, toàn diện nhất vấn đề cần nghiên cứu; Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, phương pháp lịch sử; Phương pháp thống
kê, thu thập kế thừa tri thức từ các nghiên cứu, các tài liệu đã có
6 Bố cục của luận văn
Luận văn được bố cục gồm 03 chương với mục đích trình bày, giải quyết cụ thể, triệt để vấn đề, cụ thể như sau:
Chương 1 Những vấn đề lí luận về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi
trường trong hoạt động khai thác đá
Chương 2 Thực trạng áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường
trong hoạt động khai thác đá trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về kiểm
soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá tại Ninh Bình
Trang 18Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ
1.1 Một số vấn đề về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt
động khai thác đá
1.1.1 Môi trường và ô nhiễm môi trường
a) Môi trường và vai trò của môi trường
Tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu, khái niệm môi trường được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Thông thường, ta hay dùng các khái niệm như môi trường xã hội, môi trường giáo dục, môi trường làm việc, môi trường văn hóa, môi trường nước, môi trường đất, môi trường không khí… Với cách hiểu như trên, môi trường được chia thành hai loại cơ bản: môi trường vật chất tự nhiên và môi trường nhân tạo có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của con người
Dưới góc độ pháp lý, môi trường được định nghĩa như sau: Môi trường
là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật Thành phần môi trường là yếu
tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác [42, Điều 3, Khoản 1, 2]
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi, sông, biển cả, không khí, động vật, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần thiết cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, thiên nhiên tạo ra cảnh
Trang 19quan tự nhiên đẹp phục vụ cho mục đích tham quan, giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
Môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo ra trên cơ sở quy luật của tự nhiên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, phục vụ cuộc sống của chính mình như ôtô, máy bay, điện thoại, công trình thủy lợi, công trình nghệ thuật, công trình xây dựng
Môi trường xã hội: là tổng hợp tất cả các yếu tố về xã hội có liên quan
và tác động tới đời sống con người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên hợp quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho
sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
Tóm lại, môi trường là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội
Môi trường có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của con người, thể hiện ở một số khía cạnh sau [4, tr.8]:
- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật
Sự tồn tại và phát triển của con người và các loài sinh vật đặt trong những khoảng không gian nhất định, đó là môi trường, không có ai tồn tại ngoài môi trường
- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người Môi trường là nơi con người khai thác nguồn vật liệu và năng lượng cần thiết cho hoạt động sản xuất và cuộc sống như: đất, nước, không khí, khoáng sản và các dạng năng lượng như gỗ, củi, nắng, gió Các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và văn hoá,
Trang 20du lịch của con người đều bắt nguồn từ các dạng vật chất tồn tại trên trái đất
và không gian bao quanh trái đất
- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình Con người khai thác các yếu
tố vật chất từ môi trường phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất, qua quá trình chế biến, sử dụng con người thải ra một lượng chất thải lớn vào môi trường Môi trường xung quanh ta trở thành nơi chứa đựng tất cả các loại rác thải này
- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người Bản thân môi trường ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hóa của vật chất, sinh vật và con người Môi trường trái đất cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất báo động sớm các nguy hiểm đối với con người và sinh vật sống trên trái đất Đặc biệt, môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen, các loài động thực vật, các
hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người ngày càng tăng cường khai thác các dạng tài nguyên mới và gia tăng số lượng khai thác, tạo
ra các dạng sản phẩm mới có tác động mạnh mẽ tới chất lượng môi trường sống Bên cạnh đó, con người cũng đã nghiên cứu tạo ra được nhiều các sản phẩm nhân tạo nhưng vai trò của môi trường tự nhiên đối với cuộc sống của con người không mất đi Bởi vì, xét đến cùng những sản phẩm nhân tạo con
người tạo ra có nguồn gốc sâu xa từ môi trường tự nhiên
b) Ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là một khái niệm được nhiều ngành khoa học định nghĩa Dưới góc độ sinh thái, khái niệm này chỉ tình trạng của môi trường trong đó có những chỉ số hóa học, lý học của nó bị thay đổi theo chiều hướng
