Bài giảng dành cho sinh viên y khoa, bác sĩ đa khoa, sau đại học. ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh. 1. Trình bày được nguyên nhân và triệu chứng lâm sàng của viêm kết mạc. 2. Chẩn đoán được bệnh viêm kết mạc và điều trị được viêm kết mạc thông thường 3. Hướng dẫn biện pháp phòng bệnh và phòng tránh lây lan
Trang 1VIÊM KẾT MẠC CẤP
BS Trần Kế Tổ - Bộ Môn Mắt ĐHYD TP.HCM
I Phần hành chính
1 Đối tượng giảng dạy: Sinh viên luân khoa (RHM, Y5, Chuyên
tu)
2 Thời gian: 2 tiết
3 Địa điểm giảng: Giảng đường Khoa Y – ĐHYD TP.HCM
II Mục tiêu bài giảng
1 Trình bày được nguyên nhân và triệu chứng lâm sàng của viêm kết mạc
2 Chẩn đoán được bệnh viêm kết mạc và điều trị được viêm kết mạc thông thường
3 Hướng dẫn biện pháp phòng bệnh và phòng tránh lây lan
III Nội dung bài giảng
1 Đặc điểm dịch tể học của viêm kết mạc
Viêm kết mạc là một bệnh lý thường gặp trong nhãn khoa Nguyên nhân gây bệnh có thể do vi trùng, siêu vi hoặc dị ứng Viêm kết mạc nhiễm trùng có khả năng lây lan mạnh nên có thể tạo thành dịch bệnh
2 Nguyên nhân
Về mặt giải phẫu, kết mạc là lớp nằm ngoài cùng của nhãn cầu tiếp xúc thường xuyên với môi trường bên ngoài nên rầt dễ bị lây nhiễm Nguyên nhân sinh bệnh thường gặp là do siêu vi, vi trùng, nấm và dị ứng
Viêm kết mạc do vi trùng: thường gặp là Staphylococcus epidermidis và Staphylococcus auerus Ngoài ra cũng có thể do Streptococcus pneumonia, Hemophilus influenza và Moraxella lacunata
Viêm kết mạc do siêu vi: thường là adenovirus, herpes simplex, herpes zoster, enterovirus, coxackievirus, Epstein-Barr virus…
3 Các hình thái lâm sàng của viêm kết mạc
Trang 2BỘ MÔN MẮT
Viêm kết mạc cấp có mủ
Viêm kết mạc cấp có hột
Viêm kết mạc cấp có tiết tố màng
4 Triệu chứng lâm sàng của viêm kết mạc cấp
4.1 Triệu chứng cơ năng : thường gặp nhất là đỏ mắt, không
đau và không giảm thị lực Trong trường hợp có biến chứng viêm giác mạc nặng, bệnh nhân thường than đau nhức nhẹ và
cộm xốn nhiều như có dị vật, kèm theo là mờ mắt
4.2 Chất tiết: tuỳ theo tác nhân gây bệnh mà chất tiết sẽ khác
nhau, thường gặp nhất là chất tiết nước trong, nặng hơn có thể gặp chất tiết mủ nhầy, mủ vàng, và giả mạc Đây là một trong những yếu tố giúp chẩn đoán sơ bộ tác nhân gây bệnh của
viêm kết mạc
Chất tiết trong : thường gặp trong viêm kết mạc do siêu vi, dị ứng cấp
Chất tiết nhầy : thường gặp trong viêm kết mạc dị ứng
Chất tiết mủ vàng đặc: thường gặp trong viêm kết mạc nặng
do vi trùng, vi nấm (hình 1)
Hình 1: Chất tiết mủ nhầy 4.3 Biểu hiện ở kết mạc
Phù kết mạc : thành mạch bị viêm nặng sẽ làm thoát dịch huyết tương gây ra phù kết mạc (hình 2)
Sung huyết kết mạc (hình 3): là triệu chứng rất thường gặp, không đặc hiệu tong việc xác định căn nguyên, biểu hiện qua mạch máu kết mạc dãn, ngoằn ngoèo tập trung nhiều ở kết mạc cùng đồ giúp phân biệt với cương tụ rìa trong glaucoma và viêm mống mắt thể mi – mạch máu dãn ở sâu và tập trung nhiều ở rìa giác củng mạc (hình 2)
Trang 3 Xuất huyết dưới kết mạc : thường do siêu vi như Adenovirus, Picornavirus, cũng có thể do vi trùng như Streptococcus pneumonia và Hemophilus aegyptius
Phản ứng nang (follicular reaction) : là tăng sản lympho trong nhu mô kết mạc Thường thấy ở kết mạc cùng đồ, các nang có kích kích thước từ 0.5-5mm, với vài mạch máu nhỏ vây quanh chân nang Tổn thương càng lâu dài thì kích thước nang càng lớn 4 nguyên nhân chính của
phản ứng nang là virus, mắt hột, thuốc nhỏ mắt và hội
chứng Parinaud (phản ứng nang kết mạc, hạch lympho
trước tai, dưới hàm, sốt và mệt mỏi toàn thân thường gặp trong bệnh sốt mèo cào, lao, giang mai )
