Theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013 quy định Nhà nước thu hồi giấy chứng nhận trong trường hợp: “Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng
Trang 1
LẠI HỮU HIỆP
PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HỒI GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CẤP KHÔNG ĐÚNG PHÁP LUẬT TẠI HUYỆN BÌNH CHÁNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LẠI HỮU HIỆP
PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HỒI GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CẤP KHÔNG ĐÚNG PHÁP LUẬT TẠI HUYỆN BÌNH CHÁNH,
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Lại Hữu Hiệp mã số học viên: 7701240953A là học viên lớp Cao học Luật Kinh tế Khóa 24 chuyên ngành Luật Kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật kinh tế với đề tài
“Pháp luật và thực tiễn về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh (Sau đây gọi tắt là
“Luận văn”)
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và
có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
Học viên thực hiện
Lại Hữu Hiệp
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
TÓM TẮT LUẬN VĂN
SUMMARY OF THESIS
PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: KHÁT QUÁT QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI VÀ XỬ
LÝ TRÁCH NHIỆM TRONG VIỆC GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CẤP KHÔNG ĐÚNG PHÁP LUẬT 6 1.1 Quy định pháp luật về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật 6
1.1.1 Khái niệm về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật 6 1.1.2 Phân loại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật 8
1.1.2.1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật được phép thu hồi 8
1.1.2.2 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật không được thu hồi 9
1.1.3 Thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật 10 1.1.4 Trình tự thủ tục thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật 12
1.2 Khát quát quy định pháp luật về xử lý trách nhiệm trong việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật 20
1.2.1 Khái niệm về trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức 20 1.2.2 Quy định pháp luật về trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức 23 1.2.3 Quy định pháp luật về xử lý trách nhiệm trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng pháp luật 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ THU HỒI,
XỬ LÝ TRÁCH NHIỆM TRONG VIỆC GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CẤP KHÔNG ĐÚNG PHÁP LUẬT TẠI HUYỆN BÌNH CHÁNH
33
2.1 Thực trạng và giải pháp hoàn thiện về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật 33
2.1.1 Thực trạng về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật 33
2.1.1.1 Đặc điểm chung của huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh 33 2.1.1.2 Tình hình thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật 34
2.1.2 Giải pháp khắc phục nguyên nhân, bất cập 51
2.1.2.1 Đối với công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 51
2.1.2.2 Đối với công tác thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 54
2.1.2.3 Kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh 59
2.2 Thực trạng và giải pháp hoàn thiện về xử lý trách nhiệm trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng pháp luật 59
2.2.1 Thực trạng về xử lý trách nhiệm cá nhân, cơ quan trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng pháp luật 59
2.2.1.1 Áp dụng quy định về xử lý trách nhiệm cá nhân, cơ quan trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng pháp luật 59
2.2.1.2 Tình hình xử lý trách nhiệm cán bộ, công chức, viên chức liên quan đến thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật 62
2.2.2 Giải pháp khắc phục các tồn tại, hạn chế 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66
KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người, còn là nguồn của cải, quyền sử dụng đất đai là nguyên liệu của thị trường nhà đất, nó là tài sản đảm bảo sự an toàn về tài chính, có thể chuyển nhượng qua các thế hệ Để công nhận và bảo hộ quyền sử dụng đất, giao dịch tài sản về quyền sử dụng đất; tăng khả năng quản lý của nhà nước về đất đai Nhà nước sẽ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, tổ chức sử dụng đất theo quy định pháp luật Tuy nhiên, trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không tránh khỏi sai sót, cấp không đúng quy định pháp luật dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, không thể khắc phục, phát sinh việc khiếu kiện của công dân, yêu cầu bồi thường thiệt hại của công dân bị ảnh hưởng do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật, đồng thời, ảnh hưởng đến quản lý về đất đai, an ninh - chính trị, kinh tế - xã hội
Tuy nhiên, việc phát hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật còn nhiều khó khăn, bị động, thông thường là thông qua tranh chấp đất, khiếu nại, giải quyết hồ sơ có liên quan hoặc người dân trong quá trình sử dụng phát hiện Để hạn chế việc cấp sai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời kịp thời phát hiện những giấy chứng nhận đã cấp sai để xử lý, thu hồi, tránh phát sinh hậu quả, gây thiệt hại là một yêu cầu cần thiết, cấp bách
Từ khi Luật Đất đai năm 2013, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm
2014 Theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013 quy
định Nhà nước thu hồi giấy chứng nhận trong trường hợp: “Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai” Như vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng quy định pháp
luật có trường hợp thu hồi được, có trường hợp không thu hồi được
Do đó, tác giả nghiên cứu nguyên nhân vì sao cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định vẫn diễn ra, việc xử lý trách nhiệm đối với cơ quan nhà nước, cá nhân dẫn đến việc cấp giấy chứng nhận quyền
Trang 7sử dụng đất không đúng quy định pháp luật như thế nào và những giải pháp nào hạn chế việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định pháp luật, kịp thời phát hiện để thu hồi tránh phát sinh hậu quả khó khắc phục, gây thiệt hại nhiều
Bản thân đang công tác tại Thanh tra huyện Bình Chánh, cơ quan có trách nhiệm thẩm tra, kết luận việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng quy định pháp luật Đồng thời, huyện Bình Chánh là một trong năm huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh, đang trong quá đô thị hóa nhanh nhu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày càng cao Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không tránh khỏi cấp chưa đúng về thủ tục, điều kiện, quy định pháp luật do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất không đúng quy định sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy về sau, hậu quả lớn, không thể khắc phục Để hạn chế việc cấp sai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời kịp thời phát hiện những giấy chứng nhận đã cấp sai để xử lý, thu hồi, tránh phát sinh hậu quả, gây thiệt hại là một yêu cầu cần thiết, cấp bách
Do đó, tác giả chọn đề tài: “Pháp luật và thực tiễn về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật tại huyện Bình Chánh,
Trang 8SUMMARY OF THESIS
Land is a precious natural resource of each country and it is also a determinant of human existence and development, the source of wealth, land use rights are the materials of the real estate market, it is a secure financial asset that can be transferred over generations To recognize and protect land use rights, asset exchange of land use rights, to improve the State management of land, the State shall issue certificates of land use rights to individuals and organizations to use land
in accordance with the law However, there are inevitably errors in the process of issuing certificates of land use rights, such as issuing certificates in contravention of legal regulations leads to serious consequences that can not be remedied, resulting
in the citizen's complaint, claim for damages of the affected citizen due to the incorrect certificate of land use right, these also affect the management of land, security - politics, economy - society
However, the detection of land use certificates issued incorrectly is difficult, passive It is usually detected by land disputes, complaints, processing of relevant documents or people in the process of using Limiting the errors in issuing land use rights certificates, meanwhile, timely detection of incorrect certificates issued to handle, withdraw, avoid consequences and cause damage is a necessary and urgent request
