phẩm" in trên báo Văn nghệ tháng 12- 1986, "Thời xa vắng - Một tâm sự nóng bỏng" của Lê Thành Nghị, " Chuyện phiếm với anh Sài" của Hồng Vân, "Nghĩ về một Thời xa vắng" của Thiếu Mai, "
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐỖ THỊ THU TRANG
TIỂU THUYẾT LÊ LỰU THỜI KỲ ĐỔI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐỖ THỊ THU TRANG
TIỂU THUYẾT LÊ LỰU THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Hương
Hà Nội - 2013
Trang 3MỤC LỤC
PHầN Mở ĐầU 1
I Lí do chọn đề tài 6
II Lịch sử vấn đề 7
3 Giới hạn đề tài: 10
4 Ph-ơng pháp nghiên cứu 10
5 Đóng góp của luận văn 11
6 Kết cấu của luận văn 11
Phần nội dung 12
Ch-ơng 1: Tiểu thuyết của Lê Lựu trong bối cảnh 12
tiểu thuyết Việt Nam đ-ơng đại 12
1.1 Khái l-ợc về tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới Error! Bookmark not defined 1.1.1 Những tiền đề của cụng cuộc đổi mới văn học Việt Nam sau 1975 12 1.1.2.Khỏi lược về tiểu thuyết Việt Nam thời kỡ đổi mới 15
1.1.2.1 Những nột chung về thể loại tiểu thuyết 15
1.1.2.2 Khỏi lược về tiểu thuyết Việt Nam thời kỡ đổi mới 16
1.2 Tiểu thuyết Lờ Lựu từ sau 1975 22
1.2.1 Khỏi lược về tiểu thuyết của Lờ Lựu thời kỡ đổi mới 22
1.2.2 Những đổi mới, cỏch tõn của tiểu thuyết Lờ Lựu 26
Ch-ơng 2: Những nguồn cảm hứng chủ đạo của tiểu thuyết Lê Lựu thời kì đổi mới 28
Trang 42.1 Cảm hứng nhận thức lại lịch sử 28
2.2 Cảm hứng bi kịch 35
2.3 Cảm hứng thế sự 50
Ch-ơng 3: Nghệ thuật tiểu thuyết Lê Lựu thời kì đổi mới 69
3.1 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện 69
3.2 Nghệ thuật xây dựng không gian 76
3.2.1 Khụng gian nụng thụn nghốo khổ, tăm tối, lạc hậu 77
3.2.2 Khụng gian đụ thị ngột ngạt, bức bối 81
3.2.3 Khụng gian tõm tưởng 87
3.3 Nghệ thuật trần thuật 91
3.3.1 Điểm nhìn trần thuật 91
3.3.2 Giọng điệu trần thuật 96
3.3.3 Ngôn ngữ 101
3.5 Nghệ thuật xõy dựng nhõn vật 106
3.5.1 Nghệ thuật tạo tỡnh huống thử thỏch 106
3.5.2 Nghệ thuật miờu tả ngoại hỡnh nhõn vật 113
Phần kết luận 121
Danh mỤc Tài liệu tham khảo 124
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
1.1.Với chiến thắng vĩ đại mùa xuân 1975, dân tộc ta đã giành được độc lập, tự
do trên toàn cõi Tổ quốc thống nhất Chiến tranh kết thúc, đất nước trở về cuộc sống bình thường, lịch sử văn học bước sang một giai đoạn mới
Nếu văn học 1945 - 1975 mang đến những hình tượng con người lí tưởng, những con người " quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" thì văn học sau 1975 đến nay đã mang một diện mạo mới Hoàn cảnh thay đổi, lịch sử thay đổi thì hệ quả tất yếu là tâm
tư, tình cảm, nhận thức của con người cũng thay đổi Văn học không nằm ngoài quy luật phát triển đó Cuộc chiến đấu giành quyền sống, quyền tự do cho cả dân tộc đã kết thúc thắng lợi thì giờ đây cuộc chiến đấu giành quyền sống, quyền hạnh phúc của từng
cá nhân con người được đặt lên hàng đầu Con người với muôn vàn sự phức tạp đa chiều, nhiều phương diện đã mang đến một đòi hỏi tất yếu là văn học phải thay đổi để phản ánh nó Đây cũng chính là nguyên nhân khiến khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn của văn học giai đoạn trước 1975 mờ nhạt dần, thay vào đó là cảm hứng đời
tư, thế sự Đất nước cần được đổi mới toàn diện và sâu sắc, văn học cũng đòi hỏi như vậy Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ VI của Đảng khẳng định " Đổi mới đang là yêu cầu bức thiết", " có ý nghĩa sống còn" Đại hội Đảng lần thứ VI là một sự kiện lịch sử trọng đại đã cắm một cột mốc lớn đánh dấu sự đổi mới mạnh mẽ của nền văn học nước nhà Một phong trào nói thẳng, nói thật, những vấn đề về cuộc sống, giá trị đạo đức, ý thức
về cái tôi đã trở thành chủ đề nổi bật Những vấn đề này thể hiện rõ nét ở tất cả các thể loại văn học trong đó có tiểu thuyết
1.2 Trên dòng chuyển đổi mạnh mẽ ấy, chúng ta bắt gặp Lê Lựu - một cây bút xuất sắc, một trong những người đi tiên phong góp phần to lớn vào sự đổi mới của nền
văn học Việt Nam đương đại Trước Thời xa vắng người đọc đã biết đến Lê Lựu với
Trang 6những truyện ngắn: Trong làng nhỏ, Nguời cầm súng, Người về đồng cói và tiểu thuyết đầu tay: Mở rừng Nhưng phải đến Thời xa vắng Lê Lựu mới chính thức trở
thành một hiện tượng, trở thành trung tâm của nhiều cuộc tranh cãi, nhiều bài phê bình,
đánh giá, tìm hiểu Sau thành công vang dội của Thời xa vắng, Lê Lựu không ngủ yên trên vinh quang, ông tiếp tục cho ra đời những tác phẩm gây nhiều tiếng vang: Đại tá
không biết đùa (1989); Chuyện làng Cuội (1990); Sóng ở đáy sông (1995); Chuyện hai nhà (2000) Tất nhiên không phải tác phẩm nào cũng là đỉnh cao của văn học, nhưng
có thể khẳng định các tác phẩm trên là minh chứng cho tinh thần lao động hăng say, miệt mài, nghiêm túc và phong cách sáng tạo độc đáo của tác giả
1.3 Lê Lựu từng đoạt nhiều giải thưởng văn học cao quý như Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam Nhiều tác phẩm
nổi tiếng của ông như Thời xa vắng, Sóng ở đáy sông đã được chuyển thể điện ảnh và
tạo được tiếng vang lớn, rộng rãi trong công luận
1.4 Hành trình tiểu thuyết của Lê Lựu sau 1975 cũng phản ánh khá rõ tiến trình vận động, đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại Tìm hiểu hành trình tiểu thuyết của Lê Lựu sau 1975, do vậy cũng góp phần làm sáng tỏ những nỗ lực cách tân, thành tựu chung của tiểu thuyết và văn học Việt Nam thời kì đổi mới
Chính vì những lí do đó chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Tiểu thuyết Lê Lựu
thời kì đổi mới
II Lịch sử vấn đề
Cái tên Lê Lựu không còn xa lạ gì đối với độc giả Ông thuộc lớp nhà văn quân đội, ra đời và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước Sau hành trình sáng tác dẻo dai, Lê Lựu đã tạo dựng được phong cách riêng độc đáo, thu hút được sự quan tâm mến mộ của nhiều thế hệ công chúng
Cho đến nay đã có rất nhiều bài nghiên cứu về các tiểu thuyết của Lê Lựu như:
"Tiểu thuyết đầu tiên của một cây bút viết truyện ngắn" của Phong Vũ, "Mỗi người
phải chịu trách nhiệm về nhân cách của mình" hay "Hỏi chuyện tác giả, tìm hiểu tác
Trang 7phẩm" in trên báo Văn nghệ tháng 12- 1986, "Thời xa vắng - Một tâm sự nóng bỏng"
của Lê Thành Nghị, " Chuyện phiếm với anh Sài" của Hồng Vân, "Nghĩ về một Thời xa
vắng" của Thiếu Mai, "Nhu cầu nhận thức lại thực tại qua một Thời xa vắng" của
Nguyễn Văn Lưu, "Đọc "Thời xa vắng" của Lê Lựu" của Hoàng Ngọc Hiến, "Một đóng
góp vào việc nhận diện con người hôm nay" của Vương Trí Nhàn, ''Một giờ với nhà văn Lê Lựu" của Nguyễn Hữu Sơn, "Lê Lựu - Thời xa vắng" của Đinh Quang Tốn, "Lê Lựu - Chân dung văn học" của Trần Đăng Khoa, “Hiệu ứng Thời xa vắng” của Bảo
Ninh… Trong đó nhiều bài viết tập trung vào tiểu thuyết đặc sắc: Thời xa vắng
Trần Đăng Khoa trong Chân dung và đối thoại đã nhận xét: "Với 300 trang
sách, tiểu thuyết Thời xa vắng đã ôm chứa một dung lượng lớn Đúng là một chặng đường lịch sử oai hùng Chặng đường 30 năm, từ buổi lập nước đến lúc giải phóng toàn bộ đất nước Lịch sử được khái quát bằng tiểu thuyết, bằng số phận có thể nói là
bi thảm của anh nông dân Giang Minh Sài…" Theo Trần Đăng Khoa, Lê Lựu đã có
nhiều trang viết đạt tiêu chuẩn Nam Cao Dù khen hay chê thì hầu hết các nhà nghiên
cứu đều phải công nhận "Thời xa vắng của Lê Lựu phản ánh sinh động và chân thực
quá trình chuyển biến trong cách nhìn nhận và đánh giá lại hiện thực Sự phản ánh chân thực, sinh động cái hoàn cảnh nhào nặn nên con người đó, sự nín nhịn, nhẫn nhục và vùng vẫy cuống cuồng, những thay đổi trong tâm lí và hành động của anh ta đã được
Lê Lựu dựng lại rất sinh động, đã lôi cuốn mạnh người đọc, gợi ra những liên tưởng có
ý nghĩa xã hội mà hiện nay mọi người đang rất quan tâm Thời xa vắng phản ánh khá
sâu sắc một giai đoạn tâm lí của nông dân, giai đoạn vùng lên, hòa theo, nhập thân hoàn toàn vào đời sống của một xã hội mới"
Lê Thành Nghị với "Thời xa vắng - một tâm sự nóng bỏng", Thiếu Mai với
"Nghĩ về một Thời xa vắng", Nguyễn Văn Lưu với " Nhu cầu nhận thức lại thực tại qua một Thời xa vắng", Nguyễn Hà với " Suy tư từ một Thời xa vắng"… đều chỉ ra một
cách sâu sắc về những cách tân mới mẻ của Lê Lựu Đó chính là đã đặt ra vấn đề nhận
thức lại một Thời xa vắng - một thời yêu hộ, sống hộ, sống bằng ý nghĩ, tình cảm của
người khác
Trang 8Hoàng Ngọc Hiến và sau này là Nguyễn Thu Hằng lại nhìn thấy đề tài người nhà quê và đô thị, thấy được "người nhà quê vĩ đại" của anh cu Sài
Vương Trí Nhàn trong bài " Một đóng góp vào việc nhận diện con người hôm
nay" đã chỉ ra những đóng góp cũng như hạn chế về mặt nội dung và nghệ thuật của
nhà văn Với " Lê Lựu - Thời xa vắng", Đinh Quang Tốn lại đi khá sâu vào sự nghiệp
và hoàn cảnh sáng tác tác phẩm Còn "Chân dung và đối thoại" Trần Đăng Khoa lại chủ yếu khai thác nghệ thuật của Thời xa vắng Một số tiểu thuyết của Lê Lựu: Thời xa
vắng, Sóng ở đáy sông, Đại tá không biết đùa đã được đưa vào từ điển tác phẩm học và
đều được công chúng quan tâm, phê bình
Bài viết " Tiểu thuyết Lê Lựu thời kì đổi mới" của Đỗ Hải Ninh cũng nêu ra
được những vấn đề cơ bản của tiểu thuyết Lê Lựu thời kì đổi mới nhưng tác giả chưa đi sâu vào phân tích cụ thể và cũng chưa nghiên cứu một cách hệ thống
Xung quanh ý kiến của các nhà phê bình, nghiên cứu ta thấy được thái độ thẳng thắn và sự trân trọng của các tác giả đối với cái tâm, cái tài, cái chí của Lê Lựu Có những ý kiến khen ngợi đánh giá cao, cũng có những điểm phê bình, chỉ ra mặt còn gượng gạo, khiên cưỡng về nội dung, nghệ thuật của các tác phẩm nhưng tựu chung lại tất cả đều khẳng định khả năng viết bền, viết nghiêm túc và những đóng góp không nhỏ của Lê Lựu đối với nền văn học đổi mới Đúng như nhà nghiên cứu Đinh Quang
