Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác luận văn ths luật
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG THỊ LIÊN
PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO NGƯỜI NGHÈO VÀ CÁC ĐỐI TƯỢNG
CHÍNH SÁCH XÃ HỘI KHÁC
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS TSKH ĐÀO TRÍ ÚC
HÀ NỘI - 2015
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO NGƯỜI NGHÈO VÀ CÁC ĐỐI TƯỢNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI KHÁC 7
1.1 Khái niệm và pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác ở Việt Nam 7
1.1.1 Khái niệm trợ giúp pháp lý 7
1.1.2 Khái niệm người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác với tính cách là những người thụ hưởng trợ giúp pháp lý 11
1.1.3 Khung pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác 17
1.1.4 Vai trò của pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác 22
1.2 Điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác ở một số nước trên thế giới 24
1.2.1 Mô hình tổ chức trợ giúp pháp lý của các nước trên thế giới 25
1.2.2 Chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý 28
1.2.3 Đối tượng được trợ giúp pháp lý 29
1.2.4 Phạm vi trợ giúp pháp lý 31
1.2.5 Lĩnh vực pháp luật được trợ giúp pháp lý 32
1.2.6 Người thực hiện trợ giúp pháp lý 33
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35
Trang 4CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO NGƯỜI NGHÈO VÀ CÁC ĐỐI TƯỢNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
KHÁC VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRONG THỜI GIAN QUA 36
2.1 Thực trạng pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác ở Việt Nam hiện nay 36
2.1.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác ở Việt Nam 36
2.1.2 Thực trạng các quy định pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác ở Việt Nam hiện nay 42
2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác ở Việt Nam hiện nay 51
2.2.1 Về chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý 51
2.2.2 Về kết quả thực hiện pháp luật trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác 55
2.2.3 Về công tác phối hợp để tổ chức thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội 63
2.2.4 Về công tác truyền thông, phố biến về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác 65
2.3 Đánh giá chung về hiệu quả điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác ở Việt Nam hiện nay 66
2.3.1 Kết quả đạt được 66
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế 69
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 77
Trang 5CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO NGƯỜI NGHÈO VÀ ĐỐI
TƯỢNG CHÍNH SÁCH TRONG THỜI GIAN TỚI 78 3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác 78 3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác ở nước ta hiện nay 81
3.2.1 Nhóm các giải pháp hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác 81 3.2.2 Nhóm các giải pháp bảo đảm các điều kiện để pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác đi vào cuộc sống 96
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 104 KẾT LUẬN 105 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Hoàng Thị Liên
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
BIỂU ĐỔ 2.1: BIỂU ĐỒ THỐNG KÊ ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC TGPL 56 BIỂU ĐỔ 2.2: BIỂU ĐỒ THỐNG KÊ LĨNH VỰC ĐƯỢC TGPL 59 BIỂU ĐỔ 2.3: BIỂU ĐỒ THỐNG KÊ HÌNH THỨC THỰC HIỆN TGPL 61
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trợ giúp pháp lý : TGPL
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ năm 1986, Việt Nam chính thức tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước Cùng với việc đẩy mạnh cải cách kinh tế, đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và
vì dân, Nhà nước Việt Nam đã thông qua Chiến lược toàn diện về tăng trưởng
và xóa đói giảm nghèo, trong đó có chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách Ngày 06/9/1997 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734/TTg về việc thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách Từ đó đến nay trên cơ sở Luật TGPL năm
2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành, công tác TGPL đã phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, đạt được những kết quả quan trọng Hệ thống tổ chức TGPL đã được hình thành từ trung ương đến địa phương, bao gồm Cục TGPL thuộc Bộ Tư pháp và Trung tâm TGPL ở 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với đội ngũ chuyên viên và cộng tác viên TGPL đông đảo Các tổ chức TGPL đã đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu giúp đỡ pháp lý của người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời, trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống pháp luật của
xã hội
Hoạt động TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách đã góp phần thực hiện chủ trương xoá đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, bảo đảm công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng và các
cơ quan nhà nước khác giải quyết các vụ việc một cách khách quan, chính xác, đúng pháp luật, giải toả những vướng mắc pháp luật của nhân dân, góp phần ổn định tình hình chính trị, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; tạo lập cơ chế bảo đảm công bằng xã hội; góp phần giữ vững và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Trang 10xã hội khác
Xuất phát từ những yêu cầu như phân tích ở trên, việc nghiên cứu đề tài:
"Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính
sách xã hội khác" là yêu cầu khách quan, cần thiết cả về phương diện lý luận
và thực tiễn nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về TGPL, nâng cao hiệu quả, phát triển hoạt động TGPL ở Việt Nam hiện nay
Trang 112 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý, thực trạng pháp luật TGPL cho người nghèo, các đối tượng chính sách xã hội khác và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật TGPL trong thời gian tới
Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu các nội dung chính sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý về pháp luật TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác ở Việt Nam
- Phân tích, đánh giá nhằm làm rõ thực trạng các quy định của pháp luật
và thực tiễn thực hiện pháp luật về TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác ở Việt Nam trong thời gian qua, phát hiện những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân để có giải pháp hoàn thiện
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về TGPL cho
người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác ở Việt Nam hiện nay
3 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn góp phần chứng minh sự phát triển đúng đắn của hoạt động TGPL Đánh giá sâu sát, toàn diện tình hình thực hiện các quy định pháp luật
về TGPL, phân tích các yêu cầu đặt ra về mặt pháp lý để phục vụ cho việc phát triển bền vững hoạt động TGPL; đề xuất giải pháp có “tính mới” để hoàn thiện pháp luật TGPL tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác trong thời gian tới
Đồng thời, luận văn có thể phục vụ cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về pháp luật TGPL ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội
Trang 12khác ở Viêt Nam Trên cơ sở đó có các định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề về pháp luật về TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác gồm: khái niệm TGPL, khung pháp luật về TGPL ở Việt Nam và pháp luật về TGPL ở một số nước trên thế giới; thực trạng các quy định về chủ thể, đối tượng, hình thức, phạm vi, lĩnh vực; thực tiễn thực hiện pháp luật TGPL trong thời gian qua và
đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật TGPL cho các đối tượng này
Luận văn không nghiên cứu các quy định pháp luật quản lý nhà nước đối với hoạt động TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác
5 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
TGPL là một hoạt động đã có một số đề tài nghiên cứu tiến sĩ, thạc sĩ, đề tài cấp Bộ và các bài báo, tạp chí, chuyên đề nghiên cứu một số vấn đề lý luận
và thực tiễn liên quan đến lĩnh vực này
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Đề tài "Mô hình tổ chức và hoạt động TGPL,
phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay" do Viện Khoa học pháp lý
- Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện năm 1998, Chủ nhiệm Đề tài: Tạ Thị Minh Lý
Đề tài "Luận cứ khoa học và thực tiễn xây dựng Pháp lệnh TGPL" do Viện
Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện năm 2005, Chủ nhiệm Đề tài: Tạ Thị Minh Lý Tuy nhiên, Quốc hội đã cho ý kiến nâng Dự án Pháp lệnh TGPL lên thành Luật TGPL và đưa vào Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2006
Các luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ: Luận án tiến sĩ "Điều chỉnh pháp
luật về TGPL ở Việt Nam trong điều kiện đổi mới" của Tạ Thị Minh Lý; Luận
án tiến sĩ “Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động trợ giúp pháp
lý ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Văn Tùng; Luận văn thạc sĩ “Thực hiện
Trang 13pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách ở Việt Nam” của Nguyễn Huỳnh Huyện; Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện các hình thức tiếp cận pháp luật của người nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của
Đỗ Xuân Lân; Luận văn thạc sĩ "Hoàn thiện pháp luật về người thực hiện
TGPL ở Việt Nam" của Vũ Hồng Tuyến; Luận văn Thạc sĩ “Phát triển TGPL
ở cơ sở” của Đặng Thị Loan; Luận văn thạc sĩ “Bảo đảm quyền được TGPL”
của Phan Thị Thu Hà Nhìn chung, các Đề tài khoa học, các luận án tiến sĩ, thạc sỹ trên đây phần lớn được thực hiện giai đoạn trước khi có Luật TGPL năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Ngoài ra, còn một số bài nghiên cứu, bài viết về TGPL cho người nghèo
và các đối tượng chính sách xã hội khác được đăng trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp san TGPL…
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phương pháp luận của Triết học nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước
và pháp luật, những quan điểm của Đảng về TGPL Các văn kiện của Đảng, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2001, năm 2013 và các văn bản pháp luật về TGPL, các báo cáo kết quả hoạt động, các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước cũng được tham khảo và kế thừa có chọn lọc
- Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê Đồng thời, tác giả còn
sử dụng phương pháp khai thác và sử dụng các tư liệu thực tiễn để hoàn chỉnh luận văn
7 Bố cục Luận văn
Bố cục của Luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Luận văn gồm 03 Chương như sau:
Trang 14Chương 1 - Những vấn đề chung về TGPL và pháp luật về TGPL
cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác
Chương 2 - Thực trạng pháp luật về TGPL cho người nghèo và
các đối tượng chính sách xã hội khác và thực tiễn thực hiện trong thời
gian qua
Chương 3 - Quan điểm, các giải pháp hoàn thiện pháp luật về TGPL
cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác trong thời gian tới
Trang 15
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ VÀ PHÁP LUẬT
VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO NGƯỜI NGHÈO VÀ CÁC
ĐỐI TƯỢNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI KHÁC 1.1 Khái niệm và pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác ở Việt Nam
1.1.1 Khái niệm trợ giúp pháp lý
Thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” là một cụm từ ghép “trợ giúp” và “pháp lý” Theo Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, 2001, thì “trợ giúp” được hiểu là “giúp đỡ” [54, tr.767], pháp lý tức là "nguyên lý về pháp luật" [54, tr.1045] Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Lân, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2005 thì “trợ giúp” là “giúp đỡ" như nông dân bị mất mùa do lũ lụt, Nhà nước cấp lúa giống, con giống cho nông dân để tiếp tục sản xuất không thu tiền [31, tr.1923], còn về “pháp lý” là “nguyên lý của pháp luật” [31, tr.1431] Theo Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý, Nxb Văn hoá - Thông tin, 1999, thì “trợ giúp” hiểu là “sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem lại cho ai cái gì, đang lúc khó khăn, đang lúc cần đến”, thuật ngữ “pháp lý” [55, tr.456] được hiểu là lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, nói một cách khái quát pháp lý là lí luận; theo Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa - Nxb Tư pháp, 2006, thì pháp lý: những khía cạnh, phương diện khác nhau của đời sống pháp luật của một quốc gia, “pháp lý” chỉ những
lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, giá trị pháp lý bắt buộc từ một sự việc, hiện tượng xã hội, những nguyên lý, phạm trù, khái niệm lý luận về pháp luật [48, tr.606] Do vậy, dù là “giúp đỡ”, “bảo trợ” hay là “hỗ trợ” cũng có thể được hiểu là “trợ giúp” Ở đây trợ giúp được hiểu là sự giúp đỡ cho ai đó đang gặp khó khăn, nhằm làm giảm bớt khó khăn về một vấn đề mà họ đang cần, cái họ đang cần ở đây là “pháp lý”
Trang 16Ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động TGPL cho người nghèo, người yếu thế đã được hình thành và phát triển từ lâu và được coi là một loại hình hoạt động thuộc chức năng xã hội của nhà nước, là một trong những yếu tố đảm bảo quyền con người trong nhà nước pháp quyền Tổ chức và hoạt động TGPL của các nước trên thế giới rất phong phú và đa dạng về mô hình tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động Sự phong phú, đa dạng đó xuất phát từ những đặc điểm riêng về điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia; về những quan niệm và cách tiếp cận giải quyết các vấn đề của TGPL như: đối tượng, phạm vi, phương thức và chi phí cho các hoạt động TGPL Mặc dù có những sự khác biệt đáng kể về cách tiếp cận và xác định nội hàm của khái niệm TGPL nhưng nhìn chung, các quan điểm đều hàm chứa tính chất chung của TGPL là hoạt động mang tính kinh tế, pháp lý, xã hội và nhân đạo
Tính kinh tế thể hiện ở khía cạnh là việc cung cấp những dịch vụ pháp lý miễn phí, nhằm giúp đỡ người khó khăn, yếu thế không có đủ khả năng tài chính, năng lực để tự mình giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật để bảo vệ lợi ích của mình trước pháp luật
Tính pháp lý của TGPL thể hiện ở chỗ giúp đỡ, hỗ trợ cho các đối tượng được TGPL để giải quyết các vụ việc có liên quan đến pháp luật như tư vấn, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật quy định
Tính xã hội và nhân đạo thể hiện ở chỗ, tạo cơ hội cho những người được TGPL có điều kiện tham gia vào các quan hệ pháp luật, thể hiện quan điểm và chính kiến của mình về các vấn đề pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích của mình một cách hợp lý, hợp pháp và chính đáng Thông qua các hoạt động TGPL và những kết quả đạt được trong quá trình đó người được TGPL sẽ cảm nhận được những giá trị của pháp luật, sức mạnh và sự công bằng của công lý, từ đó có niềm tin vào công lý và vào chính bản thân mình
Trang 17Ở Việt Nam, dưới chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ thực dân nửa phong kiến, nguyên tắc “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” chưa được xác lập, do vậy, không có cơ sở lý luận và pháp lý cho sự ra đời của TGPL Hoạt động TGPL chỉ bắt đầu được thực hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước kiểu mới, Nhà nước Dân chủ nhân dân (năm 1945) với tên gọi “tư pháp bảo trợ” gắn với quy định về bảo đảm quyền bào chữa khi “người bị can, bị cáo” không tự mình bào chữa được Nhưng các quy định này còn thiếu biện pháp bảo đảm để tổ chức thực hiện Đồng thời, do điều kiện đất nước có chiến tranh nên tồn tại không lâu Khái niệm TGPL lần đầu xuất hiện ở nước
ta từ năm 1995, khi Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng Dự án phát triển TGPL
ở Việt Nam và chính thức đưa vào văn bản pháp luật là Quyết định số 734/TTg này 6/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ
Khi Bộ Tư pháp thực hiện đề tài khoa học cấp Bộ “Mô hình tổ chức và hoạt động TGPL, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay” năm
1999 đã đưa ra khái niệm TGPL như sau: Theo nghĩa rộng, TGPL là sự giúp
đỡ của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận với các dịch vụ pháp lý (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa), nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội Theo nghĩa hẹp, TGPL là sự giúp đỡ của các tổ chức TGPL của Nhà nước cho người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận với các dịch vụ pháp lý (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa), nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội [52, tr.10]
Hướng tiếp cận này được phát triển và hoàn thiện hơn trong những năm
gần đây Theo nghĩa rộng, TGPL là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn
phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, người được hưởng chính sách
ưu đãi và một số đối tượng khác do pháp luật quy định thông qua hoạt động
Trang 18tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội Theo
nghĩa hẹp TGPL là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí của các tổ
chức TGPL của Nhà nước cho người nghèo, người được hưởng chính sách ưu đãi và một số đối tượng khác theo lĩnh vực, phạm vi trợ giúp do pháp luật quy định [53, tr.21]
Tại Điều 3 Luật TGPL năm 2006 đưa ra khái niệm TGPL như sau:
“TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL theo
quy định của luật này, giúp người được TGPL bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật” [36, tr.10]
Như vậy, trên cơ sở các quan điểm về TGPL và căn cứ vào Điều 3 Luật TGPL 2006, có thể khái niệm TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính
sách xã hội khác như sau: TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính
sách xã hội khác là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí theo quy định của Luật TGPL dưới các hình thức tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, hòa giải nhằm giúp những người này tiếp cận với các dịch vụ pháp lý, qua đó họ có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật
Về cơ bản, tôi đồng ý với khái niệm về TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác nêu trên Khái niệm này đã đề cập đến mục đích và ý nghĩa của hoạt động TGPL là sự giúp đỡ miễn phí, tạo cho mọi
Trang 19công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội Khái niệm trên cũng bao hàm tương đối đầy đủ về phạm vi, chủ thể, đối tượng của hoạt động TGPL và đã thể hiện được một cách toàn diện những thuộc tính chung, bản chất của hoạt động TGPL ở Việt Nam
1.1.2 Khái niệm người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác với tính cách là những người thụ hưởng trợ giúp pháp lý
1.1.2.1 Người nghèo
Tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do
Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan tháng 9/1993, các quốc gia trong khu vực này đưa ra
định nghĩa về nghèo đói: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không
được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” [18, tr.16]
Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội, tổ chức tại Côpenhaghen – Đan Mạch (1995) đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về
nghèo đói như sau: Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập dưới 1 USD/
ngày, là số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại
Theo đó, Ngân hàng Thế giới đã từng đưa ra chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo của các nước, dựa vào GDP hằng năm quy ra USD
Tuy nhiên, cách đánh giá này cũng chỉ mang tính tương đối và có hạn chế nhất định, bởi vì không phải bất cứ nước nào có GDP cao là hết nghèo đói
Vì vậy, ngày nay các nước trên thế giới nhất trí cho rằng, việc đánh giá mức sống của con người, việc bình xét các quốc gia thuộc loại nước giàu hay nghèo, phát triển hay đang phát triển là dựa vào chỉ số về phát triển con người
Trang 20Người nghèo luôn luôn là đối tượng được quan tâm của mỗi quốc gia vì
đó là nhóm đối tượng yếu thế của xã hội, chịu ảnh hưởng trực tiếp và đầu tiên
từ quá trình phát triển kinh tế, xã hội, quá trình biến đổi khí hậu Người nghèo luôn mang tâm lý tự ti, dè dặt và là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, luôn sống trong tâm trạng bị gạt ra bên lề và không thuộc về xã hội Họ nghĩ rằng mình ở vị trí thấp kém trong thang bậc xã hội, chẳng có quyền lực hay tiếng nói gì trong xã hội mà họ đang sống Do quá vất vả với cuộc sống mưu sinh, người nghèo không có cái nhìn dài hạn mà luôn chọn thái độ sống vì cái hiện tại, cái trước mắt, cái ăn cái mặc hàng ngày Vì vậy, tìm hiểu cuộc sống, đánh giá đúng về số lượng, mức độ nghèo sẽ giúp cho mỗi nước có những chủ trương, chính sách phù hợp để hỗ trợ người nghèo tự ổn định cuộc sống, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước
Ở Việt Nam, do chiến tranh kéo dài nên sau khi giành độc lập dân tộc và khôi phục kinh tế, cho nên mặc dù đã thực hiện chủ trương, đường lối đổi mới toàn diện về kinh tế - xã hội nhưng vào những năm cuối của thế kỷ 20, Việt Nam vẫn được xếp vào nhóm các nước nghèo trên thế giới Có một thực trạng
là đa số người nghèo (90%) lại sinh sống ở vùng nông thôn, vùng núi, vùng
Trang 21sâu, vùng xa, nơi có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, điều kiện cơ sở hạ tầng và sinh hoạt văn hoá tinh thần thấp kém, giao thông đi lại khó khăn Mức thu nhập của họ rất thấp, chủ yếu từ lao động thô sơ và nông nghiệp, kết quả khai thác nguồn lực (đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón…) hạn chế, trình độ tay nghề thấp, việc làm thiếu hoặc không
ổn định Nhiều vùng người dân còn không có cơ hội và năng lực để tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ sản xuất của Nhà nước như khuyến nông, khuyến ngư, bảo vệ động, thực vật; phần lớn hộ nghèo lại đông con nên cuộc sống bấp bênh và dễ bị tổn thương bởi bệnh tật, thiên tai (bão, lũ, lụt…) Từ chỗ nghèo đói về vật chất dẫn đến sự thua kém về địa vị xã hội, bất bình đẳng, thiệt thòi trong việc tiếp cận và hưởng lợi từ các nguồn lực xã hội Người nghèo cũng không có điều kiện tiếp cận với pháp luật, các dịch vụ pháp lý có thu phí của luật sư để giải quyết những vướng mắc, tranh chấp pháp luật nên họ thường phải “hứng chịu” những thua thiệt trong kiện tụng, đã nghèo lại càng nghèo hơn Đứng trước thực trạng đói nghèo trên, xác định tăng trưởng kinh tế luôn
đi đôi với giải quyết các vấn đề xã hội (trong đó có đói nghèo), Đảng đã kịp thời đề ra các chủ trương, chính sách và được Nhà nước ta thể chế hoá thành pháp luật nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo tiền đề xoá đói giảm nghèo và trực tiếp triển khai công cuộc xoá đói giảm nghèo Việc xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam được thực hiện toàn diện trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội từ kinh tế, y tế, văn hoá, giáo dục, pháp luật…[33]
Người nghèo ở Việt Nam được xác định dựa trên các tính toán của các
cơ quan chức năng như Tổng Cục Thống kê hay Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội Theo Tổng Cục Thống kê, chuẩn nghèo được xác định dựa trên cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới, gồm hai mức: nghèo lương thực thực phẩm và nghèo chung, để đưa ra chuẩn nghèo hợp lý, các mức chuẩn nghèo được hiệu chỉnh lại theo chỉ số giá tiêu dùng tại các thời điểm Chuẩn nghèo
Trang 221.1.2.2 Các đối tượng chính sách xã hội khác
Cùng với đối tượng người nghèo, Nhà nước luôn dành những ưu ái đặc biệt trên nhiều lĩnh vực (y tế, giáo dục, nhà ở, việc làm ) cho một số nhóm đối tượng thuộc diện chính sách xã hội khác
Khi đề cập đến chính sách xã hội thì chúng ta hiểu đó là sự tổng hợp các
phương thức, các biện pháp của Nhà nước, của Đảng và tổ chức chính trị khác nhằm thỏa mãn những nhu cầu về vật chất và tinh thần của nhân dân, phù hợp với trình độ kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Đó là sự cụ thể hóa, thể chế hóa bằng pháp luật những chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, của các
tổ chức chính trị khác dựa trên những quan điểm tư tưởng của chủ thể chính sách xã hội phù hợp với bản chất chế độ chính trị xã hội nhất định Tùy vào hoàn cảnh, điều kiện kinh tế, chính trị mà mỗi quốc gia có những chính sách
xã hội khác nhau, quy định những đối tượng được hưởng thụ và hướng đến những mục đích khác nhau
Ở Việt Nam, tại Nghị quyết IV (12- 1986) của Đảng Cộng sản Việt
Nam đã nêu rõ “Chính sách xã hội bao trùm lên mọi mặt của đời sống con
người, điều kiện lao động sinh hoạt giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc Coi nhẹ chính sách xã hội tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” Trong Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tại Văn
kiện Đại hội Đảng VII (1991) nhấn mạnh “Phương hướng của chính sách xã
hội là phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng bình đẳng
Trang 23về quyền lợi nghĩa vụ công dân, kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đáp ứng nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài, giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội” Những quan điểm trên chính là tư tưởng cơ
bản, có tính chất quyết định đối với mọi chính sách xã hội được hoạch định trong thời gian trước mắt cũng như trong chiến lược lâu dài của Việt Nam Đối tượng chính sách xã hội được hiểu theo nghĩa chung nhất là tất cả những người thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh do pháp luật quy định, được hưởng những ưu đãi nhất định từ phía nhà nước nhằm tạo điều kiện cho họ khắc phục khó khăn, đáp ứng được nhu cầu cơ bản của cuộc sống và thúc đẩy
khả năng hòa nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm đối tượng này Theo nghĩa
trên, đối tượng chính sách xã hội khác là một khái niệm rộng, bao gồm tất cả những người được hưởng chính sách ưu đãi của nhà nước trên nhiều phương diện Đó có thể là người nghèo, người có công với cách mạng; người tàn tật
và trẻ em không nơi nương tựa; người nhiễm HIV/AIDS Với mục đích giúp cho những người thuộc nhóm yếu thế này được bình đẳng và có thể đóng góp
và hòa nhập cao nhất với gia đình, cộng đồng và xã hội, giúp họ được tiếp cận với các kênh thông tin, với các hoạt động hòa giải, các vấn đề xã hội và tạo cơ hội được lựa chọn tốt hơn
Hiện nay, theo quy định tại Điều 10, Luật TGPL năm 2006; Điều 2, Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TGPL (sau đây gọi tắt là Nghị định 07/2007/NĐ-CP) và Điều 1, Nghị định 14/2013/NĐ-CP ngày 05 tháng 02 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TGPL (sau đây gọi tắt là Nghị định 14/2013/NĐ-CP) thì người thuộc diện được TGPL bao gồm người nghèo
và một số các đối tượng chính sách xã hội khác như:
Trang 24- Người có công với cách mạng: Theo quy định tại khoản 2, Điều 2,
Nghị định số 07/2007/NĐ-CP và Điều 1, Nghi định số 14/2013/NĐ-CP là người hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng; Cha, mẹ, vợ, chồng của liệt sĩ; con của liệt sĩ chưa
đủ 18 tuổi; người có công nuôi dưỡng liệt sĩ; Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng của liệt sĩ; con của liệt sĩ; người có công nuôi dưỡng liệt sĩ
Đây là những người đã có nhiều cống hiến về sức lực, tài năng, trí tuệ và
cả tính mạng của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế trong thời chiến cũng như trong thời bình, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật Phần lớn những đối tượng này gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống do bị ảnh hưởng của thương tật, suy giảm sức khoẻ và khả năng lao động (thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh), mất chỗ dựa chính trong gia đình (thân nhân liệt sĩ)… Chỉ một bộ phận nhỏ trong số họ có thu nhập tốt và ổn định Với loại đối tượng này, chính sách TGPL của Nhà nước chủ yếu thể hiện sự ưu tiên, ưu đãi, sự biết ơn đối với những cống hiến của họ chứ không căn cứ vào điều kiện thu nhập
- Người già cô đơn không nơi nương tựa: Theo khoản 3, Điều 10, Luật
TGPL và khoản 3, Điều 2, Nghị định số 07/2007/NĐ-CP xác định là những người từ 60 tuổi trở lên, sống một mình và không có người chăm sóc, phụng dưỡng Thực tiễn hiện nay còn có tranh luận về người già sống tại các trại nuôi dưỡng của Nhà nước hoặc xã hội hoặc người già có con, cháu nhưng lại
bị chính các con cháu chiếm đoạt tài sản Những người này không được coi là
Trang 25người cô đơn, họ không thuộc diện nghèo nhưng thực tế không có tài sản Đối với những trường hợp này, các tổ chức TGPL cần xem xét hoàn cảnh cụ thể của từng trường hợp để vận dụng linh hoạt
- Người tàn tật không nơi nương tựa: Theo khoản 3, Điều 10, Luật
TGPL và khoản 4, Điều 2, Nghị định số 07/2007/NĐ-CP đây là những người
bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn mà không có ai nuôi dưỡng, chăm sóc hoặc là người bị nhiễm chất độc hoá học, bị nhiễm HIV hoặc bị các bệnh khác làm mất năng lực hành vi dân sự mà không có nơi nương tựa
- Trẻ em không nơi nương tựa: Theo khoản 3, Điều 10, Luật TGPL và
khoản 5, Điều 2, Nghị định số 07/2007/NĐ-CP là người dưới 16 tuổi, không
có gia đình hoặc bị gia đình bỏ rơi, tự kiếm sống hoặc có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện
quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng
- Người dân tộc thiểu số: Theo khoản 3, Điều 10, Luật TGPL và khoản
6, Điều 2, Nghị định số 07/2007/NĐ-CP xác định là người thường xuyên sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật Hàng năm, căn cứ vào điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế Chính phủ xác định các địa phương (tỉnh, huyện, xã) là vùng khó khăn và dành những ưu đãi nhất định (trong lĩnh vực y tế, văn hoá, giáo dục )
1.1.3 Khung pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác
Căn cứ vào các văn bản pháp luật về TGPL ở Việt Nam hiện nay, chủ yếu là Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 có thể đưa ra khái niệm pháp luật về TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác như sau:
Pháp luật về TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác
Trang 26Xuất phát từ tính chất, nội dung và yêu cầu của TGPL, các quan hệ pháp luật về TGPL, thì pháp luật TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác quy định những vấn đề liên quan trực tiếp đến TGPL và đối tượng được TGPL để điều chỉnh hoạt động TGPL Mọi quy phạm pháp luật
có liên quan đến quy định về TGPL có thể được tách riêng và lập thành hệ thống pháp luật và được xem xét dưới một khung pháp luật về đối tượng này
Vì thế, đây là đặc điểm cơ bản nhất làm cho khung pháp luật đối với TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác có thể dễ nhận biết
và phân biệt với khung pháp luật về đối tượng khác
Văn bản pháp lý trong nước đầu tiên của Việt Nam ghi nhận các quy định điều chỉnh về TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác là Quyết định số 734/TTg về việc thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách Trên cơ sở của các quy định này, nhiều văn bản pháp luật quan trọng về TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác lần lượt ra đời và đã hình thành hệ thống các văn bản pháp luật ngày càng đầy đủ và cụ thể hơn Luật TGPL năm 2006 được ban hành là
cơ sở pháp lý quan trọng trong việc bảo đảm quyền được TGPL của công dân, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là bảo vệ quyền lợi cho những người dân nghèo, những người yếu thế hơn trong xã hội (người tàn tật, trẻ em ) Đến nay, chúng ta có các văn bản hướng dẫn cụ thể như sau:
Trang 27- Nghị định của Chính phủ gồm: Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật TGPL; Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 05 tháng 02 năm 2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP; Nghị định số 05/2012/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2012 sửa đổi, bổ sung một số Điều của các Nghị định về đăng ký giao dịch bảo đảm, TGPL, luật sư, tư vấn pháp luật
- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ gồm: Quyết định số 792/QĐ-TTg ngày 26 tháng 03 năm 2008 phê duyệt Đề án Quy hoạch mạng lưới Trung tâm TGPL và Chi nhánh giai đoạn 2008 – 2010, định hướng đến năm 2015; Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg ngày18 tháng 08 năm 2010 về chính sách hỗ trợ pháp lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo giai đoạn 2011 – 2020; Quyết định số 84/2008/QĐ-TTg ngày 30 tháng 06 năm 2008 về việc thành lập Quỹ TGPL Việt Nam; Quyết định 678/QĐ-TTg ngày 10 tháng 05 năm 2011 phê duyệt Chiến lược phát triển TGPL ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg Ban hành chính sách TGPL cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã nghèo giai đoạn 2013 - 2020
- Thông tư liên tịch gồm: Thông tư liên tịch số BTP ngày 24 tháng 12 năm 2012 hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan TGPL nhà nước; Thông
209/2012/TTLT-BTC-tư liên tịch số 08/2008/TTLT-BTP-BNV ngày 30 tháng 11 năm 2012 hướng dẫn về tổ chức và biên chế của Trung tâm TGPL nhà nước; Thông tư liên tịch
số 02/2008/TTLT-BTP-TWHCCBVN ngày 07 tháng 11 năm 2018 hướng dẫn xây dựng pháp luật, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, TGPL đối với Cựu chiến binh; Thông tư liên tịch số 10/2011/TTLT-BTP-TTCP ngày 06 tháng 06 năm 2011 hướng dẫn thực hiện TGPL trong việc khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính; Thông tư liên tịch số 23/2011/TTLT-
Trang 28BTP-BNV ngày 08 tháng 12 năm 2010 hướng dẫn chuyển ngạch và xếp lương đối với viên chức TGPL; Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-BTP-UBDT ngày 17 tháng 01 năm 2012 hướng dẫn thực hiện TGPL đối với người dân tộc thiểu số; Thông tư liên tịch 11/2013/TTLT/BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 04 tháng 07năm 2013 hướng dẫn về bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức cán bộ và hoạt động TGPL; Thông tư liên tịch số 24/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 17 tháng 02 năm 2014 hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg ngày 24/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách TGPL cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã nghèo, đặc biệt khó khăn giai đoạn 2013 – 2020; Thông tư liên tịch số 58/2014/TTLT-BTC-BTP ngày
08 tháng 5 năm 2014 hướng dẫn chế độ quản lý, cấp phát trang phục của trợ giúp viên pháp lý
- Thông tư của Bộ Tư pháp gồm: Thông tư số 05/2008/TT-BTP ngày 23 tháng 09 năm 2008 hướng dẫn về nghiệp vụ TGPL và quản lý nhà nước về TGPL; Thông tư số 15/2010/TT-BTP ngày 04 tháng 10 năm 2010 quy định
về tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức Trợ giúp viên pháp lý; Thông tư
số 06/2010/TT-BNV ngày 26 tháng 7 năm 2010 quy định chức danh, mã số ngạch viên chức Trợ giúp viên pháp lý; Thông tư số 19/2011/TT-BTP ngày
31 tháng 10 năm 2011 sửa đổi một số quy định về thủ tục hành chính của Thông tư số 05/2008/TT-BTP ngày 23/9/2008; Thông tư số 07/2012/TT-BTP ngày 30 tháng 7 năm 2012 hướng dẫn về cộng tác viên TGPL của Trung tâm TGPL nhà nước; Thông tư số 174/TT-BTC ngày 22 tháng 10 năm 2012 hướng dẫn quản lý tài chính đối với Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam; Thông
tư số 02/2013/TT-BTP ngày 05 tháng 01 năm 2013 ban hành Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL; Thông tư số 18/2013/TT-BTP ngày 20 tháng 11 năm 2013 hướng dẫn cách tính thời gian thực hiện và hồ sơ thanh toán chế độ bồi dưỡng vụ việc TGPL; Thông tư số 20/2013/TT-BTP ngày
Trang 2912 năm 2008 ban hành Quy chế bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý; Quyết định số 08/2008/QĐ-BTP ngày 08 tháng 12 năm 2008 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam; Quyết định số 09/2008/QĐ - BTP ngày 08 tháng 12 năm 2008 ban hành Quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý [58]
Các văn bản pháp luật này đã tạo nên khuôn khổ pháp lý cần thiết quy định về nhiều vấn đề cụ thể của công tác TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác như: Quy định về hệ thống cơ cấu tổ chức TGPL miễn phí, về lĩnh vực pháp luật được TGPL, về hình thức TGPL, về chủ thể thực hiện TGPL và các đối tượng được TGPL miễn phí
Ngoài việc tuân thủ theo những quy định của pháp luật về TGPL nói chung thì TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác còn tuân thủ theo các quy phạm pháp luật riêng biệt như Bộ luật tố tụng dân
sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật Luật sư
Đồng thời, trong quan hệ quốc tế Việt Nam đã ký kết nhiều Hiệp định tương trợ tư pháp với các nước mở ra khả năng cho các công dân Việt Nam được TGPL miễn phí ở nước ngoài và công dân nước ngoài được TGPL ở Việt
Trang 30Nam Cụ thể, Việt Nam đã ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp với nhiều nước trên thế giới như Hiệp định với Ba Lan, Bêlarút, Bungari, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, CuBa, Hungari, Lào, Liên Xô cũ (Cộng hoà liên bang Nga kế thừa), Mông Cổ, Nga, Pháp, Tiệp Khắc (Séc, Xlovakia kế thừa), Trung Quốc, Ucraina, Hàn Quốc…[51] Nội dung của các văn bản pháp luật trong nước và các điều ước quốc tế trên đây đã đóng góp một phần rất quan trọng trong việc điều chỉnh về TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách
xã hội khác có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian qua Tuy nhiên,
so với đòi hỏi thực tế của đời sống quốc tế, pháp luật của Việt Nam về vấn đề này vẫn cần được nghiên cứu để áp dụng có hiệu quả và bổ sung hoàn thiện
Có thể thấy, việc ban hành khung pháp luật về TGPL cho người nghèo
và các đối tượng chính sách xã hội khác là một yếu tố quan trọng vì thể chế đóng vai trò là nền tảng đối với hiệu quả hoạt động TGPL Nếu hệ thống pháp luật về TGPL hoàn thiện, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi, điều chỉnh toàn diện các vấn đề phát sinh về tổ chức và hoạt động TGPL Các quy định pháp luật phù hợp với yêu cầu thực tiễn, dễ hiểu, dễ vận dụng, công khai, minh bạch sẽ tạo cơ sở pháp lý để đảm bảo triển khai thực hiện có hiệu quả các hoạt động TGPL có hiệu quả và ngược lại
1.1.4 Vai trò của pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác
Thứ nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo và các đối tượng
chính sách xã hội khác tiếp cận và được cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí
Pháp luật là phương tiện để quản lý kinh tế, quản lý xã hội, đồng thời nó cũng là phương tiện để nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện công lý, công bằng xã hội Song do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan (trình độ học vấn, hiểu biết pháp luật, hoàn cảnh sống khó khăn ) nhiều người dân vẫn chưa thực sự tiếp cận được
Trang 31với pháp luật, chưa sử dụng pháp luật như một hình thức hữu hiệu và phù hợp với hoàn cảnh để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình Chính vì vậy, việc ban hành pháp luật về TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác là một yếu tố quan trọng để thực hiện mục đích trên Pháp luật về TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác là địa chỉ tin cậy, tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo và đối tượng chính sách biết và tiếp cận được với dịch vụ pháp lý miễn phí khi lợi ích của họ bị xâm phạm hoặc có nguy cơ bị xâm phạm, đồng thời, biết sử dụng pháp luật như một công cụ để bảo vệ các lợi ích đó Qua đó, giải tỏa kịp thời các vướng mắc pháp luật, hạn chế tình trạng “chuyện bé xé ra to”, “cái sảy nảy cái ung” Việc đáp ứng nhu cầu TGPL của người dân một cách kịp thời, thường xuyên còn góp phần hình thành thói quen, củng cố nếp sống và làm việc theo Hiến pháp
và pháp luật trong cộng đồng dân cư
Thứ hai, góp phần tăng cường quan hệ phối hợp với các cơ quan, ban,
ngành và tổ chức đoàn thể và tạo hành lang pháp lý, định hướng cho các quan
hệ TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác phát triển
ổn định góp phần thúc đẩy sự phát triển của hoạt động TGPL
Hoạt động TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội
khác có những đặc thù riêng do tính chất, quan hệ TGPL cho đối tượng này
đa dạng, phong phú, không chỉ là quan hệ giữa người thực hiện TGPL và đối tượng TGPL mà còn là mối quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng, các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, đơn vị liên quan, vị trí của người thực hiện TGPL, việc tham gia TGPL của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức nghề nghiệp Vì vậy, pháp luật về TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác đã có vai trò tích cực trong việc tạo xác lập, điều chỉnh các quan hệ này theo một trật tự nhất định,
Trang 32đảm bảo các quan hệ TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác phát triển ổn định
Thứ ba, pháp luật về TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách
xã hội khác thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng về TGPL, đảm bảo công bằng thực hiện dân chủ trong đời sống xã hội, đáp ứng được yêu cầu công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước
Pháp luật về TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác thực sự là công cụ pháp lý góp phần thực hiện chủ trương tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật và tạo điều kiện giúp đỡ mọi người sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, thực hiện chính sách xã hội hóa một bước trong lĩnh vực pháp luật và đề cao trách nhiệm cho Nhà nước trong việc đưa
pháp luật vào cuộc sống
1.2 Điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác ở một số nước trên thế giới
Hoạt động TGPL đã được hình thành từ khá lâu ở các nước trên thế giới,
cụ thể ở Đan Mạch và Na Uy, hệ thống TGPL được hình thành từ thế kỷ XVII, đến cuối thế kỷ XIX hình thành ở Pháp, Mỹ, còn ở Anh năm 1903, Hà Lan năm 1970, Hàn Quốc năm 1972, Trung Quốc năm 1996, ở Úc và các nước trong khu vực như Singapore, Malayxia và một số quốc gia khác, TGPL xuất hiện muộn hơn vào đầu thế kỷ XX TGPL từ góc độ điều chỉnh pháp luật cho thấy, pháp luật của nhiều nước trong cộng đồng quốc tế thừa nhận TGPL là một trong những quyền cơ bản của con người được pháp luật bảo vệ Đến nay, trên thế giới đã có trên 150 nước triển khai hoạt động TGPL, và thiết lập chế định TGPL trong hệ thống pháp luật của quốc gia
Trang 331.2.1 Mô hình tổ chức trợ giúp pháp lý của các nước trên thế giới
Quá trình nghiên cứu các văn bản pháp luật về TGPL của một số nước cho thấy, trên thế giới hiện nay tồn tại 3 loại mô hình TGPL:
1.2.1.1 Mô hình từ thiện
Mô hình này tồn tại ở giai đoạn đầu khi hình thành TGPL Đây là mô hình sơ khai nhất, hình thành sớm nhất vào giữa thế kỷ 19, chủ yếu do nhà thờ, tổ chức tôn giáo và tổ chức từ thiện thành lập hoặc quyên góp để thực hiện vụ cụ thể, nhất là trong thời kỳ nhà thờ có vai trò to lớn đối với đời sống pháp luật Sau đó, khi nghề luật sư phát triển, nhiều tổ chức luật sư làm TGPL trên cơ sở tự nguyện, không bắt buộc, mang tính chất nhân đạo, làm phúc mà không dựa trên tư duy về quyền (Đức, Ý, Anh ) [42] Trong quá trình hành nghề, khi gặp vụ việc của người có hoàn cảnh đặc biệt, các luật sư tự nguyện giúp đỡ do lòng trắc ẩn trước kẻ yếu thế, nghèo khó hoặc vì công lý, hoặc để tập sự nghề và nâng cao uy tín nghề nghiệp trong cộng đồng, tiến đến giai đoạn có sự thống nhất cao là theo quy chế đạo đức nghề nghiệp của tổ chức luật sư
Ở Việt Nam hiện nay, việc các Đoàn luật sư tự nguyện làm một số vụ việc miễn phí cho đối tượng nghèo là thuộc về phạm vi của mô hình này
1.2.1.2 Mô hình Luật sư trợ giúp được trả lương từ ngân sách Nhà nước
Đây là mô hình trợ giúp do nhà nước tài trợ Theo mô hình này cơ quan quản lý hoạt động TGPL là Uỷ ban TGPL hoạt động độc lập (không phải là cơ quan của Chính phủ) Hoạt động TGPL được thực hiện chủ yếu do đội ngũ luật
sư công và luật sư tư thực hiện Nhà nước tuyển dụng các luật sư làm việc thường xuyên cho tổ chức TGPL và trả lương cho họ theo tháng mà không trả theo vụ việc Các tổ chức TGPL được thành lập và hàng năm được Nhà nước cấp một khoản kinh phí theo dự toán và được phép sử dụng, quản lý nguồn kinh phí này một cách độc lập để thực hiện các hoạt động liên quan đến TGPL
Trang 341.2.1.3 Mô hình hỗn hợp
Mô hình TGPL hỗn hợp là mô hình có tổ chức TGPL nhà nước, TGPL của tổ chức luật sư hành nghề tự do và được Nhà nước tài trợ hoặc luật sư thực hiện theo nghĩa vụ xã hội, nhưng được ghi nhận bảo đảm thực hiện và TGPL cộng đồng Đây là một mô hình hữu hiệu và phổ biến nhất hiện nay do kết hợp được tất cả các điểm mạnh của các mô hình khác nhau Đó là sự kết hợp giữa hoạt động TGPL do tổ chức TGPL của Nhà nước (luật sư công) thực hiện và do tổ chức luật sư tư thực hiện được Nhà nước tài trợ hoặc do các luật
sư tư thực hiện trên cơ sở tự nguyện mang tính từ thiện, nhưng được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện Mô hình này được áp dụng phổ biến ở các nước như: Anh, Nhật, Hà Lan, Úc, Nam Phi, Thụy Điển, Trung Quốc
Theo mô hình này ở các nước đều có một Uỷ ban TGPL Trung ương điều hành Dưới Uỷ ban có các Ban hỗ trợ pháp lý (Thụy Điển) hoặc Văn phòng TGPL (Anh, Nam Úc) Dưới Văn phòng TGPL là Trung tâm TGPL Hoạt động TGPL chủ yếu do luật sư công (Úc, Philipine, Trung Quốc) và luật
sư tư hành nghề tự do thực hiện Đây là mô hình trợ giúp được hầu hết các nước trên thế giới và ở Việt Nam đang áp dụng [42]
Như vậy, dù theo bất kỳ mô hình nào, ở bất cứ nước nào thì đặc trưng mang tính bản chất của trợ giúp pháp lý là một loại nghề nghiệp đặc biệt vừa
mang tính chính trị pháp lý, vừa mang tính nhân đạo, từ thiện: "giúp đỡ pháp
Trang 35lý cho những người không có khả năng chi phí khi tiếp cận công lý" Hoạt
động này trở thành một trong những chức năng xã hội của bất kỳ Nhà nước nào
Qua nhận xét, đánh giá sơ bộ về các mô hình tổ chức trợ giúp pháp lý nói trên, cho thấy dù là mô hình Nhà nước, mô hình từ thiện hay mô hình hỗn hợp, thì các Luật sư hành nghề đều giữ vai trò quan trọng, nếu không muốn nói là chủ yếu trong việc thực hiện trợ giúp pháp lý Rõ ràng nếu muốn phát triển rộng rãi hoạt động trợ giúp pháp lý và bảo đảm hiệu quả, chất lượng của công việc trợ giúp thì cần phải tăng cường đội ngũ Luật sư (công và tư), thu hút ngày càng nhiều sự tham gia tích cực của các Luật sư hành nghề
Thực tiễn triển khai công tác TGPL thời gian qua ở Việt Nam và kinh nghiệm của một số quốc gia có lịch sử TGPL lâu đời cho thấy, mô hình TGPL hỗn hợp kết hợp vừa nhà nước và xã hội mà Việt Nam đã và đang thực hiện trong đó nhà nước đóng vai trò trung tâm, vừa điều phối, quản lý, vừa thực hiện TGPL là định hướng đúng đắn, mô hình này không những đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn, thể hiện đầy đủ bản chất và ý nghĩa của hoạt động TGPL với tư cách là quyền cơ bản của công dân, thấy được trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong việc thực hiện TGPL, trong đó trước hết thuộc về Nhà nước Mặt khác, huy động được mọi tiềm năng của xã hội tham gia thực hiện TGPL theo tinh thần xã hội hoá sẽ tạo ra nhiều địa chỉ để người được TGPL lựa chọn, phù hợp với các yêu cầu của cải cách hành chính Tính phù hợp của mô hình này thể hiện ở chỗ nghề luật sư ở Việt Nam chậm phát triển,
số lượng ít, phân bổ lại không đồng đều giữa các vùng, miền, các tổ chức xã hội lại hoạt động chủ yếu dựa vào sự bao cấp của ngân sách nhà nước, tính tự nguyện, tự quản, tự chủ, tự chịu trách nhiệm vẫn chưa rõ ràng Đồng thời, nó phù hợp với bản chất Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của chế độ ta và đã được áp dụng ở Việt Nam ngay từ những ngày đầu thiết lập
Trang 36hệ thống từ Trung ương đến cấp huyện tương ứng với hệ thống tổ chức Tòa án
Ở Trung ương là Trung tâm TGPL thuộc Bộ Tư pháp, Trung tâm TGPL ở cấp đặc khu, cấp tỉnh và cấp huyện Còn ở Philippine đó là Văn phòng luật sư công (Public Attorneys Officce), sau này đổi tên thành Cục Luật sư công ở Trung ương giữ vai trò nòng cốt; các Văn phòng khu vực; Văn phòng cấp quận và các Văn phòng cấp dưới trực thuộc, ngoài ra còn có Uỷ ban TGPL về đất đai thuộc
Bộ Cải cách ruộng đất Bang Québec - Canada thành lập hệ thống TGPL bao gồm: Uỷ ban TGPL; các Trung tâm TGPL ở cấp vùng và các Trung tâm TGPL
ở địa phương (dưới cấp vùng, tương đương với cấp huyện); các Văn phòng TGPL (cấp cơ sở) Còn ở Canada, Hàn Quốc, tổ chức TGPL được gọi là Cục TGPL (Legal Aid Corporation) Đối với Hà Lan thì hệ thống này bao gồm Hội đồng TGPL (Legal Aid Council - chuyên đưa ra các chính sách về TGPL và phê chuẩn đơn yêu cầu trợ giúp) và Uỷ ban TGPL (chuyên thực hiện trợ giúp),
ở Úc là Uỷ ban TGPL (Legal Aid Commision) 56
Trang 37và hoạt động cần gửi đơn xin cấp kinh phí và xin phép hoạt động đến Cục TGPL Sau khi xem xét, nếu đồng ý cho thành lập, Cục TGPL sẽ ký một bản thoả thuận với người sáng lập ra tổ chức đó, trong đó nêu rõ việc phê duyệt thành lập tổ chức, phạm vi cũng như thời gian hoạt động của tổ chức đó Trong quá trình hoạt động của các tổ chức này, Cục TGPL có thể đưa ra các hướng dẫn và tiêu chuẩn cụ thể để các tổ chức đó tuân theo Nếu các tổ chức này không tuân thủ các hướng dẫn của Cục TGPL thì Cục có thể ngừng cấp kinh phí hoặc giảm kinh phí hoạt động tuỳ theo từng trường hợp, ở Phillipne các tổ chức này gồm Trung tâm pháp luật Alterlaw, Hiệp hội luật sư là tổ chức xã hội nhưng cũng thực hiện TGPL, ở Úc có các Trung tâm pháp lý cộng đồng, Trung tâm TGPL cho thổ dân
Đối với một số nước Bắc Âu như Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan thì hệ thống tổ chức TGPL của các nước này thường gồm 2 hệ thống: Hệ thống thứ nhất hình thành từ các tổ chức tình nguyện của các tầng lớp nhân dân lao động do các Luật sư chuyên về lao động thành lập để xử lý các vụ việc về hôn nhân, nhà ở và lao động; hệ thống thứ hai do Hiệp hội Luật sư thành lập để thực hiện TGPL cho người nghèo 56
1.2.3 Đối tượng được trợ giúp pháp lý
Đối tượng được TGPL của các nước trên thế giới đều có điểm chung là những ngườinghèo không có khả năng thanh toán các chi phí khi tiếp cận với các dịch vụ pháp luật như (Canada, Hàn Quốc, Philippine, Campuchia, Thái Lan); hoặc là những đối tượng yếu thế được ưu tiên trợ giúp như: phụ nữ, vị
Trang 38có thu nhập bình quân dưới 7000 USD/năm
Đối với án hình sự, ở một số nước như Đức, Australia, Thụy Điển ở một người được TGPL miễn phí nếu người đó được Toà tuyên vô tội, còn nếu người đó bị Toà tuyên là phạm tội thì phải thanh toán toàn bộ chi phí, kể cả tiền thuê luật sư bào chữa Theo pháp luật Anh, nạn nhân của tội phạm nghiêm trọng được TGPL miễn phí, Nhà nước trả toàn bộ các khoản chi phí TGPL, còn bên phạm tội phải thanh toán toàn bộ chi phí, kể cả chi phí cho luật sư đại diện cho nạn nhân 58
Đối với án dân sự, Luật Úc quy định nếu đối tượng thua kiện thì miễn phí, nhưng nếu thắng kiện thì phải thanh toán toàn bộ chi phí hay một phần bằng tài sản do thắng kiện mang lại Luật Đức quy định nếu nguyên đơn thua kiện sẽ phải trả toàn bộ chi phí, kể cả chi phí thuê luật sư cho bị đơn Còn các đối tượng khác khi được TGPL đều phải thanh toán toàn bộ hay một phần chi phí tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của người đến xin trợ giúp Riêng đối với Nam Úc quy định đối tượng được TGPL là: người nghèo; người bị khuyết tật; người bị chịu thiệt thòi Không TGPL cho những người
có đủ điều kiện thanh toán cho việc TGPL Còn pháp luật Philipine thì quy định đối tượng là người nghèo và thổ dân
Một số nước lại xác định đối tượng TGPL là người có hoàn cảnh khó khăn (Trung Quốc; Đức); người không có điều kiện thuê mướn luật sư (Singapore) Một số nước khác xác định diện đối tượng được hưởng TGPL rất rộng bao gồm tất cả mọi công dân của nước mình (Thụy Điển; Nam Phi) Một
Trang 39số quốc gia cũng thừa nhận người nước ngoài cũng thuộc diện được TGPL (Trung Quốc, Campuchia) và một số đối tượng khác (Úc, Thái Lan, Campuchia) 43
Tuy nhiên, tất cả các nước đều xác định khi muốn được hưởng TGPL thì đối tượng phải chứng minh hoàn cảnh kinh tế của mình Hoặc chứng minh rằng
họ có đủ điều kiện để được hưởng TGPL Pháp luật Trung Quốc quy định một người có đủ điều kiện để được hưởng dịch vụ TGPL phải đáp ứng được một trong hai điều kiện: Điều kiện chung và điều kiện đặc biệt nghĩa là họ có thể ngay lập tức được hưởng TGPL theo ấn định của Toà án Đối với pháp luật Philippine thì để được hưởng TGPL miễn phí thì đối tượng phải thoả mãn hai điều kiện: Là người nghèo và vụ việc phải đáng được nhận sự giúp đỡ pháp luật Còn người Quécbec - Canada thì lại đòi hỏi đối tượng phải đáp ứng được hai điều kiện về tài chính và điều kiện về loại vụ việc cụ thể 58
1.2.4 Phạm vi trợ giúp pháp lý
Hầu hết các quốc gia đều xác định tư vấn pháp luật là một loại hình nằm trong phạm vi được TGPL (Trung Quốc, Úc, Singapo, Nam Phi…) Một số quốc gia thì lại xác định đại diện, bào chữa thuộc phạm vi trợ giúp (Trung Quốc, Mỹ, Philippine, Nam Phi ) Một số quốc gia khác lại xác định việc cung cấp thông tin tài liệu pháp luật, trung gian hoà giải, trợ giúp trong hoạt động điều tra, vào trại giam (Philipine, Nêpan), TGPL lưu động thuộc phạm
vi trợ giúp (Philipine, Úc ) Một cách khái quát có thể thấy phạm vi TGPL nói chung gồm 3 lĩnh vực: tư vấn, đại diện và bào chữa Tuy nhiên mỗi nước đều có quy định một số điều kiện để được trợ giúp
Theo pháp luật của Đức và Úc thì để được TGPL, vụ việc xin trợ giúp phải thoả mãn ba điều kiện: Tình hình tài chính của đối tượng xin trợ giúp có khó khăn; Có cơ sở cho rằng khả năng thắng kiện; Yêu cầu trợ giúp phải hợp
lý và hợp pháp Ở một số nước như ở Úc còn quy định một số loại vụ việc không được trợ giúp đó là: Các vụ việc nhỏ như cãi chửi nhau; Vụ việc dân sự
Trang 40nhỏ có giá trị dưới 5.000 đô la Úc Ở Singapore không trợ giúp đối với một
số vụ việc liên quan làm mất danh dự, nhân phẩm và liên quan đến kiến nghị bầu cử 9
1.2.5 Lĩnh vực pháp luật được trợ giúp pháp lý
Hầu hết các quốc gia có hệ thống TGPL hiện nay có một điểm chung là thực hiện TGPL trong tất cả các lĩnh vực pháp luật trừ một số vụ việc có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, thương mại bởi theo quan niệm chung, những đối tượng có tham gia quan hệ kinh doanh thương mại là những người giàu
có, đủ khả năng chi trả chi phí cho các loại hình dịch vụ pháp lý có thu phí, trong khi đó bản chất của hoạt động TGPL mang tính nhân đạo, chỉ dành cho một số đối tượng đặc biệt, có hoàn cảnh khó khăn 9
Theo pháp luật TGPL của Trung Quốc thì lĩnh vực pháp luật được TGPL bao gồm: Thủ tục hình sự; các vụ việc khiếu nại về trả cấp dưỡng, cấp dưỡng nuôi con; các vấn đề pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền của những người mù, câm điếc và những người tàn tật khác người dân tộc và người già cô đơn; các vấn đề pháp luật trong đó có khiếu nại liên quan đến việc trả tiền trợ cấp cho những người tàn tật hoặc gia đình họ hoặc chi trả phí tổn, công chứng và các vấn đề pháp lý khác khi cần thiết 43
Ở bang Quécbec – Canada, thì các lĩnh vực được TGPL bao gồm: Hình sự; vụ việc được Toà án đang và sẽ thụ lý như: hôn nhân, gia đình, nghĩa vụ cấp dưỡng, các vụ việc liên quan đến người chưa thành niên, vụ việc liên quan đến trách nhiệm dân sự trong các vụ án bắt cóc trẻ em liên vùng hoặc quốc tế, vụ việc thuộc thẩm quyền của toà án theo quy định của luật bảo vệ trẻ
em, khiếu kiện tại Toà án về quyết định hành chính của Bộ, tổ chức thuộc Bộ,
tổ chức thuộc Chính phủ về chương trình trợ cấp hoặc bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật 9