vấn đề quan trọng mà công cụ hiệu quả nhất cho việc bảo vệ chính là hệ thống pháp luật.Chỉ thông qua việc thể chế hóa thành luật, quyền con người mới được bảo đảm và bảo vệtốt nhất.Vì lẽ
Trang 1Bộ Môn Luật Thương Mại
……
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2011 - 2015
Đề tài:
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Lớp: Luật Thương Mại–Khóa 37
Cần Thơ, tháng 11 - 2014
Trang 2Lời đầu tiên người viết xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình truyền dạy cho người viết nguồn kiến thức sâu rộng góp phần hoàn thành luận văn này Và hơn hết, người viết xin gửi lời cảm
ơn chân thành đến thầy Kim Oanh Na, người đã tận tình chỉ
dẫn, giúp đỡ người viết trong suốt quá trình làm luận văn Bên cạnh đó, người viết cũng xin cảm ơn các tác giả của những bài viết, sách, báo, tạp chí chuyên luận mà người viết đã sử dụng làm tài liệu trong quá trình nghiên cứu.
Với điều kiện thời gian cho phép, khả năng nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, chắc hẳn luận văn sẽ có nhiều thiếu sót Nhưng với sự nghiên cứu nghiêm túc, lòng đam mê tìm tòi, người viết hy vọng luận văn sẽ đóng góp một phần nhỏ vào
sự phát triển chung của nền khoa học pháp lý Rất mong nhận
được sự góp ý, chỉ bảo tận tình của quý thầy cô và độc giả quan tâm đến đề tài này.
Một lần nữa người viết xin chân thành cám ơn!
Sinh viên thực hiện
Phạm Hoài Lâm
Trang 3
Cần Thơ, ngày tháng 11 năm 2014
Trang 4
Cần Thơ, ngày tháng 11 năm 2014
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục của luận văn 3
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN TRẺ EM VÀ QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA TRẺ EM 4
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển quyền trẻ em 4
1.1.1 Trên th ế giới 4
1.1.2 Ở Việt Nam 6
1.2 Các khái niệm liên quan 8
1.2.1 Khái ni ệm quyền con người và quyền công dân 8
1.2.1.1 Khái niệm quyền con người 8
1.2.1.2 Khái niệm quyền công dân 10
1.2.2 Khái ni ệm trẻ em và quyền trẻ em 12
1.2.2.1 Trẻ em theo pháp luật quốc tế 12
1.2.2.2 Trẻ em theo pháp luật Việt Nam 12
1.2.3.3 Khái niệm quyền trẻ em 13
1.2.3 Khái ni ệm sức khỏe và quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em 15
1.2.3.1 Khái niệm sức khỏe 15
1.2.3.2 Khái niệm quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em 16
1.3 Đặc điểm của trẻ em và quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em 17
1.3.1 Đặc điểm của trẻ em 17
1.3.2 Đặc điểm quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em 19
1.4 Bản chất quyền của trẻ em 21
1.4.1 B ản chất xã hội 21
1.4.2 B ản chất pháp lý 22
1.5 Mục đích, ý nghĩa quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em 23
1.5.1 M ục đích quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em .23
Trang 6Chương 2 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA TRẺ EM 26
2.1 Pháp luật quốc tế về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em 26
2.1.1 Quy ền được hưởng mức độ cao nhất có thể đạt được về sức khỏe và các phương tiện chữa bệnh và phục hồi sức khoẻ 26
2.1.2 Quy ền được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe 27
2.1.3 Quy ền nhận được sự giúp đỡ y tế và chăm sóc sức khỏe ban đầu 28
2.1.4 Quy ền được chăm sóc sức khỏe cho trẻ và mẹ của trẻ trước và sau khi sinh .28
2.1.5 Quy ền được tiếp cận thông tin, giáo dục về chăm sóc sức khỏe cho trẻ em 29 2.1.6 Quy ền được bảo vệ trước những tập tục có hại cho sức khỏe của trẻ em 30
2.1.7 Quy ền được bố trí và xem xét lại định kỳ chế độ điều trị và mọi điều kiện khác liên quan đến việc bố trí nơi ở để được chăm sóc, bảo vệ, điều trị sức khỏe về th ể chất hay trí tuệ 31
2.1.8 Quy ền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em khuyết tật 32
2.2 Pháp luật Việt Nam về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em 34
2.2.1 Tr ẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe 34
2.2.2 Tr ẻ em dưới 6 tuổi được chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám bệnh, chữa b ệnh không phải trả tiền 35
2.2.3 Quy ền tiếp cận thông tin phù hợp và bày tỏ các ý kiến, nguyện vọng của trẻ em trong v ấn đề chăm sóc sức khỏe 36
2.2.4 Quy ền bình đẳng trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế cho trẻ em .37
2.2.5 Quy ền được chăm sóc sức khỏe cho trẻ em trong học đường 38
2.2.6 Quy ền được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho trẻ em 40
2.2.7 Quy ền chăm sóc sức khỏe của trẻ em khuyết tật 42
2.3 Trách nhiệm của các chủ thể trong bảo vệ quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em 43
2.3.1 Các ch ủ thể của luật quốc tế 43
2.3.1.1 Liên Hợp Quốc 43
2.3.1.2 Các tổ chức chuyên môn, các chương trình và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc 44
2.3.1.3 Ủy ban về quyền trẻ em 44
2.3.1.4 Các tổ chức phi chính phủ 45
Trang 72.3.2.2 Trách nhiệm của các Bộ, nghành liên quan 47
2.3.2.3 Trách nhiệm của gia đình 49
2.3.2.4 Trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội 49
Chương 3 THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA TRẺ EM TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 51
3.1 Tình hình chăm sóc sức khỏe của trẻ em tại Việt Nam 51
3.1.1 M ột số mặt đạt được trong bảo vệ việc thực hiện quyền được chăm sóc sức kh ỏe của trẻ em 51
3.1.1.1 Về mặt pháp lý 51
3.1.1.2 Về mặt thực tiễn 53
3.1.2 M ột số hạn chế trong bảo vệ việc thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe c ủa trẻ em 56
3.1.2.1 Về mặt pháp lý 56
3.1.2.2 Về mặt thực tiễn 57
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện 59
3.2.1 Phát tri ển và hoàn thiện hệ thống pháp luật 59
3.2.2 Phát tri ển và hoàn thiện hệ thống tổ chức y tế, củng cố mạng lưới y tế cơ sở, đổi mới chăm sóc sức khỏe ban đầu 60
3.2.3 Tăng cường công tác quản lý nhà nước về y tế 62
3.2.4 Đổi mới công tác đầu tư tài chính 62
3.2.5 Phát tri ển nhân lực y tế, trang thiết bị và tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng y t ế 63
3.2.6 Đẩy mạnh công tác y tế học đường 64
3.2.7 Phát tri ển hệ thống thông tin y tế, đẩy mạnh công tác truyền thông - giáo d ục sức khỏe 65
3.2.8 Đẩy mạnh công tác y tế dự phòng và nâng cao chất lượng dịch vụ khám b ệnh, chữa bệnh 66
3.2.9 Tăng cường hợp tác quốc tế về y tế 67
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
nhân tương lai của đất nước Và để mục tiêu này được thực hiện, thì ngay từ bây giờ trẻ
em cần phải được quan tâm, chăm sóc nhiều hơn về mọi mặt, trong đó chăm sóc sức khỏe
là vấn đề cần phải được quan tâm hàng đầu Bởi lẽ, sức khỏe là nền tảng đầu tiên để trẻ
em được phát triển tốt, trẻ em được vui chơi, hoạt động, hòa nhập với xã hội và đây cũng
sẽ là những cơ sở thiết yếu để dần hình thành những chủ nhân sau này
Vì vậy, bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói chung và chăm sóc sức khỏe cho trẻ em là vôcùng quan trọng Cũng chính vì điều đó, ngày 20/11/1989, Liên Hợp Quốc đã thông qua
và phê chuẩn “Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em” bao gồm 54 điều khoản cóhiệu lực từ ngày 20/11/1990 Công ước đã trao cho trẻ em những quyền cơ bản và thiếtyếu cho sự phát triển của bản thân trẻ và trong đó không thể thiếu được đó chính là quyền
chăm sóc sức khỏe Tại điều 24 Công ước đã nêu rõ “Các Quốc gia thành viên thừa nhận
quềyn của trẻ em được hưởng mức độ cao nhất có thể đạt được về sức khỏe và các
phương tiện chữa bệnh và phục hồi sức khoẻ Các Quốc gia thành viên cố gắng đảm bảo
rằng không có trẻ em nào bị tước đoạt quyền được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ
như vậy”.
Còn ở nước ta, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự ngiệp bảo vệ, chăm sócsức khỏe cho trẻ em Xuất phát từ điều đó, ngày 26 tháng 1 năm 1990, Nhà nước ta đã ký
Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em 1989 và phê chuẩn Công ước vào ngày 20
tháng 2 năm 1990 Nước ta là quốc gia thứ hai trên thế giới và cũng là quốc gia đầu tiên ởChâu Á phê chuẩn Công ước này Việc phê chuẩn Công ước đã tạo cơ sở pháp lý quốc tếcho việc bảo vệ trẻ em ở Việt Nam, đồng thời cũng đặt ra những nghĩa vụ ràng buộc ViệtNam trong việc thực thi Công ước đối với các quyền của trẻ em nói chung và quyền được
chăm sóc sức khỏe nói riêng Hơn thế nữa, từ sau khi phê chuẩn Công ước của Liên Hợp
Quốc về quyền trẻ em năm 1989 cho đến nay, không thể phủ nhận một thực tế ở nước ta
là cả cộng đồng ngày càng có nhiều hoạt động quan tâm và chăm lo hơn về sức khỏe củatrẻ em Quyền chăm sóc sức khỏe của trẻ em đã được cụ thể hóa vào những văn bản quyphạm pháp luật cụ thể, tiêu biểu là: Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004,
Trang 9Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, Bên cạnh đó, nhiều chủ trương, chính sách về chăm sócsức khỏe cho trẻ em cũng được xây dựng và triển khai thực hiện.