Tốn nhận xét: "Nếu trong tổng số 600 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, cứ 10 người
chọn lấy 1 người tiêu biểu thì Lê Lựu là 1 trong tổng số 60 nhà văn ấy Nếu về văn xuôi hiện đại, chọn lấy 30 tác phẩm thì có mặt Thời xa vắng"
Bên cạnh những bài viết của các nhà văn, nhà phê bình, nghiên cứu về Lê Lựu, còn có một số khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ đề cập đến vấn đề tiểu thuyết của
Lê Lựu
Nhìn chung, có thể thấy cho đến nay số bài viết về sáng tác của Lê Lựu rất nhiều, song chưa có công trình luận văn nào khảo sát một cách toàn diện, hệ thống tiểu thuyết của Lê Lựu Chính vì thế, trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu về Lê
Lựu, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “ Tiểu thuyết Lê Lựu thời kì đổi mới” Với đề
Trang 9tài này người viết mong muốn có một cái nhìn khái quát, toàn diện hơn về tiểu thuyết của Lê Lựu, từ đó thấy được đặc điểm tiểu thuyết của Lê Lựu thời kỳ đổi mới và những cách tân, đóng góp của nhà văn cho nền tiểu thuyết đương đại Việt Nam
3 Giới hạn đề tài
Với gần nửa thế kỉ miệt mài sáng tác, Lê Lựu đã đóng góp một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ, phong phú gồm: 9 tập truyện, 2 tập kí và 8 cuốn tiểu thuyết Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn, chúng tôi không thể tiến hành khảo sát, phân tích tất cả các sáng tác của Lê Lựu mà chỉ tập trung chủ yếu ở 4 tác phẩm tiêu biểu của nhà văn:
Ngoài ra, chúng tôi cũng khảo sát sáng tác của Lê Lựu ở các thể loại: Truyện ngắn, tạp văn… để có cơ sở so sánh, đánh giá toàn diện Đồng thời mở rộng một số tiểu thuyết của các cây bút cùng thời nhằm so sánh, làm nổi bật đặc sắc của tiểu thuyết
Lê Lựu
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
4.1 Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại
4.2 Phương pháp hệ thống, khái quát
4.3 Phương pháp so sánh
Trang 105 Đóng góp của luận văn
Luận văn cố gắng nhìn nhận, xem xét một cách toàn diện, hệ thống để khái quát những đặc điểm đặc sắc của tiểu thuyết Lê Lựu trong thời kì đổi mới trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật thể hiện Đồng thời khẳng định đóng góp đáng quý của Lê Lựu vào tiến trình đổi mới văn học nói chung và thể loại tiểu thuyết nói riêng
Qua đó, có thể làm sáng tỏ ở một phạm vi nhất định quy luật vận động, phát triển của tiểu thuyết và văn học Việt Nam thời kì đổi mới
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tiểu thuyết của Lê Lựu trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam
Trang 11PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TIỂU THUYẾT CỦA LÊ LỰU TRONG BỐI CẢNH
TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Khái lược tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới
1.1.1 Những tiền đề của công cuộc đổi mới văn học Việt Nam sau 1975
Sau chiến tranh khoảng 10 năm, đất nước có nhiều chuyển biến quan trọng Các nhà văn thuộc các thế hệ nghĩ và viết trong một bối cảnh mới Song họ vẫn chưa thoát
khỏi những yêu cầu của đoàn thể, họ vẫn phải phục vụ một “biểu tượng xã hội về chân
lí”, cái biểu tượng có tính giai cấp, tính chiến đấu, hoặc ít ra cũng có tính nhân dân và
màu sắc dân tộc đậm đà đính kèm Ít có người cầm bút nào thoát khỏi sự ảnh hưởng của ý thức hệ Cái tôi của nhà văn trước sức ép của hoàn cảnh lịch sử buộc phải mang tâm thế nâng cao trình độ chính trị để có thể “nhìn ra những công việc lớn của cách mạng”, chính nhiệm vụ chính trị và quán tính của một hình thái ý thức đã đòi hỏi nhà văn, nhà thơ tăng cường tính thời sự cho văn học, đã yêu cầu họ phải ra sức sáng tạo trên tư thế của những chiến sĩ để sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công Báo cáo của nhà thơ Hữu Thỉnh tại Hội nghị những người viết văn trẻ lần thứ ba, chỉ rõ có
ba đề tài – chủ đề lớn đang đặt ra cho người cầm bút: Chủ nghĩa xã hội, cách mạng về quan hệ sản xuất, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, lí tưởng, cách sống… của lớp thanh niên mới trong cuộc sống hôm nay Có thể tìm thấy chẳng những cách tạo hình cho xã hội
xã hội chủ nghĩa, mà còn cả những vấn đề của chiến tranh, cách mạng và lao động sản xuất trên các trang văn xuôi, thơ ca và phê bình văn học.Sự thay đổi ngữ cảnh văn hoá
Trang 12– xã hội có tính chất bước ngoặt, tác động tích cực đến giới sáng tác được đánh dấu bằng sự kiện đất nước bước vào công cuộc đổi mới toàn diện
Đầu năm 1986, Ban Bí thư ra Chỉ thị về công tác tư tưởng (15/4/1986), mở rộng dân chủ, sau đó ra Thông báo tuyên truyền trên báo chí về phê bình và tự phê bình (đợt 1: Ngày 20/5/1986, đợt 2: ngày 21/6/1986)
Cuối năm 1986, Đại hội Đảng VI được tiến hành, đánh dấu sự đổi mới của Đảng
về tư duy, nhận thức, trước hết ở quan niệm đề cao thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, phát huy tinh thần dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân, chống sức ỳ và tính bảo thủ của quan niệm cũ, mở ra một bối cảnh mới cho sự sáng tạo
Có thể nói, sự mở rộng dân chủ của xã hội đem lại cho hoạt động sáng tạo và phê bình văn chương một cơ hội lớn để điều chỉnh các quy tắc diễn ngôn Người viết
có nhiều điều kiện thuận lợi hơn trước để phát biểu chính kiến, sáng tạo văn học có nhiều khởi sắc và đạt nhiều thành tựu
Mặc dù chưa có một cuộc thảo luận rộng rãi cũng như chưa có sự tổng kết về vấn đề này, nhưng nhìn chung các nhà văn và các nhà lý luận đều có xu hướng coi thời gian từ 1986 đến 1996 là một giai đoạn đánh dấu sự đổi mới trong văn học Việt Nam hiện đại Dĩ nhiên bất cứ sự thay đổi và phát triển nào cũng đều được chuẩn bị từ trước
đó và giai đoạn văn học này cũng vậy, nó có những mầm mống, những thử nghiệm và những bài học từ nhiều năm trước, trong suốt quá trình vận động của văn học cách mạng Việt Nam, bắt đầu từ những cuộc tranh luận về văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc năm 1948 Song những tiền đề vẫn cứ là tiền đề nếu chúng không có cơ hội để phát triển
Nền tảng của mọi sự đổi mới trong văn học thời kỳ này bắt nguồn từ sự tự ý thức của nhà văn, tức là giác ngộ về vai trò của văn học trong xã hội, quan hệ giữa văn học và chính trị, ý nghĩa của văn học đối với con người Nghị quyết 05 của Bộ chính trị
Trang 13Đảng Cộng sản Việt Nam (1987) – Nghị quyết duy nhất của Bộ chính trị dành riêng cho văn nghệ từ trước tới thời điểm đó – đã mở ra một cách nhìn mới về vị trí và chức năng của văn nghệ Giờ đây văn học nghệ thuật không còn được hiểu đơn giản chỉ như
là công cụ của chính trị, là vũ khí của công tác tư tưởng, là phương tiện tuyên truyền,
giáo dục quần chúng, mà là “một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng và văn
hóa”, “là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng của con người
về chân, thiện, mỹ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân, xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội…”
Mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị được đặt ra và thảo luận công khai trên báo chí Không khí ấy giúp người cầm bút tự tin hơn trong những tìm tòi sáng tạo của mình khi viết về các vấn đề phức tạp của cuộc sống, mạnh dạn đưa ra những kiến giải riêng trước những tình huống, những sự kiện và tính cách được miêu tả trong tác phẩm
Ở đây, đặt vấn đề nhận thức lại mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị không phải là yêu cầu tách rời văn nghệ với chính trị, như một số người đã nghĩ Nhận thức này chỉ giúp nhà văn hiểu rõ hơn đặc trưng của văn học cũng như vị trí và sứ mạng riêng của người cầm bút đối với cuộc sống, khuyến cáo họ không dừng lại ở việc minh họa các khẩu hiệu, cổ vũ cho các phong trào, giúp vào việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước, mà phải miêu tả số phận của con người, mang đến cho con người cái đẹp, tình yêu cuộc sống cũng như sự từng trải, làm phong phú thêm kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân, đồng thời phải nghiên cứu những vấn đề của xã hội đang diễn ra hay đã lùi vào quá khứ, từ đó rút ra những bài học, những tư tưởng mang tính khái quát, không chỉ quan trọng về triết học, đạo đức, nhân sinh mà còn có thể mang ý nghĩa chính trị lớn lao
Trang 141.1.2 Khái lược về tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới
1.1.2.1 Những nét chung về thể loại tiểu thuyết
Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận và hiện đại Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng Không phải ngẫu nhiên mà thể loại tiểu thuyết chiếm địa vị trung tâm trong hệ thống thể loại văn học cận đại, hiện đại
Nhà văn Phạm Quỳnh trong Bàn về tiểu thuyết cho rằng: “Tiểu thuyết là một
truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội hay là những
sự lạ tích kì đủ làm cho người đọc hứng thú, hay nói cách khác, đó là một truyện bịa đặt thú vị
Tiểu thuyết có khả năng rất lớn trong việc tái hiện những bức tranh đời sống với quy mô lớn, trong đó nó chứa đựng những vấn đề sâu sắc của đời sống xã hội, con người Nghĩa là tiểu thuyết có khả năng phản ánh hiện thực một cách sinh động, khái quát cả bề rộng lẫn chiều sâu Trên thực tế, có rất nhiều nhà văn đã thành công trong sự nghiệp viết văn của mình nhờ thể loại tiểu thuyết Phương Tây có Bandắc, Stăngđan, Huygô, L.Tônxtôi… Phương Đông, mà chủ yếu là Trung Quốc có Thi Nại Am, Tào Tuyết Cần, La Quán Trung, Ngô Thừa Ân… Ở Việt Nam, thể loại tiểu thuyết cũng có sức hấp dẫn với nhiều nhà văn Các tên tuổi lớn như Nguyễn Công Hoan, Nam Cao,
Vũ Trọng Phụng… đều trưởng thành và khởi sắc từ tiểu thuyết