Trang 21xấu đi Dưới góc độ kinh tế học, ô nhiễm môi trường là sự thay đổi không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật lý, hóa học, sinh học, mà qua đó
có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khỏe con người, các loài động
vật và các điều kiện sống khác Dưới góc độ pháp lý, “ô nhiễm môi trường là
sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người
và sinh vật” [42, Điều 3, Khoản 8]
Có thể thấy điểm chung giữa các định nghĩa trên là chúng đều đề cập đến sự thay đổi theo chiều hướng tăng lên hoặc giảm đi, gây bất lợi đến con người và sinh vật, sự thay đổi này mang tính chất định tính
Sự thay đổi không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật về môi trường, vi phạm quy chuẩn môi trường (là các quy định xác định ranh giới tối đa cho phép) là yếu tố mang tính chất định lượng
Khái niệm ô nhiễm môi trường được xem xét như một căn cứ dùng để xác định, đánh giá một hành vi có phải là hành vi gây ô nhiễm môi trường không Song hành vi gây ô nhiễm và thực trạng môi trường ô nhiễm không nhất định có mối quan hệ nhân quả và mối quan hệ hữu cơ với nhau do trong môi trường còn có hiện tượng tích tụ, cộng dồn, phát tán nên có thể có hành vi gây ô nhiễm môi trường mà không có môi trường bị ô nhiễm, hay ngược lại
có môi trường bị ô nhiễm song không có hành vi gây ô nhiễm môi trường
Sự biến đổi các thành phần môi trường có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân chủ yếu là do các chất gây ô nhiễm Chất gây ô nhiễm được các nhà môi trường học định nghĩa là chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường làm cho môi trường bị ô nhiễm Thông thường chất gây ô nhiễm là các chất thải, tuy nhiên chúng có thể xuất hiện dưới dạng nguyên liệu, thành phẩm, phế liệu, phế phẩm… và được phân thành các loại sau đây:
ـ Chất gây ô nhiễm tích lũy (chất dẻo, chất thải phóng xạ) và chất ô
Trang 22ـ Chất gây ô nhiễm trong phạm vi địa phương (tiếng ồn), trong phạm vi vùng (mưa axit) và trên phạm vi khu toàn cầu (chất CFC)
ـ Chất gây ô nhiễm từ nguồn có thể xác định (chất thải từ các cơ sở sản xuất kinh doanh) và chất gây ô nhiễm không xác định được nguồn (hóa chất dùng trong nông nghiệp)
ـ Chất gây ô nhiễm do phát thải liên tục (chất thải từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh) và chất gây ô nhiễm do phát thải không liên tục (dầu tràn do sự
cố tràn dầu) [50, tr.64]
c) Phân biệt trạng thái môi trường bị ô nhiễm với môi trường bị suy thoái
Suy thoái môi trường là khái niệm dễ gây nhầm lẫn với ô nhiễm môi trường Phân biệt rõ hai trạng thái trên là cơ sở quan trọng để có các biện
pháp khắc phục hợp lý “Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng
và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” [42, Điều 3, Khoản 9] Dựa trên định nghĩa và nghiên cứu khoa học
có thể đưa ra một số tiêu chí phân biệt trạng thái môi trường bị ô nhiễm với môi trường bị suy thoái như sau:
- Về nguyên nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường: Ô nhiễm môi trường thường là hậu quả của hành vi thải vào môi trường các chất gây ô nhiễm, chất độc hại, làm nhiễm bẩn, làm thay đổi các thành phần môi trường Còn suy thoái môi trường là hậu quả của hành vi sử dụng, khai thác quá mức các thành phần môi trường, làm suy giảm, cạn kiệt các nguồn tài nguyên Suy thoái môi trường thường bắt nguồn từ hành vi lấy đi các giá trị sinh thái của các thành phần môi trường, làm suy giảm chất lượng của các nguồn tài nguyên
- Về cấp độ thể hiện: Ô nhiễm môi trường thường thể hiện mức độ "cấp tính" cao hơn so với suy thoái môi trường Ô nhiễm môi trường có thể xảy ra đột ngột, tức thì, trong một khoảng thời gian ngắn, gây nên những hậu quả
Trang 23nhanh chóng, trực tiếp đối với con người và thiên nhiên Ngược lại, suy thoái môi trường lại thể hiện mức độ "mãn tính" cao hơn so với ô nhiễm môi trường Suy thoái môi trường là kết quả của một quá trình thoái hoá, cạn kiệt dần các giá trị sinh thái của các thành tố môi trường, làm mất đi các chức năng cơ bản của chúng, do đó thường gây nên những ảnh hưởng xấu, lâu dài đến đời sống của con người và thiên nhiên
- Về các biện pháp phòng ngừa và khắc phục: Biện pháp chủ yếu để phòng ngừa ô nhiễm môi trường là ngăn chặn hành vi xả thải vào môi trường các chất thải, chất gây ô nhiễm Còn biện pháp chủ yếu để phòng ngừa suy thoái môi trường là ngăn chặn hành vi khai thác, sử dụng quá mức các thành phần môi trường
Để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường thì biện pháp chính là làm sạch môi trường Còn đối với suy thoái môi trường là khôi phục chất lượng và
số lượng các thành phần môi trường
1.1.2 Kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá
ـ Khái niệm
Khai thác đá là một hình thức khai thác khoáng sản, “khai thác khoáng sản
là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan” [40, Điều 2, Khoản 7]
Thuật ngữ kiểm soát ô nhiễm được giải thích tại Khoản 18 Điều 3 Luật
bảo vệ môi trường 2014 là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử
lý ô nhiễm Như vậy, có thể hiểu kiểm soát ô nhiễm môi trường là tổng hợp
các hoạt động của nhà nước, của các tổ chức cá nhân với mục đích chủ động ngăn chặn các tác động xấu đến môi trường từ các hoạt động kinh tế - xã hội;