Since the Land Law 2013 has been in effect since July 1, 2014, the provisions of Point D, Clause 2, Article 106 of the Land Law 2013 stipulate that the
State shall revoke the certificates in the following cases: “Certificate has been issued ultra vires, issued to incorrect land user, incorrect land area, ineligible for issuance, land use purpose, or land use duration, or origin of land is not in accordance with the provisions of the land law, except for cases that the person who has been issued the certificate has transferred the land use right or the ownership of assets attached to the land in accordance with the provisions of the land law” Therefore, in some cases, land use right certificates that are not issued in
accordance with the law can be recovered and, in some cases, can not be recovered
Therefore, the author investigated why the phenomenon of issuing a land use right certificates by a government agencies in violation of regulations still occurs, how to deal with the responsibilities of state agencies and individuals who issued
Trang 9certificates of land use not in accordance with the law, and what solutions to restrict this phenomenon, timely detect of incorrect certificates to handle, withdraw, avoid insurmountable consequences, cause great damage
I am working at the Inspectorate Department of Binh Chanh District, which
is responsible for verifying and concluding the issuing of land use right certificates that violates the law And Binh Chanh District is one of the five suburbs of Ho Chi Minh City, it is in the stage of rapid urbanization and the demand for land use right certificates is increasing There are inevitably errors in the process of issuing certificates of land use rights, such as incorrect procedures, conditions and regulations due to many subjective and objective factors Issuing certificates in contravention of legal regulations will lead to many consequences in the future, great damage that can not be remedied Limiting the errors in issuing land use rights certificates, meanwhile, timely detection of incorrect certificates issued to handle, withdraw, avoid consequences and cause damage is a necessary and urgent request
Therefore, the author selected the topic: “Legislation and practice on
revocation of land use right certificates in Binh Chanh District, Ho Chi Minh City” consists of two chapters:
Chapter 1: Overview of legal provisions on the withdrawal and handling of liability in granting certificates of land use rights not in accordance with law
Chapter 2: Situation and complete solutions on recovery and handling of land use right certificates in Binh Chanh district, Ho Chi Minh city
Trang 10con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay Đất đai không chỉ có những vai trò quan trọng như
đã nêu trên mà nó còn có ý nghĩa về mặt chính trị Tài sản quý giá ấy phải bảo vệ bằng cả xương máu và vốn đất đai mà một quốc gia có được thể hiện sức mạnh của quốc gia đó, ranh giới quốc gia thể hiện chủ quyền của một quốc gia Đất đai còn là nguồn của cải, quyền sử dụng đất đai là nguyên liệu của thị trường nhà đất, nó là tài sản đảm bảo sự an toàn về tài chính, có thể chuyển nhượng qua các thế hệ
Để công nhận và bảo hộ quyền sử dụng đất, giao dịch tài sản về quyền sử dụng đất; tăng khả năng quản lý của nhà nước về đất đai Nhà nước sẽ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, tổ chức sử dụng đất theo quy định pháp luật Tuy nhiên, trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không tránh khỏi sai sót, cấp không đúng quy định pháp luật dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, không thể khắc phục, phát sinh việc khiếu kiện của công dân, yêu cầu bồi thường thiệt hại của công dân bị ảnh hưởng do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật, đồng thời, ảnh hưởng đến quản lý về đất đai, an ninh - chính trị, kinh tế - xã hội
Ngày 29 tháng 11 năm 2013, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai năm 2013,
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 Theo quy định tại Điểm d Khoản
2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 quy định Nhà nước thu hồi giấy chứng nhận
trong trường hợp: “Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai” Như vậy, giấy chứng nhận quyền
Trang 11sử dụng đất cấp không đúng quy định pháp luật có trường hợp thu hồi được, có trường hợp không thu hồi được So với các quy định pháp luật trước Luật Đất đai năm 2013, đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp trái pháp luật (không quy định cụ thể như thế nào là trái pháp luật) thì đều phải thu hồi Luật Đất đai năm
2013 quy định cụ thể hơn trường hợp nào được thu hồi và trường hợp nào không được thu hồi giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định pháp luật
Từ nhận thức trên và bản thân đang công tác tại Thanh tra huyện Bình Chánh, cơ quan có trách nhiệm thẩm tra, kết luận việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cấp không đúng quy định pháp luật Đồng thời, huyện Bình Chánh là một trong năm huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh, đang trong quá đô thị hóa nhanh nhu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày càng cao Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không tránh khỏi cấp chưa đúng về thủ tục, điều kiện, quy định pháp luật do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy
về sau, hậu quả lớn, không thể khắc phục Để hạn chế việc cấp sai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời kịp thời phát hiện những giấy chứng nhận đã cấp sai
để xử lý, thu hồi, tránh phát sinh hậu quả, gây thiệt hại là một yêu cầu cần thiết, cấp bách Như vậy, cần phải nghiên cứu nguyên nhân vì sao cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định vẫn diễn ra, việc xử lý trách nhiệm đối với cơ quan nhà nước, cá nhân dẫn đến việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất không đúng quy định pháp luật như thế nào và những giải pháp nào hạn chế việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định pháp luật, kịp thời phát hiện để thu hồi tránh phát sinh hậu quả khó khắc phục, gây thiệt hại
nhiều Do đó, tôi chọn đề tài: “Pháp luật và thực tiễn về thu hồi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật tại huyện Bình Chánh, thành phố
Hồ Chí Minh” để nghiên cứu viết luận văn Kết cấu của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Khát quát quy định pháp luật về thu hồi, xử lý trách nhiệm trong việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật
Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện về thu hồi, xử lý trách nhiệm trong việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng quy định pháp luật tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 122 Vấn đề nghiên cứu
2.1 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Từ kết quả nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn về thu hồi, xử lý trách nhiệm trong việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật, qua đó tìm kiếm nguyên nhân, bất cập, hạn chế và kiến nghị một số giải pháp nhằm đảm bảo thực thi pháp luật về thu hồi, xử lý trách nhiệm trong việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật, hạn chế việc cấp sai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại huyện Bình Chánh đáp ứng nhu cầu thực tiễn
- Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài cụ thể như sau:
Một là: Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về những vấn đề
thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật Qua đó làm
rõ những bất cập trong một số quy định của pháp luật về thu hồi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật
Hai là: Nghiên cứu, đánh giá thực trạng những vướng mắc và nguyên nhân
trong những vấn đề thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật và làm rõ những vấn đề bất cập về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh
Ba là: Đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo thực thi pháp luật về thu hồi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật, hạn chế việc cấp sai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài luận văn nghiên cứu quy định pháp luật và thực tiễn những vấn đề về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh
- Phạm vi nghiên cứu: Thực tiễn tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh
3 Câu hỏi nghiên cứu
Cần làm rõ các câu hỏi lớn sau:
Trang 13Thứ nhất “Tại sao cấp sai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn diễn
ra? Cái gì là nguyên nhân? Pháp luật về vấn đề này có gì bất cập?”