Như vậy, trong những năm qua với việc xây dựng và ban hành những quy định
pháp luật cũng như xây dựng và triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách về bảo
vệ, chăm sóc sức khỏe cho trẻ em thì công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho trẻ em đã
đạt được nhiều thành quả tích cực Nhưng bên cạnh đó, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cậpđang tồn tại song song, tác động một phần không nhỏ khiến công tác này gặp nhiều khókhăn và thách thức Những ngày này, dư luận xã hội thực sự hoang mang, lo lắng trước
những sự việc liên quan tới tiêm chủng vắc-xin cho trẻ em Nào là vụ "ăn bớt" vắc - xincủa cán bộ y tế Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội, rồi vụ tiêm vắc - xin quá hạn sử dụngcủa Trung Tâm Y tế dự phòng thành phố Tuy Hòa, Phú Yên Những sự việc làm này đã
ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của các em - những chủ nhân của tương lai, những mầm
non cần được nuôi dưỡng và chăm sóc với điều kiện tốt nhất Ngoài ra, hiện nay công tác
chăm sóc sức khỏe cho trẻ em ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn gặp nhiều khó khăn; việc tiếp
cận y tế vẫn còn hạn chế
Tóm lại, có thể nói quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em từ trước đến nay luôn
là vấn đề được các quốc gia trên thế giới và Việt Nam quan tâm, bảo vệ thực hiện Tuynhiên, tình trạng vi phạm quyền chăm sóc sức khỏe của trẻ em luôn diễn ra và ngày càngphức tạp, nhiều bất cập vẫn đang tồn tại song song và gây khó khăn cho trẻ em trong đáp
ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe Dựa trên những cơ sở trên, việc nghiên cứu đề tài:
“Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em” là một vấn đề cấp thiết trong phạm vi quốc gia và trên thế giới Vì những lý do đó,
người viết chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp cử nhân luật của
mình
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chế độ chăm sóc sức khỏe cũng như các vấn đềkhác liên quan đến chế độ chăm sóc sức khỏe cho trẻ em theo quy định pháp luật quốc tế
nói chung, pháp luật Việt Nam nói riêng và thực trạng công tác chăm sóc sức khỏe chotrẻ em ở Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu của đề tài người viết tập trung nghiên cứu những quy định củapháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về chăm sóc sức khỏe của trẻ em Đối với phápluật quốc tế, người viết chủ yếu tìm hiểu các quy định theo Công ước về các quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa năm 1966; Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989;
Công ước quốc tế về quyền của Người Khuyết tật năm 2006 Còn đối với pháp luật ViệtNam, người viết đi sâu phân tích những quy định trong Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dânnăm 1989; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004; Luật Bảo hiểm y tế năm
Trang 102008; Luật Người Khuyết tật năm 2010 Ngoài ra, người viết còn nghiên cứu những quy
định trong các Nghị định, Thông tư và quyết định liên quan
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm để làm sáng tỏ hơn các vấn đề trong chăm sócsức khỏe cho trẻ em Thứ nhất, về mặt pháp luật người viết sẽ tìm hiểu rõ hơn những quy
định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền được chăm sóc sức khỏe của
trẻ em Thứ hai, về mặt thực tiễn người viết tập trung làm rõ thực trạng công tác bảo vệ,
chăm sóc sức khỏe cho trẻ em tại Việt Nam, những kết quả đã đạt được cũng như những
hạn chế, bất cập đang tồn tại Và cuối cùng, dựa trên cơ sở nghiên cứu người viết xin đưa
ra một số kiến nghị, giải pháp khắc phục những bất cập hiện tại nhằm giúp trẻ em đượcbảo vệ, chăm sóc sức khỏe được tốt hơn
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết đã kết hợp sử dụng nhiều phươngpháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp liệt kê, phương pháp so sánh, phươngpháp phân tích đối chiếu, phương pháp tổng hợp, phương pháp diễn dịch, để làm rõ cơchế pháp lý bảo vệ quyền chăm sóc sức khỏe của trẻ em theo pháp luật quốc tế cùng với
cơ chế pháp lý và thực tiễn bảo vệ tại Việt Nam
5 Bố cục của luận văn
Ngoài các phần mục lục, lời nói đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,thì nội dung của luận văn được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về quyền trẻ em và quyền được chăm sóc sức khỏe của
trẻ em
Chương 2: Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền được chăm sóc sức
khỏe của trẻ em
Chương 3: Thực trạng bảo vệ quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em tại Việt
Nam và một số giải pháp hoàn thiện
Trang 11Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN TRẺ EM VÀ QUYỀN ĐƯỢC
CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA TRẺ EM
***
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển quyền trẻ em
1.1.1 Trên th ế giới
Trẻ em cần phải được bảo vệ và chăm sóc một cách đặc biệt là quan niệm của loài
người từ trước tới nay Chính vì vậy, ngay từ thế kỷ XIV, XV ở châu Âu đã có những tổ
chức cộng đồng hoạt động trên lĩnh vực này mà tiêu biểu là bệnh viện Spedale DegliInnocenti ở Florent, Italia1 Quá trình công nghiệp hóa ở châu Âu (thế kỷ XVII - XIX) đãkéo theo tình trạng bóc lột sức lao động trẻ em một cách phổ biến Nhưng phải đến đầuthế kỷ XX, thuật ngữ pháp lý “quyền trẻ em” mới được đề cập sau một loạt biến cố quốc
tế lớn mà đặc biệt là cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) Cuộc chiến
tranh này đã khiến rất nhiều trẻ em ở châu Âu bị rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như
mồ côi không nơi nương tựa, đói khát, bệnh tật và thương tích Tình cảnh đó đã thúc
đẩy việc thành lập hai tổ chức cứu trợ trẻ em đầu tiên trên thế giới ở Anh và Thuỵ Điểnvào năm 1919 Những năm tiếp theo, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng đã ban hành
một số Công ước nhằm bảo vệ trẻ em trong các lĩnh vực lao động, việc làm và bảo trợ xãhội Tuy nhiên, những văn kiện thời kỳ đó chưa đặt vấn đề dưới góc độ các “quyền” củatrẻ em
Năm 1923, bà Eglantyne (1876-1928) là người sáng lập Quỹ cứu trợ trẻ em ở nướcAnh đã thảo một bản Tuyên bố gồm 7 điểm, trong đó kêu gọi thừa nhận và bảo vệ các
quyền của trẻ em Đến năm 1924, khái niệm “quyền trẻ em” mới chính thức được đề cậptrong luật pháp quốc tế, khi Tuyên ngôn Giơnevơ về quyền trẻ em được Hội Quốc Liênthông qua tại Thụy Sỹ Đây là lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ quyền trẻ em trên thế giới
và được coi là mốc quan trọng trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em, đánh dấu sự ra đời và vị trí
quan trọng của trẻ em trong xã hội loài người
Ngày 24/10/1945, tổ chức Liên Hợp Quốc ra đời, đây là tổ chức liên minh giữa các
nước Sau khi được thành lập, Liên hợp quốc đã đưa vấn đề quyền trẻ em phát triển lên
một bước ngoặt mới Năm 1948, Liên Hợp quốc thông qua Tuyên ngôn thế giới về quyền
con người, trong đó khẳng định trẻ em cũng là chủ thể bình đẳng của các quyền conngười Năm 1959, Liên Hợp Quốc tiếp tục thông qua bản Tuyên ngôn thứ hai về quyền
trẻ em, phát triển nội dung của Tuyên ngôn Giơnevơ năm 1924, tuyên ngôn khẳng định
1Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng,Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb.
Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2009, trang 253.
Trang 12“Loài người có trách nhiệm trao cho trẻ em điều tốt nhất”2 Từ năm 1959 đến những năm
80 của thế kỷ XX, một loạt văn kiện quốc tế khác cũng được thông qua, trực tiếp hoặcgián tiếp đề cập đến các quyền của trẻ em, tiêu biểu là Công ước quốc tế về các quyềndân sự, chính trị 1966 và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa1966 Song, các văn kiện này hoặc không có tính ràng buộc về nghĩa vụ pháp lý hoặc
chưa tiếp cận từ vị thế đặc biệt và chú trọng đến những nhu cầu đặc thù của trẻ em nên
tác động trên thực tế rất hạn chế
Năm 1979, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc quyết định soạn thảo một điều ước quốc tế
riêng về quyền trẻ em và sau 10 năm cố gắng cuối cùng Công ước quốc tế về quyền trẻ
em đã được thông qua và ký kết ngày 20/11/1989 (còn gọi là Công ước Quyền trẻ emnăm 1989) và có hiệu lực từ ngày 2/9/1990 Ngoài lời nói đầu, nội dung của Công ước
gồm 3 phần với 54 điều khoản, bao quát được tất cả những khía cạnh liên quan đếnquyền trẻ em và xác định rõ nghĩa vụ của các quốc gia trong việc đảm bảo quyền của trẻ
em, mối quan hệ giữa trẻ em và quyền con người nói chung
Ngay sau khi Công ước về quyền trẻ em có hiệu lực, Hội nghị thượng đỉnh thế giới
về trẻ em đã được tổ chức tại New York từ ngày 29 đến 30/9/1990 Hội nghị đã thôngqua Tuyên bố thế giới và Kế hoạch hành động về sự sống còn, phát triển và bảo vệ trẻ
em, đề cập đến những thách thức và mục tiêu cụ thể nhằm bảo đảm cuộc sống và các
quyền của trẻ em trong giai đoạn 1990 - 2000 Kết thúc giai đoạn này, nhân loại đã đạt
được những kết quả bước đầu nhưng rất to lớn trong việc bảo đảm quyền trẻ em Bằng
các chiến dịch tiêm chủng và phổ biến dùng muối i - ốt mà hàng năm trên thế giới có gần
3 triệu trẻ em được cứu sống, 75 vạn em khỏi bị tàn tật về thể chất, 12 triệu em thoát khỏi
nguy cơ mắc bệnh tâm thần Bằng việc phổ biến dùng nước sạch, vệ sinh môi trường,
nuôi con bằng sữa mẹ mà hàng năm có hàng chục triệu em không bị suy dinh dưỡng.Bằng việc giáo dục, tuyên truyền về quyền trẻ em, nhận thức về vị thế của trẻ em trongcác xã hội đã thay đổi: từ việc coi trẻ em là đối tượng phụ thuộc, phải chịu sự chi phốihoàn toàn của người lớn đến chỗ trẻ em đã được thừa nhận và được đối xử với tư cách lànhững chủ thể của quyền chứ không đơn thuần chỉ là đối tượng của tình thương hay lòng
nhân đạo3
Bên cạnh đó, để hỗ trợ cho Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989 thì đến năm
2000 Liên Hợp Quốc còn thông qua hai Nghị định thư bổ sung, đó là: Nghị định thưkhông bắt buộc về việc sử dụng trẻ em trong xung đột vũ trang và Nghị định thư khôngbắt buộc về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em
2 Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1959.
3Phan Thị Thanh Tâm, Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em - cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ quyền trẻ em,
Quyen-tre-em-558 , [truy cập ngày: 14/7/2014].
Trang 13http://www.pup.edu.vn/vi/Tap-chi-CAND/Cong-uoc-Quoc-te-ve-Quyen-tre-em -co-so-phap-ly-cho-viec-bao-ve-Từ ngày 8/5 đến ngày 10/5/2002, Liên Hợp Quốc đã tổ chức một hội nghị đặc biệt
về trẻ em tại New York Hội nghị đã xác định những mục tiêu toàn cầu về trẻ em giai
đoạn 2001-2010 nhằm “Xây dựng một thế giới phù hợp với trẻ em” Và Từ đầu thế kỷ
XX đến nay đã có hơn 80 văn kiện quốc tế liên quan đến quyền trẻ em được ban hành.Đây là thành quả sau gần một thế kỷ đấu tranh liên tục của nhân loại nhằm cải thiện vị
thế và cuộc sống trẻ em
1.1.2 Ở Việt Nam
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một trong những truyền thống tốt đẹp củadân tộc Việt Nam, nhằm tạo cơ hội cho trẻ em phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ,tinh thần, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước Vì vậy, Ngay từ thời xa xưa, các
Nhà nước phong kiến đã đề ra những quy định bằng pháp luật để bảo vệ trẻ em; nhân dân
cũng tự hình thành các quan hệ đạo đức nhằm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Vàothế kỷ XVI, Bộ luật Hồng Đức do vua Lê Thánh Tông thời Hậu Lê ban hành đã quy địnhtrách nhiệm của dân chúng và quan lại địa phương phải giúp đỡ trẻ em tàn tật, trẻ em mồcôi không nơi nương tựa, bảo vệ, chăm sóc trẻ lạc đồng thời quy định trừng trị tội gian
dâm đối với trẻ em gái; tội buôn bán phụ nữ, trẻ em4
Từ năm 1945 đến năm 1978, ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Nhà nước ta
đã quan tâm xây dựng hệ thống pháp luật để kịp thời điều chỉnh các mối quan hệ, tạo cơ
sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ trẻ em Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầutiên của nước ta đã quy định các quyền cơ bản của công dân và trẻ em là công dân được
hưởng các quyền đó Hiến pháp đã dùng hai điều quy định ngắn gọn, súc tích, rõ ràng,
thể hiện sự quan tâm đầy trách nhiệm của Nhà nước đối với trẻ em: Điều 14 Hiến pháp
quy định “Trẻ em được săn sóc về mặt giáo dưỡng” và Điều 15 Hiến pháp quy định
“Nền sơ học cưỡng bách và không học phí Học trò nghèo được Chính phủ giúp” Và
tiếp theo đó là Hiến pháp năm 1959 cũng quy định “ Nhà nước bảo hộ quyền lợi của
người mẹ và của trẻ em ”5 Bên cạnh đó trong giai đoạn này, các chủ trương, chính sách
về trẻ em còn được quy định trong nhiều văn kiện của Đảng, trong Luật hôn nhân và gia
đình và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan Trong đó, đáng chú ý là Chỉ thị số
197-CT/TW ngày 19/3/1960 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác thiếu niên nhi
đồng, một Chỉ thị chuyên đề đầu tiên của Đảng về một chính sách toàn diện đối với việc
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Ngoài ra, Chính phủ đã thành lập Uỷ ban Thiếu
niên nhi đồng Việt Nam theo Quyết định số 112/NV ngày 02/5/1961 của Bộ Nội vụ - đây
là tổ chức quần chúng có nhiệm vụ phụ trách việc giáo dục thiếu niên nhi đồng một cáchtoàn diện và chỉ đạo phong trào thiếu niên nhi đồng trong cả nước
4 Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb.
Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2009, trang 253.
5 Điều 24 Hiến pháp năm 1959.
Trang 14Từ năm 1979 đến năm 1989, sau ngày thống nhất đất nước, kế thừa truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em luôn là mối quan tâm đặc biệthàng đầu của Đảng và Nhà nước, là nhiệm vụ của mỗi công dân, gia đình, nhà trường và
toàn xã hội Hiến pháp năm 1980, đã quy định việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ emgắn liền với bảo vệ phụ nữ, bảo vệ bà mẹ, đồng thời khẳng định trách nhiệm và nghĩa vụcủa gia đình, Nhà nước và xã hội đối với sự nghiệp bảo vệ bà mẹ và trẻ em: Điều 47
“…Nhà nước và xã hội bảo vệ bà mẹ và trẻ em ”6 và điều 64 quy định “ Cha mẹ có
nghĩa vụ nuôi dạy con cái thành những công dân có ích cho xã hội Con cái có nghỉã vụ kính trọng và chăm sóc cha mẹ Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con”7 Đồng thời, trong giai đoạn này nhiều chính sách về trẻ em được cũng
được ban hành, cụ thể là: Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được Uỷ banThường vụ Quốc hội ban hành ngày 14/11/1979; Nghị định số 293-CP ngày 04/7/1981
của Hội đồng Chính phủ về việc thi hành Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻem; Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989 Ngoài ra, còn nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, văn bản
hướng dẫn thực hiện có liên quan của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành và địaphương
Từ 1990 đến năm 1999, với sự ra đời của Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989
và Hiến pháp 1992 tiếp tục quy định “ Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ Nhà
nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con”8 thì công tác bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em phát triển cả về nội dung, cách làm và tổ chức bộ máy thực
hiện Việt Nam đã ban hành và sửa đổi nhiều đạo luật về trẻ em, cụ thể như: Luật Bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em 1991; Luật phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991; Bộ luật laođộng năm 1994; Quyết định số 134/1999/QĐ-TTg ngày 31/5/1999 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt Chương trình hành động bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai
đoạn 1999-2002; Chỉ thị số 34/1999/CT-TTg ngày 27/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ
về đẩy nhanh việc thực hiện các mục tiêu đến năm 2000 về trẻ em, tổng kết chương trình
hành động quốc gia vì trẻ em 1991-2000 và xây dựng chương trình hành động quốc gia vì
trẻ em giai đoạn 2001-2010 và nhiều thông tư, nghị định, văn bản dưới luật khác liên
quan đến việc bảo vệ trẻ em cũng được ban hành Đồng thời, Chính phủ cũng đổi tên Uỷ
ban Thiếu niên nhi đồng Việt Nam thành Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Namtheo quyết định số 329/CT ngày 12/9/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
6 Điều 47 Hiến pháp năm 1980.