Phản ứng nhú (Papillary reaction): không đặc hiệu và ít giá trị chẩn đoán hơn phản ứng nang do tăng sinh biểu mô kết mạc kèm thẩm nhuộm nhiều tế bào viêm (lymphocytes, plasma cells, oesinophils), phân biệt với phản ứng nang ở chổ nhú có mạch máu nằm ngay trung tâm và chỉ xuất hiện ở nơi biểu mô dính với tổ chức bên dưới qua màng sợi xơ như kết mạc mi (thường nhất ở kết mạc mi trên) và kết mạc nhãn cầu cạnh rìa Trong các trường hợp viêm kéo dài như trong viêm kết mạc mùa xuân, màng sợi xơ này có thể bị nứt vỡ làm cho các nhú hoà lẫn với nhau hình thành các nhú to hơn (hình 4) hoặc các nhú khổng lồ (hình 5) Phản ứng nhú có thể gặp trong
mắt hột, viêm bờ mi mãn tính, viêm kết mạc dị ứng, mang kính tiếp xúc lâu dài, viêm kết giác mạc vùng rìa
Hình 2: Phù kết mạc cùng đồ Hình 3: Sung huyết kết mạc mi trên
Trang 4BỘ MÔN MẮT
lồ
Màng ở kết mạc (hình 6)
Giả mạc : do chất tiết dính với biểu mô kết mạc bị viêm nên có thể lột đi dễ dàng mà không gây chảy máu 4 nguyên nhân chính gây giả mạc nhiễm Adenovirus nặng, lậu cầu, hội chứng Stevens-Johnson, viêm kết mạc dạng gỗ (giả mạc dạng miếng gỗ ở kết mạc mi hai mắt tái đi tái lại nhiều lần, có thể kèm giả mạc ở miệng, thực quản, khí quản, âm đạo)
Màng thật : chất tiết ngấm chặt vào biểu mô kết mạc viêm nên khi cố gắng lột sẽ gây rách biểu mô và chảy máu nhiều Nguyên nhân chính là do streptococci tán huyết bêta và bạch hầu
Hình 6: Chất tiết dạng màng 4.4 Phản ứng hạch lympho : gây sưng đau hạch trước tai hoặc
dưới hàm Nguyên nhân có thể do nhiễm siêu vi cấp,
chalmydia hoặc lậu cầu nặng, hội chứng Parinaud
5 Chẩn đoán
5.1 Chẩn đoán xác định
Cơ năng
Chất tiết ở kết mạc
Biểu hiện ở kết mạc
Phản ứng hạch lympho
Trang 55.2 Chẩn đoán phân biệt
Glôcôm cấp
- Cơ năng: Đau nhức nhiều trong mắt kèm nôn mửa và mờ mắt nhiều
- Cương tụ mạch máu ở sâu nên không đáp ứng với thuốc co mạch (cương tụ rìa)
- Nhãn áp tăng cao, phù giác mạc và giảm thị lực
Viêm mống mắt thể mi cấp
- Cơ năng: Đau nhức nhiều, sợ ánh sáng và mờ mắt
- Cương tụ rìa
- Lắng đọng sau giác mạc, dính mống và Tyndall(+)
6 Điều trị
6.1 Viêm kết mạc do vi trùng
- Bệnh có thể tự hồi phục trong vòng 1-2 tuần nếu không điều trị và trong vòng 1 tuần nếu được điều trị thích hợp
- Điều trị chủ yếu là dùng kháng sinh tại chổ (thuốc nhỏ 4-6 lần / ngày và thuốc mỡ 1 lần / đêm trước khi đi ngủ) trừ trường hợp viêm kết mạc lậu cầu (cephalosporine III chích hoặc uống) và viêm kết mạc cấp do Chlamydia trachomatis cấp tính (Doxycycline 100mg/ngày x 2 tuần hoặc tetracycline 1g /ngày hoặc Erythromycine 1g /ngày x
6 tuần)
- Nên chọn kháng sinh nhỏ mắt phổ rộng trước khi có kết quả vi trùng học và kháng sinh đồ chất tiết mủ Một số kháng sinh thường dùng hiện nay là gentamycine, tobramycine, ciprofloxacine, ofloxacine, neomycine, polymycine B, gramicidine
6.2 Viêm kết mạc do siêu vi
- Bệnh thường tự giới hạn trong vòng 12 ngày nên việc điều trị triệu chứng và nâng đỡ là chủ yếu
- Tránh dùng thuốc chống virus do không có hiệu quả
Trang 6BỘ MÔN MẮT
- Corticoides có thể làm nặng thêm tổn thương trên giác mạc nên chỉ sử dụng khi phản ứng viêm trầm trọng và đã loại trừ viêm kết mạc do herpes simplex
6.3 Viêm kết mạc dị ứng
- Hạn chế tiếp xúc với kháng nguyên
- Điều trị bằng thuốc nhỏ bền tế bào mast (nedocromil 0.1% 2 lần / ngày, lodoxamine 0.1% 4 lần/ngày) hoặc kháng histamine tại chổ (levocabastine, azelastine)
- Kháng histamine toàn thân giúp giảm triệu chứng nhanh nên có thể sử dụng trong trường hợp bệnh trầm trọng
7 Phòng bệnh
- Tuyên truyền giáo dục vấn đề giữ vệ sinh mắt
- Tránh tiếp xúc với người đang bị viêm kết mạc cấp
2 TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Giáo trình nhãn khoa 1997 – Đại học Y Dược TP.HCM
- Thực hành nhãn khoa tập 1, 2 1999 – Đại học Y Hà Nội