Căn cứ Điểm d Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 quy định Nhà
nước thu hồi giấy chứng nhận trong trường hợp: “Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai”
Thực tiễn tại huyện Bình Chánh thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật do: cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng
sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất
Câu hỏi nghiên cứu này được luận văn phân tích ở Mục 2.2.3 và Mục 2.2.4 của Luận văn
Thứ hai “Xử lý trách nhiệm của cá nhân, cơ quan có liên quan đến việc
cấp sai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra sao?”
Câu hỏi nghiên cứu này được luận văn phân tích ở Mục 1.2 của Luận văn
Thứ ba “Giải pháp nào hạn chế việc cấp sai giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất?”
Câu hỏi nghiên cứu này được luận văn phân tích ở Mục 2.2.5 & Mục 2.3.3 của Luận văn
4 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật nhằm kịp thời phát hiện, xử lý và hạn chế việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng pháp luật làm ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội, đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, của cơ quan nhà nước, lòng tin của người dân vào cơ quan Nhà nước Đồng thời, đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện trong thực hiện thu hồi, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng pháp luật
Trang 145 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận, phương pháp thống kê, phương pháp
so sánh, phân tích và tổng hợp
Trang 15CHƯƠNG 1 KHÁT QUÁT QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI VÀ XỬ LÝ TRÁCH NHIỆM TRONG VIỆC GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CẤP
KHÔNG ĐÚNG PHÁP LUẬT 1.1 Quy định pháp luật về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật
1.1.1 Khái niệm về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền
sử dụng đất1
Quyền sử dụng đất là quyền tài sản đặc biệt có giá trị, là quyền phái sinh trên
cơ sở quyền sở hữu
Tài sản gắn liền với đất bao gồm nhà ở, công trình xây dựng khác, rừng sản xuất là rừng trồng, vườn cây lâu năm Tài sản gắn liền với đất là một bộ phận không tách rời với đất và chỉ có giá trị nếu gắn liền với một thửa đất tại vị trí nhất định
Quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là quyền sở hữu được sở hữu nhà ở, công trình xây dựng khác, tài sản trên đất mà đất đó đã được Nhà nước công nhận quyền xây dựng khác, tài sản trên đất mà đất đó đã được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất
Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng
đất cho người đang sử dụng đất ổn định mà không có nguồn gốc được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu đối với thửa đất xác định2
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng
1 Điều 4 Luật Đất đai năm 2013
2 Khoản 9 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013
Trang 16đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất để họ yên tâm đầu tư, cải tạo nâng cao hiệu quả sử dụng đất và thực hiện các quyền, nghĩa vụ
sử dụng đất theo pháp luật3 Do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, là cơ sở pháp
lý để Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sử dụng đất của chủ sử dụng, là các căn
cứ để xây dựng các quy định về đăng ký, theo dõi biến động đất đai, kiểm soát giao dịch dân sự về đất đai, các thẩm quyền và trình tự giải quyết các tranh chấp đất đai, xác định nghĩa vụ về tài chính của người sử dụng đất, đền bù thiệt hại về đất đai, xử
lý vi phạm về đất đai
Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là hành vi hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật Đất đai công nhận hoặc không công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại thời điểm cấp giấy chứng nhận cho người đang sử dụng thông qua mẫu giấy chứng nhận hoặc văn bản trả lời lý do không cấp giấy chứng nhận
Tra cứu trên Google, từ điển Việt - Việt giải thích: Thu hồi là lấy lại cái đã nhường phát, cho người khác: Thu hồi tiền tệ; Thu hồi đất đai
Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai, Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai
năm 2013 nêu khái niệm: Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai Quy định này rất rõ ràng, Nhà nước thu hồi cái của nhà nước có, nghĩa là thu lại cái quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất, vốn thuộc sở hữu của nhà nước
Trong lĩnh vực quản lý thuế, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế đã sửa đổi Điều 102 Luật Quản lý thuế để quy định rõ hơn về vấn đề
cưỡng chế thu hồi; theo đó: “Biện pháp thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy phép thành lập và hoạt
động, giấy phép hành nghề được thực hiện khi cơ quan quản lý thuế không áp
dụng được hoặc đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế quy định tại các điểm a, b,
c, d, đ và e khoản 1 Điều 93 của Luật này nhưng vẫn chưa thu đủ số tiền thuế
3 Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013
Trang 17nợ, tiền chậm nộp, tiền phạt” Khi ta thu hồi cái Giấy chứng nhận đăng ký doanh
nghiệp, mục tiêu không phải là thu hồi cái tờ giấy cụ thể ấy, mà là ta thu hồi cái việc đăng ký, ta không công nhận cái pháp nhân (hay không pháp nhân) ấy nữa
Như vậy, có thể hiểu thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyết định thu hồi lại giấy chứng nhận đã cấp cho người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất do không đúng quy định của pháp luật Thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho người sử dụng đất là một chế định được quy định trong Luật Đất đai năm 2013
1.1.2 Phân loại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật
1.1.2.1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật được phép thu hồi
Trước Luật Đất đai năm 2003, pháp luật chưa đề cập đến việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dung đất cấp không đúng quy định pháp luật Trong thời gian
đó, việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng quy định pháp luật khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phát hiện, kiểm tra, đối chiếu quy định và xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định pháp luật thì do từng địa phương xem xét, xử lý, khắc phục Tùy từng trường hợp
cụ thể, theo đó, có thể xử lý bằng cách sẽ quyết định đính chính, điều chỉnh hoặc quyết định thu hồi hủy bỏ, cấp lại giấy chứng nhận đúng quy định pháp luật Thông thường phát hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định pháp luật thông qua việc giải quyết tranh chấp đất đai, giải quyết hồ sơ vụ việc có liên quan hoặc tòa án nhân dân tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp Quy định pháp luật về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng quy định pháp luật được quy định cụ thể từ khi Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ được ban hành, quy định cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp khi có kết luận của cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra là giấy chứng nhận sử dụng đất đã cấp trái với quy định của pháp luật và cần thiết thu hồi Tuy nhiên, pháp luật đất đai chưa quy định chi tiết thế nào là giấy chứng nhận sử
dụng đất cấp trái pháp luật và như thế nào là cần thiết thu hồi, dẫn đến có nhiều
Trang 18cách hiểu khác nhau: như sai về trình tự, thủ tục nhưng đủ điều kiện được cấp thì có phải thu hồi giấy chứng nhận sử dụng đất và cấp lại đúng trình tự hay không, hay chỉ điều chỉnh, cập nhật, bổ sung đảm bảo thủ tục theo quy định pháp luật, trường hợp khác là sai sót trong khâu đánh máy, kỹ thuật in vẽ thì có cần thiết phải thu hồi giấy chứng nhận sử dụng đất hay chỉ cần đính chính, điều chỉnh là đủ Do đó, Luật Đất đai năm 2013, có quy định cụ thể hơn trường hợp nào thì sẽ thu hồi giấy chứng nhận sử dụng đất, tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, quy định
Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận khi: Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai Quy định này nêu