7 Điều 64 Hiến pháp năm 1980.
8 Điều 64 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001.
Trang 15Từ năm 2000 đến nay, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề trẻ em, bảo
đảm cho trẻ em một tương lai tốt đẹp hơn Tiêu biểu là Hiến pháp năm 1992 được sửađổi, bổ sung năm 2001 laị tiếp tục kế thừa và tái khẳng định việc bảo vệ trẻ em, đề cao
trách nhiệm của gia đình, đặc biệt là trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái, đồng thờicũng quy định bổn phận của con cháu đối với ông bà, cha mẹ được quy định tại điều 64
“Gia đình là tế bào của xã hội Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình Cha mẹ có trách
nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các
con ” Đồng thời, hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật về quyền trẻ em cũng được
ban hành, cụ thể là: Quyết định số 23/2001/QĐ-TTg ngày 26/2/2001 của Thủ tướngChính phủ về việc phê duyệt Chương trình hành động Quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai
đoạn 2001-2010; Quyết định số 19/2004/QĐ-TTg ngày 12/2/2004 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt Chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang,trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại,nguy hiểm giai đoạn 2004-2010; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004;Nghị định số 36/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướngdẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Và trong giai
đoạn này, Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em sẽ được giao là cơ quan làm công tác bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được quy định tại Nghị định số 94/2002/NĐ-CP ngày11/11/2002 – đây là cơ quan ngang Bộ, cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về dân số, gia đình và trẻ em Và hiện nay, các chức năng của Ủy ban đã
được chuyển giao sang một số bộ, ngành như Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ
Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế trong đó, chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ, chămsóc trẻ em trên phạm vi cả nước được giao cho Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Như vậy chúng ta có thể thấy công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em luôn là vấn
đề hàng đầu được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và gần đây nhất là sự ra đời của Hiếnpháp năm 2013 lại một lần nữa tiếp tục khẳng định quyền trẻ em,quy định tại điều 37
“Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia
vào các vấn đề trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bốc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”9
1.2 Các khái niệm liên quan
1.2.1 Khái ni ệm quyền con người và quyền công dân
1.2.1.1 Khái niệm quyền con người
Quyền con người là khát vọng và thành quả đấu tranh của nhân loại, qua các giai
đoạn phát triển và đã trở thành giá trị chung Do đó, bảo vệ quyền con người luôn là một
9 Khoản 1 điều 37 Hiến pháp năm 2013.
Trang 16vấn đề quan trọng mà công cụ hiệu quả nhất cho việc bảo vệ chính là hệ thống pháp luật.Chỉ thông qua việc thể chế hóa thành luật, quyền con người mới được bảo đảm và bảo vệtốt nhất.
Vì lẽ đó, kể từ khi Liên Hợp Quốc được thành lập năm 1945, quyền con người đã
được quy định trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế như: Tuyên ngôn thế giới về nhân
quyền (1948), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966), Công ước vềcác quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966) Và các văn kiện này đã trở thành hệ thốngtiêu chuẩn pháp lý toàn cầu về quyền con người đòi hỏi mọi quốc gia, trong đó có ViệtNam tôn trọng và thực hiện
Quyền con người là một phạm trù đa diện, liên quan đến nhiều lĩnh vực như đạo
đức, chính trị, pháp lý Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền conngười Theo một tài liệu của Liên hợp quốc, từ trước đến nay có đến gần 50 định nghĩa
về quyền con người đã được công bố, mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất
định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả
các thuộc tính của quyền con người
Ở cấp độ quốc tế, theo định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên Hợp Quốc về quyềncon người (Office of High Commissioner for Human Rights – OHCHR) thường xuyênđược trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu thì “quyền con người là những bảo đảm pháp lý
phổ quát (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chốnglại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhânphẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của
dẫn, theo đó, quyền con người là những sự được phép (entitlements) mà tất cả thành viêncủa cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội ;
đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người Định nghĩa này mang dấu ấn
của học thuyết về các quyền tự nhiên11
Riêng ở Việt Nam, trên phương diện pháp lý vẫn chưa có một văn bản pháp lý nào
quy định về quyền con người như một định nghĩa Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm
quyền con người được thể hiện trong những quy định của pháp luật, cụ thể tại điều 14
Hiến pháp năm 2013 quy định “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền
con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận,
tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”12 và “Quyền con người, quyền
10Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb.
Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2009, trang 37.
11Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb.
Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2009, trang 37.
12 Khoản 1 điều 14 Hiến pháp năm 2013.
Trang 17công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng
đồng”13 Tuy nhiên theo một số nhà nghiên cứu và chuyên gia thì “quyền con người lànhững nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận vàbảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”14 Bên cạnh đó, tạibuổi quán triệt Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa XI) của Đảng ủy Tòa án nhân dân tối caongày 26/02/2014 khi nói về những điểm mới về quyền con người, quyền công dân được
quy định trong Hiến pháp năm 2013, Phó giáo sư, Tiến sỹ Trần Văn Độ - Chánh án Tòa
án Quân sự Trung ương, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao khái quát “quyền con
người là quyền của cá nhân mà khi sinh ra vốn dĩ là đã có, còn quyền công dân là quyềnđược quy định cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật của nhà nước nó gắn liền với quốc
tịch của mỗi công dân”15 Đây là cách khái quát dể hiểu và cơ bản nhất về quyền conngười Nó phù hợp với học thuyết về “quyền tự nhiên” cho rằng quyền con người là
những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ làthành viên của gia đình nhân loại
Như vậy, mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quyền con người nhưng
chúng ta có thể thấy được quyền con người được xác định dựa trên hai bình diện chủ yếu
là giá trị đạo đức và giá trị pháp luật Dưới bình diện đạo đức, quyền con người là giá trị
xã hội cơ bản, vốn có (những đặc quyền) của con người như nhân phẩm, bình đẳng xãhội, tự do ; dưới bình diện pháp lý, để trở thành quyền, những đặc quyền phải được thểchế hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Do đó, dù ở góc độnào hay cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực
được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ Những chuẩn mực này kết tinh những giá
trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người hướng
đến bảo vệ quyền và lợi ích chung của tất cả mọi con người trên thế giới
1.2.1.2 Khái niệm quyền công dân
Quyền con người và quyền công dân là hai phạm trù rất gần gũi với nhau nhưng
không đồng nhất Quyền công dân (citizen’s rights) là một khái niệm xuất hiện cùng cách
mạng tư sản Cách mạng tư sản đã đưa con người từ địa vị những thần dân trở thànhnhững công dân (với tư cách là những thành viên bình đẳng trong một Nhà nước) và pháp
điển hóa các quyền tự nhiên của con người dưới hình thức các quyền công dân trong
pháp luật Có thể hiểu, công dân là người mang quốc tịch của một nước nhất định và
13 Khoản 2 điều 14 Hiến pháp năm 2013.
14Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb.
Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2009, trang 38.
15Cao Việt Hoàng, Tòa án nhân dân với việc bảo đảm quyền con người,
http://tcbta.toaan.gov.vn/portal/page/portal/tcbta/27676686/27677465?p_page_id=27676686&p_cateid=28316919& item_id=53249042&article_details=1 , [truy cập ngày: 18/7/2014].
Trang 18được Nhà nước đó bảo vệ Theo như pháp luật Việt Nam thì “Công dân nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”16 và được Nhà Nước Việt
Nam bảo vệ, cụ thể tại khoản 2 và khoản 3 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho Nhà nước khác”17và “Công dân Việt Nam
ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ”18
Như vậy, quyền công dân là quyền của các cá nhân đặt trong mối quan hệ với nhànước, sẽ được Nhà nước trao cho những quyền và nghĩa vụ cụ thể, hay nói đúng hơn
nghĩa vụ của họ phải tương thích quyền hạn tạo nên địa vị pháp lý công dân Do đó,quyền công dân trước hết cũng là quyền con người, nhưng việc thực hiện nó gắn với quốctịch, tức là gắn với vị trí pháp lý của công dân trong quan hệ với nhà nước, được nhà
nước đảm bảo đối với công dân của nước mình và chỉ có những người có quốc tịch của
một quốc gia mới được hưởng quyền công dân của quốc gia đó Vì vậy, chúng ta có thểthấy được khái niệm quyền công dân là khái niệm gắn liền với Nhà nước, thể hiện mốiquan hệ giữa công dân với Nhà nước, được xác định bởi chế định quốc tịch Vì lẽ đó,Quyền công dân là tập hợp những quyền con người được pháp luật của một nước ghinhận và chỉ những người mang quốc tịch của một nước thì mới được hưởng các quyềncông dân mà pháp luật nước đó quy định Ví dụ như theo điều 27 Hiến pháp năm 2013
thì “Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.
Bên cạnh đó, như đã nói ở trên thì quyền công dân sẽ có mối quan hệ mật thiết vớiquyền con người nhưng lại không đồng nhất Vì thực tế, nội hàm về quyền con ngườirộng hơn quyền công dân Về tính chất, quyền con người sẽ không bị bó hẹp trong mốiquan hệ giữa cá nhân với nhà nước như quyền công dân mà rộng hơn là mối quan hệ giữa
cá nhân với toàn thể cộng đồng nhân loại Về phạm vi áp dụng, do không bi giới hạn bởichế định quốc tịch của quyền công dân nên chủ thể của quyền con người sẽ là tất cả cácthành viên của gia đình nhân loại, bất kể là ai, mang quốc tịch gì Như vậy, về bản chấtthì các quyền công dân chính là những quyền con người được các nhà nước thừa nhận và
áp dụng cho công dân của nước mình và một cá nhân, ngoại trừ những người không quốctịch thì một cá nhân sẽ đồng thời là chủ thể của cả hai loại quyền con người và quyềncông dân
16 Khoản 1 điều 17 Hiến pháp năm 2013.
17 Khoản 2 điều 17 Hiến pháp năm 2013.
18 Khoản 3 điều 17 Hiến pháp năm 2013.
Trang 191.2.2 Khái ni ệm trẻ em và quyền trẻ em
Theo Từ điển Xã hội học, trẻ em đó là nhóm ở trong quá trình xã hội hóa (tiếp nhậnnhững kỹ năng và tri thức để có thể tham gia hoạt động xã hội độc lập), nói đúng hơn đó
là nhóm ở trong giai đoạn đầu tiên của xã hội hóa
Như vậy, trẻ em do chưa trưởng thành về tinh thần và thể lực, chưa phát triển đầy
đủ về mặt tâm sinh lý nên cần phải nhận được sự quan tâm và chăm sóc đặc biệt Do đó,
việc quy định khái niệm trẻ em và quyền trẻ em là vô cùng quan trọng và cần thiết trongviệc bảo vệ và bảo đảm thực hiện một cách đầy đủ các quyền mà trẻ em cần phải có cho
sự phát triển an toàn và lành mạnh của chúng
1.2.2.1 Trẻ em theo pháp luật quốc tế
Trong pháp luật quốc tế, khái niệm trẻ em đã được sử dụng một cách thống nhất vàphổ biến ở nhiều quốc gia Theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm
1989 đã ghi nhận “trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp
dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”19
Như vậy, trong pháp luật quốc tế độ tuổi để được coi là trẻ em được sử dụng một
cách thống nhất và được đa số các quốc gia sử dụng như: Ở Nhật Bản được quy định tại
Điều 4 Luật phúc lợi trẻ em năm 1947 “trẻ em là người dưới 18 tuổi”, ở Trung Quốc được quy định tại Điều 2 Luật Bảo vệ người chưa thành niên “trẻ em còn được gọi là trẻ chưa thành niên, là công dân dưới 18 tuổi”
Tuy nhiên, pháp luật quốc tế cũng khẳng định việc áp dụng khái niệm trẻ em củamỗi quốc gia có thể khác nhau, tuỳ thuộc vào nội luật của mỗi nước quy định độ tuổithành niên sớm hơn Do vậy, nhìn chung ở một số quốc gia sẽ có những quy định khácnhau về độ tuổi để được coi là trẻ em so với Công ước quốc tế Việc quy định độ tuổi ởmỗi quốc gia phụ thuộc vào sự phát triển về thể chất, tinh thần và tâm sinh lý của trẻ em
ở mỗi quốc gia Do đó sẽ có những quốc gia quy định khái niệm về trẻ em có thể sớmhơn hoặc trể hơn 18 tuổi như được xác định trong công ước về quyền trẻ em Chẳng hạnnhư theo pháp luật Việt Nam quy định tại Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm
2004 thì “trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”20
1.2.2.2 Trẻ em theo pháp luật Việt Nam
Ở Việt Nam, pháp luật quy định về khái niệm trẻ em chính thức được đề cập trong
một văn bản pháp quy sau khi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành, đó là Pháp lệnh về
19 Điều 1 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989.