là hoạt động xử lý, khắc phục hậu quả, phục hồi lại tình trạng môi trường như trước khi bị ô nhiễm [50, tr.69]
Kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá được thực
Trang 24hành hoạt động khai thác, chế biến đá nhằm ngăn ngừa, hạn chế những hậu quả xảy ra đối với môi trường và tài nguyên môi trường; xử lý, khắc phục hậu quả, cải tạo môi trường sau quá trình khai thác đá Việc kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá được tiến hành ở diện rộng, với quy mô lớn và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, bởi nhiều chủ thể khác nhau
ـ Chủ thể tham gia hoạt động hoạt động kiểm soát
Kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá do nhiều chủ thể thực hiện gồm: Nhà nước; các tổ chức, đoàn thể, quần chúng, cộng đồng dân cư; các cá nhân trong xã hội
Nhà nước thực hiện việc kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá thông qua hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường Nhà nước thực hiện việc kiểm soát của mình bằng cách: ban hành các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường và đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước, thiết lập hệ thống các cơ quan quản lý Đây là hệ thống cơ quan được tổ chức từ trung ương đến địa phương,
từ các cơ quan có thẩm quyền chung cho đến các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn Hệ thống các cơ quan này chịu trách nhiệm hướng dẫn, tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện các hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác đá
Cùng với Nhà nước, kiểm soát ô nhiễm môi trong hoạt động khai thác
đá còn được thực hiện bởi chính các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động này Đó là các chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ liên quan đến hoạt động khai thác đá Nhóm chủ thể này thực hiện việc kiểm soát
ô nhiễm môi trường thông qua việc áp dụng các biện pháp để giảm thiểu đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực của hoạt động khai thác, chế biến, sử dụng đá đến môi trường… Trường hợp này được hiểu là chủ thể hoạt động sản suất, kinh doanh, dịch vụ liên quan đến hoạt động khai thác đá tự kiểm
Trang 25Chủ thể của hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá còn có thể bao gồm các tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể quần chúng hoặc nhân dân, cộng đồng dân cư Nhóm chủ thể này thực hiện nghĩa vụ giám sát việc tuân thủ pháp luật, giám sát mức độ xả thải, khả năng thực hiện
an toàn lao động hay mức độ phòng chống cháy nổ và phòng ngừa ô nhiễm môi trường của các chủ thể tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ liên quan đến hoạt động khai thác đá Trên thực tế, tinh thần đấu tranh, phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật từ nhóm chủ thể này có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá
ـ Việc kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá được tiến hành ở các giai đoạn như sau:
Thứ nhất, việc kiểm soát phải bắt đầu từ khi dự án khai thác đá chưa
được tiến hành khai thác trên thực tế Việc kiểm soát ngay từ trong giai đoạn rất sớm nhằm đảm bảo cho dự án khai thác đá được thực hiện với lộ trình khai thác hợp lý, những trang thiết bị tốt, cách thức khai thác đá khoa học… giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực của hoạt động khai thác đá tới môi trường Một dự án khai thác đá được kiểm soát nghiêm ngặt từ tất cả các giai đoạn, bao gồm: Kiểm tra giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của tổ chức,
cá nhân tham gia hoạt động khai thác đá; Cấp giấy phép thăm dò các mỏ đá; Phê duyệt kết quả thăm dò mỏ đá; Kiểm tra và thẩm định thiết kế cơ sở của các Dự án khai thác đá; Phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), Dự án cải tạo, phục hồi môi trường sau khi hoàn thành việc khai thác đá Việc kiểm soát từ những giai đoạn đầu của hoạt động khai thác đá là một trong những biện pháp phòng ngừa những hậu quả xấu có thể gây ra cho môi trường từ các tai nạn, sự cố xảy ra trong quá trình khai thác đá
Thứ hai, khi dự án khai thác đá đi vào hoạt động, thực hiện theo kế
hoạch của dự án, hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường cần được tiến hành
Trang 26trong mỗi hoạt động, mỗi giai đoạn của quá trình khai thác đá Việc kiểm soát
ở mọi giai đoạn hoạt động của dự án nhằm loại trừ các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường như việc xả chất thải, xử lý nước mưa chảy tràn, phòng tránh các sự cố trong quá trình nổ mìn phá đá, các tai nạn lao động, sự cố môi trường phát sinh trong hoạt động khai thác đá… Kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá cần được tiến hành trong suốt quá trình thực hiện dự án để phát hiện kịp thời những thay đổi về chất lượng môi trường tại khu mỏ khai thác, từ đó có những biện pháp xử lý hiệu quả
Thứ ba, kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá
được tiến hành sau khi dự án đã kết thúc quá trình khai thác Trước khi dự án khai thác mỏ đá đi vào hoạt động, các chủ dự án đầu tư phải lập Báo cáo ĐTM,
Dự án cải tạo, phục hồi môi trường sau khi kết thúc dự án, trong đó đánh giá,
dự báo các tác động của từng dự án cụ thể đến chất lượng môi trường khu vực
và đồng thời đưa ra các kế hoạch, biện pháp, phương án cải tạo, phục hồi môi trường Để đảm bảo cải thiện môi trường sinh thái, cảnh quan khu vực khai thác; khắc phục phần lớn các ảnh hưởng và tác động tiêu cực của quá trình khai thác gây ra đối với môi trường cần có cơ chế kiểm soát việc thực hiện các Dự
án cải tạo, phục hồi môi trường sau khi đóng mỏ khai thác
ـ Các biện pháp kiểm soát
Kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau, cụ thể là:
Thứ nhất, biện pháp tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức kiểm soát ô
nhiễm môi trường nói chung và ý thức kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá nói riêng Như trên đã phân tích, kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau Nếu các chủ thể không nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động này thì việc kiểm soát sẽ không mang lại hiệu quả Tuyên truyền giáo
Trang 27dục nâng cao ý thức về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá có thể bao gồm nhiều hình thức phong phú, đa dạng mục tiêu là để các chủ thể có liên quan có sự thay đổi về nhận thức, đây là cơ sở của sự thay đổi
về hành động, từ đó các chủ thể sẽ tự giác tiến hành các hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá
Thứ hai, áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật trong kiểm soát ô
nhiễm môi trường Kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác
đá cần áp dụng các phương tiện khoa học kỹ thuật như: các loại máy móc để xác định nồng độ các chất có nguy cơ gây ô nhiễm, các trang thiết bị, phương tiện để làm giảm độ ô nhiễm, các phương tiện giao thông vận tải tiên tiến, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, sử dụng thuốc nổ, phương pháp nổ hiện đại nhằm sử dụng tài nguyên hiệu quả và giảm việc gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá
Thứ ba, áp dụng các biện pháp kinh tế trong kiểm soát ô nhiễm môi
trường Đó là việc sử dụng những đòn bẩy kinh tế đối với kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá Biện pháp kinh tế là một biện pháp được sử dụng rất phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới trong hoạt động bảo
vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá nói riêng Các công cụ kinh tế được sử dụng nhằm mục đích làm cho các biện pháp kiểm soát trở nên mềm dẻo hơn, hiệu quả hơn và với mức chi phí thấp hơn
Thứ tư, áp dụng các biện pháp hành chính trong kiểm soát ô nhiễm môi
trường trong hoạt động khai thác đá Biện pháp này cần sử dụng kết hợp với các biện pháp khác để việc kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá đạt hiệu quả cao Biện pháp hành chính được hiểu là hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để tổ chức việc thi hành pháp luật thông qua việc ban hành hoặc ra các quyết định hành chính, thực
Trang 28hiện các hành vi hành chính có liên quan tới kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá Sự can thiệp trực tiếp của các cơ quan hành chính nhà nước có thể ngăn chặn ngay lập tức tình trạng ô nhiễm môi trường khiến cho hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường mang lại hiệu quả cao
Thứ năm, kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá
bằng biện pháp pháp luật Biện pháp này được thể hiện qua việc nhà nước ban hành những văn bản pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực khai thác đá Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi của con người sẽ có tác dụng rất lớn trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá Biện pháp pháp luật là một trong những biện pháp hiệu quả nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá
1.2 Kiểm soát ô nhiễm môi trường và quyền con người
1.2.1 Quyền con người đối với môi trường
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người (human rights) trong đó định nghĩa thường được trích dẫn trong các tài liệu nghiên cứu khoa học là định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc: Quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo
vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omission) làm tổn hại đến nhân phẩm, tự do cơ bản (fudamental freedoms) của con người
Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế [33]
Trang 29Quyền con người đối với môi trường là một trong những quyền thuộc nhóm quyền thứ ba (quyền được hưởng hòa bình, quyền phát triển và quyền được sống trong môi trường trong lành) được nghi nhận vào những năm 80
Quyền được sống trong môi trường trong lành hay quyền về môi trường đó là muốn đề cập đến quyền của mọi người trong thế hệ hiện tại và tương lai được sống trong môi trường trong lành, có lợi cho sức khỏe [32, tr.119]
Tiêu chí để đánh giá quyền được sống trong môi trường trong lành dựa trên sự đáp ứng được nhu cầu của con người về một môi trường sống trong sạch, thuần khiết, chất lượng, hệ sinh thái cân bằng, không có ô nhiễm hay suy thoái môi trường giúp con người sống thoải mái, trường thọ và hữu ích…
1.2.2 Nội dung các quyền con người đối với môi trường
Quyền con người, sức khỏe và bảo vệ môi trường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tuyên bố Stockholm năm 1972 được xác định là cột mốc đầu tiên thể hiện mối quan hệ giữa quyền con người và môi trường Nguyên tắc 1
trong Tuyên bố nêu rõ: “Con người có các quyền cơ bản về tự do, bình đẳng
và điều kiện sống đầy đủ, trong môi trường có chất lượng tốt, cho phép con người có cuộc sống khỏe mạnh, hạnh phúc và có nhân phẩm”[25, tr.8]
Nguyên tắc trên một lần nữa được nhắc lại trong Nghị quyết số 45/94 ngày 14/12/1990 của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc
Tất cả các quyền của con người như quyền được sống; sự toàn vẹn thân thể của mỗi cá nhân, của đời sống mỗi gia đình; quyền đối với sức khỏe, thịnh vượng và phát triển của mỗi cá nhân, cũng như nhóm và cộng đồng xã hội… đều phụ thuộc vào môi trường sống, môi trường tự nhiên xung quanh con người [31] Môi trường là cơ sở quan trọng đảm bảo cho cuộc sống của tất cả mọi cá nhân, cộng đồng, xã hội Hiện nay, môi trường và hệ sinh thái của thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang xuống cấp nghiêm trọng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người Sự ô nhiễm môi trường đang tác động
Trang 30trực tiếp đến việc hưởng thụ các quyền con người, trước hết là quyền được sống trong môi trường trong lành Vì vậy, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống chính là bảo vệ cuộc sống của con người, là tiền đề quan trọng để con người phát triển và hoàn thiện
Các hoạt động của con người đã làm cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu và chính sự ô nhiễm này đã gây hại cho sức khỏe con người Quyền sống của con người đang bị ảnh hưởng trực tiếp hàng ngày do sự ô nhiễm về không khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm nguồn đất… Những người có hành vi gây ô nhiễm, hủy hoại môi trường tự nhiên không chỉ phạm một tội phá hủy môi trường, mà còn xâm phạm quyền con người [25, tr 9] Sự ô nhiễm, suy thoái môi trường không chỉ gây tổn thất cho phát triển kinh tế, phá hủy thành tựu tăng trưởng, dẫn tới gia tăng nghèo đói, sự phân hóa và bất bình đẳng xã hội [30], mà còn gây nhiều bệnh tật nguy hiểm, làm tổn hại sức khỏe, đe dọa sinh mạng của nhiều triệu con người, ảnh hưởng đến việc thụ hưởng các quyền con người, thậm chí đe dọa quyền làm người Sự phát triển bền vững, thịnh vượng của các thế hệ con người chỉ có thể được bảo đảm trong điều kiện bảo tồn và gìn giữ được môi trường trong sạch
Theo pháp luật về môi trường và luật nhân quyền quốc tế, trách nhiệm bảo vệ môi trường và quyền con người trước hết thuộc về Nhà nước Song song với trách nhiệm của Nhà nước, bảo vệ môi trường cũng là gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi công dân, của toàn cộng đồng Một thông điệp cần được truyền tải mạnh mẽ đó là: Đối xử thân thiện với môi trường là đối xử tốt với chính mình Nguyên tắc 10 của Tuyên bố được thông qua tại Hội nghị tại Rio de Janeiro năm 1992 cũng quy định rằng: Vấn đề môi trường được xử lý tốt nhất với sự tham gia của tất cả các công dân có liên quan, ở cấp liên quan Ở cấp quốc gia, mỗi cá nhân được đảm bảo thực hiện quyền tiếp cận thông tin, tham gia trong quá trình ban hành các quyết định về
Trang 31môi trường và tiếp cận tư pháp liên quan tới môi trường Thực tiễn đã cho thấy việc thực hiện tốt các quyền thủ có tính chất thủ tục này góp phần quan trọng để có được những chính sách tốt về môi trường, từ đó tạo ra một môi trường đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người
Do tính chất và tầm quan trọng của hoạt động bảo vệ quyền con người
về môi trường, tháng 5 năm 1994, một nhóm các chuyên gia về nhân quyền
và luật môi trường quốc tế đã họp tại Giơ-ne-vơ, và đã đưa ra một bản dự thảo Tuyên ngôn các nguyên tắc về quyền con người và môi trường, nội dung các quyền về môi trường trong dự thảo tuyên ngôn chia thành hai nhóm: Các quyền cơ bản và các quyền về thủ tục [47] Các quyền này có mối quan hệ hữu cơ gắn bó với nhau, việc bảo vệ quyền này là cơ sở để đảm bảo thực hiện các quyền khác và ngược lại
a) Các quyền cơ bản bao gồm
- Quyền của mọi người được sống trong môi trường không bị ô nhiễm, không có suy thoái môi trường và không bị tác động bởi các hoạt động có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường hoặc đe dọa cuộc sống, sức khỏe, sinh kế, an sinh xã hội và phát triển bền vững trong phạm vi của một quốc gia hay xuyên biên giới các nước
- Quyền được bảo vệ và bảo tồn không khí, đất trồng, nước, biển, thực vật, động vật, các quy trình thiết yếu và những khu vực cần thiết để duy trì sự
đa dạng sinh học và hệ sinh thái
- Quyền có tiêu chuẩn cao nhất về sức khỏe môi trường, không bị ảnh hưởng bởi các thảm hoạ môi trường
- Quyền có thực phẩm, nước sạch vệ sinh, an toàn
- Quyền có môi trường lao động bảo đảm sức khỏe và an toàn
- Quyền nhà ở tối thiểu, đất đai, điều kiện sống an toàn, sức khỏe và môi trường sinh thái tốt
Trang 32- Quyền không bị trục xuất khỏi nhà ở, đất đai vì mục đích hay là kết quả của những quyết định hay hành động ảnh hưởng tới môi trường, ngoại trừ trong trường hợp khẩn cấp hoặc vì lợi ích của toàn xã hội
- Quyền được tham gia một cách hiệu quả trong việc ban hành các quyết định liên quan tới việc trục xuất di dời, hay tái định cư; có đủ thời gian bảo đảm việc khôi phục, đền bù một cách hiệu quả hay thích hợp và có đủ chỗ
b) Các quyền thủ tục bao gồm
- Quyền tiếp cận thông tin liên quan tới môi trường
- Quyền giữ, bày tỏ quan điểm và tuyên truyền những ý tưởng và thông tin liên quan tới môi trường
- Quyền được giáo dục về nhân quyền và môi trường
- Quyền được tham gia một cách tích cực, tự do và có ý nghĩa trong lập
kế hoạch, ban hành quyết định, có tác động đến môi trường và phát triển Quyền này bao gồm quyền đánh giá tác động về môi trường, phát triển và hậu quả quyền con người đối với các đề xuất hành động
- Quyền tham gia hội họp một cách tự do và hòa bình với người khác với mục đích bảo vệ môi trường
- Quyền được bồi thường và đền bù thiệt hại một cách hiệu quả liên quan tới môi trường
Trang 331.3 Một số vấn đề về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá
1.3.1 Khái niệm pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá
So với các lĩnh vực pháp luật khác, pháp luật môi trường là một lĩnh vực pháp luật còn tương đối mới mẻ Hệ thống pháp luật môi trường được chia thành hai mảng lớn:
Mảng thứ nhất bao gồm tất cả các quy định pháp luật về bảo tồn và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Điều chỉnh vấn đề này, Nhà nước ban hành pháp luật về quyền và trách nhiệm của các chủ thể trong quá trình khai thác, sử dụng, bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên, bảo tồn
đa dạng sinh học như: bảo vệ nguồn nước, nguồn thuỷ sinh, bảo tồn nguồn gen, bảo vệ và phát triển rừng, tài nguyên khoáng sản…
Mảng thứ hai gồm tất cả các quy định pháp luật về kiểm soát, ngăn ngừa ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường Về mảng này, pháp luật môi trường được xây dựng và thực hiện theo hướng ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể có liên quan để giảm thiểu các chất gây ô nhiễm môi trường, phòng ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực cho môi trường Các quy định pháp luật về mảng này bao gồm các nội dung: đánh giá môi trường; quản lý chất thải; hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường; giải quyết các tranh chấp môi trường; kiểm soát ô nhiễm môi trường trong các hoạt động
cụ thể…[45, tr.31] Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá thuộc mảng thứ hai trong hệ thống pháp luật môi trường Theo đó, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác
đá có một số đặc điểm chính sau đây:
Thứ nhất, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình các chủ thể
Trang 34tiến hành hoạt động khai thác đá hoặc các hoạt động có liên quan đến hoạt động khai thác đá Các mối quan hệ phát sinh trong quá trình các chủ thể tiến
hành hoạt động khai thác đá nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường được chia thành hai nhóm sau đây:
Nhóm thứ nhất gồm các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình họ tiến hành hoạt động khai thác đá hoặc các hoạt động có liên quan đến hoạt động khai thác đá Các chủ thể này có thể là chủ đầu tư dự án khai thác
đá, công nhân làm việc trong khu mỏ đá, nhân dân địa phương… Ngoài việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật, các chủ thể này có trách nhiệm phối hợp để cùng nhau giải quyết khi có các vấn đề phát sinh trong quá trình khai thác đá theo quy định của pháp luật
Nhóm thứ hai gồm các quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá: đặc trưng của nhóm quan hệ này là một hoặc các bên trong quan hệ là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nhóm quan hệ này có thể phát sinh trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động quản
lý nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá theo quy định của pháp luật như thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật môi trường, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật môi trường Đồng thời, quan hệ này cũng có thể phát sinh giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhau trong việc phối hợp giải quyết các sự cố phát sinh trong quá trình khai thác tại các mỏ đá
Thứ hai, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá được ban hành nhằm mục đích phòng ngừa và hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực cho môi trường, khắc phục và xử lý các hậu quả xảy ra đối với môi trường xuất phát từ hoạt động khai thác đá
Trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung và kiểm soát
Trang 35ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá nói riêng, việc phòng ngừa luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Phòng ngừa tức là tiến hành các hoạt động kiểm soát ngay từ khi chưa xảy ra ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường hay sự cố môi trường Nếu để xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường, suy thoát tài nguyên hay sự cố môi trường thì việc giải quyết hậu quả sẽ vô cùng phức tạp, vừa tốn kém về tiền bạc, tốn kém về thời gian vừa tốn kém về công sức của cả các cơ quan nhà nước và tất cả các chủ thể có liên quan
Thực hiện kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá không chỉ nhằm phòng ngừa và hạn chế các tác động tiêu cực gây ô nhiễm môi trường mà nó còn nhằm khắc phục những hậu quả xảy ra đối với môi trường xuất phát từ hoạt động khai thác đá Trên thực tế, ngay cả trong trường hợp các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác
đá được ban hành hoàn thiện nhất, các chủ thể tiến hành hoạt động khai thác đá cũng thực hiện tất cả các biện pháp tốt nhất để kiểm soát ô nhiễm môi trường thì tình trạng ô nhiễm, suy thoái hay sự cố vẫn xảy ra Lý do có thể từ những nguyên nhân khách quan, ngoài ý muốn của con người (trong môi trường còn
có hiện tượng tích tụ, cộng dồn, phát tán) Với mục đích xử lý và khắc phục hậu quả, phục hồi môi trường khi nó đã và đang xảy ra, pháp luật về kiểm soát
ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá phân định cụ thể trách nhiệm của các chủ thể có liên quan (các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp, người gây hậu quả, nhân dân ) khi xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường từ hoạt động khai thác đá; mặt khác là việc thực hiện các giải pháp nhằm giảm đến mức thấp nhất hậu quả xảy ra cho môi trường
Thứ ba, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan
Pháp luật xác lập ranh giới giữa những hành vi được làm, không được làm và phải làm của các chủ thể nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường trong
Trang 36hoạt động khai thác đá Nội dung các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá bao gồm quyền và nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước, của các tổ chức và cá nhân có liên quan Các cơ quan nhà nước chỉ được thực hiện các hoạt động hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức thực hiện hoặc giám sát việc thi hành pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn luật định của mình Tương tự, đối với các tổ chức và cá nhân, pháp luật cũng xác định khung pháp lý buộc các chủ thể điều chỉnh hành vi xử sự của mình nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá
Từ những phân tích trên đây, có thể xây dựng định nghĩa về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác với cách hiểu như
sau: “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác
đá là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ phát sinh và tồn tại trong lĩnh vực khai thác đá giữa các chủ thể nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác hại xảy ra cho môi trường, khắc phục và xử lý hậu quả nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của môi trường, góp phần duy trì và phát triển nền kinh tế” Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt
động khai thác đá đóng góp rất lớn cho hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung, và trong phạm vi khu vực mỏ khai thác đá nói riêng
1.3.2 Vai trò của pháp luật đối với việc kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá
Như trên đã phân tích, biện pháp pháp luật là một trong những biện pháp thực hiện có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Biện pháp pháp luật xác định một hành lang pháp lý và tạo ra các bảo đảm nhằm hỗ trợ cho tất cả các biện pháp khác đạt hiệu quả nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá Bằng những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ đối với các chủ thể, pháp luật đã tác động
Trang 37trực tiếp đến các tổ chức và cá nhân, buộc các chủ thể này khi tiến hành hoạt động khai thác đá cần hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại xảy ra cho môi trường Với tất cả những ý nghĩa đó, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá có những vai trò cụ thể sau đây:
Thứ nhất, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá góp phần thực thi nguyên tắc của pháp luật môi trường và nguyên tắc của pháp luật về khoáng sản
Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá
là một bộ phận của pháp luật môi trường Vì vậy, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá tuân thủ theo các nguyên tắc của pháp luật môi trường Pháp luật môi trường Việt Nam có bốn nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật môi trường [50, tr.43], đó là: nguyên tắc đảm bảo quyền con người được sống trong một môi trường trong lành; nguyên tắc tính thống nhất trong quản
lý và bảo vệ môi trường; nguyên tắc đảm bảo sự phát triển bền vững; nguyên tắc coi trọng tính phòng ngừa Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá được xây dựng cũng góp phần thực thi bốn nguyên tắc nêu trên của hệ thống pháp luật môi trường Điều 38 Luật bảo vệ môi trường
2014 về Bảo vệ môi trường trong hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản quy định như sau:
1 Tổ chức, cá nhân khi tiến hành thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phải có biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường và thực hiện các yêu cầu về bảo vệ, cải tạo và phục hồi môi trường như sau:
a) Thu gom và xử lý nước thải theo quy định của pháp luật; b) Thu gom, xử lý chất thải rắn theo quy định về quản lý chất thải rắn;
Trang 38c) Có biện pháp ngăn ngừa, hạn chế việc phát tán bụi, khí thải độc hại và tác động xấu khác đến môi trường xung quanh;
d) Phải có kế hoạch cải tạo, phục hồi môi trường cho toàn bộ quá trình thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản và tiến hành cải tạo, phục hồi môi trường trong quá trình thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản;
đ) Ký quỹ phục hồi môi trường theo quy định của pháp luật [42, Điều 38]
Thứ hai, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá ở Việt Nam là công cụ để phòng ngừa ô nhiễm, góp phần hạn chế và khắc phục ô nhiễm môi trường [42, Điều 38]
Bằng các quy phạm pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá có vai trò rất lớn trong việc phòng ngừa ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và sinh vật Với mục tiêu phòng ngừa ô nhiễm môi trường, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá bao gồm các quy định pháp luật về quy chuẩn kỹ thuật môi trường như quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quản lý chất thải rắn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh Theo đó, các chủ thể khi tiến hành hoạt động khai thác đá cần kiểm soát hoạt động của mình trong phạm vi mà pháp luật cho phép, không vượt quá ngưỡng mà các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường đã đề ra
Không chỉ có vai trò trong việc phòng ngừa ô nhiễm, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá còn nhằm phục hồi môi trường khi có sự cố và khắc phục những hậu quả xảy ra Trong quá trình tiến hành hoạt động khai thác đá, những tác động tiêu cực đến môi trường là không thể tránh khỏi Có những hậu quả diễn ra ngay lập tức như việc ô
Trang 39nhiễm môi trường do nổ mìn phá đá, nhưng cũng có những hậu quả diễn ra từ
từ, dần dần và có nguy cơ gây hại trong thời gian kéo dài, ảnh hưởng tới môi trường, huỷ hoại hệ sinh thái và sức khoẻ con người (chôn, đốt chất thải rắn trong khu vực mỏ đá) Lúc này, quy phạm pháp luật được sử dụng để quy trách nhiệm đối với các chủ thể có liên quan, kể cả các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức hay cá nhân
Thứ ba, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, mang lại giá trị kinh tế cho đất nước
Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá được ban hành để quy định trách nhiệm của các chủ thể có liên quan nhằm tạo
sự an toàn về môi trường và con người, làm cho các hoạt động khai thác đá phát huy lợi ích và hiệu quả Khi hoạt động khai thác đá diễn ra an toàn, đảm bảo an ninh môi trường, các chủ thể tiến hành hoạt động sẽ không tốn thời gian, công sức và tài chính để khắc phục hậu quả, phục hồi môi trường, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế
Thứ tư, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá ở Việt Nam giúp nâng cao ý thức, góp phần làm thay đổi nhận thức về bảo vệ môi trường của người dân
Ý thức môi trường của người dân Việt Nam có thể đánh giá là thấp kém Từ nhận thức sai lệch về khả năng tái tạo của tài nguyên khoáng sản dẫn đến việc khai thác tài nguyên đá theo kiểu tận diệt đã tồn tại trong một thời gian dài Về lý thuyết, tính bắt buộc thực hiện của pháp luật được đảm bảo thực hiện, một phần là thông qua tính cưỡng chế Trách nhiệm pháp lý sẽ được đặt ra đối với các chủ thể khi họ thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá Các loại trách nhiệm pháp lý có tác dụng ngay lập tức, buộc các chủ thể phải
Trang 40tuân thủ các quy định pháp luật mà nhà nước đặt ra Vì vậy, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá sẽ góp phần tích cực vào quá trình thay đổi nhận thức và tư duy của người dân, góp phần tăng cường ý thức của họ trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường
Đồng thời, cũng thông qua các quy định của pháp luật, người dân có thể chủ động tham gia vào quá trình giám sát việc thực hiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường của các chủ thể có liên quan tới hoạt động khai thác
đá Sự giám sát và phát hiện của người dân có thể thực hiện đối với các chủ thể trực tiếp thực hiện hoạt động khai thác đá, đối với người dân nói chung hay đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá Sự tham gia của người dân giúp chính bản thân họ tự nhận thức
về tầm quan trọng của vấn đề, góp phần nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung
1.3.3 Quy định của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá
Như đã đề cập trong các phần trên, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ phát sinh và tồn tại trong lĩnh vực khai thác đá giữa các chủ thể nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác hại xảy ra cho môi trường, khắc phục và xử lý hậu quả nhằm đảm bảo phát triển bền vững, góp phần duy trì và phát triển nền kinh tế
Theo đó, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đối với
quá trình thiết lập dự án khai thác đá Những đối tượng đầu tiên cần phải được kiểm soát đó là những yếu tố nằm trong giai đoạn chuẩn bị khai thác đá Giai