cụ thể 07 trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định pháp luật sẽ bị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không thuộc trường hợp đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai
Quy định pháp luật đất đai hiện hành không đề cập đến quy định xử lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng trình tự thủ tục Dẫn đến, có thể hiểu việc cấp giấy chứng nhận sử dụng đất cấp không đúng trình tự thủ tục thì không phải thu hồi giấy chứng nhận sử dụng đất, việc xử lý giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cấp không đúng trình tự thủ tục sẽ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp tự xem xét, xử lý
1.1.2.2 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật không được thu hồi
Không phải tất cả các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng quy định pháp luật đều được thu hồi, theo Khoản 5 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-
CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm
2013, quy định:
“Nhà nước không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật trong các trường hợp quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai nếu người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng quyền
Trang 19sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất và đã được giải quyết theo quy định của pháp luật
Việc xử lý thiệt hại do việc cấp Giấy chứng nhận pháp luật gây ra thực hiện theo quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân Người có hành vi vi phạm dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận trái pháp luật bị xử lý theo quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Luật Đất đai”
Quy định không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng pháp luật nêu trên là một trong những điểm mới của Luật Đất đai năm 2013, quy định này hướng tới việc đảm bảo quyền và lợi ích cho người nhận chuyển nhượng ngay tình, đã được cơ quan nhà nước thừa nhận bằng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất; trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước
Tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, quy định trường hợp không thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng quy định pháp
luật trong trường hợp người được cấp giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp
luật đất đai Tuy nhiên, Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về hướng dẫn Luật Đất đai năm 2013 lại quy định chi tiết hơn đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật không thu hồi trong
trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất và đã được giải quyết theo quy định của pháp luật
Như vậy, trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật đã thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất và được giải quyết theo quy định thì cơ quan có thẩm quyền cấp cũng không được thu hồi giấy chứng nhận đã quyền sử dụng đất cấp
1.1.3 Thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật
Các quy định trước Luật Đất đai năm 2013 và sau Luật Đất đai năm 2013, quy định về thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có sự khác biệt, việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp trái pháp luật được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất
Trang 20* Quy định pháp luật trước Luật Đất đai năm 2013:
Tại Khoản 2 Điều 25 Nghị định 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp trái pháp luật được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 52 Luật Đất đai năm 2003 Cụ thể là:
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài
- Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở
* Quy định pháp luật từ Luật Đất đai năm 2013 - nay:
Theo Điều 105 Luật Đất đai năm 2013 quy định thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất:
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được
ủy quyền cho cơ quan tài nguyên và môi trường cùng cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam
Như vậy, theo quy định của Luật Đất đai thì thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc về Ủy ban nhân dân, là cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Mặt khác, theo Luật Khiếu nại, quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính là của Chủ tịch Ủy ban nhân dân
Trang 21Tuy nhiên, theo quy định của Luật Đất đai thì thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải thuộc về Ủy ban nhân dân, khi công dân có hành vi khiếu nại về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân là cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ xem xét việc đã cấp có phù hợp với các quy định của pháp luật hay không để quyết định sẽ thu hồi hoặc không thu hồi, không phải là của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký quyết định là thay mặt Ủy ban nhân dân chứ không phải nhân danh cá nhân Chủ tịch Ủy ban nhân dân Như vậy, trong các vụ án hành chính người khởi kiện yêu cầu hủy quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người bị kiện luôn được xác định là Ủy ban nhân dân chứ không phải là Chủ tịch Ủy ban nhân dân
1.1.4 Trình tự thủ tục thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật
* Quy định pháp luật trước Luật Đất đai năm 2013:
Luật Đất đai năm 2003 không quy định về khái niệm, trình tự, thủ tục về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định pháp luật Tại Khoản
2 Điều 130 Luật Đất đai năm 2003 chỉ quy định trong trường hợp cần thu hồi hoặc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi xử lý quyền sử dụng đất đã thế chấp, đã bảo lãnh để thu hồi nợ thì văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất gửi hồ sơ đến cơ quan quản lý đất đai thuộc Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền để làm thủ tục thu hồi hoặc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ
về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003 không quy định về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng quy định pháp luật, chỉ quy định về đính chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; sạt lở tự nhiên đối với cả thửa đất; có thay đổi ranh giới thửa đất mà phải cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi Nhà nước thu hồi đất Cụ thể, tại Điều 42 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ, quy định:
“1 Khi phát hiện nội dung ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sai sót thì Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm đính chính đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp; Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm đính chính đối
Trang 22với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp
2 Việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp được thực hiện theo quy định sau:
a) Thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; sạt lở tự nhiên đối với cả thửa đất; có thay đổi ranh giới thửa đất mà phải cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
b) Thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp thu hồi đất theo quy định tại Điều 38 của Luật Đất đai;
c) Trường hợp không thu hồi được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thông báo cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất;
d) Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền cấp giấy của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền cấp giấy của Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này
3 Trường hợp đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đang
sử dụng đất ổn định được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất thì việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của tòa án nhân dân đã được thi hành trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này”
Theo Điều 21, Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ thì việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật trong những trường hợp sau:
“1 Trường hợp có văn bản của cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra kết luận
là Giấy chứng nhận đã cấp trái với quy định của pháp luật thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm xem xét, nếu kết luận đó là đúng thì ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp
Trang 232 Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận tự kiểm tra và phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp là trái pháp luật thì có trách nhiệm thông báo bằng văn bản tới cơ quan thanh tra cùng cấp để thẩm tra; Thanh tra cấp huyện có trách nhiệm thẩm tra đối với Giấy chứng nhận do Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp, Thanh tra cấp tỉnh có trách nhiệm thẩm tra đối với Giấy chứng nhận do
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Nếu qua thẩm tra có kết luận là Giấy chứng nhận cấp trái pháp luật thì cơ quan nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp
3 Trường hợp tổ chức, công dân phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật thì gửi kiến nghị, phát hiện đến cơ quan nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận Cơ quan nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này
4 Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với các trường hợp không thuộc quy định tại khoản 2 Điều 42 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, các khoản 1, 2 và 3 Điều này chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân đã
có hiệu lực thi hành
Phần VI của Thông tư 06/2007/BTNMT ngày 02 tháng 7 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai, hướng dẫn thực hiện việc thu hồi giấy chứng nhận đã cấp quy định tại Điều 21 như sau:
“1 Trường hợp sau khi xem xét việc cấp Giấy chứng nhận theo văn bản của
cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP mà có căn cứ cho rằng việc cấp Giấy chứng nhận đó là không trái pháp luật thì cơ quan đã cấp Giấy chứng nhận có văn bản trả lời cơ quan đã có kết luận
2 Kết quả thẩm tra về việc cấp Giấy chứng nhận do cơ quan thanh tra thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 21 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP được gửi đến Ủy ban nhân dân và cơ quan Tài nguyên và Môi trường cùng cấp, tổ chức hoặc công dân đã có phát hiện và người đã được cấp Giấy chứng nhận
Trang 24Trường hợp có ý kiến không tán thành kết quả thẩm tra thì Ủy ban nhân dân có trách nhiệm chỉ đạo làm rõ trước khi quyết định thu hồi Giấy chứng nhận hoặc có văn bản trả lời tổ chức, công dân đã có phát hiện trong trường hợp không quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp
3 Trường hợp phát hiện Giấy chứng nhận đã ký trái pháp luật nhưng chưa trao cho người sử dụng đất hoặc người sử dụng đất không nhận thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm ra quyết định hủy Giấy chứng nhận đã ký; quyết định được gửi cho cơ quan Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cùng cấp đồng thời có văn bản thông báo rõ
lý do huỷ Giấy chứng nhận cho người đã có hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận”
Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ và Thông tư số 06/2007/BTNMT ngày 02 tháng 7 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quy định rõ về trình tự thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Song Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ đã bãi
bỏ một số điều trong Nghị định 84/2007/NĐ-CP, trong đó có quy định về trình tự thu hồi Do vậy việc áp dụng cần xem xét thời điểm ban hành và tính có hiệu lực của văn bản luật
Việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp theo Khoản 2 Điều
25 Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ được quy định như sau:
“a) Trường hợp Giấy chứng nhận đã cấp mà có văn bản của cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra kết luận là Giấy chứng nhận đã cấp trái với quy định của pháp luật thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm xem xét, nếu kết luận đó là đúng thì ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận
đã cấp;
b) Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận tự kiểm tra và phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp là trái pháp luật thì có trách nhiệm thông báo bằng văn bản tới cơ quan thanh tra cùng cấp để thẩm tra Thanh tra cấp huyện có trách nhiệm thẩm tra đối với Giấy chứng nhận do Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp, Thanh tra cấp tỉnh có trách nhiệm thẩm tra đối với Giấy chứng nhận do
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Nếu qua thẩm
Trang 25tra có kết luận là Giấy chứng nhận cấp trái pháp luật thì cơ quan nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp;
c) Trường hợp tổ chức, công dân phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật thì gửi kiến nghị, phát hiện đến cơ quan nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận Cơ quan nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định tại điểm b khoản này”
Theo quy định tại Khoản 3 Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm
2009 của Chính phủ có quy định: Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp không thuộc quy định tại Khoản 2 Điều 42 Nghị định số 181/2004/NĐ-
CP và Khoản 2 Điều này chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Tòa
án nhân dân đã có hiệu lực thi hành
Như vậy, pháp luật quy định về trình tự thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật từ khi có Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư
số 06/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 7 năm 2007 và được bổ sung tại Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ, trình tự thủ tục để thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có kết luận của cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra kết luận là giấy chứng nhận đã cấp trái với quy định của pháp luật thì
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm xem xét, nếu kết luận đó là đúng thì ra quyết định thu hồi giấy chứng nhận đã cấp Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định cụ thể về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như thế nào
là trái pháp luật, trường hợp nào là thu hồi, không thu hồi, đính chỉnh hoặc điều chỉnh
* Quy định pháp luật từ Luật Đất đai năm 2013 - nay:
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Đất đai năm 2013 quy định: Trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai tại Điểm đ Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra có văn bản kết luận Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, nếu kết luận đó là đúng thì quyết định
Trang 26thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp; trường hợp xem xét, xác định Giấy chứng nhận đã cấp là đúng quy định của pháp luật thì phải thông báo lại cho cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra;
b) Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì thông báo bằng văn bản cho cơ quan thanh tra cùng cấp thẩm tra; nếu kết luận là Giấy chứng nhận
đã cấp không đúng quy định của pháp luật thì thông báo cho người sử dụng đất biết
rõ lý do; sau 30 ngày kể từ ngày gửi thông báo cho người sử dụng đất mà không có đơn khiếu nại thì ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp;
c) Trường hợp người sử dụng đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì gửi kiến nghị, phát hiện đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định tại Điểm b Khoản này;
d) Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện việc thu hồi và quản lý Giấy chứng nhận đã thu hồi theo quyết định thu hồi Giấy chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền;
đ) Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại
Khoản 56 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điểm b và Điểm c Khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định:
“b) Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai thì kiểm tra lại, thông báo cho người sử dụng đất biết rõ lý do và quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định;
Trang 27c) Trường hợp người sử dụng đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai thì gửi kiến nghị bằng văn bản đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
có trách nhiệm kiểm tra, xem xét quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai;”