20 Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004.
Trang 20Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 14 tháng 11 năm 1979, trong đó quy định “Trẻ
em nói trong Pháp lệnh này gồm các em từ mới sinh đến 15 tuổi”21
Đến năm 1991, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được ban hành đã làmthay đổi khái niệm trẻ em so với trước đó đã nâng độ tuổi trẻ em lên đến dưới 16 tuổi
được quy định tại Điều 1 “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”.
Và cho đến bây giờ, khái niệm này vẫn được tiếp tục sử dụng và được khẳng định
trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ban hành năm 2004 “trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”22
Tuy nhiên, trong các quy phạm pháp luật Việt Nam hiện nay còn xuất hiện các kháiniệm liên quan đến khái niệm trẻ em mà chúng ta hay nhầm lẫn như “người chưa thành
niên”, “Lao động chưa thành niên” Như vậy cần phải phân biệt khái niệm trên với khái
niệm trẻ em Theo pháp luật Việt Nam thì “ Người chưa đủ mười tám tuổi là người
chưa thành niên”23và “Người lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”24 Như
vậy khái niệm người chưa thành niên sẽ rộng hơn khái niệm về trẻ em, người chưa thànhniên bao gồm cả trẻ em và những người từ 16 tuổi đến 18 tuổi, còn những người từ đủ 16tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ là những người chưa thành niên mà không còn là trẻ em nữa
Như vậy trong pháp luật chuyên ngành, Việt Nam đã thừa nhận độ tuổi trẻ em được
pháp luật bảo vệ và chăm sóc là những công dân dưới 16 tuổi Mặc dù quy định độ tuổithấp hơn so với Công ước quốc tế, nhưng quy định của Việt Nam vẫn được coi là phùhợp bởi quy định mở của Công ước
1.2.3.3 Khái niệm quyền trẻ em
Trẻ em là những con người rất cần được sự quan tâm và bảo vệ của xã hội, do chưa
trưởng thành hoàn toàn về thể chất và tinh thần nên trẻ em còn rất non nớt, dễ bị tổnthương Do đó, việc đưa ra các quy định về quyền trẻ em sẽ góp phần quan trọng trong
việc bảo vệ trẻ em ngày càng tốt hơn Như vậy, sự hình thành khái niệm quyền trẻ em sẽtạo ra cơ sở pháp lý giúp trẻ em không còn tiếp nhận thụ động sự chăm sóc từ người lớn
mà đã trở thành chủ thể được hưởng các quyền trong pháp luật Từ đó, việc bảo vệ vàchăm sóc trẻ em sẽ được quan tâm và thực hiện chặt chẽ hơn
Vì trẻ em cần được trao những quyền cần thiết cho sự phát triển của trẻ, nên
“Quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em cần có để được sống và lớn lên một cách lành
21 Điều 1 Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979.
22 Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004.
23 Điều 18 Bộ luật dân sự năm 2005.
24 Điều 161 Bộ luật lao động năm 2012.
Trang 21mạnh và an toàn”25 Vì lẽ đó, quyền trẻ em sẽ được xây dựng trên những nhu cầu, đặc
điểm trong cuộc sống của trẻ em nhằm đảm bảo trẻ em được sống và phát triển an toàn,
lành mạnh Như vậy, quyền trẻ em là những đặc quyền tự nhiên mà trẻ em được hưởng,
được làm, được tôn trọng và thực hiện nhằm bảo đảm sự sống còn, tham gia và phát triển
toàn diện
Ngoài ra, tại Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948 quy định “mọi người sinh ra
đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền”26 Theo quy định này trẻ em kể từ khi
sinh ra sẽ được tự do, bình đẳng trong việc được hưởng các quyền con người Như vậy,quyền trẻ em chính là quyền con người được cụ thể hóa cho phù hợp với nhu cầu, đặc
trưng và tính chất cuộc sống của trẻ em
Bên cạnh đó, trong pháp luật quốc tế quyền trẻ em được quy định trong nhiều Công
ước và riêng ở Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em 1989 thì quyền trẻ em đượcquy định một cách cụ thể và đầy đủ nhất Công ước đã bao quát được tất cả các khía cạnh
của quyền trẻ em, bao gồm 4 nhóm quyền cụ thể: quyền sống còn; quyền được bảo vệ;quyền được phát triển và một số biện pháp bảo vệ dành cho các trẻ có hoàn cảnh đặc biệt.Trong pháp luật Việt Nam, quyền trẻ em đã được quy định ngay từ bản Hiến pháp
đầu tiên của nước ta: điều 14 “Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng”27 và điều 15
Và trải qua nhiều giai đoạn trong lịch sử, quyền trẻ em vẫn tiếp tục được phát triển trongcác bản hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Cho đến ngày hôm nay,pháp luật về quyền trẻ em ở nước ta đã dần hoàn thiện, nhiều quyền của trẻ em đã được
quy định một cách đầy đủ, cụ thể là Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 đã đưa ra các quyền cơ bản và bổnphận của trẻ em bao gồm: quyền được khai sinh và có quốc tịch; quyền được chăm sóc,
nuôi dưỡng; quyền sống chung với cha mẹ; quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân
thể, nhân phẩm và danh dự; quyền được chăm sóc sức khoẻ; quyền được học tập; quyền
vui chơi, giải trí, hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch; quyền được
phát triển năng khiếu; quyền có tài sản; quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến vàtham gia hoạt động xã hội
25Hội bảo vệ quyền trẻ em tỉnh Thừa Thiên Huế, Quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em cần có để được sống và lớn lên một cách lành mạnh và an toàn,http://bvqte.thuathienhue.gov.vn/News.aspx?aid=441&cid=33 , [truy cập ngày: 20/7/2014].
26 Điều 1 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948.
27 Điều 14 Hiến pháp năm 1946.
28 Điều 15 Hiến pháp năm 1946.
Trang 221.2.3 Khái ni ệm sức khỏe và quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em
1.2.3.1 Khái niệm sức khỏe
Trong cuộc sống này, không có gì quan trọng cho bạn bằng chính con người bạn,một thân thể không bệnh tật, một tâm hồn không loạn đó là điều hạnh phúc nhất của con
người Có câu nói “Người có sức khỏe có một trăm ước muốn, người không có sức khỏe
chỉ có 1 ước muốn duy nhất: đó là sức khỏe” Quả đúng như vậy, bệnh tật không trừ một
ai bất kể bạn là người giàu hay người nghèo, người có địa vị cao hay thấp Nếu bạn maymắn được sở hữu một sức khỏe tốt thì đồng nghĩa với việc bạn đang cận kề với thànhcông về mọi lĩnh vực
Đối với chúng ta có lẽ ai cũng đã biết và quan tâm nhiều đến tầm quan trọng của
sức khoẻ nhưng “Sức khoẻ là gì” thì dường như có nhiều kiểu định nghĩa khác nhau tuỳtheo trình độ hiểu biết của mỗi người Khái niệm sức khỏe trong đời sống hàng ngày
được hiểu như là: sức khỏe là không ốm đau, bệnh tật; người có sức khỏe là người có cơ
thể cường tráng, cơ thể hoạt động bình thường có khả năng lao động, làm việc và hoạt
động với năng suất, chất lượng cao
Cho đến nay, Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO (World Healthy Organization) đã đưa
ra định nghĩa chung về sức khoẻ như sau “Sức khoẻ là một trạng thái thoải mái về thể
chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ không có bệnh hay thương tật”29 Như vậy,
chúng ta có thể hiểu sức khoẻ gồm 3 mặt: Sức khoẻ thể chất, sức khoẻ tinh thần và sứckhoẻ xã hội
Sức khoẻ thể chất được thể hiện một cách tổng quát sự sảng khoái và thoải mái vềthể chất Càng sảng khoái, thoải mái, càng chứng tỏ bạn là người khoẻ mạnh Cơ sở của
sự sảng khoái, thoải mái thể chất là:
- Sức lực: Khả năng hoạt động của cơ bắp mạnh, có sức đẩy, sức kéo, sức nâng
cao…do đó làm công việc chân tay một cách thoải mái như mang vác, điều khiển máy
29Nguyễn Minh Mẫn, Y tế Việt Nam nên bắt đầu từ định nghĩa sức khỏe,
http://www.ykhoa.net/binhluan/nguyenminhman/120212_nguyenminhman_dinhnghiasuckhoe.htm , [truy cập ngày 21/7/2014].
Trang 23- Khả năng chịu đựng được những điều kiện khắc nghiệt của môi trường: Chịunóng, lạnh, hay sự thay đổi đột ngột của thời tiết.
Sức khoẻ tinh thần là hiện thân của sự thoả mãn về mặt giao tiếp xã hội, tình cảm vàtinh thần Nó được thể hiện ở sự sảng khoái, ở cảm giác dễ chịu, cảm xúc vui tươi, thanhthản; ở những ý nghĩ lạc quan, yêu đời; ở những quan niệm sống tích cực, dũng cảm, chủ
động; ở khả năng chống lại những quan niệm bi quan và có lối sống không lành mạnh
Sức khoẻ tinh thần cho ta khí thế để sống năng động, để đạt được các mục tiêu đặt ratrong cuộc sống và tương tác với người khác với sự tôn trọng và công bằng Cơ sở củasức khoẻ tinh thần là sự thăng bằng và hài hoà trong hoạt động tinh thần giữa lý trí
Khác với sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể chất thì sự hoà nhập của cá nhân vớicộng đồng được gọi là sức khoẻ xã hội Sức khoẻ xã hội thể hiện ở sự thoải mái trong cácmối quan hệ chằng chịt, phức tạp giữa thành viên: gia đình, nhà trường, bạn bè, xóm
làng, nơi công cộng, cơ quan Nó thể hiện ở sự được chấp nhận và tán thành của xã hội
Càng hoà nhập với mọi người, được mọi người đồng cảm, yêu mến càng có sức khoẻ xãhội tốt và ngược lại Cơ sở của sức khoẻ xã hội là sự thăng bằng giữa hoạt động và quyềnlợi cá nhân với hoạt động và quyền lợi của xã hội, của những người khác; là sự hoà nhậpgiữa cá nhân, gia đình và xã hội
Như vậy, sức khoẻ của một con người là kết quả của sự kết hợp hài hòa, chặt chẽ
của cả ba yếu tố Nó là sự thăng bằng, hài hoà của tất cả những khả năng sinh học, tâm lý
và xã hội của con người
1.2.3.2 Khái niệm quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em
Sức khỏe được coi là tài sản quý nhất của mỗi con người chúng ta Để phát triểnmột con người toàn diện thì cần phải có một sức khỏe tốt, nếu không có một thể lực khỏemạnh thì khó có thể làm được việc gì Do đó, khi đề cập đến sức khoẻ, chúng ta thường
được nghe những câu nói quen thuộc như: “Sức khoẻ là vàng”, “Mất sức khoẻ là mất tất
cả”, “Sức khoẻ là trụ cột của cuộc sống”…
Càng ngày chúng ta càng hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của sức khỏe, vì vậy nhucầu được chăm sóc sức khỏe là điều cần thiết và quan trọng đối với chúng ta Tuy nhiên,
đối với trẻ em là những con người còn non nớt, chưa trưởng thành hoàn toàn về mọi mặt
nên nhu cầu được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là rất lớn, cần được sự quan tâm đầy đủ
từ gia đình, xã hội Trong khi đó xã hội chúng ta ngày càng phát triển, con người phảichạy đua với thời gian giữa cuộc sống bon chen nên việc quan tâm đến sức khỏe của trẻ
em là chưa thật sự đầy đủ và đáp ứng nhu cầu cho trẻ em Bới lẽ đó, pháp luật Việt Nam
và quốc tế đã quy định quyền được chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, đây là một cách trựctiếp để trẻ em được hưởng đầy đủ các nhu cầu về chăm sóc sức khỏe và có một sức khỏetốt nhất cho sự phát triển
Trang 24Theo pháp luật quốc tế, tại Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em quy định
“Các Quốc gia thành viên thừa nhận quyền của trẻ em được hưởng mức độ cao nhất có
thể đạt được về sức khỏe và các phương tiện chữa bệnh và phục hồi sức khoẻ Các Quốc gia thành viên cố gắng đảm bảo rằng không có trẻ em nào bị tước đoạt quyền được
hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ như vậy”30 Như vậy, quyền được chăm sóc sứckhỏe của trẻ em là quyền không thể bị tước bỏ và trong khuôn khổ quyền được chăm sócsức khỏe của trẻ em thì trẻ em sẽ luôn được quan tâm và chăm sóc ở mức độ cao nhất,
được hưởng đầy đủ các phương tiện, dịch vụ trong chăm sóc sức khỏe cho bản thân.Đối với pháp luật Việt Nam, quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em được quy
định tại điều 15 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004: “Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ”31 Theo quy định này thì tất cả mọi trẻ em đều cóquyền được hưởng sự chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Chẳng những vậy, pháp luật nước tacòn đặc biệt quan tâm tới những đối tượng là trẻ em dưới 6 tuổi, cụ thể việc quy định
“Trẻ em dưới sáu tuổi được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh
không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập”32 Vì giai đoạn này nhu cầu về sức khỏecủa trẻ em là cao nhất nên việc pháp luật quy định như vậy sẽ góp phần thúc đẩy việcchăm sóc cho trẻ ở giai đoạn này được đầy đủ và tốt hơn
Như vậy cùng với khái niệm sức khỏe và khái niệm quyền trẻ em, chúng ta có thể
hiểu quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là quyền được thỏa mãn các nhu cầutrong sinh hoạt (nhu cầu đầy đủ về dinh dưỡng, được vui chơi giải trí ) và tất cả những
gì cần để đảm bảo trạng thái thỏa mãn về thể chất , tinh thần, xã hội cho trẻ em để trẻ em
có một sức khỏe tốt nhất cho sự phát triển của bản thân
1.3 Đặc điểm của trẻ em và quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em
1.3.1 Đặc điểm của trẻ em
Trong cuộc sống của chúng ta, ai cũng sẽ phải trải qua những giai đoạn cần thiết để
có thể trưởng thành hoàn toàn về thể chất và tâm lý Và ở mỗi giai đoạn khác nhau tấtnhiên sẽ có những điểm khác nhau mà trong mỗi chúng ta cũng đều sẽ trải qua Trẻ em
đây được xem là giai đoạn phát triển đầu tiên của mỗi con người, đồng thời đây là giaiđoạn nền tảng và quan trọng cho sự phát triển sau này của mỗi con người
Trong giai đoạn đầu của sự phát triển của đời người, trẻ em do còn non nớt, chưatrưởng thành hoàn toàn về các mặt như thể chất, tinh thần và tâm sinh lý nên sẽ có nhữngđặc điểm riêng và cơ bản nhất định Dựa theo đặc điểm tâm sinh lý của trẻ chúng ta có
thể thấy 5 nhóm tuổi cơ bản trong quá trình phát triển của trẻ em:
30 Khoản 1 Điều 24 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989.
31 Khoản 1 Điều 15 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004.
32 Khoản 2 Điều 15 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004.
Trang 25- Giai đoạn sơ sinh: đây là giai đoạn trẻ em từ khi sinh ra đến dưới 18 tháng tuổi Ở
giai đoạn này, trẻ nhỏ còn non nớt và bỡ ngỡ với môi trường cuộc sống mới ngoài bụng
mẹ Từ khi đứa trẻ chào đời cho đến khi đứa trẻ dưới 18 tháng tuổi, trẻ thể hiện mọi nhucầu của mình bằng “tiếng khóc”, nếu muốn ăn, muốn thay tã lót, muốn được nâng niu, âuyếm, muốn được bảo vệ khi cảm thấy nguy hiểm… thì tiếng khóc là ngôn ngữ duy nhấtcủa trẻ em Nếu cha mẹ, người chăm sóc trẻ quan tâm, đáp ứng lại các nhu cầu đó, trẻ yên
tâm, tin tưởng vào người chăm sóc mình Khi trưởng thành niềm tin này phát triển thành
niềm tin vào các mối quan hệ xã hội và vì vậy, giao tiếp, quan hệ của trẻ em với những
người xung quanh thuận lợi, là cơ sở của các hành vi và cách ứng xử phù hợp, được xã
hội chấp nhận Ngược lại, những trẻ em không được đáp ứng nhu cầu một cách phù hợp
có thể hình thành tâm lý không tin tưởng và lâu dài sẽ khó khăn trong niềm tin đối vớicác mối quan hệ xã hội
- Giai đoạn nhà trẻ: đây là giai đoạn trẻ em từ 18 tháng tuổi đến dưới 36 tháng tuổi
Giai đoạn này, trẻ mới tập đi, tập nói, ở trẻ bắt đầu hình thành cách hay bắt chước, thích
khám phá mọi vật xung quanh Trẻ ở giai đoạn này có nhu cầu được bảo vệ và hướng dẫn
về cái gì được, cái gì không được một cách chu đáo Các nhà tâm lý học gọi đây là giai
đoạn của sự lựa chọn giữa độc lập và tự ti Nếu trẻ học được cách biết nghe lời chỉ dẫn,
biết tuân theo kỷ luật (trước hết là tập đi vệ sinh đúng chỗ quy định chẳng hạn) thì saunày trẻ sẽ phát triển tính tự lập Trong trường hợp người lớn không hướng dẫn, giảng giải
cụ thể, trẻ không hiểu và không biết kỷ luật, khi gặp các trường hợp nguy hiểm (bị bỏng
do nghịch nước sôi, đưa tay vào ổ điện…) thì sau này, trẻ em cảm thấy tự ti, không mạnhdạn phát triển tính độc lập của mình
- Giai đoạn mẫu giáo: đây là giai đoạn trẻ em từ 36 tháng tuổi đến dưới 60 thángtuổi Trong độ tuổi này, trẻ em bắt đầu hình thành năng lực tự chủ, có sự định hướngnhững hành vi công việc của mình Nếu cha mẹ cười hoặc giễu cợt, phê phán con trướcnhững nỗ lực chưa thực hiện được của nó thì trẻ sẽ luôn cảm thấy điều mình làm là có lỗi
Ngược lại, nếu được cổ vũ, khích lệ thì trẻ rất sung sướng và nỗ lực hơn nữa Tình cảm
hồn nhiên, dễ yêu, dễ hờn giận, muốn được tự chủ là một trong những nét tâm lý nổi bậtcủa trẻ giai đoạn này Tương ứng với giai đoạn này là trẻ sẽ dần hình thành ý thức, tínhcách của bản thân mình
- Giai đoạn nhi đồng - thiếu nhi: đây là giai đoạn trẻ em từ 6 tuổi đến 12 tuổi Độtuổi này trẻ rất háo hức và sẵn sàng học nhiều điều mới Trẻ bắt đầu đến trường, bắt đầulàm quen với những khái niệm khoa học ở trường tiểu học, bắt đầu học cách tuân thủ quy
định của nhà trường, rèn luyện theo những đức tính mà nhà trường dạy dỗ Ở giai đoạn
này, chúng ta cần phải chú trọng quan tâm, rèn luyện cho trẻ những phẩm chất tốt nhất
như chăm chỉ, cần cù, thật thà Đồng thời, cũng tránh làm cho trẻ rơi vào cảm giác tự ti,
Trang 26mặc cảm sẽ ảnh hưởng một phần nào đó đến sự hình thành tính cách của trẻ Cũng ở giai
đoạn này, trẻ em sẽ bắt đầu nhận thức xã hội một cách sâu sắc hơn khi tiếp xúc với các sự
vật, sự việc trong xã hội Như vậy, ở giai đoạn này thái độ của người lớn và môi trườnggiáo dục tốt sẽ quyết định đến phẩm chất và tính cách của trẻ sau này
- Giai đoạn thanh thiếu niên: đây là giai đoạn trẻ em từ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi
Trong giai đoạn này, trẻ bắt đầu ý thức được bản thân Đây là giai đoạn các em bước vào
bậc trung học cơ sở, bắt đầu giao tiếp với xã hội Có thể nói đây là lứa tuổi quá độ trongquá trình phát triển từ trẻ em thành người lớn Trẻ sẽ cảm nhận được những thay đổi của
cơ thể và cả giới tính Ở giai đoạn này, trẻ rất tò mò, ham hiểu biết, rất thích cái mới và
khám phá cái mới Do đó, hoạt động trí tuệ của các em phát triển nhiều hơn nhiều so vớilứa tuổi trước nhờ sự phát triển tư duy trừu tượng, ghi nhớ và chú ý có chủ định, trí tưởng
tượng phong phú Mặt khác, ở lứa tuổi này, các em đã bộc lộ được những năng khiếu vàtài năng của bản thân, bắt đầu có những định hướng cho tương lai và biết phấn đấu chođịnh hướng đó Bên cạnh đó, trẻ em ở tuổi thanh thiếu niên bắt đầu có sự ý thức, tự nhìn
nhận về bản thân mình, nếu có sự định hướng đúng thì các em có thể có sự tự giáo dục vànếu trẻ không được dạy dỗ đúng mực, thiếu tự chủ, trẻ dễ có những hành động lệch lạcvới chính mình hay với người khác và đó thường là nguy cơ đưa trẻ tới những hành vi sai
trái như: trộm cắp, quấy phá, chán học, bỏ học, uống rượu, đánh bạc, sử dụng ma tuý Ở
độ tuổi này, trẻ cũng đã chủ ý đánh giá hành vi, thái độ của người lớn và có thái độ phê
phán, xem xét, bình luận về các hành vi, thái độ của người lớn đồng thời cũng có nhữngnhu cầu cần được người lớn tôn trọng, sự can thiệp thô bạo, áp đặt đối với các em có thểdẫn đến sự phản kháng mạnh mẽ Đây cũng là giai đoạn trẻ hình thành những suy nghĩ
độc lập, đang phải tách ra độc lập khỏi gia đình, những người thân một cách tự nhiên để
chuẩn bị bước vào cuộc sống độc lập của một người trưởng thành, thiết lập những quan
hệ xã hội mới như quan hệ bạn bè khác giới Đây là giai đoạn rất khó khăn trong tâm lýcủa trẻ và để làm được điều này, trẻ thường hồi tưởng lại thời thơ ấu của mình Những trẻ
em có giai đoạn đầu đời thuận lợi, có niềm tin vào các mối quan hệ xã hội thường sẽ dễ
dàng giải quyết khó khăn của mình Ngược lại, các em có khó khăn trong quan hệ xã hội
thường khó khăn trong tìm bạn để thay thế các mối quan hệ gia đình và thường có cách
giải quyết khó khăn của mình theo hướng tiêu cực33
1.3.2 Đặc điểm quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em
Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là một trong những quyền cơ bản của trẻ
em được pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam thừa nhận trong nhiều văn bản quy
phạm pháp luật Tuy nhiên, so với các chủ thể khác thì trẻ em là một chủ thể đặc biệt của
33Thông tin về phổ biến giáo dục pháp luật Bộ Tư pháp, Đặc san tuyên truyền pháp luật số 02/2011,
http://moj.gov.vn/pbgdpl/AnPham/Lists/TapSan/View_Detail.aspx?ItemID=47 , [truy cập ngày: 25/7/2014].
Trang 27pháp luật và bên cạnh đó nhu cầu được chăm sóc sức khỏe của trẻ em sẽ có những khácbiệt hơn so với các chủ thể khác nên quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em sẽ cónhững đặc điểm cơ bản sau:
Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là một quyền con người cơ bản Trẻ emcũng là con người, cũng cần được chăm sóc sức khỏe như bao người khác Bên cạnh đó,
do trẻ em là những con người còn non nớt, rất dễ bị tổn thương nên nhu cầu được chămsóc sức khỏe của trẻ em là rất cần thiết
Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là một trong những quyền cơ bản của trẻ
em và có liên quan mật thiết với những quyền khác Mọi trẻ em đều có quyền được
hưởng tiêu chuẩn chăm sóc sức khỏe ở mức cao nhất có thể đạt được để có một cuộc
sống tốt nhất cho sự phát triển của bản thân Và để có được như vậy, còn phải phụ thuộcvào nhiều quyền khác, bao gồm các quyền sống, quyền giáo dục, quyền bình đẳng về cơhội trong việc chăm sóc sức khỏe, không phân biệt đối xử, không bị tra tấn, tiếp cậnthông tin, các quyền tự do ý kiến, tự do trong việc làm chủ về sức khoẻ và thân thể Những quyền và tự do này là những yếu tố hợp thành của quyền được chăm sóc sứckhoẻ Như vậy, quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em sẽ có tính phụ thuộc và tác
động lẫn nhau với các quyền khác
Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là quyền không thể bị tước bỏ Có thểhiểu rằng quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là một quyền nhân thân, do đó sẽkhông thể bị tước đoạt hay hạn chế Đồng thời, sức khỏe là nền tảng và là điều kiện đểcho trẻ em được phát triển một cách tốt nhất, do vậy quyền được chăm sóc sức khỏe củatrẻ em là rất quan trọng và không thể thiếu Điều này cũng được khẳng định tại Công ước
Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em 1989 “Các Quốc gia thành viên cố gắng đảm bảo rằng không có trẻ em nào bị tước đoạt quyền được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ như vậy”34
Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là quyền mang tính phổ biến Tất cả mọi
người trong xã hội, ai cũng cần được chăm sóc sức khỏe, trẻ em cũng vậy Và do quyềnđược chăm sóc sức khỏe của trẻ em là quyền vốn có của mỗi trẻ em kể từ khi được sinh
ra nên sẽ được áp dụng một cách rộng rãi, bình đẳng cho mọi trẻ em, không phân biệt đối
xử vì bất kỳ lí do gì, chẳng hạn như về chủng tộc, dân tộc, tôn giáo, giới tính Như vậy,mọi trẻ em đều bình đẳng về tư cách chủ thể của quyền được chăm sóc sức khỏe
Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là quyền mang tính chất pháp lý, sẽ giúptrẻ em trở thành những chủ thể đặc biệt được hưởng quyền chăm sóc sức khỏe trong hệthống pháp luật và được pháp luật bảo vệ, thực hiện
34 Khoản 1 điều 24 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989.
Trang 28Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là quyền không thể chuyển nhượng vàkhông thể phân chia Do là một quyền nhân thân, nên quyền được chăm sóc sức khỏe củatrẻ em sẽ không thể bị tước đoạt, chuyển nhượng hay phân chia với bất kỳ lý do gì.
1.4 Bản chất quyền của trẻ em
1.4.1 B ản chất xã hội
Xã hội là nơi để mỗi con người chúng ta tồn tại và phát triển, rèn luyện cho chúng
ta trưởng thành và hình thành trong chúng ta những con người khác nhau Sự phát triển
của mỗi con người trong xã hội luôn là một quá trình liên tục, diễn ra trong suốt cuộc đời
Và trẻ em là một nhóm ở giai đoạn đầu tiên của xã hội, tiếp nhận những kỹ năng và trithức cho bản thân để trưởng thành và có thể tham gia hoạt động xã hội một cách độc lập.Xét theo sự phát triển của trẻ em thì trẻ em là một giai đoạn phát tiển trong cuộc đờicủa một người từ lúc sinh ra đến lúc chết Sự sinh trưởng và phát triển của trẻ được hiểu
là sự gia tăng về chiều dài, dung tích, khối lượng cơ thể trẻ và cả sự thay đổi trong nhậnthức của trẻ Như vậy, trẻ em và người lớn là những giai đoạn phát triển khác nhau của
đời người, trẻ em vận động và phát triển theo quy luật riêng của mình
Xét theo cơ cấu xã hội – văn hóa thì trẻ em là một phần không thể thiếu trong cơ
cấu của xã hội, sẽ tiếp nhận những nền văn hóa nhất định Bởi vì văn hóa vừa là môi
trường vừa là nội dung của quá trình xã hội hóa trẻ em Mỗi đứa trẻ là con đẻ của một
nền văn hóa nhất định, một vùng văn hóa xác định trong một hình thái kinh tế xã hội nhất
định.Trẻ em lớn lên, xã hội hóa trong những môi trường văn hóa cụ thể: văn hóa gia đình,văn hóa nhà trường khiến không chỉ ở mỗi thời đại có trẻ em riêng của nó mà hơn thế,
trong cùng một thời đại, mỗi vùng văn hóa, mỗi môi trường văn hóa, sẽ có những trẻ emmang tính cách riêng khác nhau
Xét theo đặc điểm tâm sinh lý đặc thù của trẻ em do chưa phát triển đầy đủ về thể
chất và trí tuệ, dễ tổn thương, dễ thay đổi, dễ thích nghi, dễ uốn nắn, dễ tự ái, tự ti, hiếuthắng và thiếu kiên nhẫn Xu hướng muốn tự khẳng định, được đánh giá, được tôn trọng,nhiều hoài bão và nhìn chung còn thiếu thực tế, thiếu kinh nghiệm của trẻ em Như vậy,theo những đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em thì chúng ta có thể xác định những giai đoạnkhác nhau theo lứa tuổi của trẻ em như: giai đoạn sơ sinh; giai đoạn nhà trẻ; giai đoạnmẫu giáo; giai đoạn nhi đồng - thiếu nhi; giai đoạn thanh thiếu niên Và ỡ mỗi giai đoạn
như vậy sẽ đều chứa đựng các vết tích của giai đoạn trước, bên cạnh đó những biểu hiện
của giai đoạn này cũng sẽ là mầm móng của giai đoạn sau
Như vậy, trẻ em là một phần không thể thiếu trong xã hội Do đó, bản chất xã hội
của quyền trẻ em chính là các mối quan hệ của trẻ em với xã hội nhằm được thỏa mãnnhững nhu cầu cần thiết cho trẻ em, đó là những mối quan hệ thực chất bảo đảm cho trẻ
Trang 29em được phát triển toàn diện Ngoài ra, bản chất của nó còn thể hiện được vị trí của trẻ
em và sự quan trọng của việc bảo vệ trẻ em cũng như bảo vệ quyền trẻ em trong xã hội
1.4.2 B ản chất pháp lý
“Quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em cần có để được sống và lớn lên một cách
lành mạnh và an toàn” Như vậy, quan hệ pháp luật về quyền trẻ em bao gồm tổng thểcác quyền và nghĩa vụ của trẻ em được cụ thể hóa thành các quy định pháp luật điềuchỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến chu cầu cho cuộc sống của trẻ em Và vì trẻ emcũng là những con người cụ thể, do đó bản chất các quan hệ pháp luật về quyền trẻ emcũng chính là các quan hệ pháp luật điều chỉnh về con người
Trẻ em được pháp luật trao cho những quyền cụ thể và khi đó trẻ em sẽ vừa lànhững chủ thể của quyền vừa là những chủ thể đặc biệt trong hệ thống pháp luật Vì vậy,các quyền trẻ em sẽ mang những giá trị pháp lý nhất định được pháp luật quốc tế và phápluật mọi quốc gia quy định Do mang những giá tri pháp lý nhất định nên quyền trẻ em sẽ
là cơ sở pháp lý làm căn cứ để xử lý những hành vi vi phạm đến việc bảo vệ trẻ em, bên
cạnh đó còn quy định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc bảo vệ vàthực hiện quyền trẻ em
Trong hệ thống pháp luật quốc tế, quyền trẻ em được quy định ngay trong những
văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, cụ thể là Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em
-Convention on the Rights of the Child (viết tắt CRC) được thông qua ngày 20/11/1989,
đây được coi là văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản và toàn diện nhất về quyền trẻ em trong
thời điểm hiện nay nhằm đảm bảo những lợi ích cần thiết cho trẻ em và bảo vệ trẻ em
được phát triển an toàn, lành mạnh
Riêng đối với hệ thống pháp luật Việt Nam, ngay từ khi ra đời quyền trẻ em đãđược quy định trong Hiến pháp 1946, đây là hiến pháp đầu tiên của nước ta và là văn bản
có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật Và trải qua các giai đoạn khác nhau,quyền trẻ em vẫn được tiếp tục đề cập trong những bản Hiến pháp tiếp theo, đó là: Hiến
pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và cho đến nay quyền trẻ em
lại được Đảng và Nhà nước ta tiếp tục quy định trong Hiến pháp năm 2013 Chẳng nhữngvậy, để nâng cao hơn giá trị pháp lý của quyền trẻ em, Đảng và Nhà nước ta đã cụ thểhóa quyền trẻ em vào những văn bản quy phạm pháp luật khác của nước ta như: Bộ luậtdân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật lao động, Bộ luật hôn nhân và gia đình Riêng trongLuật Bảo vệ, Chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, quyền trẻ em được quy định cụ thể,
rõ ràng và đầy đủ hơn Bên cạnh đó, Luật còn quy định rõ trách nhiệm của gia đình, Nhà
nước, xã hội trong việc thực hiện quyền trẻ em, bảo đảm lợi ích của trẻ em phải đượcquan tâm hàng đầu
Trang 301.5 Mục đích, ý nghĩa quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em
Trẻ em là đối tượng luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của mọi quốc gia trên thếgiới và ở Việt Nam Theo số liệu điều tra biến động dân số - kế hoạch hóa gia đình củatổng cục thống kê Việt Nam ngày 1/4/2011, Việt Nam là quốc gia có kết cấu dân số trẻcao với tổng dân số là 87.610.947 người, trong đó tỷ lệ dân số dưới 15 tuổi là 24,1%, tỷ
lệ dân số trong độ tuổi từ 15 đến 64 là 69% 35 Như vậy, là một nước với tỷ lệ trẻ em cao
cùng với những đặc điểm của trẻ em do chưa trưởng thành hoàn toàn về thể chất, tâmsinh lý và đồng thời, trẻ em sẽ là những chủ nhân tương lai của đất nước ta sau này nênviệc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của
Đảng và Nhà nước Vì thế, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp lý quyđịnh cụ thể về các quyền và bảo vệ các quyền của trẻ em, trong đó có quyền được chăm
sóc sức khỏe – đây là một quyền quan trọng đối với trẻ em
1.5.1 M ục đích quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em
Trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Đảng và Nhà nước ta luôn
quan tâm đến vấn đề chăm sóc sức khỏe của trẻ Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã quyđịnh quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em một cách cụ thể, được quy định tại điều
15 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 Bên cạnh đó, quyền được chămsóc sức khỏe của trẻ em còn được thể hiện trong nhiều văn bản pháp quy phạm luật khác.Việc Đảng và Nhà nước ta quy định cụ thể quyền được chăm sóc sức khỏe cho trẻ em lànhằm thực hiện những mục tiêu nhất định mà mục đích chính là:
Thứ nhất, nhằm đảm bảo cho trẻ em có một sức khỏe hoàn toàn tốt để tồn tại và
phát triển an toàn, lành mạnh trong xã hội Đây là mục tiêu hàng đầu của Đảng và Nhà
nước ta trong công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ em
Thứ hai, nhằm đảm bảo cho trẻ em không còn thụ động trong vấn đề chăm sóc sức
khỏe của bản thân, được quyền có ý kiến và có quyết định riêng phù hợp trong vấn đề sứckhỏe của bản thân mình
Thứ ba, đảm bảo cho mọi trẻ em được tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ, trang thiết bị
và cơ sở chăm sóc sức khỏe khi cần thiết Đảm bảo sự bình đẳng trong công tác chăm sóc
sức khỏe cho trẻ em
35Bộ Thông tin và Truyền thông, Cơ cấu dân số và lực lượng lao động tại Việt Nam,
http://mic.gov.vn/daotaonghe/thongke/Trang/C%C6%A1c%E1%BA%A5ud%C3%A2ns%E1%BB%91v%C3%A0l
%E1%BB%B1cl%C6%B0%E1%BB%A3nglao%C4%91%E1%BB%99ngt%E1%BA%A1iVi%E1%BB%87tNam.a spx , [truy cập ngày: 24/8/2014].
Trang 31Thứ tư, Nhằm tăng cường và phát huy hơn nữa công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe
cho trẻ em Đảm bảo cho trẻ em được chăm sóc, phòng ngừa và khám chữa bệnh đượchiệu quả
Thứ năm, Nhằm tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong xã hội về ý thức bảo vệ sức
khỏe cũng như tầm quan trọng của việc bảo vệ sức khỏe cho trẻ em
Hiện nay, trẻ em luôn là mối quan tâm của cả xã hội, công tác bảo vệ, chăm sóc vàgiáo dục trẻ em luôn gặp phải nhiều khó khăn Vì vậy, các quyền của trẻ em cũng đã
được ra đời và quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật của nước ta nhằm đáp ứng những
nhu cầu cần thiết cho trẻ Nhưng như vậy vẫn là chưa đủ, để trẻ em có thể được phát triểntốt nhất, chúng ta không chỉ trao cho trẻ em những quyền nhất định mà còn phải bảo vệcác quyền đó được thực thi một cách có hiệu quả Như vậy, vấn đề chính trong công tácbảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sẽ là bảo vệ các quyền của trẻ em, việc bảo vệ cácquyền này nhằm mục đích: Tạo cho trẻ em môi trường sống an toàn và lành mạnh, bảo
đảm cho trẻ được phát triển trong những điều kiện và hoàn cảnh tốt nhất Bên cạnh đó,
nhằm đảm bảo các quyền của trẻ em được thực thi có hiệu quả trong xã hội, bảo đảm chomọi trẻ em sẽ được bình đẳng và hưởng đầy đủ các quyền cần thiết Đồng thời cũngnhằm ngăn chặn những hành vi xâm phạm đến quyền trẻ em, đưa ra những hình thức xử
lý thích hợp để quyền trẻ em luôn được tôn trọng và thực hiện Ngoài ra, công tác bảo vệquyền trẻ em sẽ đặt ra trách nhiệm cụ thể cho các chủ thể trong xã hội sẽ nhằm tuyêntruyền, giáo dục mọi người trong xã hội luôn ý thức được sự quan trọng các quyền trẻ
em Cuối cùng, mục đích chính của công tác bảo vệ quyền trẻ em là tăng cường vị thế và
năng lực của trẻ em trong xã hội
1.5.2 Ý ngh ĩa quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em
Chăm sóc sức khỏe cho trẻ em là vấn đề cơ bản đối với sự phát triển của trẻ em, vì
vậy việc quy định quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em sẽ có ý nghĩa quan trọngtrong sự phát triển của trẻ:
Thứ nhất, Trẻ em sẽ được hưởng một sức khỏe tốt nhất có thể cho sự phát triển của
bản thân Bên cạnh đó, trẻ sẽ được quyền tiếp cận đầy đủ với các thông tin, dịch vụ chămsóc sức khỏe, được bảo đảm có một sức khỏe tốt nhất
Thứ hai, việc quy định quyền được chăm sóc sức khỏe cho trẻ em sẽ tạo ra cơ sở
pháp lý vững chắc cho việc thực hiện các vấn đề về chăm sóc sức khỏe của trẻ em Đồngthời sẽ là cơ sở pháp lý làm căn cứ xử lý các trường hợp vi phạm trong thực hiện quyền
được chăm sóc sức khỏe của trẻ em, sẽ tạo được sự thống nhất trong việc áp dụng quyền
Từ đó, công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ em sẽ được nâng cao và đẩy mạnh
Trang 32Thứ ba, việc quy định quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em còn thể hiện được
sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong công tác bảo vệ, cũng như chăm sócsức khỏe cho trẻ em Đây là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta
Thứ tư, trẻ em sẽ trở thành chủ thể đặc biệt trong hệ thống pháp luật được hưởng
quyền chăm sóc sức khỏe, không còn thụ động khi phải chờ nhận được sự chăm sóc từ
người lớn
Bên cạnh quyền được chăm sóc sức khỏe, Đảng và Nhà nước ta còn quy định chotrẻ em nhiều quyền cơ bản khác cần thiết cho sự phát triển của trẻ như: quyền được họctập, quyền được khai sinh và có quốc tịch, quyền được sống chung với cha mẹ Ngoàiviệc quy định như vậy, Nhà nước ta còn đảm bảo các quyền đó sẽ được thực hiện một
cách đầy đủ Như vậy, Nhà nước ta không chỉ trao cho trẻ em các quyền cụ thể mà còn
bảo vệ các quyền đó được thực thi trong xã hội Điều này đã cho ta thấy được ý nghĩaquan trọng của việc bảo vệ quyền trẻ em Đầu tiên, sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về nhữngnhu cầu cần thiết của trẻ em cũng như sự quan trọng của các quyền cơ bản đối trẻ emtrong sự phát triển của trẻ Bên cạnh đó, còn thể hiện được vai trò của Đảng và Nhà nước
ta trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em một cách toàn diện Đồng thời,việc bảo vệ quyền trẻ em sẽ góp phần thúc đẩy các quyền trẻ em được thực thi trong xãhội một cách hiệu quả, giúp cho trẻ em được hưởng đầy đủ các quyền, tạo ra môi trườngsống tốt nhất cho trẻ em Và hơn thế nữa, thông qua các quy định của pháp luật về bảo vệquyền trẻ em đã phản ánh được bản chất tiến bộ vượt bậc của chế độ ta, là Nhà nước xãhội chủ nghĩa đã thể hiện được vai trò trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em, mang đến cho trẻ em những quyền và lợi ích nhất định mà trẻ em đáng được hưởng
Trang 33Chương 2 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN
ĐƯỢC CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA TRẺ EM
***
2.1 Pháp luật quốc tế về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em
Mỗi con người trong chúng ta ai cũng cần được chăm sóc sức khỏe cho bản thân,
được sống, làm việc và phát triển với một sức khỏe tốt nhất và đạt được hiệu quả cao nhất
có thể Chính vì vậy, quyền được chăm sóc sức khỏe là một quyền cơ bản của mỗi con
người chúng ta và đã được pháp luật quốc tế ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân
quyền năm 1948 cụ thể “Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống phù hợp với sức khỏe và sự no ấm cho bản thân và gia đình bao gồm: thực phẩm, quần áo, nhà ở, y tế
và các dịch vụ xã hội cần thiết, quyền an sinh trong lúc thất nghiệp, đau ốm, tình trạng bất khiển dụng, góa bụa, tuổi già hay các tình huống thiếu thốn khác do các hoàn cảnh ngoài khả năng kiểm soát của mình” Bên cạnh đó, Tuyên ngôn còn quy định trẻ con có
quyền được chăm sóc và trợ giúp đặc biệt Như vậy, quyền được chăm sóc sức khỏe củatrẻ em nằm trong nội hàm của quyền chăm sóc sức khỏe của con người và để đảm bảoquyền này được thực hiện, pháp luật quốc tế đã cụ thể hóa quyền này trong những vănkiện pháp lý quốc tế như: Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1959, Công
ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989,
2.1.1 Quy ền được hưởng mức độ cao nhất có thể đạt được về sức khỏe và các phương tiện chữa bệnh và phục hồi sức khoẻ
Theo khoản 1 điều 12 Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966
quy định “Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận quyền của mọi người được hưởng một tiêu chuẩn sức khoẻ về thể chất và tinh thần ở mức cao nhất có thể được”36
Như vậy, tất cả mọi người ai cũng có quyền được hưởng sự chăm sóc sức khỏe về thể
chất và tinh thần ở mức cao nhất nhằm đảm bảo cho tất cả đều có được sức khỏe tốt nhấtcho bản thân
Và trẻ em cũng không ngoại lệ, trẻ em cũng là con người cụ thể, cũng cần được
chăm sóc sức khỏe như tất cả mọi người để được sống và phát triển lành mạnh Chính vì
vậy, tại khoản 1 điều 24 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 cũng đã
quy định “Các Quốc gia thành viên thừa nhận quyền của trẻ em được hưởng mức độ cao
nhất có thể đạt được về sức khỏe và các phương tiện chữa bệnh và phục hồi sức khoẻ ”37 Theo đó, trẻ em sẽ được hưởng những nhu cầu tốt nhất về sức khỏe cho sự
36 Khoản 1 điều 12 Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966.
37 Khoản 1 điều 24 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989.
Trang 34phát triển của cơ thể trẻ, sẽ nhận được sự chăm sóc sức khỏe tốt nhất với những phươngtiện chữa bệnh hiện đại cũng như những trang thiết bị, vật chất đầy đủ nhằm giúp cho trẻ
được chăm sóc và phục hồi sức khỏe một cách nhanh chóng, hiệu quả Bên cạnh đó, pháp
luật quốc tế còn đưa ra các biện pháp cần thiết để các quốc gia thực hiện với những mục
đích nhất định nhằm đảm bảo cho trẻ em được hưởng mức độ cao nhất có thể đạt được về
sức khỏe và có một sức khỏe tốt nhất, cụ thể là: giảm số tử vong ở trẻ em và trẻ sơ sinh;bảo đảm việc cung cấp sự giúp đỡ y tế và chăm sóc sức khỏe cần thiết cho tất cả trẻ em,nhấn mạnh việc phát triển công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu; chống lại bệnh tật và tìnhtrạng suy dịnh dưỡng trong khuôn khổ công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu, chẳng hạnqua việc áp dụng các công nghệ sẵn có và thông qua việc cung cấp đầy đủ thức ăn đủchất bổ và nước uống sạch, có tính đến những nguy hại và nguy cơ ô nhiễm môi trường;bảo đảm chăm sóc sức khỏe thích hợp cho người mẹ trước và sau khi sinh đẻ; bảo đảmrằng mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt những người làm cha mẹ và trẻ em, được thông tin,
được học hành và được hỗ trợ trong việc sử dụng kiến thức cơ bản về sức khỏe và dinhdưỡng của trẻ em, những ưu điểm của việc nuôi con bằng sữa mẹ, giữ vệ sinh và vệ sinhmôi trường và phòng ngừa các tai biến; phát triển công tác phòng bệnh, hướng dẫn cho
cha mẹ, cũng như phát triển việc giáo dục và các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình
2.1.2 Quy ền được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Dịch vụ chăm sóc sức khỏe là một phần quan trọng trong việc bảo vệ, chăm sóc sứckhỏe cho trẻ em Để trẻ em có được sức khỏe tốt nhất cho bản thân thì trẻ cần có đượcnhững dịch vụ chăm sóc sức khỏe cần thiết và tốt nhất Cụ thể như: dịch vụ về dinh
dưỡng, dịch vụ về y tế, dịch vụ hướng dẫn và những dịch vụ về khám và chăm sóc sức
khỏe cho trẻ em Do đó, tại nguyên tắc thứ 4 Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ
em năm 1959 đã quy định “ trẻ có quyền được hưởng các dịch vụ đầy đủ về dinh dưỡng, nhà ở, giải trí và y tế”38 Như vậy, pháp luật quốc tế đã trao cho trẻ em quyềnđược hưởng đầy đủ các dịch vụ cần thiết cho sự phát triển trong đó có dịch vụ về y tế,dinh dưỡng
Chẳng những vậy, pháp luật quốc tế còn đảm bảo cho trẻ em sẽ không bị tước điquyền được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe này, cụ thể tại khoản 1 điều 24 Công
ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 quy định “ Các Quốc gia thành viên cố
gắng đảm bảo rằng không có trẻ em nào bị tước đoạt quyền được hưởng các dịch vụ
chăm sóc sức khoẻ như vậy”39 và tại khoản 3 điều 18 của Công ước này cũng quy định
“Các Quốc gia thành viên phải thi hành mọi biện pháp thích hợp để đảm bảo cho con cái
của những bậc cha mẹ đang làm việc có quyền được hưởng các dịch vụ và phương tiện
38 Nguyên tắc thứ 4 Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1959.
39 Khoản 1 điều 24 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989.
Trang 35chăm sóc trẻ em mà họ có đủ tư cách để được hưởng”40 Theo như những quy định này,
pháp luật quốc tế đã phần nào bảo đảm cho quyền được hưởng các dịch vụ chăm sóc sứckhỏe của trẻ em được thực hiện đầy đủ ở các quốc gia, mọi trẻ em đều có thể được hưởngcác dịch vụ, các phương tiện, hàng hóa cần thiết trong quá trình chăm sóc sức khỏe vàkhông thể bị tước đoạt, bên cạnh đó còn thể hiện được sự bình đẳng của mọi trẻ em trongviệc hưởng quyền này – đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu của Liên Hợp Quốc trongcông tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
2.1.3 Quy ền nhận được sự giúp đỡ y tế và chăm sóc sức khỏe ban đầu
Theo điểm b khoản 2 điều 24 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989
ghi nhận thì các quốc gia thành viên phải thực hiện đầy đủ quyền được chăm sóc sức
khỏe cho trẻ em, phải thực hiện các biện pháp thích hợp nhằm “Bảo đảm việc cung cấp
sự giúp đỡ y tế và chăm sóc sức khỏe cần thiết cho tất cả trẻ em, nhấn mạnh việc phát triển công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu” 41 Như vậy, pháp luật quốc tế đã trao cho trẻ
em sự chăm sóc sức khỏe cần thiết nhằm tạo điều kiện để mọi trẻ em đều được hưởng
đầy đủ quyền được chăm sóc sức khỏe cho bản thân Theo đó, mọi trẻ em được đảm bảo
sẽ nhận được sự giúp đỡ y tế khi có nhu cầu về chăm sóc sức khỏe và các quốc gia phải
có trách nhiệm cung cấp đầy đủ những sự giúp đỡ y tế này
Bên cạnh đó, theo như điều trên pháp luật quốc tế còn nhấn mạnh việc phát triển
công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em (chăm sóc sức khỏe ban đầu là nhữngchăm sóc thiết yếu, nhằm nâng cao sức khỏe, phòng bệnh, chữa bệnh, phục hồi sức khỏe)
và tại điểm c khoản 2 điều này Công ước cũng quy định “Chống lại bệnh tật và tình trạng suy dịnh dưỡng trong khuôn khổ công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu, chẳng hạn qua việc áp dụng các công nghệ sẵn có và thông qua việc cung cấp đầy đủ thức ăn đủ chất bổ và nước uống sạch, có tính đến những nguy hại và nguy cơ ô nhiễm môi
trường” 42 Theo quy định này, trẻ em sẽ được pháp luật quốc tế bảo đảm quyền được
chăm sóc sức khỏe ban đầu và trong khuôn khổ của công tác này, các quốc gia phải thực
hiện những biện pháp thích hợp nhằm phòng, chống lại bệnh tật, tình trạng suy dinh
dưỡng ở trẻ em, được tạo điều kiện sống và phát triển trong môi trường an toàn, lành
mạnh với một sức khỏe tốt nhất
2.1.4 Quy ền được chăm sóc sức khỏe cho trẻ và mẹ của trẻ trước và sau khi sinh
Để trẻ em có được sức khỏe tốt nhất cho sự phát triển, pháp luật quốc tế không chỉ
quan tâm đến sự chăm sóc sức khỏe cho trẻ mà còn phải “bảo đảm chăm sóc sức khỏe
40 Khoản 3 điều 18 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989.
41 Điểm b khoản 2 điều 24 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989.
42 Điểm c khoản 2 điều 24 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989.
Trang 36thích hợp cho người mẹ trước và sau khi sinh đẻ”43 – đây là một trong những mục đích
mà Liên Hợp Quốc đưa ra để các quốc gia thực hiện nhằm đảm bảo cho trẻ em có mộtsức khỏe tốt nhất Bên cạnh đó tại Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm
1959 cũng đã nêu rõ “ Trẻ phải được trưởng thành và phát triển trong môi trường sức khỏe: để đạt được điều này, phải có sự chăm sóc và bảo vệ đặc biệt cho cả trẻ và mẹ của trẻ, đầy đủ trước và sau khi sinh ”44
Như vậy, để một đứa trẻ được khỏe mạnh, ngoài việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ sau
khi sinh thì việc chăm sóc sức khỏe cho các bà mẹ khi mang thai và sau khi sinh là vôcùng cần thiết Vì sự phát triển của cơ thể thai nhi gắn liền với sức khỏe của người mẹ
khi đang mang thai, nếu người mẹ có được sức khỏe tốt thì thai nhi sẽ được phát triển tốttrong cơ thể của người mẹ, chẳng hạn khi người mẹ được cung cấp đầy đủ các chất dinhdưỡng, các vitamin và khoáng chất cần thiết thì cả cơ thể người mẹ và thai nhi đều sẽ hấp
thụ được đầy đủ các chất dinh dưỡng đó, sẽ giúp trẻ sau khi sinh ra có được sức khỏe tốt
và tránh được các nguy cơ bệnh tật, đặc biệt là suy duy dưỡng ở trẻ nhỏ Bên cạnh đó,
trong quá trình mang thai, các bà mẹ cần phải được quan tâm đặc biệt hơn nữa Việc
khám thai định kỳ là một vấn đề rất quan trọng, vì việc khám thai đều đặn sẽ giúp các bà
mẹ biết được sức khỏe của mình và sự phát triển của thai nhi, biết được những dấu hiệubất thường và nguy cơ bệnh tật đối với thai nhi ngay trong bụng mẹ để kịp thời có những
phương pháp và cách điều trị tốt nhất, từ đó sẽ giảm được những rủi ro trong quá trình
sinh, giảm nguy cơ tử vong cho cả mẹ và trẻ, sẽ cho ra đời những đứa trẻ hoàn toàn khỏemạnh Như vậy, việc chăm sóc sức khỏe cho các bà mẹ trước khi sinh sẽ rất quan trọngcho sức khỏe của trẻ sau khi ra đời, nhưng như vậy vẫn là chưa đủ để trẻ có một sức khỏetốt nhất, sau khi ra đời chúng ta cần phải chăm sóc đặc biệt hơn nữa đến sức khỏe của trẻ
và mẹ trẻ Để đảm bảo sức khoẻ của cơ thể người mẹ sau khi sinh cùng với việc mang lạinguồn sữa tốt cho con, người mẹ cần được chăm sóc chu đáo, đặc biệt là chế độ dinh
dưỡng, bởi lẽ việc nuôi con ngay từ đầu và hoàn toàn bằng sữa mẹ sẽ góp phần bảo vệcác bé tránh được nhiều bệnh tật và giúp bé phát triển tốt nhất Đồng thời, cũng cần phải
tiêm phòng các loại vắc xin cần thiết để phòng ngừa cho trẻ tránh khỏi các bệnh thườnggặp
2.1.5 Quy ền được tiếp cận thông tin, giáo dục về chăm sóc sức khỏe cho trẻ em
Việc bảo đảm cho trẻ em có quyền được thông tin, giáo dục về sức khỏe là mộttrong những mục đích cơ bản mà Liên Hợp Quốc đã đặt ra nhằm đảm bảo cho trẻ em
được hưởng mức độ cao nhất có thể đạt được về sức khỏe, được quy định cụ thể tại điểm
e khoản 2 điều 24 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 “Bảo đảm rằng
43 Điểm d khoản 2 điều 24 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989.
44 Nguyên tắc 4 Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1959.
Trang 37mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt những người làm cha mẹ và trẻ em, được thông tin, được học hành và được hỗ trợ trong việc sử dụng kiến thức cơ bản về sức khỏe và dinh dưỡng của trẻ em, những ưu điểm của việc nuôi con bằng sữa mẹ, giữ vệ sinh và vệ sinh môi
trường và phòng ngừa các tai biến”45 Theo điều này, trẻ em sẽ được quyền học hành,
được hỗ trợ những kiến thức cơ bản về chăm sóc sức khỏe, được tiếp cận với những
thông tin mới nhất về các loại bệnh, cách phòng tránh, phát hiện cũng như cách chữa trị
để từ đó có được các biện pháp thích hợp để bảo vệ cho sức khỏe của bản thân Chẳng
những vậy, để trẻ em có thể có được sự bảo vệ, chăm sóc sức khỏe tốt nhất thì pháp luậtquốc tế còn bảo đảm cho các bậc làm cha mẹ cũng sẽ được biết những thông tin về chămsóc sức khỏe cho con cái của họ, ngoài những kiến thức trên họ còn được giáo dục và hỗtrợ những kiến thức cơ bản và tốt nhất trong quá trình nuôi dưỡng đặc biệt là các kiếnthức về dinh dưỡng và những lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ Như vậy, với mục
đích chính là bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho trẻ em thì quyền được được thông tin, giáo
dục về chăm sóc sức khỏe cho trẻ em là quyền rất cần thiết, bởi vì: khi quyền này đượcthực hiện tốt sẽ hỗ trợ cho trẻ em và cha mẹ trẻ những kiến thức cơ bản và tối thiểu vềmột số loại bệnh thường gặp để họ có thể tự phòng bệnh và có cách xử lý đúng khi mắcbệnh; đồng thời, họ cũng sẽ cập nhật được những thông tin mới nhất về các loại bệnh mới
như: nguyên nhân gây bệnh, cách phòng bệnh, phát hiện bệnh từ đó mọi người sẽ cóđược những kiến thức đúng trong việc bảo vệ sức khỏe cho trẻ em và cả gia đình mình,tránh xa được những hành vi cũng như tác nhân gây hại cho sức khỏe
Bên cạnh đó, tại điều 17 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 quy
định thì Liên Hợp Quốc đã công nhận vai trò của của các phương tiện thông tin đại chúng
và bảo đảm cho trẻ em quyền được thu nhận thông tin và những tư liệu nhằm những mục
đích có lợi nhất định, trong đó có mục đích sức khỏe về thể chất và tinh thần của trẻ em,
cụ thể là “Các Quốc gia thành viên công nhận chức năng quan trọng của các phương tiện thông tin đại chúng và phải bảo đảm rằng trẻ em được thu nhận thông tin và tư liệu
từ nhiều nguồn quốc gia và quốc tế khác nhau, đặc biệt là những thông tin tư liệu nhằm mục đích cổ vũ cho lợi ích xã hội, tinh thần và đạo đức cũng như sức khỏe về thể chất và tinh thần của trẻ em ”46 Như vậy, pháp luật quốc tế đã khẳng định cụ thể hơn nữaquyền được thông tin của trẻ em đối với vấn đề chăm sóc sức khỏe, đây sẽ là những cơ sở
để quyền này được tôn trọng và đẩy mạnh thực hiện ở các quốc gia
2.1.6 Quy ền được bảo vệ trước những tập tục có hại cho sức khỏe của trẻ em
Phong tục là nét đặc trưng riêng về văn hóa của mỗi dân tộc trên thế giới, trở thànhluật tục đi sâu vào đời sống của nhân dân Văn hóa phong tục giúp ta hiểu được tình cảm,
45 Điểm e khoản 2 điều 24 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989.
46 Điều 17 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989.
Trang 38tinh thần, quá khứ và hiện tại của dân tộc đó Tuy nhiên, bên cạnh những phong tục mang
ý nghĩa văn hóa, truyền thống thì vẫn có nhiều tập tục lạc hậu đang tồn tại song song ảnh
hưởng tiêu cực tới cuộc sống của mọi người Trong số đó, phải kể đến những tập tục có
hại trong chăm sóc sức khỏe cho mọi người nói chung và chăm sóc sức khỏe cho trẻ emnói riêng, có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ
Vì lẽ đó, nhằm mục đích giúp cho trẻ em có được sức khỏe tốt nhất có thể, pháp luậtquốc tế đã bảo đảm cho trẻ em quyền được bảo vệ khỏi những tập tục có hại cho sứckhỏe được quy định tại khoản 3 điều 24 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm
1989 “Các Quốc gia thành viên phải thực hiện mọi biện pháp thích hợp và có hiệu quả nhằm xoá bỏ những tập tục có hại cho sức khỏe của trẻ em”47 Theo đó, mọi trẻ em sẽđược bảo vệ khỏi những tập tục lạc hậu gây hại cho sức khỏe của trẻ, đồng thời các quốc
gia cũng phải thực hiện những biện pháp thích hợp và hiệu quả để bảo vệ trẻ em trướcnhững tập tục như vậy
Hiện nay, ở nhiều quốc gia, công tác bài trừ những tập tục lạc hậu ảnh hưởng đếnsức khỏe của trẻ em đang được chú trọng thực hiện Tuy nhiên, do đã trở thành nhữngluật tục đi sâu vào tiềm thức của mọi người từ lâu đời nên việc bài trừ những tập tục nàygặp rất nhiều khó khăn, vì vậy nhiều tập tục có hại cho sức khỏe của trẻ em vẫn tồn tại
như: tập tục chăm sóc sức khỏe các bà mẹ trong lúc mang thai hay những tập tục về sinh
đẻ và nuôi dạy con cái hoặc giết trẻ em gái Đây là những tập tục đang đè nặng tư tưởng
của mọi người và ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe con cái của họ, một số tập tục cụ thể
như: khi mang thai và sau khi sinh, bà mẹ phải phải kiêng cữ nhiều điều, phải kiêng ăn
nhiều loại thức ăn dẫn đến thiếu chất dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của thainhi và nguồn sữa sau khi trẻ ra đời; đồng thời mẹ và bé còn phải nằm than để giữ ấm cơthể, tuy nhiên làm như vậy bé có thể sẽ bị ngộ độc do khí CO từ than, bị bỏng, hoặc
mụn mủ, viêm mô tế bào vùng lưng rất nguy hiểm; và còn một tập tục khá phổ biến khitrẻ bị bệnh sẽ mời thầy cúng làm lễ để chữa trị, vì vậy đã làm chậm trễ việc điều trị bệnhcho trẻ, bệnh của bé có thể sẽ nặng hơn Như vậy, với những tập tục lạc hậu sẽ lànguyên nhân gây ra tác động xấu đến sức khỏe của trẻ em, ảnh hưởng đến sức khỏe và sựphát triển của trẻ sau này Do đó, các quốc gia cần phải đẩy mạnh công tác bài trừ nhữngtập tục lạc hậu và có những biện pháp hiệu quả để đảm bảo cho sức khỏe cho trẻ em
2.1.7 Quy ền được bố trí và xem xét lại định kỳ chế độ điều trị và mọi điều kiện khác liên quan đến việc bố trí nơi ở để được chăm sóc, bảo vệ, điều trị sức khỏe về thể
ch ất hay trí tuệ
Theo điều 25 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 quy định thì
“Các Quốc gia thành viên thừa nhận rằng trẻ em đã được những nhà chức trách có thẩm
47 Khoản 3 điều 24 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989.
Trang 39quyền bố trí nơi ở để được chăm sóc, bảo vệ, điều trị sức khỏe về thể chất hay trí tuệ, có quyền được hưởng sự xem xét lại định kỳ chế độ điều trị và mọi điều kiện khác liên quan
đến sự bố trí nói trên”48 Như vậy, để trẻ em được hưởng sự chăm sóc sức khỏe tốt nhất,pháp luật quốc tế đã tạo mọi điều kiện để trẻ em có thể được hưởng đầy đủ sự chăm sóc
có thể
Theo quy định trên, các quốc gia thành viên phải có trách nhiệm trong việc bố trí
nơi ở cho trẻ em để được chăm sóc, bảo vệ, điều trị sức khỏe thích hợp Đây sẽ là những
hỗ trợ rất cần thiết cho trẻ em trong việc chăm sóc sức khỏe, trẻ em sẽ được bố trí ởnhững nơi tốt nhất cho trẻ với đầy đủ những điều kiện cần thiết về dịch vụ, phương tiệnchữa trị Ngoài ra, trẻ còn được chăm sóc với chế độ điều trị thích hợp Đồng thời, bêncạnh việc bố trí như vậy trẻ em còn được hưởng sự xem xét lại định kỳ về những gì màtrẻ đã được bố trí, trẻ em sẽ được xem xét lại mọi điều kiện chăm sóc sức khỏe và chế độ
điều trị để có những thay đổi cần thiết và phù hợp với trẻ trong quá trình chăm sóc, bảo
vệ, điều trị sức khỏe cho trẻ Như vậy, việc bố trí và xem lại định kỳ chế độ điều trị vàmọi điều kiện khác trong quá trình chăm sóc sức khỏe cho trẻ em đã thể hiện được sựquan tâm cần thiết của nhà nước đối với trẻ em trong vấn đề chăm sóc sức khỏe ở quốc
gia đó, đồng thời sẽ giúp trẻ có được môi trường tốt nhất có thể trong việc chăm sóc, bảo
vệ, điều trị sức khỏe về thể chất và trí tuệ
2.1.8 Quy ền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em khuyết tật
Nhu cầu về sức khỏe và được chăm sóc, bảo vệ về sức khỏe là nhu cầu quan trọngmang tính tất yếu của con người và đối với những người khuyết tật thì nhu cầu này càngquan trọng và cấp thiết, đặc biệt là những trẻ em khuyết tật Bởi vì, khi sinh ra những trẻ
em này đã không may mắn có sức khoẻ tốt mà khiếm khuyết một hoặc một số bộ phận
trên cơ thể hay có thể là suy giảm chức năng nào đó khiến họ khó khăn hơn so với nhữngngười bình thường trong hoạt động, sinh hoạt vì thế họ cần được quan tâm, chăm sóc đặc
biệt để có được sức khỏe tốt cho sự phát triển và hòa nhập với xã hội
Vì vậy, để đảm bảo cho trẻ em khuyết tật được chăm sóc sức khỏe tốt nhất, ngay tại
điều 23 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 đã quy định nhiều khoảntrong đó có bao hàm về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em, Theo điều này thì trẻ
em khuyết tật sẽ được chăm sóc, điều trị đặc biệt, được giúp đỡ thích hợp, miễn phí chotrẻ và những người chăm sóc trẻ tùy theo khả năng sẵn có của các quốc gia, dựa trênnhững điều kiện, nhu cầu đặc biệt của trẻ để đảm bảo trẻ được tiếp cận và hưởng các dịch
vụ y tế, dịch vụ phục hồi chức năng nhằm giúp trẻ được phát triển toàn diện và hòa nhập
vào xã hội, cụ thể: Tại khoản 2 đã quy định “Các Quốc gia thành viên thừa nhận quyền của trẻ em khuyết tật được chăm sóc đặc biệt và tuỳ theo khả năng sẵn có, phải khuyến
48 Điều 25 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989.