Cấu trúc của tiểu thuyết hết sức linh hoạt Ưu thế của thể loại không chỉ bộc lộ ở khả năng mở rộng đường biên hiện thực mà còn ở khả năng thâu tóm, dồn ép nhân vật,
sự kiện vào một khoảng không gian ngắn, thời gian hẹp… để tạo nên những bức tranh hiện thực có quy mô vừa và nhỏ Trên nền của những bức tranh đời sống đã được thu hẹp đó, nhà văn thuận lợi hơn khi đi sâu vào những cảnh ngộ riêng của nhân vật
Chúng ta sẽ bắt gặp điều này khi đến với các tác phẩm Lão Gôriô của Banzắc, Anna
Carêrina của L.Tônxtôi, Những người khốn khổ của Victo Huygô, Sống mòn của Nam
Trang 15Cao, Thời xa vắng của Lê Lựu, Thân phận tình yêu của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng của
Chu Lai…
Trong tiểu thuyết, khoảng cách giữa người kể chuyện và nhân vật được rút ngắn thậm chí bị xóa bỏ Nhà văn có thể thâm nhập, đi sâu vào tận cùng mọi ngõ ngách tâm trạng của nhân vật
Nhân vật là yếu tố tập trung nhất quan niệm của nhà văn, thể hiện quan điểm nghệ thuật, phong cách của nhà văn Chính vì vậy con người trong tiểu thuyết là những con ngựời nếm trải Đó là những con người luôn có suy nghĩ, đấu tranh, dằn vặt nội tâm và luôn suy tư trăn trở trước số phận và cuộc đời
1.1.2.2 Khái lược về tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới
Cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi, đất nước được hoàn toàn giải phóng Hoàn cảnh thay đổi, con người thay đổi do đó văn học cũng phải thay đổi để phản ánh hiện thực Từ năm 1975 đến nay, văn học Việt Nam đã trải qua 3 chặng đường phát triển:
Từ 1975 – 1985: Thời kì chuyển tiếp từ văn học sử thi mang cảm hứng lãng mạn thời chiến sang văn học thời hậu chiến
Từ 1985 đến những năm đầu thập kỉ 90: Văn học có sự chuyển đổi mạnh mẽ mang đậm màu sắc đời tư, thế sự
Từ giữa những năm 90 đến nay: Văn học hướng đến những cách tân nghệ thuật đồng thời đi sâu vào nội tâm con người
Sau 1975 đất nước thống nhất, hòa bình được lập lại, cả nước lại sôi nổi bước vào một thời kì mới xây dựng xã hội chủ nghĩa và khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh Từ cuộc sống thời chiến chuyển sang cuộc sống thời bình, với không khí mới, hoàn cảnh mới Nhịp sống khẩn trương, vội vã trong chiến tranh đã lắng lại, con người cũng trở lại với nhịp sống bình thường, trở về với đời thường cùng những nỗi lo toan thường nhật
Trang 16Quá trình đổi mới tiểu thuyết từ sau 1975 bắt đầu tương đối sớm nhưng âm
thầm truyền tải qua các tác phẩm: Miền cháy (1977) của Nguyễn Minh Châu; Cha và
con và…( 1979) của Nguyễn Khải… Có thể nói tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới
tiếp nối dòng cảm hứng sử thi của văn học giai đoạn 1945 – 1975 nhưng đã có sự đổi mới trên bình diện tư duy nghệ thuật, cảm hứng sáng tạo, kết cấu tác phẩm Tiểu thuyết giai đoạn này đã hạn chế cái nhìn lí tưởng, anh hùng hóa nhân vật Từ cảm hứng ngợi ca hào sảng các nhà văn đã đi sâu vào sự chiêm nghiệm, suy tư Thời kì này chất đời tư, thế sự lấn át hoàn toàn chất sử thi, anh hùng ca của văn học thời kì trước Văn học phát triển theo khuynh hướng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản Sự đổi mới của văn học diễn ra trên nhiều bình diện, nhiều thể loại… Trong đó thể loại tiểu thuyết được ghi nhận là một trong những thể loại có nhiều thành tựu Bầu sữa nuôi dưỡng tiểu thuyết bao giờ cũng là cuộc sống thực với tất cả sự phong phú, đa dạng và phức tạp của nó Nhưng không phải bất cứ cuộc sống nào cũng là mảnh đất thuận lợi của tiểu thuyết Thể loại văn học này đặc biệt phát triển trong những thời kì mà xã hội có biến chuyển dữ dội
Với tiểu thuyết Thời xa vắng Lê Lựu được coi như một trong những người tiên
phong trong công cuộc đổi mới này Cùng với các tên tuổi như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Bảo Ninh, Chu Lai, Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng…Lê Lựu đã góp phần tạo nên sự chuyển đổi đáng kể trong văn học nói chung, thể loại tiểu thuyết nói riêng Sự đổi mới trước hết và quan trọng là đổi mới tư duy nghệ thuật Bằng cảm quan, bằng sự nhạy cảm của người nghệ sĩ, các nhà văn đã khám phá và phản ánh những bi kịch đời thường của cá nhân con người với cảm hứng cảm
thông và phê phán mạnh mẽ Những tác phẩm tiêu biểu thời kì này như: Người đàn bà
trên chuyến tàu tốc hành (Nguyễn Minh Châu); Thời xa vắng (Lê Lựu); Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng); Thân phận tình yêu (Bảo Ninh); Ăn mày dĩ vãng (Chu
Lai); Bến không chồng (Dương Hướng) đã chứng minh điều đó
Văn học thời kì này từ chỗ thiên về phản ánh những cái tích cực, tốt đẹp chuyển sang phản ánh hiện thực trong sự vận động đa dạng, đa chiều Sự đan xen phức tạp
Trang 17giữa cái tốt và cái xấu; cái được và cái mất; cái tích cực và cái tiêu cực; bóng tối và ánh sáng trở thành nội dung phản ánh chủ yếu của văn học
Văn học còn có sự đổi mới tư duy nghệ thuật trong cách nhìn, trong quan niệm
về con người Con người được nhìn nhận trong sự toàn diện, đa chiều và đa sự Con người trong tiểu thuyết được mô tả là những thể mâu thuẫn trong thống nhất Đó là sự tổng hòa của các phạm trù tốt - xấu; cao quý - thấp hèn; mạnh mẽ - nhu nhược… Tuy nhiên, các nhà tiểu thuyết luôn gửi gắm niềm tin đối với con người và cuộc sống qua những hình tượng nghệ thuật Con người luôn vươn lên chiếm lĩnh những giá trị muôn đời của Chân, Thiện, Mĩ Con người không được tô vẽ lí tưởng hóa mà sống thật với
bản chất hiện thực Đó là những con người này như cách gọi của Hêghen
Bên cạnh sự thay đổi về tư duy nghệ thuật, văn học thời kì này còn có sự thay
đổi về cảm hứng sáng tạo Nếu trước năm 1975, cảm hứng chủ đạo trong văn học là
cảm hứng sử thi lãng mạn thì sau năm 1975 văn học đậm đặc cảm hứng đời tư, thế sự đầy suy tư, lắng đọng Văn học từ sự phản ánh cái ta, cái chung mang tính cộng đồng thì nay đã đi sâu vào nội tâm, cá nhân, cá thể Nhà văn quan tâm mô tả nỗi niềm tâm
sự, những bất hạnh, bi kịch, những hạnh phúc ngọt ngào trong cuộc sống cá nhân con người ở những không gian cụ thể Chính hiện thực cuộc sống phong phú, bề bộn, phức tạp nhiều chiều đã trở thành mảnh đất màu mỡ để tài năng các nhà văn có điều kiện nở
rộ Những số phận đầy bi kịch của con người hiện lên ám ảnh, day dứt trong sáng tác của Lê Lựu, Bảo Ninh, Chu Lai…
Đi sâu phản ánh thân phận con người, tiểu thuyết sau 1975 đã bộc lộ cảm hứng phê phán mạnh mẽ Trong sáng tác của Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Bảo Ninh, Dương Hướng… cảm hứng phê phán được biểu hiện qua việc phản ánh những kẻ thực dụng, mưu đồ, tha hóa nhân cách đạo đức, về sự hoành hành của cái ác; sự tồn tại mặc nhiên của những mối thù truyền kiếp giữa các gia đình, các dòng họ, xóm làng
Phê phán, lên án cái xấu, cái ác, lên án sự tha hóa biến chất của con người các nhà tiểu thuyết dường như tha thiết truyền tải đến mọi người lời cảnh tỉnh hãy nuôi dưỡng những giá trị nhân bản, nhân văn có ở mỗi người Hãy cứu lấy nhân cách con
Trang 18người trước khi quá muộn Không né tránh, chạy trốn thực tại, các nhà tiểu thuyết đi sâu, đón nhận và khám phá hiện thực để từ đó sáng tạo nên những hình tượng nghệ thuật chân thật, ý nghĩa nhất Nói như Nam Cao trước đó, “hãy đứng trong lao khổ, mở hồn ra để đón lấy những lao khổ ở đời…
Chiêm nghiệm, suy tư về quá khứ cũng là cảm hứng nổi bật trong tiểu thuyết thời kì này Tuy nhiên chiêm nghiệm, hồi cố không phải để thương tiếc hay lật tung lại quá khứ mà là để hướng tới những điều tốt đẹp hơn ở hiện tại và tương lai Cuộc sống quá khứ, hiện tại hay tương lai dù có nhiều khó khăn trắc trở nhưng con người luôn cố gắng vươn lên hoàn thiện chính mình, đấu tranh với hoàn cảnh để sống tốt hơn, có ý nghĩa hơn
Bên cạnh sự đổi mới về tư duy nghệ thuật, văn học thời kì này còn có sự thay
đổi mạnh mẽ về hình thức nghệ thuật Các nhà tiểu thuyết sau 1975 không chỉ có
những khám phá mới mẻ về nội dung tư tưởng mà còn có những cách tân tiêu biểu về hình thức nghệ thuật Điều này được thể hiện khá rõ qua các phương diện: kết cấu, dung lượng, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu, thời gian và không gian nghệ thuật…Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, công cuộc đổi mới này càng
có nhiều khởi sắc
Ở phương diện dung lượng, tiểu thuyết thời kì này có sự co ngắn, cô đọng Nội
dung cốt truyện có khi được triển khai linh hoạt theo đồ thị cảm xúc, suy tư của nhân vật chứ không nhất thiết phải bám vào trình tự cốt truyện 5 thành phần truyền thống
Tiêu biểu cho thể loại tiểu thuyết mang dung lượng ngắn là: Thiên sứ của Phạm Thị Hoài; Thân phận tình yêu của Bảo Ninh; Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh; Thời xa
vắng của Lê Lựu… Tuy nhiên không thể chỉ dựa vào số lượng câu chữ để đánh giá tác
phẩm Một điều dễ nhận thấy là dù co ngắn dung lượng nhưng tiểu thuyết thời kì này
đã phản ánh được hiện thực cuộc sống, số phận con người ở nhiều chiều, ở cả bề rộng
và chiều sâu Có khi cốt truyện không thể tóm tắt được; cũng có khi sự kiện chính yếu chỉ là một khoảnh khắc dằn vặt trong nội tâm nhân vật; và cũng có khi đó là sự đấu tranh của cá nhân nhân vật với chính mình, với mọi người và với hoàn cảnh
Trang 19Sự cách tân đổi mới trên bình diện dung lượng kéo theo sự đổi mới trong kết
cấu tiểu thuyết Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, đặc biệt là sau 1986 có nhiều kiểu kết
cấu đa dạng, nhiều tầng Ở đó có sự đan cài hòa quyện giữa quá khứ, hiện tại và tương lai Sự phá vỡ cấu trúc truyền thống – kiểu cấu trúc lịch sử - sự kiện và thay vào đó là kiểu cấu trúc của tâm hồn, chiêm nghiệm suy tư là đặc điểm dễ nhận thấy ở tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới Ngoài ra kiểu cấu trúc luận đề cũng được sử dụng nhiều
Trên phương diện nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng có nhiều cách tân đáng
kể Nhân vật văn học là những con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng không thể thiếu nhân vật, bởi đó là hình thức cơ bản để văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống con người, thể hiện những hiểu biết, những ước ao và kì vọng về con người Nhà văn sáng tạo nhân vật là
để thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và quan niệm về các cá nhân đó Nhân vật tiểu thuyết thời kì này mang đậm màu sắc hiện thực, gần gũi đời thường và có sức ám
ảnh lâu bền Những nhân vật như Giang Minh Sài (Thời xa vắng), Kiên (Thân phận
tình yêu), Vạn (Bến không chồng)… là những đứa con tinh thần của Lê Lựu, Bảo Ninh,
Dương Hướng… Con người trong tiểu thuyết không đơn thuần chỉ là cái loa phát thanh
tư tưởng của nhà văn mà hơn thế, chúng sinh động đầy sức sống và thật như cuộc đời
Ở đó, ta cũng bắt gặp những băn khoăn, trăn trở trong tâm hồn; những khao khát, đam
mê phồn thực…Con người nhiều khi phải đấu tranh, dằn vặt với chính mình để tìm ra
chân lí, để được sống thật với chính mình
Chính những quan niệm mới, những sáng tạo mới về nhân vật đã chi phối sự đổi
mới trong việc kiến tạo những không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật của tiểu
thuyết Việt Nam giai đoạn này Không gian và thời gian nghệ thuật là những hình thức tồn tại của thế giới Bất kì một sự miêu tả, trần thuật nào cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn biến trong một trường nhìn và ở một thời gian nhất định Sự đổi mới cách tân nghệ thuật bao giờ cũng đồng nghĩa với việc cách tân cấu trúc không – thời gian nghệ thuật Nếu văn học giai đoạn trước thời gian – không gian nghệ thuật mang tính
Trang 20tuyến tính thì sau 1975, thời gian – không gian nghệ thuật đa chiều, đa tuyến Lúc này không gian được mở rộng, nhiều tầng Không gian không phải được xây dựng bằng những chiều kích thước của toán học, mà hơn thế đó là không gian của tâm tưởng, không gian được xác lập bằng cảm xúc và cách nhìn nhận của con người Thời gian cũng vậy Đó không phải là đại lượng thời gian vật lí mà là thời gian của tình cảm, thời gian tâm lí Không – thời gian nghệ thuật trong giai đoạn văn học này không còn mang tính sử thi rộng lớn, cộng đồng nữa mà chủ yếu là những khoảng không gian nhỏ hẹp, gần gũi gắn bó với đời sống thường nhật của con người Đôi khi đó chỉ là những khoảng không vô cùng nhỏ để nhân vật trải nghiệm và tự bộc lộ mình Thời gian nghệ thuật cũng được xây dựng theo hướng tâm lí hóa, cảm xúc hóa Thời gian không bám theo trục sự kiện mà là thời gian của cảm xúc Sáng tác của Bảo Ninh, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng thể hiện rất rõ điều này
Tiểu thuyết thời kì đổi mới còn ghi nhận sự cách tân mạnh mẽ về đề tài, cảm
hứng, giọng điệu, ngôn ngữ Nếu tiểu thuyết trước 1975 ngập tràn cảm hứng lãng mạn
với giọng điệu ngợi ca, hào sảng; ngôn ngữ mang tính cộng đồng trang trọng thì sau
1975, bao trùm tiểu thuyết là cảm hứng đời tư thế sư; giọng điệu trầm tư, sâu lắng mang đậm tính chiêm nghiệm và bởi vậy ngôn ngữ mộc mạc, in đậm dấu ấn cuộc sống đời thường
Không nằm ngoài quy luật đổi mới của văn học, tiểu thuyết Lê Lựu cũng góp tiếng nói đáng kể trong việc cách tân, hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam Nhà văn đã đi sâu, thâm nhập vào tận cùng những góc cạnh của cuộc sống và tâm hồn con người để
từ đó, mỗi tác phẩm của ông là một sự trải nghiệm, đúc kết về chính con người và hiện thực Không quá lời khi nói rằng Lê Lựu là một trong những người đã đặt những viên gạch đầu tiên và miệt mài xây nên bức tường thành vững chắc, tân kỳ của tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới
Trang 211.2 Tiểu thuyết Lê Lựu từ sau 1975
1.2.1 Khái lược về tiểu thuyết của Lê Lựu thời kì đổi mới
Lê Lựu sinh ngày 12/12/1942 tại một làng ngoại đê sông Hồng thôn Mẫn Hòa,
xã Tân Châu, huyện Khoái Châu, Hưng Yên Ông sinh trưởng trong một gia đình nông dân bình thường như mọi gia đình nông dân Việt Nam vùng đồng bằng Bắc Bộ Từ
nhỏ Lê Lựu đã sống với đồng đất, quê hương “Oai oái như phủ Khoái xin tương” Quê
ông là một vùng quê nghèo, những vụ lúa thường không đủ nuôi người Có lẽ vì thế mà ông có những trang văn chân thực về cảnh nghèo, về cái đói nơi thôn quê Cái làng Hạ
Vị của ông tựa như cái làng Vũ Đại của Nam Cao Có thể nói những nhà văn chân chính bao giờ cũng tìm thấy lí tưởng và nhựa sống ở ngay trên mảnh đất nuôi dưỡng mình dù đó là sỏi đá cằn khô
Từ những năm 60, Lê Lựu rời ghế nhà trường bước vào quân đội Tại thời điểm
lúc đó phong trào “ba nhất đang hừng hực khí thế Lê Lựu từ một cậu bé ở xa phủ, xa
huyện cũng hòa mình vào không khí thi đua công - nông - binh toàn miền Bắc, làm lính thông tin rồi chuyển sang làm báo Vài năm sau chiến tranh, Lê Lựu về làm việc ở tòa soạn tạp chí Văn nghệ Quân đội trong nhiều năm Trong đời thường Lê Lựu giản đơn,
chân thực và có phần “lôi thôi, lếch thếch” Tuy nhiên ẩn sâu trong sự luộm thuộm đến
cẩu thả đó là tâm hồn sống chân thật, thẳng thắn gần gũi vô cùng với cuộc đời
Cuộc sống riêng tư của nhà văn cũng không bình lặng như mọi người mà phần nhiều là do hoàn cảnh Ông lấy vợ lần đầu ở làng quê, hai người có con chung, sau nhiều năm mới li dị được Người vợ thứ hai ở thành phố, nhưng cuộc sống cũng không bình lặng hơn Thật khó khăn khi nói ông gặp may, hạnh phúc hay không hạnh phúc trong cuộc đời Chỉ biết rằng, chính cuộc sống riêng của ông đã đem đến cho ông những trang viết giá trị
Bước vào làng văn Việt Nam, người đọc biết đến ông qua những sáng tác: Tết
làng Mụa (Văn nghệ quân đội 2/ 1964); Những người ở lại hậu phương (Văn nghệ quân đội 5/1964); Gan góc Bạch Long Vĩ (Văn nghệ quân đội 7/1965); Các chiến sĩ tí hon (Văn nghệ 1967)…Đặc biệt Người cầm súng đã đạt giải nhì cuộc thi truyện ngắn
Trang 22do báo Văn nghệ tổ chức năm 1967 – 1968 Người đọc lúc này mới thực sự chú ý đến nhà văn Lê Lựu Tiếp nối mạch chảy này, Lê Lựu tiếp tục cho ra các tác phẩm Phía
trước mặt trời, Truyện kể từ đêm hôm trước và đến Người về đồng cói thì cái tên Lê
Lựu đã trở nên gần gũi với độc giả Trần Đăng Khoa đã nhận xét: “Đến truyện ngắn
Người về đồng cói Lê Lựu đã có mùi tiểu thuyết, người đọc biết đây sẽ là nhà tiểu thuyết có tài”
Năm 1972, Lê Lựu đi Trường Sơn và bắt đầu viết Mở rừng Đây là cuốn tiểu
thuyết đầu tay của Lê Lựu và cũng là cuốn tiểu thuyết tiêu biểu cho đề tài chiến tranh
và người lính cách mạng Mở rừng trực tiếp viết về cuộc chiến tranh với cái nhìn đa
chiều không đơn giản Nhà văn đề cập đến số phận của một lớp người trong cuộc chiến tranh oai hùng và bi thảm (Đại tá Quang Văn, Vũ, Ngà) Lê Lựu cũng dựng lên bức tranh nông thôn mà ở đó có những người mẹ, người em đang ngày đêm vừa lao động sản xuất, vừa vững lòng tin vào những người đi xa Đó là những con ngưòi nguyện cống hiến hết mình cho dân tộc Tuy nhiên, cuộc đời, số phận mỗi người lại có một điểm riêng Số phận, cuộc đời mỗi cá nhân tựa như một mảnh rừng âm u, mù mịt Tự
họ, họ phải đấu tranh, phải mở lối, tìm đường đi cho chính mình Nói cách khác, họ
phải tự mở rừng “Muốn giành được thắng lợi phải tự mở lấy một con đường mới Dân
tộc mình cũng vậy, muốn phát triển phải tự tìm lấy lối đi Đối với cuộc đời mỗi con người cũng phải thế” [ 77,449]
Năm 1979, cuốn tiểu thuyết thứ hai Ranh giới đã ra đời Tác phẩm viết về sự lựa
chọn của con người trước sự kiện đất nước thống nhất năm 1975 Nhà nghiên cứu Bích
Thu nhận định: “Với Ranh giới, Lê Lựu đã đi vào đề tài mới, một lối viết mới nhưng
chưa hẳn là một bước tiến mới của anh đối với thể loại này” [110,102]
Bước vào thời hậu chiến, con người phải đối mặt với biết bao đổi thay, bao sự lựa chọn về cách sống, lí tưởng Phải sống như thế nào? Thay đổi như thế nào để vượt lên trên hoàn cảnh? Nuối tiếc về quá khứ, về một thời đã xa liệu có phải là sự lựa chọn đúng đắn? Tất cả những trăn trở, suy tư đó được tác giả hun đúc, gửi gắm trong tác
phẩm Thời xa vắng Cuốn tiểu thuyết giành được giải thưởng của Hội nhà văn Việt
Trang 23Nam và nhanh chóng chiếm lĩnh được lượng độc giả đông đảo Bộ phim Thời xa vắng
được dàn dựng, khởi chiếu một lần nữa minh chứng cho giá trị của tác phẩm Không
những thế, Thời xa vắng đã tạo nên một hiện tượng văn học sôi nổi lúc bấy giờ Tác
phẩm đã phản ánh một dung lượng hiện thực lớn - chặng đường lịch sử từ sau Cách mạng đến đầu những năm 80 của thế kỉ XX Cuốn tiểu thuyết viết về cuộc đời Giang Minh Sài - một bi kịch cá nhân Những điều Lê Lựu đề cập đến trong tác phẩm không phải là những vấn đề to tát về lịch sử, xã hội mà đơn giản chỉ là câu chuyện đời thường
về những số phận người không khó gặp trong xã hội Thành công vang dội của cuốn tiểu thuyết này là việc Lê Lựu đã nói lên được những vấn đề của cuộc sống hàng ngày, những mối quan hệ trong gia đình, xã hội - điều mà bấy lâu nay, chúng ta tạm thời quên đi, tạm thời gác lại để dồn tâm vào cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại
Tái hiện chân thực hiện thực của một thời kì lịch sử, Lê Lựu không đơn thuần là đào sâu quá khứ, khơi sâu bi kịch của con người mà hơn thế ông đã bày tỏ một quan niệm tích cực là phải đoạn tuyệt với cái cũ lạc hậu, kìm hãm sự phát triển tích cực của con người Đồng thời tác phẩm đề cập đến mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, đề cao sự trân trọng những khát khao cá nhân; Con người phải sống bắt kịp thời đại, hòa nhập với thời đại nhưng không sa ngã, thoái hóa trước thời đại
Năm 1990 Lê Lựu trình làng cuốn tiểu thuyết Chuyện làng Cuội Có thể khẳng định Chuyện làng Cuội là một chuỗi sự phê phán có tính hệ thống ra đời mà theo Trần Đăng Khoa tác phẩm là “đứa con bất hiếu của ông bố nhân từ” Câu chuyện viết về
công cuộc cải cách ruộng đất với những người cán bộ tha hóa, dần trở thành những kẻ lưu manh, giả dối, lừa lọc mọi người Cuốn tiểu thuyết đã gây nên một hiện tượng phê
bình mạnh mẽ với hai luồng ý kiến khen - chê rõ rệt Có ý kiến cho rằng đó là: “sự kém
bản lĩnh của một mụ phù thủy non tay ấn trước những âm binh mà mình dựng nên”; Có
người lại nhận định tác phẩm là: “một cách nhìn bối rối đến định kiến đôi chỗ u uất và
cay nghiệt, một sự chao đảo trong bối cảnh xã hội phức tạp, biến động” Cuốn tiểu
thuyết có lẽ chưa đạt được hiệu quả như nhà văn mong muốn Nó mới chỉ dừng lại ở ý
Trang 24tưởng chất liệu, cốt chuyện còn nhân vật mang tính phóng bút, ngôn ngữ dàn trải, phong cách truyện mang đậm màu sắc tự nhiên chủ nghĩa
Sau cuốn tiểu thuyết nhiều vấn đề này, năm 1995, Lê Lựu ra mắt bạn đọc tác
phẩm Sóng ở đáy sông Nếu Thời xa vắng là cuộc đời bế tắc, lạc lõng, khuôn phép giáo điều của anh bộ đội Giang Minh Sài thì Sóng ở đáy sông là sự bất hạnh đến tha hóa rồi hoàn lương của “tên giang hồ” Phạm Quang Núi Cuốn tiểu thuyết đã dựng nên những
mâu thuẫn trong gia đình để từ đó làm cơ sở vững chắc cho những mâu thuẫn trong xã hội Khi gia đình không có tình thương yêu và trách nhiệm làm nền tảng thì những đứa con như Núi sẽ bị ném ra lăn lộn, mưu sinh với đời Một đứa trẻ thiếu sự chăm sóc của
mẹ, thừa sự lạnh lùng, vô tâm của cha thì tất yếu đứa trẻ đó sẽ tha hóa Cách duy nhất
để cảm hóa chúng là tình yêu thương của đồng loại, là sự giáo dục về nhân cách, lí tưởng và mục đích sống đúng đắn của xã hội Đây cũng là cuốn tiểu thuyết thành công của Lê Lựu Tác phẩm không những nhận được sự hoan nghênh của độc giả mà với
mười tập phim truyền hình Sóng ở đáy sông cho thấy tài năng và bản lĩnh cầm bút của
Lê Lựu
Sau Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội và Sóng ở đáy sông, năm 2000 Lê Lựu trình làng Hai nhà mà theo nhận xét của nhiều người tác phẩm là tập hai của Thời xa
vắng Điều nổi bật trong cuốn tiểu thuyết này là những vấn đề tưởng chừng nhỏ nhặt
như tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc gia đình lại có sức ám ảnh day dứt người đọc Tác giả đi thẳng trực tiếp vào vấn đề, lên án thói vô cảm, vô trách nhiệm và sự bản năng trong cuộc sống gia đình Đây cũng là bài học xương máu cho mỗi người trong việc tìm kiếm và gìn giữ tình cảm gia đình, xóm làng, bạn hữu…
Ngoài sở trường truyện ngắn và tiểu thuyết, Lê Lựu còn có hai tác phẩm kí nổi
bật: Một thời lầm lỗi (1988) và Trở lại nước Mỹ (1989) Với gần nửa thế kỉ cầm bút,
vừa làm báo vừa sáng tác văn học, Lê Lựu đã để lại một số lượng tác phẩm phong phú:
9 tập truyện, 2 tập kí và 7 tiểu thuyết Mặc dù số lượng tác phẩm chưa đồ sộ nhưng các sáng tác của Lê Lựu đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc cách tân diện mạo mới của tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới
Trang 25Quá trình sáng tác liên tục, miệt mài không mệt mỏi của Lê Lựu đã cho thấy cái tâm và cái tài của người cầm bút Xông xáo, hăm hở hòa nhập với mọi sự đổi thay của cuộc đời để từ đó phác họa nên những bức chân dung con người, xã hội thời kì mới với biết bao mối quan hệ đa chiều, phức tạp, với biết bao thói quen truyền thống cần được nhìn nhận lại Tiểu thuyết Lê Lựu thời kì đổi mới ẩn chứa nhiều tầng, nhiều mảng hiện thực Thông qua những số phận nhân vật cụ thể, nhà văn đã mạnh dạn chỉ ra những hạn chế về phương diện xã hội cần được khắc phục, bởi đó là hàng rào ngăn cản hành trình
đi tìm ước mơ của con người Nhìn về quá khứ, tái hiện lịch sử nhưng không mang tính chất bi quan, yếm thế Sáng tác của Lê Lựu giúp con người có cơ sở đề nhìn nhận, đánh giá hiện thực cuộc sống bởi đó là những tác phẩm được viết nên từ sự chân thực,
sự trải nghiệm sâu sắc của chính nhà văn Đúng như Lê Lựu từng nói: “Tôi là người
không biết bịa chuyện mà chỉ là người chép chuyện và kể ra những gì mình từng chứng kiến mà thôi”
1.2.2 Những đổi mới, cách tân của tiểu thuyết Lê Lựu
Thực tiễn đổi mới trong hai thập kỉ qua đã thổi vào văn học luồng gió mới Cùng thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, cuộc gặp gỡ giữa Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với giới văn nghệ sĩ là yếu tố vô cùng quan trọng thúc đẩy quá trình đổi mới văn học Hòa cùng sự đổi mới chung của văn học, sáng tác của Lê Lựu có những cách tân chủ yếu trên hai phương diện đó là quan niệm về hiện thực và quan niệm về con người Chính sự cách tân này đã đóng góp to lớn vào việc nhận diện con người và hiện thực trong thời đại mới
Trước hết là sự đổi mới quan niệm hiện thực của nhà văn Trước năm 1975,
hiện thực được thể hiện trong các sáng tác văn học là hiện thực mang màu sắc chính trị
rộng lớn Sau năm 1975, văn học hưởng ứng chủ trương: “Đổi mới tư duy, nhìn thẳng
vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” (Báo cáo chính trị Ban Chấp hành
Trung ương - Đại hội Đảng VI) Quan niệm về hiện thực của nhà văn cũng từ đó có sự thay đổi Hiện thực được thể hiện không đơn giản xuôi chiều như trước mà đa dạng,
Trang 26phong phú và được soi chiếu từ nhiều chiều: cá nhân, cộng đồng, tập thể… Điều này được thể hiện ở quá trình mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực Từ một hiện thực bị giới hạn trong phạm vi bị chi phối của hệ thống đề tài có định hướng đến một hiện thực toàn vẹn hơn với sự phong phú, đa dạng, Lê Lựu không đứng ở bên lề để nhìn cuộc sống mà dũng cảm xông thẳng vào thực tại để hối hả, miệt mài tái hiện lại mọi biến động tinh vi, phức tạp của cuộc sống đương thời
Trong quan niệm của Lê Lựu, hiện thực cuộc sống muôn màu, muôn vẻ với biết bao sự bộn bề, âu lo, đa thanh, phức điệu Tất cả được tác giả soi xét, nghiền ngẫm ở nhiều tầng quan hệ song nó không phải là mục đích phản ánh mà chính là phương tiện
để nhà văn trình bày những suy tư, những khắc khoải về cái làm nên sự sống đó là con
người
Đổi mới quan niệm về con người Văn học 1945 – 1975 với cảm hứng sử thi,
văn học chủ yếu quan tâm đến con người cộng đồng trong vai trò xã hội, trong tư cách
là động lực cách mạng Sau 1975, cùng với hiện thực đa chiều, quan niệm về con người cũng đa diện hơn Con người được xem xét trong mọi mối quan hệ với xã hội, cộng đồng, gia đình… Con người được khám phá không chỉ ở bề ngoài mà cả nội tâm bên trong Nền văn học mới đã cởi trói cho nhà văn, cho những cảm hứng sáng tạo mới, cảm hứng thế sự của con người Văn xuôi những năm gần đây đã chú ý đến con người
cá nhân với cảm hứng thế sự đời tư Con người tự nhận thức về mình với mọi cung bậc tình cảm, cảm xúc, mọi biến động tinh vi của tâm hồn Văn xuôi những năm gần đây
đã chú ý đến con người cá nhân, đặt con người là trung tâm tác phẩm Con người với
tư cách là một cá thể, một thành viên của xã hội, con người của đời thường
Lê Lựu đã đưa người đọc đến với cái nhìn không đơn giản về con người Họ có thể chỉ là những người lao động quanh năm bới đất lật cỏ, nhọc nhằn kiếm ăn Họ cũng
có thể là những trí thức với những ước mơ sự nghiệp, những tất bật lo toan trong cuộc sống thường ngày hay có thể là những tên tội phạm, những kẻ sống bên rìa xã hội… Và quan trọng, ta không thể đơn thuần phê phán hoặc ca ngợi bất cứ một cá nhân nào vì trong họ tồn tại cả những mặt xấu và tốt, mặt tích cực và tiêu cực Đặc biệt, khi viết về
Trang 27con người Lê Lựu có xu hướng đi sâu khai thác những mảng tối, phần chưa hoàn thiện trong con người nhằm mục đích đưa con người dần tới giá trị Chân - Thiện - Mỹ
Sự đổi mới hai quan niệm nghệ thuật cơ bản trên đã dẫn đến những hệ quả tất yếu của sự đổi mới nội dung tác phẩm và nghệ thuật biểu hiện Có thể khẳng định, tiểu thuyết Lê Lựu góp phần quan trọng trong việc mở màn, đi đầu xung kích cho văn học thời kì đổi mới Văn chương Lê Lựu là lá cờ đầu trong công cuộc đổi mới, hiện đại hóa, cách tân hóa văn học từ sau 1975 đến nay
CHƯƠNG 2: NHỮNG NGUỒN CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO CỦA TIỂU THUYẾT LÊ
LỰU THỜI KÌ ĐỔI MỚI
2.1 Cảm hứng nhận thức lại lịch sử
Cảm hứng “nhận thức lại lịch sử” là cảm hứng văn học xuất phát từ nhu cầu tái hiện lại những vấn đề quan trọng của lịch sử mà tầm ảnh hưởng của nó sâu rộng đến cả
những giai đoạn lịch sử sau này Khuynh hướng này có phần gần với cảm hứng phản
tư trong tiểu thuyết Trung Quốc thời kỳ cải cách với Một nửa đàn ông là đàn bà của
Trương Hiền Lượng, Nôn nóng của Giả Bình Ao, Báu vật của đời của Mạc Ngôn,
Trường hận ca của Vương An Ức Các nhà văn Trung Quốc đã nhìn nhận lại hàng
loạt vấn đề đau lòng, những bi kịch đầy nước mắt trong thời kỳ cách mạng văn hóa Ở Việt Nam, cảm hứng nhận thức lại quá khứ cũng phần nào thể hiện tinh thần nhận chân lại các giá trị đời sống bằng cái nhìn mới mẻ, thể hiện những suy tư của nhà văn về số phận con người trong sự va đập của các biến cố đời sống và các sự kiện lịch sử Tình cảnh của nông thôn và số phận của người nông dân cũng được miêu tả một cách chân
thực qua Chuyện làng Cuội, Mảnh đất lắm người nhiều ma Trong những tác phẩm
này cái ác, cái xấu có mặt khắp nơi, thả sức hoành hoành và nhiều người hành động như những kẻ cuồng tín Sự ấu trĩ trong nhận thức, sự hạn hẹp về tầm nhìn của một số cán bộ có chức có quyền đã khiến biết bao gia đình tan nát, bao số phận dang dở Nhìn chung, các nhà tiểu thuyết đã dựng lại bi kịch của một thời, nhưng thông qua những tấn
Trang 28bi kịch nhiều khi cười ra nước mắt ấy chúng ta sẽ từ giã quá khứ một cách dứt khoát để hướng tới một tương lai tốt đẹp giàu tính nhân bản hơn
Ngay khi Thời xa vắng ra đời, nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến khuynh
hướng nhận thức lại hiện thực trong tác phẩm Có thể nói rằng, với văn học thời kì đổi mới, Lê Lựu là một trong những người đầu tiên nhìn nhận hiện thực đời sống xã hội một cách tỉnh táo và khách quan Để cắt nghĩa, lý giải hiện thực, nhà văn đi sâu phân tích đời sống tinh thần con người, chỉ ra những tồn tại trong ý thức hệ tư tưởng Các tiểu thuyết của Lê Lựu cho thấy sự phản ứng đối với quan niệm duy ý chí một thời, cái thời mà với lối tư duy bảo thủ và thói vị kỷ, những kẻ nhân danh gia đình, đoàn thể có thể áp đặt suy nghĩ của mình cho người khác Lê Lựu nhận thức rất rõ điều đó và ông
tỏ thái độ phản ứng khá mạnh mẽ qua việc tái hiện mâu thuẫn giữa các thế hệ Trong
Thời xa vắng, cuộc đời Sài đã chịu sự áp đặt một cách phi lý bởi những quan niệm,
niềm tin của người khác Hồi nhỏ, Sài phải lấy vợ theo sự sắp đặt của cha mẹ Một đứa trẻ đang trong tuổi chỉ biết ăn và chơi trận giả, bỗng chốc vì sự toan tính của người lớn
mà thành ra có vợ Cuộc sống gia đình, khái niệm làm chồng với Sài là một cái gì đó vừa mơ hồ xa xôi vừa vô cùng kinh khủng Sài sợ hãi và ghét vợ vô cùng Cứ thấy Tuyết ở đâu là Sài chạy vội đi chỗ khác Sự phản kháng tự phát vô ý thức của một đứa trẻ dường như là sự báo hiệu cho quãng đời nhọc nhằn gồ ghề sau này của nhân vật Lớn lên, dù đã ý thức được tình cảm của mình nhưng Sài không được bỏ vợ vì chú Hà
và anh Tính là những cán bộ xã, cán bộ huyện, bản thân Sài cũng là liên đội trưởng, phải gương mẫu “không được bỏ vợ” Sợ mất danh tiếng, ảnh hưởng đến uy tín gia đình, dù thâm tâm muốn tốt cho Sài nhưng các bậc cha chú đã buộc anh phải theo lối nghĩ của họ Sài nảy sinh tình cảm với Hương, cô bạn cùng lớp nhưng chính sự dè bỉu của dư luận, sự áp đặt của gia đình đã ép chặt tình yêu chân chính của Sài xuống tận sâu đáy lòng Khi Sài đi bộ đội, một sự chạy trốn hiện thực, theo sự chỉ đạo của tổ chức, anh phải “kiên quyết cắt đứt quan hệ với người mình yêu để “thực sự yêu vợ” Cái tổ tam tam, rồi đồng chí chính ủy, chỉ huy đại đội… là hiện thân của xã hội, của
Trang 29lịch sử một thời đã kìm hãm, gò bó ước mơ, tình cảm của Sài Có lẽ, chỉ với tiểu thuyết
Lê Lựu, người đọc mới cảm nhận được sự gò bó, chỉ đạo cả tình cảm của con người Việc Sài lấy vợ, yêu ai, ghét ai cũng phải có chỉ thị của cả một tập đoàn người phía trên Sài không khác gì con rối trong tay của những người xung quanh Bản thân Sài cũng ấu trĩ, kém bản lĩnh và không quyết đoán nên mới để số phận của mình cho người khác định đoạt
Sau này, khi đã có quyền tự quyết cuộc đời mình thì Sài lại trở nên vô cùng lơ ngơ, lóng ngóng trong thế giới hiện tại Sài là một anh nhà quê chính gốc, sau chiến tranh ra thành phố sinh sống Sài ở giữa thành thị mà không hiểu thành thị là gì? Con người chốn đô thành như thế nào? Rơi vào vòng vây tình ái của Châu, Sài choáng ngợp trong men say của một thứ tình yêu vội vàng hấp tấp để rồi sau này, Sài bước ra khỏi cuộc hôn nhân với Tuyết để nhón chân bước tiếp vào cuộc hôn nhân bi kịch với Châu Bi kịch của Sài một phần do hoàn cảnh, xã hội gây nên và một phần cũng do chính anh gây nên Giá như Sài bản lĩnh hơn, dám đấu tranh cho tình yêu và hạnh phúc chân chính của đời mình; dám làm tất cả vì người mình yêu, dám sống thật với lòng mình thì
có lẽ bước sang dốc bên kia của cuộc đời Sài đã không phải ngậm ngùi ôm thất bại Đọc tác phẩm chúng ta có cảm giác Lê Lựu như bênh vực Sài Không phải như vậy Lê Lựu phê phán những dư luận, những hoàn cảnh đã tạo nên một Giang Minh Sài như vậy, đồng thời tác giả cũng phê phán cả nhân cách của Sài trong cuộc sống Lê Lựu khẳng định chính Sài là người phải chịu trách nhiệm về nhân cách của mình, về hành động, về cuộc đời mình nhưng ngòi bút của ông lại ưu ái, nâng đỡ Sài như muốn nói với Sài rằng cuộc đời tuy vất vả nhưng vẫn còn ở phía trước, chỉ có dũng cảm chấp nhận cuộc sống, vượt lên trên mọi hoàn cảnh thì mới tìm ra chân giá trị của mình Qua
Thời xa vắng, Lê Lựu muốn gửi gắm tâm sự của mình với cuộc sống: Con người với
những dư luận, chớ đẩy con người vào những hoàn cảnh éo le, nhưng cũng vẫn con người, khi gặp hoàn cảnh nghiệt ngã, éo le phải dũng cảm mà sống Chính vì vậy, ngòi bút của Lê Lựu lúc gay gắt phê phán, khi nhân hậu thiết tha nâng đỡ con người
Trang 30Nhân vật ông Đại, người bố của Núi trong Sóng ở đáy sông là nhân vật điển hình
của sự vô tâm, bảo thủ đến tàn nhẫn, đến chết vẫn không thay đổi cách nghĩ về đứa con
của mình Lạnh lùng và vô cảm, không chấp nhận đứa con mắc lỗi, đứa con “loại hai”,
ông dồn nó vào tình thế phải tự kiếm sống Ông đẩy trách nhiệm giáo dục con cho xã hội, chuẩn bị mọi tình huống để không ai có thể chê trách, pháp luật không thể ràng buộc, nhưng đó là cách ứng xử phi nhân tính Trong khi cả xã hội dang rộng vòng tay cứu vớt Núi, cho Núi hết cơ hội này đến cơ hội khác để làm lại cuộc đời thì ông Đại bố Núi cả đời chỉ cho anh đúng một cơ hội - cơ hội để làm lưu manh, đầu trộm, đuôi cướp Giá như ông sống có trách nhiệm, có tình người, biết tha thứ cho những lỗi lầm của đứa con trai non dại thì có lẽ xã hội sẽ bớt đi một tên ăn trộm, nhà tù sẽ bớt đi một tên tội phạm, những đứa trẻ sẽ bớt đi thiệt thòi Núi đã rất nhiều lần van xin ông Đại cho mình cơ hội được lương thiện nhưng người bố nhẫn tâm, tàn nhẫn đó quyết tâm lìa bỏ anh, quyết tâm giao phó anh cho xã hội Núi là đứa trẻ thiếu tình thương của mẹ và thừa sự vô tâm, bất nhân của cha nên với anh thời gian ở tù nhiều hơn ở nhà Những ung nhọt trong cách nghĩ, trong hành động của lớp trí thức trưởng giả như ông Đại; những suy nghĩ cổ hủ, lạc hậu của người nông dân ở quê mẹ đã triệt mọi đường sống của Núi Những tưởng vào tù là sự trả giá cho những sai lầm của Núi thì cuối cùng, nhà
tù lại là nơi cảm hóa, hồi sinh ra Núi Đến đây có thể khẳng định tình yêu thương và niềm tin chân thành có sức mạnh gấp nghìn lần những lề lối gia trưởng, nguyên tắc cực đoan, cứng nhắc Trong khi bố ruột nhẫn tâm đẩy con mình ra đường thành lưu manh thì anh công an phường, bà tổ trưởng tổ nước sôi, chị quản giáo trại giam, bạn tù… lại dang rộng vòng tay đón Núi hoàn lương Đứa con trai, kết quả của mối tình vụng dại giữa Núi và người cô họ bảy đời bị người làng ngăn cản đã là nguồn động lực chính giúp Núi có thêm nghị lực và niềm tin làm lại cuộc đời khi đã bước sang cái dốc bên kia của đời người Một lần nữa Lê Lựu dóng lên hồi chuông cảnh tỉnh những người làm cha làm mẹ Hãy đặt trách nhiệm, tương lai của con cái lên hàng đầu Những đứa trẻ sinh ra có quyền được hưởng hạnh phúc và sự yêu thương, dạy bảo của người lớn Tình yêu thương và trách nhiệm là sợi dây màu nhiệm gắn kết con người với nhau
Trang 31Có thể khẳng định trong tiểu thuyết Lê Lựu, những nhân vật quyền huynh thế phụ
ấy đại diện cho ý chí một thời, thời mà ý thức cá nhân bao giờ cũng được đặt sau tinh thần tập thể Cá thể không được phép tồn tại mà chỉ có hoạt động của “tổ tam tam”, đoàn thể, hợp tác xã, cộng đồng ở đó có những con người chỉ tôn sùng ý chí, dùng ý chí chủ quan áp đặt người khác, không cho phép ai vượt khỏi “cái khuôn đã đúc sẵn” Chủ nghĩa duy ý chí đã triệt tiêu bao nhiêu khát vọng chính đáng của con người Điều này thực ra không phải chỉ có trong tiểu thuyết Lê Lựu mà còn được nói tới trong nhiều
tác phẩm khác cùng thời Qua nhân vật Bời (Phiên chợ Giát) Nguyễn Minh Châu cũng
đã ý thức sâu sắc hậu quả của quan niệm duy ý chí Ông chủ tịch “toàn nghĩ những
việc to tát vĩ đại”, say sưa với lý luận về “hai con đường” ấy đã khiến cho cuộc đời
những nông dân như lão Khúng thành ra khốn khổ Cảm nhận về sự mất tự do, lão Khúng thấy mình giống như con Khoang đen, làm việc quần quật cả đời dưới cái ách
đè lên vai buộc chặt bằng dây chão và hoàn toàn mất ý thức về tự do
Trong hầu hết các tiểu thuyết của mình, Lê Lựu chỉ ra rất rõ quan niệm, lối tư duy duy ý chí đã trở thành sợi dây trói buộc đời sống tinh thần con người gây ra bi kịch cho mỗi số phận Nhà văn thấy được sự thất bại của lối tư duy cực đoan đó và dứt khoát phủ nhận Bằng sự đối thoại với những quan niệm, lối tư duy của một thời, các tiểu thuyết của Lê Lựu đã đóng góp vào sự hình thành khuynh hướng nhận thức và đánh giá lại hiện thực của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới
Nguyên Ngọc trong bài thuyết trình về văn học Việt Nam nhắc đến trào lưu Đổi Mới với biểu hiện trước hết là "phơi bày cái tiêu cực, mô tả và tố cáo nó", nhiều nhà văn đã tham gia tích cực vào trào lưu này, trong đó có Lê Lựu Vậy phải chăng con đường mà Lê Lựu và các nhà văn đổi mới đang đi chỉ là dẫm lên lối cũ của các nhà văn hiện thực chủ nghĩa? Thực ra, nếu đặt toàn bộ các tác phẩm văn học có nội dung "phơi bày" đó và tác phẩm của các nhà văn hiện thực 1930 -1945 dưới một cái nhìn bao quát
sẽ thấy được tiến trình vận động với những nỗ lực đổi mới không chỉ ở bề mặt mà cả ở
Trang 32chiều sâu Không chỉ là sự mở rộng phạm vi hiện thực được phản ánh, không chỉ là sự tiếp nhận kỹ thuật hiện đại mà còn là tư duy mới mẻ về đời sống Với cái nhìn trực diện vào những mặt trái trong xã hội và thái độ phê phán sự xấu xa, tha hoá của con người, nhà văn đặt ra những vấn đề của thời đại mà nhờ trải nghiệm cá nhân đã trở thành những thông điệp có ý nghĩa nhân văn sâu sắc Tiểu thuyết Lê Lựu mở ra một hiện thực sống động nhưng hết sức phức tạp Qua số phận của nhân vật, nhà văn tái hiện một cách chân thật nhất gương mặt lịch sử và đời sống xã hội Ông giúp cho chúng ta nhìn sâu vào mọi ngóc ngách của cuộc sống nông thôn trước những thay đổi lớn như cách mạng, chiến tranh, cải cách ruộng đất, hợp tác hóa Tiểu thuyết Lê Lựu toát lên được không khí thời đại, đó là khí thế bừng bừng của công cuộc cải tạo xã hội, là tinh thần cách mạng nhiệt tình của nhiều tầng lớp, nhiều thế hệ nhưng bên cạnh những thành quả đạt được, những khẩu hiệu, thành tích còn có cả sự ấu trĩ, có cả cay đắng và thất bại, cả những bất hạnh và ngang trái mà trước đó người ta chưa thể nhận thức được, chưa nói hết ra, chưa thể đi đến tận cùng
Tiểu thuyết gắn bó với đề tài nông thôn từ Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường
cùng của Nguyễn Công Hoan, Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng, cho đến Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng của Dương Hướng, đã
đi những chặng đường dài Với Lê Lựu, ở cả truyện ngắn và tiểu thuyết, người đọc đều
dễ dàng nhận ra miền đất quen thuộc của nhà văn là làng quê, đồng bãi, với dòng sông, con đê làng, luống khoai, vồng cải Lê Lựu viết về nông thôn bằng sự thông hiểu và những âu lo về sự biến đổi từng ngày ngay trong từng ngôi nhà, từng thửa đất Sự quan sát tinh tế cộng với vốn sống phong phú về nông thôn và khiếu hài hước đã đem lại cho tiểu thuyết của ông nhiều chi tiết rất "đắt" Chẳng hạn đoạn viết về buổi họp gia đình,
bữa cơm khi nhà có khách hay đám ma ông đồ trong Thời xa vắng được miêu tả sống
động và hài hước Nếp sống của “người nhà quê” theo chân nhân vật vào tiểu thuyết của Lê Lựu thật ấn tượng, như cách biểu lộ tình cảm qua lời chào mời rối rít, chộp tay lắc lắc, hay thói quen sống tuềnh toàng, ăn uống xì xoạp, ăn xong ngồi xỉa răng nhanh
Trang 33nhách, hoặc như việc tiết kiệm kiểu dồn lẫn các thức ăn thừa vào nhau để dành cho bữa sau Nhà văn thấy ở đó là cái hồn nhiên chất phác của người dân quê khác biệt rõ rệt với lối sống thị thành Ông viết về nông thôn với tình cảm tha thiết của người đã sinh
ra và lớn lên nơi đây có cả niềm khắc khoải về cuộc sống và số phận những người quê
đã “nhuốm bụi” phố phường Và ông không thể không thừa nhận rằng tư duy làng xã, tâm lý tiểu nông đã cản trở đáng kể đời sống của họ, nhất là khi họ cố gắng để hoà nhập với nếp sống thành thị
Bên cạnh đó, hiện thực đời sống thành thị thời hậu chiến với những vấn đề gai góc
cũng được ngòi bút Lê Lựu quan tâm khai thác Nếu như ở phần hai của Thời xa vắng,
quãng đời bi kịch tiếp theo của Sài đã cho thấy phần nào mặt trái của cơ chế quan liêu
bao cấp, sự phức tạp xô bồ nơi phố phường thì ở Hai nhà phạm vi và cấp độ phản ánh
hiện thực được mở rộng, nâng cao hơn Sự phát triển của xã hội kéo theo sự thay đổi trong cách sống và cách nghĩ của một bộ phận không nhỏ người dân Những giá trị đạo đức bị thoái hóa, biến chất ngày càng tỉ lệ thuận với sự phát triển của xã hội Những người đàn ông như Tâm, như ông Địa vì không làm ra tiền bằng vợ nên luôn trong tư thế khép nép, yếu thế so với vợ Là trụ cột trong gia đình nhưng mọi việc đều nằm trong tay những bà vợ Là đàn ông nhưng họ không dám sống theo ý mình mà chỉ hong hóng chầu chực sự sai bảo, chỉ đạo của vợ Trong khi đó, những bà vợ của Tâm và ông Địa là Linh Anh và bà Nhân-Di đen thì sống thiên về mặt bản năng hơn là lí trí Họ sẵn sàng lăng mạ, nhiếc móc chồng con Họ sẵn sàng cắm lên đầu chồng chi chít những chiếc sừng vô hình và hữu hình Họ sẵn sàng trả thù nhau bằng những thủ đoạn vô cùng bỉ ổi ẩn nấp dưới vỏ bọc nhân nghĩa Ở cái xã hội thành thị xô bồ, đông đúc, ngột ngạt đó tình cảm, lòng biết ơn, sự hi sinh là những giá trị đạo đức xa xỉ đến lạc lõng Con người chỉ biết hòa mình vào niềm vui xác thịt và vật chất Mọi giá trị đạo đức đều được quy đổi bằng tiền và tình ái Lê Lựu nhìn đời, nhìn người chân thực mà chua xót đến ám ảnh
Trang 34Tái hiện lại một thời thiếu thốn và khó khăn, Lê Lựu nhìn thấy những bất hợp lý trong cơ chế xã hội Nhà văn khái quát hóa lối sống thực dụng, ích kỷ đang dần hình thành Đó còn là sự tấn công mạnh mẽ từ bên ngoài vào “tế bào” gia đình làm tan rã môtip gia đình truyền thống Bằng cái nhìn sắc sảo, ráo riết, Lê Lựu phân tích, lý giải những biến động của đời sống xã hội, sự tác động đến số phận con người Không chỉ phê phán sự tha hóa, cái xấu xa, ông cảm nhận thấm thía những lầm lẫn, hạn chế của cả một thời Nhận thức quá khứ và thực trạng đời sống, tiểu thuyết Lê Lựu còn có khả năng dự báo xu thế phát triển tất yếu và những đổi thay trong xã hội Có thể nói đây là
sự khởi đầu của dòng văn học “tự vấn”, một hướng đi mới của tiểu thuyết nước ta mà trước đó chưa có
Với cảm quan của người nghệ sĩ, sự nhạy cảm trước những biến động tinh vi của
cuộc đời Lê Lựu đã khái quát hiện thực và lịch sử của một “thời xa vắng” bằng những
trang tiểu thuyết Đi sâu, đào sâu, nhận thức lại lịch sử không phải là khơi gợi đau thương, phê phán đả kích mà quan trọng hơn là giúp con người và thời đại nhìn ra được những sai lầm trong hành trình tìm kiếm nhân cách và hạnh phúc Để từ đó mỗi cá nhân, mỗi gia đình – những tế bào của xã hội biết đi đúng quỹ đạo, sống tốt hơn theo đúng nghĩa con người Đây cũng là những trăn trở mang tính thời đại của nhà văn giàu tâm huyết như Lê Lựu
2.2 Cảm hứng bi kịch
Cảm hứng bi kịch trong sáng tác của Lê Lựu chủ yếu tập trung ở việc khắc họa bi kịch của nhân vật trước số phận, cuộc đời Đó là bi kịch về hạnh phúc gia đình, cha con, vợ chồng, anh em… Đó là bi kịch về lý tưởng sống, về sự tha hóa đạo đức, lối sống Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu khai thác khía cạnh bi kịch con người
trong mối quan hệ gia đình, hôn nhân
Lê Lựu là nhà văn tiên phong, nhạy cảm với mọi biến động tinh vi của cuộc đời Người nghệ sĩ từng một thời cầm súng nay trở về với cuộc sống hiện tại, đối diện với
Trang 35hiện tại nhận thấy ẩn chứa trong cá nhân con người và cuộc đời có biết bao bi kịch Mỗi tác phẩm của Lê Lựu là một câu chuyện về những số phận người cụ thể Ở đó có
cả niềm vui và nỗi buồn Tái hiện bi kịch trong số phận con người, Lê Lựu muốn tìm ra con đường sống, giải thoát những bi kịch cố bám riết lấy con người
Lê Lựu bắt đầu cầm bút với thể loại truyện ngắn, cho đến những năm 80, tập hợp
những sáng tác của Lê Lựu từ Người cầm súng, Phía mặt trời, đến Người về đồng cói
đã “định hình” một cây bút văn xuôi khá rõ nét khiến người ta có thể nói đến "chất Lê
Lựu tương đối ổn định" Cuốn tiểu thuyết đầu tay Mở rừng được viết trong những năm
cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước khắc hoạ đậm nét hình ảnh những con người lý tưởng, những nhân vật anh hùng Điều đáng ghi nhận là ở cuốn tiểu thuyết này nhà văn đã hướng tới số phận của cá nhân trong chiến tranh bằng một tư duy khá mới mẻ: Hầu như nhân vật nào cũng có đau khổ mất mát riêng Nhưng tất cả những khổ đau mất mát ấy chủ yếu để tô đậm sự khốc liệt của chiến tranh Xu hướng làm mờ
nhạt bi kịch cá nhân là đặc điểm chung của văn học thời kỳ kháng chiến, Mở rừng cũng
vậy, nhưng Lê Lựu đã khai thác yếu tố bi kịch trong số phận mỗi cá nhân bằng những phân tích khá kỹ với cách nhìn không đơn giản, phiến diện Tiểu thuyết Lê Lựu ở
chặng đường tiếp theo, với khởi đầu là Thời xa vắng, lấy cảm hứng bi kịch cá nhân làm
đối tượng đã đem lại cho người đọc hứng thú suy nghĩ, chiêm nghiệm về cuộc sống Thực ra vấn đề bi kịch cá nhân đã từng là nguồn cảm hứng lớn của văn học nhân loại, nhưng suốt một thời gian dài hầu như nó chỉ thấp thoáng xuất hiện trong văn học của
ta Bởi vậy, không thể phủ nhận vai trò đi đầu của Thời xa vắng đối với sự trở lại của
cảm hứng bi kịch nhân văn trong giai đoạn văn học mới
Nếu như ở tiểu thuyết Ma Văn Kháng bi kịch thường xảy ra từ những mối quan hệ
xã hội như giữa các thế hệ trong gia đình (Mùa lá rụng trong vườn), đối với đồng nghiệp trong quan hệ công việc (Mưa mùa hạ, Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược
dòng nước lũ), thì với tiểu thuyết Lê Lựu, phạm vi hiện thực nhỏ hẹp hơn, bi kịch
Trang 36thường ở ngay trong bản thân mỗi cá nhân
Thời xa vắng là tác phẩm chứa đựng nhiều tầng, nhiều mảng hiện thực Đó là sự
khái quát lại lịch sử bằng tiểu thuyết thông qua số phận đau buồn của một cuộc sống đời tư tan nát, bi kịch Đó là câu chuyện đầy bi kịch về số phận anh nông dân Giang Minh Sài Qua tác phẩm dường như nhà văn muốn nói với chúng ta rằng trong cuộc đời này không phải số phận nào cũng may mắn, hạnh phúc Hạnh phúc có khi ở rất gần với người này, có khi lại rất xa với người khác Cuộc tìm kiếm hạnh phúc không hề đơn giản Bi kịch có thể nhấn chìm chúng ta xuống vực sâu Nhưng có niềm tin và nghị lực, con người sẽ vượt qua tất cả
Như một lẽ tất yếu ở đời, mọi hậu quả bao giờ cũng xuất phát từ một nguyên nhân cụ thể Tác phẩm cũng là lời giải thích cho người đọc nguyên nhân sâu xa dẫn
đến bi kịch cuộc đời của Giang Minh Sài “Tảng băng chìm” của tác phẩm là nỗi ám ảnh day dứt mang tên nhận thức, một sự nhận thức sâu sắc về bài học làm người, về sự
tự ý thức trong việc nắm bắt và gìn giữ hạnh phúc của chính mình
Cuộc đời Sài được chia thành hai giai đoạn rõ rệt và ở mỗi giai đoạn đều mang đậm tính bi kịch
Giai đoạn đầu là quãng đời từ lúc Sài còn nhỏ đến khi kết thúc chiến tranh Sài
bị ép lấy vợ ở cái tuổi đáng nhẽ chỉ biết học và chơi trận giả Với Sài, Tuyết không phải là vợ mà là một cái gai, một sự căm ghét tột cùng Sài đỏ mặt vô cùng mỗi khi ra
đường có ai hỏi: “Sài, vợ mày đâu?” Lê Lựu tỏ ra vô cùng thấu hiểu tâm trạng của một đứa trẻ đang trong tuổi ăn, tuổi chơi mà đã có vợ: “Con bé ấy ở nhà này làm thằng Sài
có phần thích thú chỉ ở chỗ mỗi chiều nó ngồi viết tập và làm tính đã có người quét sân
và cái ngõ dài thăm thẳm” [72,6] Nhưng nó lại uất ức vì tự nhiên có một con bé cứ
theo nó kè kè để mách bố, mách mẹ nó “anh ấy không chịu để con cởi áo đi giặt, rồi
anh ấy lại bảo bố con như lão hàng tre thầy mẹ ợ…” Lúc này, sự yêu ghét ở Sài rõ rệt
và rất trẻ con Bất cứ chỗ nào, lúc nào có Tuyết là Sài chạy đi chỗ khác Đỉnh điểm của
Trang 37những nỗi ấm ức là hành động Sài thụi vào mặt vợ và đuổi Tuyết Sau sự việc này, đôi vai nhỏ bé của Sài trĩu nặng thêm biết bao áp lực, giáo huấn, nghĩa vụ Một loạt danh hiệu thi đua mà Sài cố gắng phấn đấu trong đội thiếu niên nhiều khả năng bị mất nếu Sài còn ghét vợ
Đến tuổi thanh niên, khi đi học trường huyện, Sài đem lòng yêu Hương - cô bạn cùng lớp Đó là một tình yêu đẹp, xuất phát từ tận đáy lòng nhưng rồi chính Sài cũng ngậm ngùi nhận ra bi kịch của cuộc đời mình trong tình yêu ấy Sài đã mường tượng được cuộc đời sau này của mình Có lẽ Sài sẽ không bao giờ được yêu cái mình yêu và được ghét cái mình ghét Tình cảm, số phận của anh nằm trong sự phán quyết của cả một hệ thống gia đình, xã hội Chuyện hẹn hò của Sài và Hương bị phát hiện, may nhờ
có chú Hà cao tay và anh Tính lăn lộn dẹp yên nếu không Sài và gia đình sẽ phải gánh thêm biết bao búa rìu dư luận
Sau sự việc này, chú Hà và anh Tính quyết định cho Sài nhập ngũ với lí do: “đi
bộ đội người ta rèn cho thì yên tâm hơn” Và thế là anh lên đường nhập ngũ trong sự
lặng thầm, lầm lũi Ngay từ những giai đoạn đầu của cuộc đời đến khi biết ý thức, Sài luôn để người khác điều khiển, quyết định số phận mình Chưa bao giờ Sài có ý thức phản kháng dù là yếu ớt Đây cũng chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến mọi bi kịch
của cuộc đời anh Có lẽ cả đời Sài chỉ biết chạy trốn: “anh đi như sự chui luồn chạy
trốn với cả ngày hôm qua, hôm nay và ngày mai Anh tự bằng lòng với quyết định được coi là vô cùng dũng cảm của chính mình” [72,80] Anh ra đi và tự nhủ: “hãy im lặng chịu đựng” Nhập ngũ, Sài thoát khỏi sự bao bọc thái quá của gia đình, thoát khỏi
người vợ không muốn có thì lại phải đối mặt với một sự quản lí, chỉ đạo khác nguyên tắc và áp đặt hơn rất nhiều lần Xuất thân trong một gia đình có truyền thống cách mạng, bản thân lại thông minh, học giỏi nên Sài chịu sự quan tâm, theo dõi sát sao của đơn vị Đảng bộ cơ quan phối hợp với tổ tam tam phát hiện Sài bị ốm tư tưởng và tìm
ra nguyên nhân từ cuốn nhật kí Sài ghi lại cảm xúc, tình yêu của lòng mình với Hương
Cả đơn vị tìm mọi cách giáo dục, giác ngộ Sài phải yêu vợ Họ đưa ra bao hệ lụy, hậu quả xấu nếu Sài còn tiếp tục chê vợ, không chung thủy với vợ dù là trong tâm tưởng
Trang 38Nhớ lại một thời đau buồn ấy, sau này Sài đã phải thốt lên: “Đừng ai ngu xuẩn và hèn
nhát như tôi mà giết chết tình yêu đầu tiên vào năm mười tám tuổi” [72, 95] Sau này,
cũng vì lí lịch phải trong sạch, vì đang trong diện cảm tình được kết nạp nếu biết giải quyết chuyện vợ chồng, nghĩa là phải yêu vợ Sài đã giết chết mọi cảm xúc của lòng mình Anh phó mặc số phận cho đơn vị, cơ quan và gia đình Sài không còn là con người; anh trở thành cỗ máy người khác điều khiển Một thời, chính nghĩa vụ, nguyên tắc, sự rập khuôn giáo điều đã giết chết tâm hồn những con người trẻ tuổi, trẻ lòng như Sài Đây là một thực tế lịch sử mà chúng ta phải nhìn nhận và đánh giá lại
Đoạn đời sau bắt đầu từ khi hòa bình lập lại Sài từ chiến trường trở về hòa nhập với cuộc sống mới Anh li hôn Tuyết và sống ở Hà Nội Gần nửa cuộc đời phải yêu cái người khác yêu, sống cái người khác nghĩ thì giờ đây khi đã được tự do quyết định số phận mình, Sài lại vô cùng lạc lõng, ngu ngơ, khờ khạo trước cuộc đời Đến với tình yêu thứ hai của đời mình, Sài bị lóa mắt, choáng ngợp truớc vẻ đẹp và sự dịu dàng, ngây ngô giả tạo của Châu - cô gái thành thị lọc lõi, dạn dày trong tình trường Sài yêu Châu vội vàng và quyết định đi đến hôn nhân với Châu cũng rất vội vàng Chính sự non nớt, vụng dại của Sài trước cuộc đời đã khiến Sài rơi vào cái bẫy mà Châu đã giăng sẵn Bắt đầu từ khởi điểm kết hôn với Châu cũng là lúc Sài chính thức bước vào cuộc đời của một người đàn ông nhu nhược, yếu đuối Bắt đầu chuẩn bị hành trình làm
bố của đứa trẻ không phải con mình
Thời xa vắng không chỉ là lời tự bạch của Giang Minh Sài mà còn là nỗi niềm,
trăn trở, suy tư của Lê Lựu Tác phẩm đã đem đến cho người đọc một nỗi ám ảnh, day dứt, xúc động Sài là nhân vật vừa đáng thương lại vừa đáng trách Thương Sài vì anh
là nạn nhân của xã hội, nạn nhân của một thời điểm lịch sử đầy biến động Giận Sài vì anh thừa nhút nhát, nhu nhược nhưng thiếu bản lĩnh và ý chí Bi kịch liên tiếp của đời Sài phần nhiều cũng là do lỗi của bản thân anh Tuy nhiên bi kịch đó mang tính hướng thiện, sự ý thức về nhân cách và số phận
Tiếp tục mạch chủ đề con người với những nỗi bi kịch cá nhân, Lê Lựu lại ra
mắt bạn đọc tác phẩm Sóng ở đáy sông Câu chuyện xoay quanh số phận cuộc đời nhân
Trang 39vật chính Phạm Quang Núi Núi là một đứa con loại hai bởi mẹ Núi là người ở trong gia đình của bố hắn và mẹ cả Ngay từ thời thơ ấu, Núi và các em đã phải sống trong sự ghẻ lạnh, phân biệt đối xử tàn nhẫn của cha và các anh con mẹ cả Mặc dù mang trong mình nhiều mặc cảm thiệt thòi nhưng Núi vẫn là một đứa trẻ ngoan ngoãn, thông minh
và hết sức trung thực: “Nó nhặt được một cái đồng hồ trị giá hàng trăm đồng đã nộp
cho công an Cảng” [79,27] Biến cố lớn nhất đẩy Núi ra cuộc đời, bắt đầu bước những
bước chân đầu tiên vào con đường tội lỗi là cái chết của mẹ Giá như Núi có được sự quan tâm của cha thì có lẽ hàng chục năm sau này, trong hồ sơ của các chiến sĩ công an không có tên phạm nhân Phạm Quang Núi Từ nhỏ, đối với Núi cha hắn là một người
xa lạ Hắn không biết cha mình làm gì Hắn rất thèm nhận được sự quan tâm của cha
như anh Ý con mẹ cả Vì vậy, chỉ cần nhận được sự “ban ơn” vô cùng nhỏ từ cha là
hắn đã cảm thấy mãn nguyện lắm rồi
Chiến tranh ập đến, gia đình hắn phải li tán làm ba ngả Ba anh em hắn phải về nhà cậu mợ ở Kinh Môn Ở thành phố, anh em hắn bị bố và các anh gọi là đám nhà quê Về đến quê lại được gọi là thành phố Hắn vốn thông minh, nhanh nhẹn nên về quê, hắn dễ dàng thi đỗ tốt nghiệp vào lớp tám và trở thành học sinh giỏi toán nhất trường cấp III huyện Khi mẹ chết, hắn phải đứng lên lo cho hai em ăn học Để có tiền
lo cho hai em, hắn phải nói dối cha vẫn đi học nếu không cha hắn sẽ cắt khoản năm đồng một tháng
Sau này, cuộc đời Núi trải qua biết bao bi kịch đen tối Từ mối tình tội lỗi với bà
cô họ bảy đời khiến người cô này phải bỏ xứ đi tha hương để đẻ con cho hắn; rồi việc ông Đại bố hắn đã phát hiện hắn nghỉ học, ông đòi từ hắn… Núi dồn dập bị đẩy từ bi kịch này sang bi kịch khác Giá như bố hắn yêu thương anh em hắn hơn; giá như bố hắn bớt khắt khe, nguyên tắc, vô tâm đến tàn nhẫn hơn thì có lẽ đời hắn đã khác Nhưng số phận Núi sau này như thế nào một phần rất lớn cũng từ nhận thức và hành động của Núi Vì bị bố đẩy ra đường, cắt đứt mọi sự liên quan, ràng buộc trong khi hai
em của hắn thì vẫn phải ăn và học nên hắn vẫn phải cần tiền Vấn đề chính lại nằm ở chỗ hắn cần rất nhiều tiền, hắn muốn có thật nhiều tiền nhưng phải nhanh chóng và nhẹ
Trang 40nhàng Được như vậy chỉ có con đường ăn cắp là hữu hiệu nhất: “làm hùng hục cả
tháng không bằng chớp mắt một cái đã có số tiền gấp hai ba chục lần như thế, đạp xích lô cũng vất vả Cũng phải có tiền mới mua được xe Tốt nhất là ăn cắp một vài lần kiếm đồng vốn đi buôn” [79, 249] Chính từ suy nghĩ tội lỗi đó mà hắn gắn chặt đời
mình với cái nghề mưu sinh là ăn cắp Hoàn cảnh của Núi vô cùng đáng thương nhưng suy nghĩ của hắn lại vô cùng đáng trách
Để bù đắp cho số phận thiệt thòi, tác giả đã đem đến cho hắn những ba người phụ nữ, mà người nào hắn cũng bắt đầu từ tình yêu Tuổi mười bảy hắn yêu người cô
họ xa tên Hiền Chính cái mối quan hệ gia đình từ bảy đời xa lắc xa lơ đã đẩy hắn và Hiền phải xa nhau Hiền phải ngậm đắng nuốt cay bụng mang dạ chửa bỏ đi biệt xứ
“Hắn không bao giờ quên được mối tình ấy, mối tình như một phát súng khai hỏa cuộc
đời tội lỗi của hắn và theo hắn suốt hai mươi lăm năm qua trong một thói quen trộm cắp tù đày” [79, 50]
Người phụ nữ thứ hai của Núi là Mai, một cô gái giang hồ chính thống Đó là một người đàn bà chua ngoa, gian xảo, nanh nọc Mai bị gia đình lìa mặt vì lối sống buông thả, vô đạo đức Núi đến với Mai sau một đêm bên bờ sông Sương Giang khi cả
hai đã cơ bản “tìm hiểu” hết về nhau và ngày hôm sau, giữa chợ, họ đã là vợ chồng
Cũng như Giang Minh Sài, tình yêu, hôn nhân của Núi quá vội vàng, hấp tấp Những
số phận, những con người vốn thiếu thốn tình cảm chân thành do đó họ rất dễ mềm lòng trước những rung động cảm xúc nhất thời Tuy nhiên khác với tình yêu trước kia dành cho Hiền, tình yêu với Mai là thứ tình cảm giang hồ, phiêu bạt mà như tác giả
nói: “cứ đi với nhau, ở với nhau là vợ chồng” Dường như môtip nhân vật của Lê Lựu
là xây dựng những mẫu đàn ông nhu nhược, yếu đuối cả tin và đặt họ bên cạnh những người đàn bà nanh nọc, ngoa ngoắt từ đó lí giải một phần nguyên nhân quan trọng dẫn đến bi kịch của cuộc đời họ Cuối cùng cô vợ thứ hai này cũng bỏ Núi mà đi theo tiếng gọi của nhân tình
Gặp lại Hồng, cô bạn cũ của Hiền ngày còn ở quê ngoại Kinh Môn, tưởng rằng hạnh phúc đã mỉm cười với Núi Hồng là người phụ nữ đảm đang, tháo vát, chịu khó