Như vậy theo Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ, trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hiện giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì không quy định phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thanh tra cùng cấp thẩm tra và bỏ quy định “sau 30 ngày kể từ ngày gửi thông báo cho người sử dụng đất mà không
có đơn khiếu nại thì ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp” Đồng thời, quy định người sử dụng đất phát hiện giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai thì gửi kiến nghị bằng văn bản đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận
Khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014
của Chính phủ quy định: “Nhà nước không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật trong các trường hợp quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai nếu người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất và đã được giải quyết theo quy định của pháp luật”
Việc xử lý thiệt hại do việc cấp giấy chứng nhận trái pháp luật gây ra thực hiện theo quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân Người có hành vi vi phạm dẫn đến việc cấp giấy chứng nhận trái pháp luật bị xử lý theo quy định tại Điều
206 và Điều 207 của Luật Đất đai
Khoản 6 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014
của Chính phủ quy định: “Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân đã được thi hành”
Trang 28Khoản 7 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014
của Chính phủ quy định: “Trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều này mà người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không giao nộp Giấy chứng nhận thì Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm báo cáo cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quyết định hủy Giấy chứng nhận đã cấp; chỉnh lý hồ sơ địa chính theo quy định; lập danh sách Giấy chứng nhận đã bị hủy gửi Sở Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Quản lý đất đai
để thông báo công khai trên trang thông tin điện tử”
Khoản 8 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014
của Chính phủ quy định: “Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm trình cơ quan có thẩm quyền cấp lại Giấy chứng nhận cho người sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật; trường hợp Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật do lỗi của người sử dụng đất hoặc do cấp không đúng đối tượng thì hướng dẫn cho người sử dụng đất làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận theo quy định”
Theo Khoản 4 Điều 10 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm
2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, quy định: Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục cấp đổi, cấp lại, đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận:
Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục thu hồi giấy chứng nhận, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai theo quy định như sau:
a) Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phát hiện nội dung giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định thì nộp hồ sơ gồm:
- Đơn phản ánh việc cấp giấy chứng nhận không đúng quy định;
- Bản gốc giấy chứng nhận đã cấp;
b) Trường hợp cơ quan nhà nước phát hiện giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định thì người được cấp giấy chứng nhận nộp giấy chứng nhận đã cấp theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Như vậy, trong trường hợp người dân phát hiện giấy chứng nhận cấp không đúng quy định pháp luật thì phải gửi kiến nghị, phản ánh bằng văn bản, đồng thời
Trang 29gửi bản gốc giấy chứng nhận đã cấp Tuy nhiên, đối với trường hợp người phát hiện giấy chứng nhận cấp sai không phải người sử dụng đất thì quy định chưa
đề cập quy trình tiếp nhận, xử lý
1.2 Khát quát quy định pháp luật về xử lý trách nhiệm trong việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật
1.2.1 Khái niệm về trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức
Khái niệm “trách nhiệm” theo Từ điển tiếng Việt là “Điều phải làm, phải
gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình”; hay “được hiểu là sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm làm đúng đắn, nếu sai trái thì phải chịu phần hậu quả”; hoặc “là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả” Và “trách nhiệm
là phải bảo đảm làm tròn những sự việc được giao cho Nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu hậu quả”
Với quan niệm như vậy, trong xã hội, bất kỳ ai cũng có trách nhiệm bởi mỗi người đều có một vị trí nhất định trong các mối quan hệ xã hội, như gia đình, dòng
họ, địa phương, tập thể, tổ chức chính trị - xã hội, công dân của một nước, thành viên của cộng đồng dân tộc và rộng nhất là của nhân loại Trong các mối quan hệ
đó, trách nhiệm được hình thành trên cơ sở những quy định của luật pháp, quy chế, thỏa thuận của tập thể, tổ chức, địa phương Trách nhiệm còn được hình thành do
dư luận xã hội và bị chi phối bởi dư luận xã hội
Công vụ là hoạt động mang tính quyền lực, pháp lý được thực thi bởi đội ngũ cán bộ, công chức hoặc những người được nhà nước trao quyền nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phục vụ nhân dân
Hoạt động công vụ theo Điều 2 Luật Cán bộ, công chức năm 2008: “Là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của luật này và các quy định khác có liên quan” Cán bộ, công chức khi tham gia hoạt động công
vụ phải tuân thủ các nghĩa vụ và có trách nhiệm thực hiện đúng quyền hạn được giao
Theo Từ điển Luật học, trách nhiệm công vụ là “Trách nhiệm của cán bộ, công chức nhà nước phải hành động phù hợp với quy định của pháp luật, lựa chọn phương án hành động tối ưu và hợp lý nhất, báo cáo kết quả hoạt động và gánh
Trang 30chịu những hậu quả do không thực hiện hay thực hiện không đúng các nghĩa vụ của mình Trách nhiệm công vụ là khái niệm thể hiện trên cả hai khía cạnh: tích cực và tiêu cực Theo khía cạnh tích cực, trách nhiệm công vụ thể hiện phạm vi các yêu cầu cụ thể của Nhà nước thông qua các quy định của pháp luật về nội dung nhiệm
vụ và phẩm chất của cán bộ, công chức khi thực thi công vụ Trách nhiệm công vụ theo nghĩa tiêu cực là sự gánh chịu hậu quả pháp lý do không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ Nội hàm khái niệm trách nhiệm công vụ còn thể hiện yêu cầu của pháp luật và đạo đức nghề nghiệp đối với cán bộ, công chức về tính chủ động sáng tạo trong hoạt động thực thi công vụ Đó là nghĩa vụ phải lựa chọn phương án hành động tối ưu và hợp lý nhất”
Cũng có ý kiến khác cho rằng “Trách nhiệm công vụ là một khái niệm mang tính chất chính trị, đó là việc cán bộ, công chức tự ý thức về quyền và nhiệm vụ được phân công cũng như bổn phận phải thực hiện các quyền và nhiệm vụ đó Trách nhiệm trong hoạt động công vụ của công chức có mối quan hệ chặt chẽ với kết quả hoạt động công vụ” 4
Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức là phải thực hiện đúng pháp luật và đạt được kết quả tốt nhất, với chi phí thấp nhất, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, tức là nếu cán bộ, công chức thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, nhưng chưa tạo được kết quả theo yêu cầu thì chưa thể coi là hoàn thành trách nhiệm công vụ
Về phương diện chính trị - xã hội, trách nhiệm công vụ có mục đích bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích của nhân dân, của cơ quan, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật Về phương diện pháp luật - hành chính, trách nhiệm công vụ thể hiện yêu cầu bắt buộc của chủ thể quyền lực là Nhân dân (Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân) đối với cơ quan, cá nhân được ủy quyền
Trên phương diện pháp luật, trách nhiệm công vụ tích cực là yếu tố chủ yếu, quan trọng nhất trong việc thực hiện quy phạm pháp luật, pháp chế, nhưng trên thực
tế, trách nhiệm công vụ ở khía cạnh tiêu cực lại là vấn đề được chú ý nhiều hơn
4
Trần Anh Tuấn, 2009 Vấn đề công vụ và trách nhiệm công vụ trong Luật cán bộ, công chức Tạp chí Tổ chức Nhà
nước, Số 11/2009.
Trang 31Điều đó được cắt nghĩa bởi tình trạng vi phạm trách nhiệm công vụ nói chung, trong đó có vi phạm pháp luật với các tác hại của nó luôn gây bức xúc trong đời sống xã hội, ảnh hưởng xấu đến hoạt động bình thường của các quan hệ xã hội
Liên quan đến khái niệm trách nhiệm công vụ, còn có một loạt khái niệm
“gần” nghĩa hoặc phái sinh như: trách nhiệm chính trị; trách nhiệm pháp lý; trách nhiệm hành chính
- Trách nhiệm chính trị “là trách nhiệm trước cử tri Trách nhiệm chính trị được xác lập dựa trên sự tín nhiệm Và sự bất tín nhiệm là loại chế tài duy nhất ở đây Trách nhiệm chính trị được bảo đảm bằng hai cách: Một là thông qua bầu cử; Hai là, thông qua hoạt động của cơ quan đại diện cho cử tri”5
- Trách nhiệm pháp lý, theo nghĩa ngắn gọn nhất là trách nhiệm trước pháp luật Tuy nhiên trong sách báo pháp lý hiện nay ở nước ta, trách nhiệm pháp lý được hiểu theo hai nghĩa khác nhau là trách nhiệm pháp lý tích cực và trách nhiệm pháp lý tiêu cực Trách nhiệm pháp lý tích cực được hiểu hành vi được thực hiện theo bổn phận, nghĩa vụ của một chủ thể phải thực hiện quy định của pháp luật Trái lại, trách nhiệm pháp lý tiêu cực lại được hiểu là tác động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đến người vi phạm pháp luật, buộc họ phải chịu các biện pháp cưỡng chế nhà nước nhất định Ví dụ, các trách nhiệm hình sự, dân sự, trách nhiệm hành chính được quy định trong các văn bản pháp luật tương ứng như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Luật xử lý vi phạm hành chính Trách nhiệm pháp lý tiêu cực là trách nhiệm đối với hành vi đã được thực hiện (trong quá khứ) Nhấn mạnh trách nhiệm
pháp lý tiêu cực, có quan niệm cho rằng “Trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi
mà chủ thể pháp luật phải gánh chịu do pháp luật quy định hành vi vi phạm pháp luật của mình hoặc của người mà mình bảo lãnh hoặc giám hộ Khác với các loại trách nhiệm khác, trách nhiệm pháp lý luôn gắn liền với sự cưỡng chế nhà nước, với việc áp dụng chế tài do pháp luật quy định” (Từ điển Luật học)
- Trách nhiệm hành chính là “trách nhiệm thi hành nghĩa vụ do pháp luật hành chính quy định và trách nhiệm phát sinh do vi phạm nghĩa vụ đó Cụ thể hơn,
có thể nói trách nhiệm hành chính với tính cách là trách nhiệm pháp lý gắn với yếu
tố vi phạm hành chính, hay là vi phạm hành chính là cơ sở của trách nhiệm hành
5Nguyễn Sĩ Dũng, 2003 Trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm chính trị Việt Báo, ngày 01 tháng 03 năm 2003
Trang 32chính Trong đó, lỗi là tiền đề chủ quan của vi phạm hành chính Ba yếu tố của trách nhiệm hành chính được xác định là: 1) Là biện pháp cưỡng chế hành chính; 2) Sự lên án của nhà nước và xã hội đối với hành vi của người vi phạm hành chính; 3) Người vi phạm hành chính phải chịu những hậu quả bất lợi nhất định”6
1.2.2 Quy định pháp luật về trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức
Trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức không chỉ được quy định trong một văn bản pháp luật cụ thể mà nó được thể hiện ở một số văn bản sau:
a) Luật Cán bộ, công chức quy định: Khi thực hiện nhiệm vụ theo quy định
của pháp luật, công chức phải có nghĩa vụ đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân:
Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia; Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Trong thi hành công vụ, cán bộ, công chức có nghĩa vụ: Thực hiện đúng, đầy
đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước; Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao; Chấp hành quyết định của cấp trên Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp
thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định
vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình; Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
6
Trần Anh Tuấn, 2009 Vấn đề công vụ và trách nhiệm công vụ trong Luật Cán bộ, Công chức Tạp chí Tổ
chức Nhà nước, Số 11/2009
Trang 33Ngoài ra, công chức là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị còn phải thực hiện các nghĩa vụ: Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức; Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân; Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, tổ chức; Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
Liên quan đến đạo đức công vụ, cán bộ, công chức phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ và phải tuân thủ các quy định
về văn hóa giao tiếp ở công sở và văn hóa giao tiếp với nhân dân như: phải gần gũi với nhân dân; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc; không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân khi thi hành công vụ
Đồng thời, cán bộ, công chức không được: Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công; Sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật; Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi; Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức
Ngoài ra, cán bộ, công chức còn không được làm một số công việc liên quan đến bí mật nhà nước và liên quan đến các việc khác theo quy định của pháp luật
Đối với cán bộ, công chức vi phạm quy định của pháp luật, tuỳ theo tính
chất, mức độ vi phạm, Luật quy định phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau:
Đối với cán bộ: a) Khiển trách; b) Cảnh cáo; c) Cách chức; d) Bãi nhiệm Đối với công chức: a) Khiển trách; b) Cảnh cáo; c) Hạ bậc lương; d) Giáng chức; đ) Cách chức; e) Buộc thôi việc
Trang 34b) Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định tại Khoản
2 Điều 10: Người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại có nghĩa vụ sau đây: a) Cung cấp kịp thời, đầy đủ và trung thực thông tin, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết bồi thường theo yêu cầu của cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc Tòa án; b) Hoàn trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; c) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
c) Bộ luật Hình sự quy định tại Điều 285:
“1 Người nào vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 144 (Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước ), 235 (Tội thiếu trách nhiệm trong việc giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây hậu quả nghiêm trọng ) và 301 (Tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn) của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm
2 Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm
3 Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”
Như vậy, có thể nói, các quy định của pháp luật về trách nhiệm công vụ của
cán bộ, công chức khá đầy đủ, rõ ràng, tuy nhiên theo nghĩa tích cực và tiêu cực, tức
là hậu quả pháp lý do không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ của cán
bộ, công chức Tuy nhiên đối với cán bộ, công chức làm việc đúng, nhưng chưa đủ
để tạo ra kết quả theo yêu cầu, hoặc làm việc một cách cầm chừng, làm vừa đủ bổn phận, cốt sao không phạm phải khuyết điểm hay bệnh “vô cảm” của cán bộ, công chức - đáng tiếc là đang khá phổ biến hiện nay, tức là chưa hoàn thành trách nhiệm công vụ, thì chưa có quy định cụ thể và chế tài xử lý
1.2.3 Quy định pháp luật về xử lý trách nhiệm trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng pháp luật
Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 quy định trường hợp Nhà nước thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp như sau:
Trang 35“Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp; Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp; Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai”
Khoản 5 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định:
“Nhà nước không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật trong các trường hợp quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai nếu người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất và đã được giải quyết theo quy định của pháp luật
Việc xử lý thiệt hại do việc cấp Giấy chứng nhận pháp luật gây ra thực hiện theo quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân Người có hành vi vi phạm dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận trái pháp luật bị xử lý theo quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Luật Đất đai”
Điều 206 Luật Đất đai năm 2013 quy định về xử lý đối với người có hành vi
vi phạm pháp luật về đất đai như sau:
“1 Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thì tùy theo tính chất, mức
độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật
2 Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước, cho người khác, ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật còn phải bồi thường theo mức thiệt hại thực tế cho Nhà nước hoặc cho người bị thiệt hại”
Điều 207 Luật Đất đai năm 2013 quy định về xử lý đối với người có hành vi
vi phạm pháp luật về đất đai khi thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai như sau:
Trang 36“Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai khi thi hành công vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm sau đây:
a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái với quy định của pháp luật trong giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, quản lý hồ sơ địa chính, ra quyết định hành chính trong quản lý đất đai;
b) Thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra vi phạm pháp luật về đất đai hoặc có hành vi khác gây thiệt hại đến tài nguyên đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;
c) Vi phạm quy định về lấy ý kiến, công bố, công khai thông tin; vi phạm quy định trình tự, thủ tục hành chính; vi phạm quy định về báo cáo trong quản lý đất đai”
Như vậy, trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai nhưng đã chuyển nhượng cho người khác và đã được giải quyết thủ tục sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cơ quan có thẩm quyền sẽ không thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tuy nhiên, trong trường hợp này, người có hành vi
vi phạm dẫn đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gây ra thiệt hại thì phải bồi thường theo pháp luật
Theo Khoản 8 Điều 13 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ngày 18 tháng 6 năm 2009 quy định Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành
vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong trường hợp: “Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ
trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”
Khoản 11 Điều 13 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2018 tiếp tục quy định Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong
Trang 37trường hợp: “Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư trái pháp luật; cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất trái pháp luật”
Theo các quy định nêu trên thì tùy trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp không đúng quy định có thể thu hồi được và không thể thu hồi được Như vậy, tùy mức độ hậu quả, thiệt hại xảy ra thì trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cá nhân có liên quan cũng khác nhau Trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng pháp luật mà thu hồi được thì hậu quả thường xảy ra ít hơn, trong trường hợp này cơ quan nhà nước có thể hướng dẫn cá nhân có liên quan nộp hồ sơ để được xem xét cấp theo đúng quy định Đối với cán bộ, công chức, viên chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ không đúng quy định dẫn đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định pháp luật sẽ bị xử lý trách nhiệm theo Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức
Đối với các trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng quy định không thu hồi được thì hậu quả lớn hơn, gây thiệt hại, xuất hiện trách nhiệm của cá nhân, cơ quan nhà nước trong việc bồi thường thiệt hại
Như vậy, cần phải có biện pháp xử lý đối với cá nhân, cơ quan có liên quan nhằm khắc phục hậu quả xảy ra và hạn chế việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tùy tiện, không đúng pháp luật
Theo quy định của pháp luật, hành vi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
là hành vi được tiến hành trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước của các cơ quan Nhà nước Quy trình cấp các giấy tờ này trải qua nhiều giai đoạn, do một hoặc nhiều cá nhân thực hiện và quyết định cuối cùng về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định được ban hành bởi cơ quan nhà nước
Như vậy, đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cá nhân, cơ quan có liên quan sẽ không bị xử phạt hành chính mà sẽ bị xử lý như sau:
Thứ nhất, đối với cá nhân có vi phạm: trường hợp sau khi thanh tra, xác
minh và kết luận rằng cán bộ, công chức, viên chức đã có hành vi vi phạm trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức bằng một trong các hình thức xử lý như sau:
Trang 38+ Với viên chức: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc (theo Nghị định 27/2012/NĐ-CP)
+ Với công chức: Khiển trách; Cảnh cáo; Hạ bậc lương; Giáng chức; Cách
chức; Buộc thôi việc (theo Nghị định 34/2011/NĐ-CP)
Thứ hai, đối với cơ quan nhà nước thực hiện hành vi vi phạm thuộc nhiệm
vụ quản lý nhà nước được giao: trường hợp này cơ quan Nhà nước cũng không bị
xử phạt theo quy định về xử phạt hành chính mà sẽ bị xử lý theo các quy định của pháp luật có liên quan Điều này có nghĩa là đối với sai phạm của cơ quan nhà nước, tùy từng lĩnh vực thì cơ quan nhà nước sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật trong lĩnh vực đó
Ngoài ra, trong trường hợp cán bộ, công chức, viên chức có vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ, hành vi vi phạm và hậu quả, những đối tượng này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thỏa mãn cấu thành tội phạm của tội phạm đó Xem xét theo các quy định tại Bộ Luật Hình sự thì hành vi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái với quy định của pháp luật có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một trong số các tội danh như: Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281 BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, Điều 356 BLHS 2015); Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 285 BLHS BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, Điều 360 BLHS 2015) hoặc một số tội danh khác liên quan đến chức vụ, quyền hạn…
Căn cứ theo quy định tại Điều 619 Bộ Luật Dân sự năm 2005 về bồi thường
thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra thì: “Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm yêu cầu cán bộ, công chức phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu cán bộ, công chức có lỗi trong khi thi hành công vụ.”
Điều 598 Luật Dân sự năm 2015 về bồi thường thiệt hại do người thi hành
công vụ gây ra thì: “Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”
Bên cạnh đó, tại Điều 24 Nghị định 27/2012/NĐ-CP ngày 06 tháng 4 năm
2012 của Chính phủ cũng quy định trường hợp viên chức khi thực hiện nhiệm vụ
Trang 39hoặc công việc được phân công có lỗi gây ra thiệt hại thì đơn vị quản lý viên chức
sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường sau đó viên chức có lỗi gây thiệt hại sẽ phải hoàn trả lại cho đơn vị
Như vậy, nếu qua thanh tra xác định cán bộ, công chức, viên chức có sai phạm thì chính cơ quan nhà nước (ở đây là cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) sẽ phải bồi thường cho những người bị thiệt hại Theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước thì việc bồi thường sẽ được xác định dựa trên các căn cứ đó là:
+ Văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi bồi thường theo Điều 13 của Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước
+ Có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật gây ra đối với người bị thiệt hại (thiệt hại ở đây bao gồm cả thiệt hại về tài sản và sức khỏe)
Điều 4 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ngày 18 tháng 6 năm
2009 quy định quyền yêu cầu bồi thường:
- Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường giải quyết việc bồi thường khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật hoặc có văn bản của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật này
- Trong quá trình khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hoặc Toà án giải quyết việc bồi thường
Điều 5 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ngày 18 tháng 6 năm
2009 quy định thời hiệu yêu cầu bồi thường:
- Thời hiệu yêu cầu bồi thường quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Luật này là
02 năm, kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật hoặc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật này
Trang 40- Thời hiệu yêu cầu bồi thường quy định tại Khoản 2 Điều 4 của Luật này được xác định theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
- Trong quá trình giải quyết khiếu nại, giải quyết vụ án hành chính đã xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và có thiệt hại thực tế mà việc bồi thường chưa được giải quyết thì thời hiệu yêu cầu bồi thường được áp dụng theo quy định tại Khoản 1 Điều này
Như vậy, trong trường hợp người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất và đã được giải quyết theo quy định của pháp luật thì không thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Việc xử lý thiệt hại do việc cấp giấy chứng nhận trái pháp luật gây ra thực hiện theo quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân Người có hành vi vi phạm dẫn đến việc cấp giấy chứng nhận trái pháp luật bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật (đối với cán bộ, công chức, viên chức), truy cứu trách nhiệm hình sự, ngoài việc bị xử lý theo quy định còn phải bồi thường theo mức thiệt hại thực tế cho Nhà nước hoặc cho người bị thiệt hại Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước năm 2017 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2018, trong đó sửa đổi toàn diện quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường như tăng thời hiệu yêu cầu bồi thường từ 2 năm lên 3 năm (Khoản 1 Điều 6) Việc Luật tăng thời hiệu yêu cầu bồi thường là để bảo đảm phù hợp với quy định tại Điều 588 Bộ Luật Dân sự năm 2015 về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường