Trong các tác phám: “Nhà nước và cách mạng" 1917, “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết” 1918, “Cách mạng vồ sản và tên phán bội Cau-xki” 1918, “Lược thảo cương lĩnh” 1919, “
Trang 1ĐẠI H Ọ C Q U Ố C GIA HÀ NỘI
T R Ư Ờ N G ĐẠI H Ọ C K H O A H Ọ C X Ã HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin c a m đoan đây là c ô n g trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng ai cô ng
b ố trong bất kỳ c ô n g trình nào khác
T á c giả luận v ăn
2
Trang 4Chương 2: Tác động của báo chí đối với xã hội và sự chì đạo, điều hành của Chính phủ thời kỳ đổi mới (1986 - 2 000) 43
2.1 Vị trí của báo chí và thẩm quyền ban hành vãn bán quy phạmpháp luật của Chính phủ để chỉ đạo, điều hành đất nước 43
2.2 Báo chí với tư cách là phương tiện truyền thông chuyến tảithông tin hoạt động chỉ đạo, điều hành của Chính phú tới công chúng 51
2.3 Báo chí với tư cách là phương tiện phán ánh đời sống xã hội,kiến nghị sửa đổi bổ sung các văn bản thuộc phạm vi chi đạo điều hành của Chính phủ 76
2.4 Một số vấn đề cụ the về việc Chính phủ tiếp nhận thông tin từ báo chí đê ra các quyết định chỉ đạo, điểu hành mang lại hiệu quá kinh tế
xã hội thiết thực 92
Chưong 3: Những giải pháp co bản nhằm tăng cường hiệu quá hoạt động báo chí đỏi với xã hội và việc góp phần nâng cao hiệu quả chí đạo điểu hành của Chính phủ .102
3.1 Vai trò lãnh đạo của Đáng, quán lý Nhà nước và hoạt độngcủa Hội Nhà báo trong giai đoạn m ớ i 102
3.2 Tăng cường chất lượng thông tin báo chí trong mối quan hệháo chí với Chính phủ và Chính phủ với báo chí 108
3.3 Vân đề đào tạo và sử dụng con người nhằm tăng hiệu qua hoạtdộng của báo chí đối với xã hội và góp phần nâng cao hiệu quá chỉ đạo điều hành cúa Chính p h ú 115
Kết luận 121 Danh mục tài liệu tham k h ảo 125 Phụ lục
4
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cáp thiết của để tài:
Hiện nay, báo chí Việt Nam bao gồm: Báo in (báo, tạp chí, bân tin thời
sự, bản tin thông tấn), báo nói (chương trinh phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe - nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính), có vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội Báo chí thực
sự tham gia quản lý và giám sát xã hội Chính báo chí tham gia tích cực vào việc góp phần nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành của Chính phú kể từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đến nay Đặc biệt là trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Kê từ năm 1925, số báo cách mạng đẩu tiên xuất hiện tại Việt Nam cho tới nay, tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá vị trí, vai trò của báo chí cách mạng Việt Nam trong đời sống xã hội, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ tác động của báo chí trong việc góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả chỉ đạo, điều hành của Chính phủ Đặc biệt từ khi xuất hiện Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho đến nay, việc điều hành
xã hội của Nhà nước chủ yếu bằng pháp luật, mà cao nhất là Hiến pháp, sắc lệnh, các Bộ luật, các Luật, Pháp lệnh, các Nghị Quyết, Nghị định, Thông tư, Chi thị, Quyết định tới các quy định về mọi vấn đề trong xã hội Báo chí với
tư cách là phương tiện truyền thông, đã chuyến tải những thông tin từ các văn hán pháp luật của Chính phủ tới công chúng, tuy đã làm tốt nhưng có lúc còn chưa đạt hiệu quá cao Nhất là ngày nay, báo chí đã trờ thành một nhu cầu hàng ngày không thể thiếu của mọi người, mọi gia đình, các tổ chức xã hội, các đơn vị doanh nghiệp trong nước và nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam
Trang 6Chính phú Điều đó thúc giục tác giả nghiên cứu đề tài “Vai trò báo chí
trong việc góp phần nâng cao hiệu quả chì đạo, điều hành cùa Chính phủ thời kỳ đổi mới”.
Trong công cuộc đổi mới của đất nước, báo chí đã tự đổi mới mình, thế hiện ngày càng tốt hơn vai trò tiếng nói cùa Đáng, của Nhà nước, các tổ chức
xã hội và là diễn đàn tin cậy của nhân dân Báo chí cũng đóng góp tích cực vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, hoàn thành những nhiệm vụ chính trị quan trọng về đối nội, đối ngoại của Đáng và Nhà nước, nâng cao dân trí, báo
vệ và phát huy bán sắc, truyền thống văn hoá tốt đẹp của dãn tộc, tiếp thụ tinh hoa văn hoá thế giới, góp phần tăng cường ổn định chính trị, tạo ra bầu không khí dân chủ cởi mở trong xã hội, mở rộng quan hệ hợp tác, hữu nghị với bạn
bò thế giới Đây là những công việc mà báo chí phải làm Đề tài này muốn góp phần nhỏ, khắng định những cái đã làm được và cá những điều chưa làm được của báo chí trong giai đoạn thực hiện đường lối đổi mới cúa Đáng Trọng tâm là làm rõ việc tổ chức phổ biến, tuyên truyền các Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ, Quyết định, Chi thị của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của các Bộ Với chức năng báo chí là một kênh tham gia quán lý, giám sát
và thực hiện sự điều hành của Chính phủ trong xã hội, để từ đó đề ra được giái pháp thích hợp, làm cho mối quan hệ của hoạt động báo chí với sự chí đạo, điều hành của Chính phủ và Chính phủ với báo chí trong giai đoạn mới có hiệu quá hơn
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
Làm rõ những vấn đề mang tính cấp thiết của đề tài là nhăm đưa ra những kết qua mà lâu nay ít được đề cập đến vé mặt điều tra làm rõ vai trò cua báo chí trong việc góp phán nâng cao hiệu quá chi đạo, điều hành cua Chính phủ thời kỳ đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chu nghĩa
Đc tài sẽ góp phần nhỏ làm tài liệu tham kháo trong việc học tạp nghicn cứu giáng dạy tại các khoa, cơ sở đào tạo báo chí
6
Trang 7Đề tài tập chung làm rõ những việc báo chí đã làm và chưa làm được trong việc chuyển tải thông tin từ các văn bán chi đạo, điều hành của Chính phủ tới công chúng Góp thêm tiếng nói khoa học tới các nhà lãnh đạo và quản
lý báo chí có thêm những số liệu mới đế hoạch định chiến lược phát triển báo chí Việt Nam trong thời gian tới
Đề tài sẽ là một tài liệu nhỏ góp vào kho tư liệu chung về lĩnh vực báo chí
3 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là làm rõ vị trí của báo chí trong đời sống
xã hội và tác động có hiệu quả của báo chí trong việc góp phần nâng cao hiệu quá chỉ đạo, điều hành của Chính phủ trong thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới
Thông qua việc kháo sát, tổng hợp, phán tích, so sánh, diễn giải, khái quát hoá vấn đề để đưa ra những kiến nghị và đề xuất một sô giải pháp giúp cho các nhà lãnh đạo, quản lý hoạt động báo chí trong giai đoạn tiếp theo Đc tài cũng, tiếp tục khẳng định vị trí của báo chí trong đời sống xã hội những năm đầu thế kỷ X X I Đặc biệt là đối với việc góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả chỉ đạo, điều hành của Chính phú trong mối quan hệ báo chí với Chính phủ và Chính phủ với báo chí
4 Đôi tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là báo chí Việt Nam giai đoạn đầu thực hiện đường lối đổi mới của Đáng Cộng sán Việt Nam (tập trung vào báo in từ năm 1986 - 2000)
Phạm vi nghiên cứu được phân theo nhóm đối tượng, băng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, khái quát, đánh giá thực tiễn hoạt động báo chí của 25 tờ báo qua các năm 1988, 1994 1997 1999 cụ thế như sau :
+ Nhóm I: Báo ra hàng ngày: Nhân Dân Quân đội Nhân dán, Hà Nội mới Sài Gòn giái phóng, Hai Phòng
+ Nhóm II: Báo địa phương gồm:
- Phía Bác: Hà Giang, Quang Ninh Hà Tây, Thái Bình Thanh Hoá
Trang 8- Phía Nam: Cà Mau, Long An, Binh Thuận, Đăk Lăk, Quảng Ngãi.
+ Nhóm III: Báo các Bộ: Giáo dục và Thời đại, Công nghiệp Việt Nam, Nông nghiệp Việt Nam, Thương mại, Quốc tế
+ Nhóm IV: Báo các Hội, Đoàn thể: Lao động, Thanh niên, Phụ nữ Việt Nam, Đại đoàn kết, Người cao tuổi
+ Nhóm V: Các cơ quan lãnh đạo, quan lý và tham mưu
- Hội Nhà báo Việt Nam
- Vụ Báo chí - Xuất bản Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương
- Vụ Báo chí Bộ Văn hoá - Thông tin
- Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao
- Trung tâm Thông tin - Báo chí Văn phòng Chính phủ
- Trung tâm Báo chí Văn phòng Quốc hội
5 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chú nghĩa Mác - Lênin, tư tướng Hồ Chí Minh, dường lối quan điếm chính sách của Đáng và Nhà nước
Cơ sớ nghiên cứu thực tiễn của luận văn là đời sống xã hội và những hoạt động của báo chí trong thời kỳ đổi mới
Tổng hợp các tư liệu thu thập được từ đối tượng và phạm vi nghiên cứu thực tế Phân tích đánh giá thực trạng tác động của hoạt động báo chí đối với
sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ
So sánh thực tế hoạt động của báo chí qua các năm thực hiện đường lối đổimới của Đáng trong việc tổ chức phổ biến, tuyên truvền, giải thích các Nghịquyết, Nghị định của Chính phủ, các Chí thị, Quyết định của Thu tướng Chính phu, các Thông tư hướng dẫn của các Bộ đê tìm ra các ưu điếm, nhược điếm Từ
đó đề ra giúi pháp mới cho việc lãnh đạo, quán lý và hoạt độns báo chí trong mối quan hệ với Chính phú và Chính phu với báo chí trong giai đoạn mới
6 Kết câu luận văn:
Luận văn gồm: Phán mớ đáu; Phán nội dung có 3 chương, 9 tiết; Phán kết luận; Danh mục tài liệu tham kháo và Phụ lục
8
Trang 9CHƯƠNG 1
c M Á C, PH ĂNG-GHEN, V.I LÊ-N IN VÀ CH Ủ T ỊC H
HỔ CH Í MINH BÀN V Ể NHÀ NƯỚC VÀ BÁO CHÍ
1.1 Quan điểm của C M ác, Ph Ăng-ghen và V.I Lê-nin về Nhà nước báo chí.
1.1.1 Quan điểm của C M ác, Ph Ă ng-ghen và V.I Lê-nin vé N hà nước.
Từ thời kỳ cổ, trung đại có nhiều nhà tư tưởng tiếp cận và đưa ra những kiến giải khác nhau về nguồn gốc NN Các nhà tư tưởng theo thuyết thẩn học cho rằng: Thượng đế là người sắp đặt trật tự xã hội, NN là do thượng đế sáng lập ra để bảo vệ trật tự chung Do vậy, NN là lực lượng siêu nhiên, đương nhiên quyền lực NN là vĩnh cửu và sự phục tùng quyền lực là cần thiết và tất yếu Trong khi đó, những nhà tư tướng iheo thuyết gia trướng lại chứng minh
NN là kết quá sự phát triển của gia đình, là hình thức tổ chức tự nhiên cua cuộc sống con người Vì vậy, NN có trong mọi xã hội và quyền lực NN về bán chất cũng giống như quyển gia trưởng của người đứng đầu gia đình
Đến khoảng thế kỷ XV I, XV II, XVIII, xuất hiện hàng loạt quan niệm mới về nguồn gốc Nhà nước Nhằm chống lại sự chuyên quyền độc đoán của
NN phong kiến, đòi hỏi sự bình đẳng cho giai cấp tư sán trong việc tham gia nắm giữ quyển lực NN, đa số các học giả tư san cho rằng sự ra đời cua NN là sàn phám của một khế ước (hợp đồng) được ký kết trước hết là giữa những người sông trong trạng thái tự nhiên không có NN Vì vậy, NN phán ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội và mỗi thành vicn đcu có quvén yêu cáu
NN phục vụ họ báo vệ lợi ích của họ Thuyết bạo lực cho rãníi: "Nha nước xuất hiện trực tiếp lừ việc sử dụng bạo lực của thị tộc này đôi với thị tóc khác
Trang 10mà kết quả là thị tộc chiến thấng ‘nghĩ ra’ một hệ thống cơ quan đặc biệt (Nhà nước) đế nô dịch kẻ chiến bại” [83 27].
Tất cả những học thuyết trước C.Mác và Plì Ăng-ghen đều chưa í>icii thích đúng nguồn gốc, bàn chất Nhà nước.
c Mác và Ph Ảng-ghen là người đầu tiên đề xướng học thuyết khoa học về
NN, học thuyết có bán chất thế hiện quan điếm biện chứng duy vật, coi NN là
những hiện tượng xã hội tón tại trong lịch sử gán liền với những điéu kiện
của xã hội có giai cấp Ph Áng-ghen chứng minh: “Nhà nước cổ đại trước hết là Nhà nước của chú nô dùng đê đàn áp nô lệ; Nhà nước phong kiến là cơ quan cùa bọn quý tộc dùng đế đàn áp nông nô và nhũng nông dân bị phụ thuộc, còn Nhà nước đại nghị là công cụ của tư hán dùng đế bóc lột lao động làm thuc” [ 1 23].Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, cúa chế độ tư hữu và của Nhà nước” Ph Ăng-ghen đã tổng kết, phân tích lịch sử và đi đến kết luận: “ Nhà
nước quyết không phải là một quyền lực từ bên ngoài ấn vào xà hội Nó
càng không phải là cái ‘hiện thực của ý niệm đạo đức’, ‘hình ánh và hiện thực của lý tính' như Hê-ghen tướng Nhà nước là sán phám của xã hội đã phát triển tới một giai đoạn nhất định; Nó là bằng chứng chứng tỏ rằng xã hội đó bị kìm hãm trong sự mâu thuẫn với bản thân nó, không sao giải quvết được, ràng
xã hội đó đã bị phân chia thành những cực đối lập không thế điều hoà, mà xã hội đó bất lực không sao trừ bỏ được Nhưng muốn cho những mặt đối lập đó, những giai cấp có quyền lợi kinh tế mâu thuản nhau đó, không đi đến chỗ tiêu diệt lần nhau và tiêu diệt luôn cà xã hội trong một cuộc đấu tranh vỏ ích, thì cần phái có một lực lượng tựa như đứng trên xã hội có nhiệm vu làm dịu sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó năm trong vòng ‘trật tự* và lực lượng đó, cái lực lượng náy sinh ra từ xã hội, nhưng lại dứng trẽn xã hội và ngày càng
trớ nên xa cách xã hội chính là Nhà nước" 11 19-20].
10
Trang 11Theo Ph.Ăng-ghen, Nhà nước có những đặc trưng sau:
+ “Phân chia phần dân theo sự phán chia địa vực” tức là công dãn thực hiện những quyén lợi và những nghĩa vụ xã hội của họ tại nơi họ ờ, khổng kế
họ thuộc về thị tộc nào và bộ lạc nào Cách tổ chức công dân theo địa vực họ
cư trú như thế, đều được thừa nhận trong tất cá các quốc gia
+ “Sự thiết lập một quyền lực công cộng” bao gồm những đội vũ trang đặc biệt, nhà tù, để duy trì quyền lực công cộng đó cần phải có sự đóng góp của công dân, tức là thuế
Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác về vấn đề vai trò lịch sử và ý nghĩa của NN, đã được diễn đạt một cách rõ ràng “Nhà nước là sán phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thế điều hoà được Bất cứ ớ đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thê điều hoà được, thì Nhà nước xuất hiện Và ngược lại: Sự tồn tại
của Nhà nước chứng tỏ ràng những mâu thuẫn giai cấp là không thế điéu hoà được” [64 56].
Các nhà kinh điển cứa chú nghĩa Mác-Lê-nin đã nghiên cứu sâu sắc nguồn gốc, bản chất của NN và chỉ ra rằng NN là một công cụ đấu tranh giai cấp, rằng chính quyền NN tư bản hiện đại chi là một Uý ban quán lý những công việc chung của toàn thê giai cấp tư sán Sự áp bức bóc lột cua nó đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động ngày càng biếu hiện công khai và tiến triển cùng với sự phát triển của chú nghĩa tư ban Giai cấp vô sán muốn tự giãi phóng và giái phóng toàn thể những người lao động tất nhiên phái dùng bạo lực cách mạng để phú huỷ bộ máy NN cũ và thay vào đấy băng một bộ máy NN mới C.Mác viết: “Giữa xã hội tư ban chú nghĩa và xã hội cộng sán chú nghĩa, là một thời kỳ cài biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia
Trang 12giai cấp vô sản)” [64 6] Tiếp tục quan điểm của C.Mác, Ph.Ảng-2hen về Nhà nước xã hội chú nghĩa, V.I Lê-nin nói: “Muốn chiến thắng, muốn thiết lập và cúng cố chủ nghĩa xã hội, giai cấp vô sản phái hoàn thành hai nhiệm
vụ nhưng chỉ là một
- Một là, dùng tinh thần anh dũng bất diệt trong cuộc đấu tranh cách mạng của mình chống tư bản, đế lôi cuốn tất cả quần chúng lao động và bị bóc lột, tổ chức, lãnh đạo họ, nhằm đánh đổ giai cấp tư sán và hoàn thành đò bẹp mọi sự phản kháng của giai cấp đó
- Hai là, làm cho hết tháy quần chúng lao động và bị bóc lột, cùng với tất cá mọi tầng lớp tiểu tư sản, đi theo mình vào con đường kiến thiết kinh tế mới, vào con đường tạo ra những quan hệ xã hội mới, một kỷ luật lao động mới, một tổ chức lao động mới, có khả năng phối hợp những thành tựu mới nhất của khoa học và kỹ thuật tư bản với sự tập hợp dông đáo những người lao động tự giác, những người tạo ra nền đại sản xuất xã hội chủ nghĩa” [64 6-7], Lê-nin nhân mạnh: “Nhũng người lao động cần có Nhà nước" [64.7] Vậy Nhà nước là gì ?
c Mác định nghĩa: “Nhà nước, tức là giai cấp vó sàn đà được tổ chức thành giai cấp thông trị” [47 39].
Như vậy, c Mác, Ph Ăng-ghen và V.I Lê-nin đã chi rõ bán chất của Nhà nước, vạch ra những nguyên nhân làm phát sinh NN, chứng minh rằng
NN chí xuất hiện khi xã hội đã phân chia thành những giai cấp đối kháng và những mâu thuẫn đối kháng đã phát triển tới mức không thê điều hoà được Ph.Ăng-ghen còn chi ra răng: “Cho đến nay, tất cá những nguyên nhân hình thành ra các giai cấp đều chỉ dính líu đến sán xuất mà thôi” [ 1 12]
Học thuyết về Nhà nước cua C.Mác, Ph Ăng-ghen ra đời giữa lúc hai giai cấp đối kháng tư bán và vồ sán xuất hiện, nó the hiện rõ quan điểm đứng
về lọi ích của giai cáp vỏ sán, phục vu sự nghiệp giai phóng nhan dán lao động khói áp bức và bóc lột.
12
Trang 13V.I Lê-nin là người kế tục sự nghiệp của C.Mác và Ph.Âng ghen, đã phát triển, bổ sung và làm phong phú thêm học thuvết của Mác về NN trong thời đại mới Thời đại mà giai cấp vô sản giành chính quyển đã trờ thành vấn để hiện thực Lê-nin đã đấu tranh không mệt mỏi đế bảo vệ học thuyết của Mác
về NN, chống lại các quan điểm xuyên tạc chu nghĩa Mác của bọn cơ hội, xét lại và bọn vô Chính phủ Trong các tác phám: “Nhà nước và cách mạng" (1917), “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết” (1918), “Cách mạng vồ sản và tên phán bội Cau-xki” (1918), “Lược thảo cương lĩnh” (1919),
“Luận cương và báo cáo về nền dân chú tư sản và chuyên chính vô sản” (1919), “ ’Bệnh ấu trĩ’ ‘tả khuynh’ trong phong trào cộng sán” (1920) và nhiều tác phẩm khác của mình Lê-nin đã phát triển học thuyết của C.Mác và Ph.Ảng-ghcn tới một trình độ mới, phù hợp với những điều kiện lịch sử mới,
hổ sung nhiều luận điểm quan trọng về giai cấp vô sán tiến hành cách mạng giành lấy chính quyền cũng như tổ chức chính quyền và xây dựng hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Sự phút triển đó dựa trên những nguyên tấc cơ bán của NN xã hội chu nghĩa và chứng minh ràng chỉ qua nền chuyên chính vồ sán mới có thể thoát khỏi xã hội tư bán nơi giai cấp tư sán áp bức và bóc lột quần chúng lao động Lê-nin viết: “Ai không hiểu sự cần thiết phai có nền chuyên chính của mọi giai cấp cách mạng để đi tới thắng lợi, thì tất không hiểu gì về lịch sử các cuộc cách mạng hoặc không muốn biết tí gì về mặt này” [59 369], Trong bài giảng đọc tại trường Đại học Xvéc - Đlốp ngày 11 thúng 7 năm 1919, Lê - nin nói: “Vấn đề Nhà nước là một trong những vấn
đề phức tạp nhất, khó khăn nhất, có lẽ là ván đề mà các học già, các nhà văn và các nhà triết học tư sản đà làm cho rác rỏi nhất'’ [1 59] Chính vì
lõ đó Lê-nin đã tập trung vào việc xảy dựng hoc thuyết liên minh cóng
nông, coi lièn minh cóng nông là nguyên tác cao nhất cua chuyên chính
vỏ sản, đã nẻu những luận điểm vé Nhà nước licn bang, vé dán chu xã hoi chủ nghĩa, về vai trò lành đạo cùa Đàng Cộng sàn đối với Nhà nước và với
Trang 14hệ thống chuyên chính vó sản, về nguvên tác tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa Lê-nin là người
tổ chức và lãnh đạo NN xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới Lê-nin luôn coi trọng lý luận về NN và coi đó là cơ sở khoa học đê vạch ra đường lối lãnh đạo việc tổ chức và củng cố chính quyền
Lê-nin định nghĩa: “Nhà nước là bộ máv dùng đê duv trì sự thông trị
của giai cấp này đối với giai cấp khác” [ 1 70], Trong tác phẩm “Nhà nước và
cách mạng” Lê-nin giải thích rõ thêm: Nhà nước theo đúng nghĩa của nó, là một bộ máy trấn áp đặc biệt cua giai cấp này đối với giai cấp khác; Không
có cách mạng bạo lực thì không thế thay Nhà nước tư sản bàng Nhà nước
vô sản dược Định nghĩa này đã nêu rõ bản chất và ý nghĩa xã hội cua Nhà nước trong xã hội có giai cấp đối kháng Lé-nỉn nhác: Khi nghiên cứu Nhà nưức ta phái nghiên cứu “Nhà nước là gì, ý nghĩa của nó là gì, và thái độ của Đáng la, của Đáng đang đấu Iranh đế lật đổ chế độ tư bán, của Đáng Cộng sán, đối với Nhà nước là như thô' nào ” [1 60-61 ]
Từ điên Tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học - Kỹ thuật năm 1988,
viết: “Nhà nước - Tổ chức chính trị xã hội, đứng đầu là Chính phú, do giai cấp thống trị về kinh tê nắm , để thực hiện nền chuvèn chính của
m ìn h ” [84
7281-Về V nghĩa của Nhà nước được thê hiện thóng qua chức nãng cơ bản
của Nhà nước là đỏi nội, đối ngoại Qiức năng đối nội là những hoạt động chủ yếu của NN trong nội bộ đất nước như: đám bảo trật tự xã hội, trấn áp những phần tứ chông chế độ, bảo vệ chế độ kinh tế Còn chức năng đối ngoại là thể hiện vai trò của NN trong quan hệ với các NN và dân tộc khác như phòng thú đất nước, thiết lập các mối bang giao với các quốc gia Đẽ thực hiện các chức nãne đôi nội và đối ngoại NN sứ dụng nhiêu hình thức và phương pháp hoạt động khác nhau như: Xây dưng pháp luật, tổ chức thực hiện
14
Trang 15pháp luật và bảo vệ pháp luật Các chức năng và nhiệm vụ cùa NN được thực hiện thông qua bộ máy NN Bộ máy NN là hệ thống các cơ quan từ trung ương xuống địa phương, bao gồm nhiều loại cơ quan như cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, ngoại giao v.v
Về thái độ của Đảng Cộng sản đỏi với Nhà nước trong tác phẩm "Vai
trò của Đảng, Nhà nước và các đoàn thê quần chúng trong hệ thông chuyên
chính vô sản” Lê-nin cho rằng: “Đảng lãnh đạo là yêu tỏ quyết định đảm
bảo quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động Nhà nước là đại biếu chính thức của quyền làm chủ đó, nhân dân lao động làm chủ tập thể chính là thỏng qua Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng" [51 6],
Lc-nin đã đưa ra khái niệm kiểu Nhà nước trong lịch sử: Kiểu NN là tổng thể những dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản đặc thù của NN, thê hiện bán chất giai cấp và những điều kiện tồn tại và phát triển của NN trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định Trong lịch sử cua xã hội đã tồn lại 4 hình thái kinh tế
xã hội, phù hợp với 4 hình thái kinh tế xã hội đó có 4 kicu Nhà nước là: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản, Nhà nước xã hội chú nghĩa Nhà nước xã hội chủ nghĩa là kiểu NN mới tiến bộ nhất, nhưng cũng là kiểu NN cuối cùng trong lịch sử Sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sứ của mình
NN xã hội chủ nghĩa sẽ tiêu vong và sau đó sẽ không còn kiêu NN nào khác
Về hình thức Nhà nước: Hình thức NN là cách tổ chức quyền lực NN và
nhũng phương pháp để tổ chức quyền lực NN Nhà nước có nhiều cách tố chức
đế kháng định và phát huy cao nhất quyền lực cùa nó Thỏns thường hình thức
NN được hình thành từ 3 yếu tố: Hình thức chính thế, hình thức cấu trúc Nhà nước và chế độ chính trị Vc Nhà nước Chính thế có Chính thê Quân chủ và Chính thế Cộ ne hoà Chính thế Quân chú là hình thức trong đó quvền lực tối cao của NN tập truns toàn bộ (hay một phan) trong tay người đứng đáu NN theo nguyên tấc thừa kế Trong Chính the Quán chu lại có Chính the Quán chu
Trang 16tuyệt đối và Chính thể quân chủ hạn chế Trong các Nhà nước Chính thê Quân chú tuyệt đối, người đứng đầu Nhà nước là vua, hoàng đế có quyền lực vỏ hạn Còn trong Nhà nước Chính thế Quân chù hạn chế, người đứng đầu Nhà nước chỉ nấm một phần quyền lực tối cao, bên cạnh đó còn có một cơ quan quyền lực khác như Nghị viện trong các Nhà nước tư sán Chính thế Cộng hoà
có hai hình thức là Cộng hoà dân chú và Cộng hoà quý tộc Trong các Nhà nước Cộng hoà dân chủ, quyền tham gia bầu cử để lập ra cơ quan đại diện (quyền lực) của NN được quy định về mặt hình thức (pháp lý) đối với các tầng lớp nhân dân lao động Trong các nước Cộng hoà quý tộc, quyền đó chi quy định đối với các tầng lớp quý tộc
Về hình thức cáu trúc Nhà nước - Là cấu tạo Nhà nước thành các đơn
vị hành chính lãnh thổ và xác lập những mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan Nhà nước Trung ương với địa phương Hiện nay trên thế giới đang tồn tại hai hình thức cấu trúc Nhà nước đó là Nhà nước dơn nhất và Nhà nước liên bang Nhà nước đơn nhất là NN có chủ quyền chung, có hệ thống cơ quan quyền lực
và quán lý thống nhất từ trung ương đến địa phương như: Việt Nam, Lào, Ba Lan, Pháp Nhà nước Liên bang là NN có từ hai hay nhiều NN thành viên hợp lại như: Mỹ, Ấn Độ, Malaixia
Đẽ thực hiện quvền lực NN thì chính NN đó phái có chế độ chính trị riêng cho NN mình Nó là tổng thê các phương pháp và thu đoạn mà các cơ quail NN áp dụng đế thực hiện quyền lực Nhà nước (Bầu cử, bố nhiệm)
Quan diêm cùa c Mác, Plì Ăng-ghen vù \ 1 Lê-nin vê vấn dé Nhà nước
và Nlià nước xã liội chủ ni>lũa được thê hiện rõ Nhà nước là hiện tượng xã hội tồn tại íroiìíỊ lịcli sử í’(ill liên với nhữni> diêu kiện xã hội có ỊỊĨai cấp; Là cơ quan áp bức cùa i>iai cấp này dôi với lỊÌai cấp khác; Là lực lượng náy sinh ra
từ xã hội c M á c , Pli ĂniỊ-íỉliơn chứniỊ minh sự tồn tại Nhà nước clìứiìíỊ tó rằniỊ nliữnạ màu tlimhi ỳ ai cấp là không thớ diêu hoà dược, c Mác d ã đinh
16
Trang 17nghĩa một cách rỗ ràng rằng Nhà nước xã hội chù nghĩa tức lù giai cáp vỏ sấn
đ ã được tổ chức thành giai cấp thống trị Củ hai ông đểu th ể hiện rõ quan điếm đứng vé lợi ích của giai cấp vô sàn, pliục vụ sự nghiệp ẹiái phónq nluin dân lao động khỏi úp bức bóc lột Bằng lý luận cửa mình Lê-nin kltẳnẹ địnli những người lao động cần có Nhà nước vì vậy Lê-nin tập trung xây dựnq học thuyết về liên minh công nông, vê Nhà nước liên banẹ, vê dân chù xã hội chú nghĩa vù về vai trò lãnli đạo của Đàng cộng sán đối với Nhà Iiước.
Những quan điểm trên của C.Mác, Ph Ăng-ghen, v.ỉ Lê-nin đến nay vẫn cỏn nguyên giá trị bởi đó là những quan điểm đấu tranh bảo vệ giai cấp, bào vệ quần chúng nhản dân lao động, bào vệ sự công bảng và tiến bộ x ã hội.
1.1.2 Quan điểm của C.M ác, Ph Ă ng-ghen và V.I Lê-nin về báo chí.
Khi NN xuất hiện, hoạt động của các nhà hùng biện đã biết giữ vai trò trong việc phổ biến T T “Thông tin là truyén tin cho nhau biết, tin được truyền đi” thực chất nó là tri thức được sử dụng trong thực tế và trong quán lý Đây là những hiện tượng tiền báo chí
Vào thế kỷ XV I, XV II, chủ nghĩa tư bán phát triển mạnh, việc buôn bán giữa các nước tăng lên, theo đó là những nhu cầu về tin tức thương mại trong vùng, trong nước, trong khu vực và trên toàn thế giới Do có nhu cầu cao về
TT, đăc biệt là TT thương mại nên giai cấp tư sản đã xử dụng kỹ thuật ấn loát cho việc xuất bản BC với mục đích kiếm tiền Những tờ báo in này đã được phát hành và phát hành định kỳ từ đầu thế kỷ X V II ở châu Âu trước hết nó dành cho các nhà buôn vì nó đăng tải những tin tức về con đường buôn bán, nguồn hàng, giá cá và sự dao động của nó trên thị trường Vào giữa thế kỷ
X I X , báo chí đã trờ thành phương tiện TT quan trọng trong đời sống xã hội báo chí thực sự là vũ đài cùa các cuộc đấu tranh chính trị Khi quyền lợi cua các giai cáp khác nhau rõ rệt thì trong BC bát đáu xuất hiện các trường phái lư
Trang 18tướng khác nhau, trong mỗi trường phái tư tướng ấy lại có những nguyên tắc hoạt động BC riêng của mình Nội dung của nguyên tắc thường được hình thành dựa trên cơ sớ của quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội mà giai cấp đó lựa chọn C.Mác nhấn mạnh “Những nguyên tắc có giá trị khi nào
nó phù hợp với các quy luật tự nhiên và xã hội” [66 319] T ro n g xã hội có
giai cấp, báo chí là công cụ đấu tran h của chính giai cấp đó Các tác giá
BC ớ thời Phục Hưng được Áng-ghen viết “Điểm nổi bật của những con người ấy là họ đều quan tâm đến tất cả những vấn đề của thời đại họ, tham gia cuộc đấu tranh thực tiễn, đứng về phía này hay phía khác đế chiến đấu, người thì bằng lời nói và ngòi bút, người thì bằng kiếm và có người thì bằng
cá hai thứ” [65 346-347] Trong tư tướng và hoạt động BC của mình, C.Mác
và Ph.Ãng-ghen cho rằng đối với báo chí vô sản phải thê hiện rõ quan điểm
khuynh hướng của mình Khuvnh hướng đó phải vươn tới đính cao là tính Đảng, tới quan điếm cóng khai để bảo vệ lợi ích của Đảng trước sự tiên cóng của kẻ thù “phải tiến hành tranh luận, thuyết minh, phát triển và
bảo vệ những lợi ích của Đảng, bác bò và đánh bại các luận điệu huyênh hoang của đáng đối địch” [66 271], Ph Ăng-ghen yêu cầu những người làm báo của Đáng phải là nhũng chiến sĩ cách mạng, đòi hỏi mọi người phải tự nguyện khép mình vào đội ngũ những chiến sĩ hết lòng hết dạ phục vụ sự nghiệp của giai cấp công nhân Mỗi nhà báo phải có kiến thức rộng và sâu về
lý luận, phải có một số tài năng nhất định về văn học Ph.Ăng-ghen còn chi ra rằng người làm báo cách mạng phái biết gắn mình với cuộc sống, hiếu biết cuộc sống một cách sâu sác, chính xác và phải được trái qua thử thách đức tính chân thật và kiên định với bán lĩnh chính trị vững vàng
Từ năm 1842 Mác đã viết nhiều hài báo nổi tiếng đấu tranh cho khuynh hướng dân chủ, cách mạng như “Nhận xét ban chi thị mới nhát về chế độ kiếm duyệt của Phổ” đến những bài luận chiên về tự do háo chí, vé việc công hố các hiên bàn của Hội nghị các đang cấp
18
Trang 19Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng C.Mác, Ph.Ảng- ghen đều tập trung
hướng vào những người nghèo khổ bị áp bức, lẽn tiếng phán đỏi chế độ cầm quyền, đả kích sâu cay những kẻ tự cho mình luôn luôn viết một
cách khách quan (hoàn toàn không theo bất cứ một khuynh hướng nào)
Trong xã hội có giai cấp, BC luôn thuộc về một giai cấp, một nhóm xã hội nào
đó Thể hiện khuynh hướng chính trị, lập trường tư tường bảo vệ quyền lợi của giai cấp, của nhóm xã hội đó Biểu hiện của nó là tính khuynh hướng, tính khuynh hướng khi đã phát triển đến trình độ cao thì trở thành tính Đáng Lê-nin là người khới xướng và đặt vấn đề một cách có hệ thống các quan điểm về tính Đáng Trong tác phẩm “Tổ chức của Đáng và văn học Đáng” Lê-nin viết “ Báo chí phải trớ thành những cơ quan của tổ chức Đảng chịu trách nhiệm trước Đảng” [55 121-128], Tính Đáng ở đây được thể hiện ở chỗ nó là quá trình mà trong đó khuynh hướng giai cấp của BC chín muồi, phát triển đốn trình độ tự giác
+ Về mặt xã hội, Nhà báo nhìn nhận đánh giá các sự kiện theo quan điểm, đường lối của Đảng
+ Về tổ chức, tính Đảng đòi hỏi BC phải hoạt động theo đúng luật pháp.+ Về mặt tinh thần, tính Đáng đòi hỏi BC phái tham gia tích cực vào việc tuyên truyền, phổ biến và hình thành dòng tư tưởng tích cực và tiến bộ trong
xã hội Tính Đảng của BC là trực tiếp xây dựng một đời sống tinh thần lành mạnh và phong phú trong xã hội Để đạt được nguyên tắc tính Đáng của minh, chính Đáng phái là người lãnh đạo BC bằng định hướng chính trị, định hướng
tư tưởng, định hướng TT bằng hệ thống quan điểm BC Nhất là BC cách mạng
thì một trong những nguyên tác hoạt động cùa báo chí nữa là tính khách
quan, chân thật Lc-nin viết “Sự thật, đó là sức mạnh của háo chí chúng ta"
[58 106-109], Một trong những quan điểm co bản cua Lé-nin vé “ tự do báo chí” Ngưòi chi rỏ bàn chát của tự do báo chí của giai cấp tư sản la
Trang 20dùng tiền mua chuộc các nhà báo “Trong tất cá các nước có bọn tư bán tự
do báo chí, tự do mua báo chí, tự do mua các nhà văn, tự do mua chuộc và chế tạo ra dư luận có lợi cho giai cấp tư sản Đó là sự thật, không ai có thê bác bỏ được sự thật đó” [60 96] Lê-nin nhấc nhớ mọi người phải tỉnh táo trước những thông tin của bọn nhà giàu Lê-nin chứng minh tiếp vấn đề tính Đáng với tư cách là tính khuynh hướng phát triển ở trình độ cao của BC cách mạng không hề đối lập và mâu thuẫn với tính khách quan, chán thật Lê-nin viết
“Chúng ta cần thông tin đầy đủ và chân thật, mà sự thật không phụ thuộc vào việc nó phải phục vụ cho ai” [62 496] Đối với BC cách mạng còn cần phải có tính nhân dân vì nhân dân là đối tượng phán ánh và tiếp nhận T T lớn nhất
Chính nhân dân là người sáng tạo chân chính lịch sử Vì vậy một tác phẩm
BC cần phải có tính nhân dân khi đề cập phán ánh những hiện tượng, sự kiện
có ý nghĩa đối với nhân dân, lý giải chúng theo quan điểm tiến bộ của nhân dân Lê-nin viết “Cơ quan báo chí sẽ sinh động, đầy sinh lực, khi nào cứ 5 nhà văn lãnh đạo và thường xuyên viết sách báo thì lại có năm trăm và năm nghìn nhân viên cộng tác không phải là nhà văn” [54 127-125], Lê-nin rất quan tâm đến cách viết một tác phẩm BC đạt hiệu quả cao, có nghĩa là ớ đó phải có “Sự đơn giản, dễ hiếu và phổ cập, nội dung sinh động của tư liệu đưa ra sẽ đám báo cho những tư tướng của báo chí đi sâu vào lòng người đọc thuộc mọi tầng lớp nhân dân” [56 92J
Về mối quan hệ báo chí với Chính phủ Lê-nin cho rằng “Chính phủ cũng
phái được dư luận còng chúng của nước mình giám sát” [57 20] tiếp đó
Lê-nin chi rõ ‘Tính đơn điệu và sự chậm trễ đều không hợp với nghề báo” [61.91] Lê-nin luôn nhác nhớ báo chí “Một cơ quan ngôn luận xã hội chú nghĩa phái tiến hành bút chiến, và khôns the không tiến hành bút chiên " [61.61],
v ề nhiệm vụ cùa báo chí cách mạng Lê-nin yêu cầu ‘T ờ báo không chỉ là người tuyên truyền tập thể và cổ động tập thế mà còn là người tổ chức tập thể” [53 263] C.Mác cho rằng: Đẽ có được một tờ háo xứng đánII trước
20
Trang 21đối tượng bạn đọc thì vai trò của từng cá nhân trong toà soạn báo đó phai lao động đích thực đế góp phần làm tăng thêm hiệu quá của tờ báo Mác viết
“Người phóng viên có thế tự coi minh là một bộ phận nhò bé cùa một cơ thế phức tạp, trong đó anh ta tự lựa chọn cho mình một chức năng nhất định bằng cách là mỗi người trong số đông người ấy làm một công việc không lớn lãm nào đó” [65 252-253] C.Mác đánh giá cao phẩm chất của nhà báo một cách tinh tê
“Anh ta là cuốn bách khoa toàn thư sống, có khả năng làm việc vào bất kỳ lúc nào, ngày hoặc đêm, lúc tỉnh táo hay lúc ngủ say, viết và hiếu nhanh như máy ” [69 505] Lê-nin là người coi trọng và nhấn mạnh việc cho ra báo đúng định kỳ
để ảnh hướng của nó trong quần chúng thêm mạnh Trong tác phẩm “Nhiệm vụ của chúng ta” Lê-nin nói “Cần phải phát hành tờ ‘Con đường sự thật’ rộng rãi gấp đôi, gấp tư và gấp năm so với hiện nay cần phái mớ rộng gấp bội mục nước ngoài trên từ ‘Con đường sự thật' cần phải lập ra tờ ‘Sự thật buổi chiều’ bán một cô pếch một số với con số phát hành là 200 - 300 nghìn số, nó đi sâu vào quần chúng vồ sán và nửa vô sán làm cho họ thấy phong trào công nhân toàn thế giới, làm cho họ tin ở sức họ, thúc đẩy họ tiến tới đoàn kết nhau lại, giúp họ tự nâng mình lên trình độ giác ngộ hoàn toàn cần phải phấn đâu làm cho công nhân tham gia một cách thường xuyên vào công tác biên tập” [50 24-25]
Tư tướng và quan điểm cua Lê-nin không chỉ nói về lý thuyết mà còn được thế hiện qua việc làm Trong thư gửi P.B.Ác-xen-rốt, Lê-nin viết
“Tôi không mong muốn gì hơn, tôi không ước mơ gì hơn là có thể viết cho công nhân” [50 26] Lê-nin cũng nhắc các tờ báo “Trong một tờ báo cơ quan của Đáng sẽ có một số bài mà người công nhân trung bình không hiểu được, hay có những vân đề lý luận vù thực tiễn phức tạp mà người đó không hicu được đầy đu Hoàn toàn không phai vì thế mà tờ báo phai hạ thấp ngang trình độ quần chúng bạn đọc cửa mình Trái lại chính nó có nhiệm vụ phái nàns cao trình độ cùa bạn đọc và góp phán đào tạo những người công nhân tiên tiến, từ trong lớp cồng nhãn trung bình” [50 57-58],
Trang 22Trong tác phẩm “Bắt đầu từ đâu ? ” Lê-nin nhấn mạnh: “C h ú n g ta, trước
hết cần một tờ báo - không có nó, thì không thê tiên hành được một cách có hệ thống việc tuyên truyền cổ động kiên trì về nguyên tấc và toàn diện” [50 79],
C.Mác, Ph Ăng-glĩen, V.I Lê-nin đểu có chung một quan điểm : Troníĩ
x ã hội có giai cấp thì báo chí là cóng cụ đấu tranh cùa giai cấp đó Báo chí cách mạng p hái th ể hiện quan điểm khuynh hướng, khuynh liướng dó plìái vươn tới dính cao là tính Đảng, tính nhản dán, tính khách quan, cliân tlìật Công khai b ào vệ lợi ích của Đang trước sự tiến công của k ê thừ Phôi hết lòng hết dạ phục vụ sự nghiệp của giai cấp cống nhân Đâu tranh không khoan nhượng đôi với những luận điệu về tự do báo chí của giai cap tư sàn Báo chí cần phải có mối quan hệ tốt với Cliínlì phủ Những người lùm báo cách mụtìíỊ ph ái có bàn lĩnh clúnlì trị của Đánẹ và hoạt dộng theo nguvên tắc của ĐảniỊ.
1.2 Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về Nhà nước, báo chí và mỏi quan hệ Nhà nước và báo chí cách mạng Việt Nam.
1.2.1 Quan điểm C hủ tịch H ố C h í M inh vé N hà nước.
Chú tịch Hồ Chí Minh - Nhà yêu nước vĩ đại, Người đã tiếp thu truvền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc Ngay từ khi tìm đường cứu nước, Người luôn trăn trở về sự nghiệp giái phóng con người và đòi cho nhân dân Việt Nam được quyển tự do, binh đảng, tự quyết như nhân dân các dán tộc khác trên thố giới Người nói “Tôi chi có một ham muốn, ham muốn tột bậc,
là làm sao cho nước ta dược hoàn toàn độc lập dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng dược học hành" [2 55] Hành trình tìm đường cứu nước, Người đã đi qua Pháp, nhiéu nước cháu Âu cháu
22
Trang 23Phi, châu Mỹ, làm nhiều việc khác nhau nhưng trọng tám vẫn là viết báo lên
án, tố cáo chế độ thực dân, Người đã dự các cuộc thảo luận về quốc tế II và III, đọc luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa Sự chuyên dần từ giác ngộ dán tộc đến giác ngộ giai cấp Nguyễn Ái Quốc đã đến với Chú nghĩa Lê- nin Người khẳng định “Bây giờ học thuyết thì nhiều, chú nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chu nghĩa Lê- nin Do đó con đường cứu nước duy nhất đúng đắn là con đường cách mạng
vô sản” [42] là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Với tính chất và
nội dung của con đường cách mạng ấy, về mặt Nhà nước tất yếu phải chọn
là Nhà nước kiểu mới của những người lao động, Nhà nước của khối đại đoàn kết toàn dân dựa trén nền tảng liên minh công nông và táng lớp trí
thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Khác hẳn với NN tư sán và NN Ihực dân phong kiến, NN của công nồng có sứ mệnh lịch sử là xây dựng một
xã hội mới, không có áp bức bóc lột Người viết “Cách mạng tháng Mười đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chú, lập nên chính quyền của những người lao động, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, một xã hội không có người bóc lột người” [71 462J Hồ Chí Minh chi rõ nhũng thuộc tính Nhà nước kiểu mới “ Đảng cầ m quyền, tổ
chức ra Chính phủ công, nông, binh; phát đất ruộng cho dân cày; giao
công xuờng cho thọ thuvẻn; không bắt dân đi chết cho tư bản và đè quỏc
chủ nghĩa nữa, ra sức tổ chức kinh tè mới, để thực hành chủ nghĩa thê
giới đại đ ồ n g ” [71 466], Trong quá trình tìm đường cứu nước, tìm hiếu kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh ớ nhiều lục địa, đã dán hình thành ở Nguyễn Ái Quốc những luận điếm cơ bản:
+ Giãi phóng dân tộc phái gắn với giai phóng giai cấp giúi phóng con người, giái phóng nhân loại chí có giái phóng giai cấp vô san thì mới giúi phóng được dàn tộc
Trang 24+ Chính quyền là vấn đề cơ bán của mọi cuộc cách mạng, trong điều kiện cụ thế cúa cách mạng Việt Nam Nhà nước công, nông binh NN của những người lao động Chỉ có NN ấy mới có thể thực hiện sự nghiệp giải phóng nói trên.
Sau khi khẳng định tính đúng đắn của sự lựa chọn “kiêu cách mạng”,
“kiểu Nhà nước”, vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện việc giành chính quyền
vé tay nhân dân Hồ Chí Minh khẳng định: “Đối với tôi., trớ về nước đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập” [70 13] Họ ớ đây là quần chúng nhân dân Nhân dân theo quan điểm của Hồ Chí Minh là khỏi đại đoàn kết toàn dân, nền tảng xã hội rộng lớn của chính quyền Nhà nước
Tư iướng Hồ Chí Minh là một khoa học và nghệ thuật, Người không chỉ quan tâm đến chiến lược mà cả sách lược, phương pháp cách mạng “phải dựa vào cả lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của quần chúng” [69 466]
đó là Nhà nước của dân, do dân vì dân, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc
về nhân dân “Cái vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đã nhìn thấy ớ nhân dân lực lượng quyết định thắng lợi của cách mạng Người nói: Nước lấy dân làm gốc Dân chúng (công nông) là gốc cách mạng Có lực lượng của dân, việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được Lý tướng cách mạng đã đi vào lòng của đông đảo nhân dân thì biến thành một sức mạnh vật chất, không máy bay, đại bác nào chống lại được” [40 25]
Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở nắm vững những nguvên lý của chủ nghĩa Mác Lê-nin, đã khẳng định “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” [69 82],
Thấm nhuấn quan điểm bạo lực cách mạng, ngav từ hội nghị Trung ương lần thứ VIII (năm 1941) Đáng ta đã khảng định: Cách mạng Việt Nam muôn giành được thắng lợi thì nhất thiết phái vũ trang khởi nghĩa giành chính quvền
và sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp - Nhật sẽ thành lập một CP mới cua nước
24
Trang 25Việt Nam dân chủ cộng hoà Chính phú của nước Việt Nam dân chú Cộng hoà
do Quốc dân đại hội cử lên
Đảng ta, đứng đầu là Chú tịch Hồ Chí Minh, đã chi rõ giai cấp vô sản Việt Nam muốn biến mình thành giai cấp thống trị phái dùng bạo lực cách mạng để đập tan bộ máy NN cũ, xây dựng bộ máy NN mới của mình Hình thức phù hợp để tổ chức chính quyền vô sản trong điều kiện Việt Nam là hình thức Cộng hoà dân chủ Trong chỉ đạo đấu tranh cách mạng giành chính quyèn Đáng ta đã có những sáng tạo đáng chú ý như: Chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh đê thu hút các lực lượng yêu nước, cỏ lập kẻ thù; Dùng hình thức uý ban (Uỷ ban nhân dân cách mạng, Uỷ ban giải phóng ) trong vùng giải phóng đê thủ tiêu những hình thức bóc lột của bọn phát xít quân phiệt và bè lũ tay sai của chúng Đê cho nhân dân “tập dần những công việc hành chính làm bước chuyến tiếp để nháy lên chính thể Cộng hoà dân chủ” [71 417], dùng phương thức Quốc dân đại hội đê thành lập Chính phú trong khi chưa nắm được chính quyền, chưa cho phép tổng tuyến cứ
Chủ tịch Hó Chí Minh với quan điểm, dân ta là người dựng nén chế độ Nhà nước, dân ta là người chủ của quyền lực chính trị và quyền lực Nhà nước Trong “Tuyên ngôn Độc lập”, Hồ Chí Minh khảng định: “Dân ta đã đánh
đổ xiềng xích thực dân gần 100 năm đế xây dựns Nhà nước Việt Nam độc lập Dân ta đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ cộng hoà”
“Toàn the dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng
và cua cái để giữ vững quyền tự do và độc lập ấv" Bán chất nhân dân của NN dược Hồ Chí Minh nhìn nhận như là lẽ đương nhiên, vì đó là thành qua của các phong trào yêu nước của nhàn dân mà kết quá trực tiếp là Cách mạng tháng Tám
do nhân dân thực hiện dưới sự lãnh dạo của Đang và Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tư tướng xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Bao nhiéu quyền hạn
đều là của dân, chính quyển từ xã đến Chính phu Trung ương đéu do dán
Trang 26cử ra Nhân dân là chú nhân cúa NN vì nhân dân, theo Người, nhân dân là động lực to lớn của cách mạng.
Nhà nước ta là Nhà nước đơn nhất, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tác tập chung dân chủ Hồ Chí Minh chi rõ: Đế giữ vững và phát
huy bản chất nhân dán của chính quyền Nhà nước thì chính quyền ấy nhất thiết phải do dân, tức là nhân dân phải là người thực hiện quyền lực, hoặc trực tiếp, hoặc thông qua các đại biếu của mình Đó là những hình thức cơ bản của nền dân chú Dân chủ xã hội chủ nghĩa lại càng phải duy trì, phát triển và làm giàu hơn đế quyền lực NN thực sự mang bản chất nhân dân “Nhà nước ta phái phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị toàn dân làm cho mọi công dân Việt Nam thực sự tham gia vào công việc của Nhà nước” [74 616J Trong phiên họp đầu tiên cua Chính phú, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị: “Tôi đề nghị Chính phú phải tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyến cứ với chế độ phổ thông đầu phiếu Tất cả công dân trai, gái từ 18 tuổi đểu có quyền ứng cử và bầu cứ, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, giống nòi ” “Ngày mai, dán ta sẽ lựa chọn và bầu
ra những người xứng đáng thay mặt cho mình và gánh vác việc nước”
Chính quyền của nhân dân phải do nhân dân tự tay mình thực hiện Đó là nguyên lý và là nội dung cơ bán của nền dân chú mới Người coi yếu tố đầu tiên của dân chú là “Có việc gì thì ai cũng được bàn, cũng phải bàn Khi bàn rồi thì
bỏ thăm, ý kiến nào nhiều người theo hơn thì được Ấy là dân chủ” [71 240].Ngày nay, chúng ta nêu ra khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dán làm, dân kiểm tra” là thể hiện tư tướng của Hồ Chí Minh về dân chủ Không chi có tư tướng, lời nói, lời kêu gọi, mà phong cách, lối sống của Người, hoạt động của Người và toàn bộ cuộc dời của Người là một tấm gương trọn vẹn về sự tôn vinh nhân dân “Tầm vĩ đại ớ Hồ Chí Minh là đã tìm ra những hình thức tốt nhất dể tổ chức nhân dân" [40 26] Người đã sáng lập ra Mặt trận dân tộc thống nhất đc đoàn kết nhân dàn, sáng lập ra lực lượng vũ trang nhãn dán
26
Trang 27sáng lập ra chính quyền nhân dân Tư tường vĩ đại của Hồ Chí Minh là tư tướng vì dân Nhà nước ta phải là NN vì lợi ích cúa nhân dân, một lòng một dạ phục vụ nhân dân Xuất phát từ quan điếm về bán chất của NN ta, Chù tịch Hồ Chí Minh khẳng định dứt khoát rằng, NN là tổ chức để thực thi quyền lực của nhân dân, có trách nhiệm phục vụ nhân dân Khi tuyên bố thành lập CP lâm thời nước Việt Nam dân chú Cộng hoà năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói
“Tôi có thế tuyên bố trước Quốc hội rằng, Chính phú này ( ) là một Chính phủ chú trọng thực tế và sẽ ra sức làm việc” [72 236], Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước đơn nhất được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, một NN dân chủ đầu tiên ớ châu Á ra đời bằng những văn bản pháp lý đầu tiên là: Bán Tuyên ngôn Độc lập; Hiến pháp năm 1946, theo đó
là cả nước hước vào mộl thời kỳ mới, thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội
Nhà nước Việt Nam là Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, pháp
c h ế xã hội chủ nghĩa Hồ Chí Minh kháng định: Nêu được độc lập, Việt Nam
sẽ xếp đặt một nền Hiến pháp về phương diện chính trị và xã hội theo lý tướng dân quyển Tinh thần hợp hiến của hoạt động NN và tính nhân vãn của pháp luật là đặc trưng cơ bản của NN pháp quyền Pháp luật điều chinh các mối quan
hệ xã hội cơ bản giữa công nhân và NN, giữa công nhân với nhau, giữa NN với các tổ chức xã hội vì bán thân NN cũng được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất của NN kiểu mới là xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội và phái quán lý tốt đất nước Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật, báo vệ pháp luật, kết hợp chặt chẽ việc nâng cao đạo đức và việc nâng cao sức mạnh của pháp luật Người viết "Chính sách của Đáng và Chính phu là phái hết sức chăm nom đến dời sống của nhãn dân Nếu dân đói, Đúng và Chính phu có lỗi; Nếu dàn rét là Đáng và Chính phu có lỗi; Nếu dân dốt là Đáng và Chính phu có lỗi; Nếu dân ốm là Đáng và Chính phủ có lỗi” [71 3 1 ]
Trang 28Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minli vé Nhà nước dược khẳng địnli rang Nhà nước phải chọn là Nhà nước kiểu mới của những nẹười lao độn % Nhủ nước “Đảng cầm quyền, tố chức ra Chính phủ công Iiônq binh" Vì vậy muốn cứu nước không con đường nào khác là con đườnẹ Cách mạng vô sân Nhân dân lù người dựng lên c h ế độ Nhờ nước, lủ chủ nhân cùa Nhà nước Nhà nước là tổ chức thực thi quyển lực của nhún dân Mọi cliính sách của Đàng của Chính phủ phải hết sức chăm lo tới đời sông của lìliân dân Giúi phóng dán tộc phải gắn liền với giải plĩónẹ giai cấp, gidi phóng con người, giải plĩóng nhân loại Chính quyền là vấn d ề của mọi cuộc cách mạng Nhà nước phải là khối dại đoàn kết của toàn dân, dưới sự lãnh dạo của Đànạ đám bảo cho Nlìù nước lioạt động theo đúng hướng, đúng nguyên tác tập chuni> clân chú Nhà nước là Nhà nước của dân, do dán vù vì dân, một Nliủ nước quản lý x ã hội bằng pháp luật.
1.2.2 Q uan điểm của C hủ tịch Hồ C hí M inh vé báo ch í cách mạng.
A Báo chí cách mang trước nãm 1945
Hồ Chí Minh là người có công lao vĩ đại đưa chú nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam, tổ chức Đáng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi vẻ vang, có những cống hiến to lớn đối với cách mạng thế giới Một phần công lao đó được trình bày trên những bài báo và tạp chí mà Hổ Chí Minh đã viết Muốn hiểu sâu qui luật cách mạng Việt Nam và lịch sử Đáng Cộng sán Việt Nam, biết rõ chặng đường phát triển của dân lộc Việt Nam mối quan hệ quốc tế cua cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, nhát thiết phái sứ dụng một khối lượng lớn các bài báo, tạp chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đăng trên các báo ớ nước ta, BC của các đang anh cm cua quốc tế cộng san và phong trào cộng san quốc
tè Những bài báo cua Chu tịch Hồ Chí Minh cho ta thấy chiêu sáu cua
28
Trang 29một tư tướng lớn Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của minh Chu tịch
Hồ Chí Minh đã coi báo chí là hoạt động tinh thần quan trọng của một xã hội Vì báo chí cách mạng chính là tiếng nói của cách mạng, là diễn đàn
đế nhân dân biếu hiện ý chí và nguyện vọng của minh
+ Chủ tịch Hó Chí Minh đã đáu tranh cho một nén tự do báo chí.
Bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” mà Nguyễn Ái Quốc thay mặt những người yêu nước Việt Nam ký tên để gửi đến đại biểu các nước dự hội nghị Véc-xây năm 1919, đồng thời được đăng trên tờ báo Populaire và tờ L'humanite với đầu đề do ban biên tập đặt là “Quyền của các dân tộc” xuất bản ở Pa-ri được coi là một trong những bài báo nổi tiếng đầu tiên Là một nhà cách mạng, một lãnh tụ chính trị tham gia mặt trận BC đã viết khoảng 2000 bài báo, Nguyễn Ái Ọuốc thật sự là một tài năng lỗi lạc, một nghị lực hiếm có Một trong những luận điểm quan trọng nhất về BC mà Chù tịch Hồ Chí Minh khẳng định suôi trong thời kỳ lịch sử dài dưới chế độ thực dân phong kiến là đấu Iranh cho quyền tự do BC Theo Chú tịch Hổ Chí Minh, tự do BC là quyén lợi tinh thần to lớn của một dân tộc, một đất nước Người coi BC là hoạt động tinh thần quan trọng của một xã hội, thế mà “Giữa thế kỷ X X này, ở một nước
có đến 20 triệu dân mà không có lây một tờ báo không có lấy một tờ báo tiếng mẹ đẻ Vì báo chí lúc này do chính quyền Pháp ở Đông Dương độc quyền Báo tiếng Việt phải do Toàn quyền cho phép và bán tháo phái trình duyệt lên Toàn quyền trước khi in “Trước khi đưa đi nhà in, tất cả các bài báo phái dịch ra tiếng Pháp và đưa kiểm duyệt đã chỉ được đăng những tin tức thông thường, những vấn đề xét ra có lợi cho Nhà nước" [39 19] (Nhà nước lúc
đó do thực dàn Pháp đô hộ) Không chịu khuất phục trước kẻ thù là thực dán Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định phai thành lập một tờ báo cách mạng
và Ngày 21.6.1925, số báo Thanh niên đẩu tiên ra đời được coi là suối nguồn của toàn thè BC cách mạnii Việt Nam Báo Thanh niên do Nguyen Ái Quốc
Trang 30sáng lập và có trụ sở tại số nhà 13A Văn Minh, Quảng Châu, Trung Quốc Đây là tờ báo bí mật đầu tiên của cách mạng Việt Nam Người phái hành và chuyên chớ về trong nước lúc đó là đồng chí Nguyễn Lương Bằng Tờ báo viết bằng chữ quốc ngữ, trên giấy sáp, in bằng bàn in tay Tờ báo có vai trò tổ chức rất lớn trong việc gây cơ sờ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội ở trong nước Tổ chức ớ trong nước dùng tờ báo này để vận động, tuyên truyền, giác ngộ và huấn luyện kết nạp hội viên Tờ báo Thanh niên đến các cơ sớ lại được chép tay nhân lên thành nhiều bản Sau khi báo Thanh niên ra mắt đượcmột thời gian Nguyễn Ái Quốc cho xuất bản báo “Công nông” và “Lính cách mệnh” Theo Hồ Chí Minh, nước ta cũng như nhiều nước thuộc địa khác, thanh nicn yêu nước là lớp người nhạy cám với cái mới, nhất là thanh niên có học thức, có khá năng tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lẻ-nin Chính vì có quan điếm
đó mà Hồ Chí Minh đã hằng cách thông qua báo Thanh niên đê giác ngộ cách mạng, tư tướng vô sán đi vào giai cấp công nhãn và quán chúng nông dân là những lớp người có tinh thần đấu tranh kiên quyết chống áp bức, bóc lột, lại chiếm đa số
Báo Thanh niên ra đời đem đến cho ngôn ngữ Việt Nam nói chung và ngốn ngữ BC nói riêng nhiều điều mới mẻ v ề nội dung chính trị cùa tờ báo được thê hiện thông qua ngòi bút và những bài báo Chú tịch Hồ Chí Minh đã phê phán tình trạng mất tự do của BC dưới chế độ thực dân Pháp Chú tịch
Hồ Chí Minh chỉ rõ BC phái thực hiện đúng chức năng phê phán, phê phán chế độ chính trị tàn bạo và khuynh hướng nô dịch của bọn thực dân, vạch trần những hành vi chính trị cùa giai cấp thống trị, bọn quan lại và những ke đổng minh, lên án tình trạng đàn áp BC, đàn áp các nhà báo của bọn phát xít dưới chế độ thực dân phong kiến Trong bài nói vé chế độ báo chí Hổ Chí Minh đã
kể rõ: “Tinh trạng đàn áp báo chí ớ Đông Dương Vào những năm 1920 có
làm thơ ca tụng và các người khác đã nghe ngâm bài thư ấy" Bọn thực dán sợ
30
Trang 31hãi những hoạt động tinh thần lành mạnh từ những khát vọng tự do cùa quần chúng đến ý thức phê phán mạnh mẽ những xấu xa của xã hội bất công mà báo chí tiến bộ là tiếng nói đại diện tiêu biếu.
+ Chủ tịch Hổ Chí Minh cho rằng báo chí cách mạng là vũ khí đấu tranh của cách mạng trên mặt trận tư tưởng và là trung tâm tập hợp lực lượng đoàn kết giành chính quyền.
Với báo chí cách mạng, Hổ Chí Minh nói “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng Cây bút trang giấy là vũ khí sắc bén của họ” [74 616] Với hai từ
“chiến sĩ” Hổ Chí Minh đã sử dụng đối với cán bộ BC là thế hiện tính tiên phong, dũng cảm của người cầm bút trên mặt trận đấu tranh chống lại kẻ thù bằng chính dũng khí của mình, khỏng để tư tướng bị lệ thuộc vào bất cứ yếu tố nào khi ở vị trí là chiến sĩ càng phải thể hiện rõ phẩm chất của “Lập trường chính trị, kiên định, trung thành với Đảng” Nhũng người làm báo cách mạng phải bám sát vào đường lối đấu tranh chính trị của Đáng để đấu tranh với kẻ thù, đế tuyên truyền, thuyết phục giải thích cho nhân dân biết cái mới, cái phải, cái đúng, cái tất yếu, cái bình đẳng bác ái và tiến bộ để nhân dân thấy rõ hơn vai trò của BC đang chiến đấu vì ai và do ai Ngay từ khi sáng lập tờ báo Le Parie, Người đã góp phần thức tỉnh tinh thẩn chống thực dân ở nhiều nước thuộc địa, khơi nguồn cho làn sóng cách mạng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới chống thực dân đế quốc Có Đáng lãnh đạo, có mục tiêu chính trị đúng đắn đã tạo nên sức mạnh tinh thần cho tờ báo, đem lại dũng khí cho các cây bút mà không một thế lực nào của chủ nghĩa thực dán có thẻ khuất phục được Ngay trên báo Thanh niên số 1 đã có bài nhấn mạnh lực lượng cách mạng là toàn dân đoàn kết, cùng chung một ý chí Bài “Đê dẫn dắt nhân dân làm một sự nghiệp vĩ đại cấn phái có một sức mạnh lãnh đạo Sức mạnh đó không phui của một vài người thôi, mà sinh ra từ sự hiệp lực của hàng ngàn, hàng vạn người” Bác còn nhân mạnh "Sự nghiệp cách mạng lớn lắm Những người cách mạng phái đoàn kết với nhau để thực hiện sự nghiệp đó Người mình dã làm
Trang 32việc cách mạng từ nhiều năm rồi mà chưa thành công trước hết bời vì thiếu đoàn kết với nhau” [80 138] Với tư tướng là thông qua việc giáo dục chu nghĩa yêu nước, theo tinh thần của chù nghĩa cộng sản, Hồ Chí Minh cho răng
đến một lúc nhất định, với sự chuyển biến của thực tế xã hội tác động vào
nhận thức lý luận và quan điểm của hội viên, thông qua bài “Chúng ta phải theo đảng nào?” Hồ Chí Minh chứng minh ràng các đảng phái chính trị khác không có một chủ nghĩa bảo đảm cho sự thống nhất tư tướng, tổ chức và hành động Chỉ có Đảng cộng sản có chủ nghĩa cộng sán làm cơ sở lý luận chỉ đạo việc tổ chức và hoạt động nên đoàn kết, thống nhất nội bộ, cùng chiến đấu cho
lý tướng và mục đích chung” “Chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa chán chính, đó
là cái chủ nghĩa của Đáng cách mệnh mà ta phái theo” (Báo TN số 58 ngày 22.8.1926) Trong giai đoạn này, trên báo Thanh niên có nhiều bài viết về tổ chức công nhân, nông dân, phụ nữ giáo dục họ iự giác đâu tranh cho thắng lợi của cách mạng Trong mỗi số báo lúc này đều có mục dưới hình thức vấn đáp về tổ chức công nhân vào công hội, báo đã đặt ra từ 2 đến 5 câu hỏi và trá lời ví dụ như: “Muốn tổ chức công hội thì làm sao ?” về phụ nữ có “Phụ nữ đàn” giới thiệu tình hình, kinh nghiệm và lịch sử vận động phụ nữ các nước có liên hệ với phụ nữ Việt Nam, qua đó giáo dục động viên, tổ chức phụ nữ Việt Nam tham gia đấu tranh cách mạng Cùng với thời gian, đều đặn trên các số báo trong nước và BC nước ngoài, Hổ Chí Minh đã viết về sự thành công ctia Cách mạng tháng Mười Nga, về nhân dân Trung Quốc anh hùng đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết chiến đấu cho độc lập dân tộc, những yếu tô' thắng lợi cúa Trung Quốc, thất bại của Nhật Thời kỳ 1941, 1942 trên báo Việt Nam Độc Lập Hồ Chí Minh đã viết rất nhiều bài báo ngắn gọn súc tích, có lý luận chí đạo hướng suy nghĩ vào hoạt động thực tế cách mạng cua cán bộ và quần
Việt Minh chỉ nói đến đoàn kết trong tổ chức đế đánh Táy Nhật, chưa bao giờ nói đến súng Vậy tổ chức rồi lấy súng đâu đê đánh ke thù ? báng cách đặt cáu
32
Trang 33hỏi và trả lời như “Đoàn két hơn cần súng - khống đoàn kết thì có súng cũng
vố dụng, đoàn kết được thi có súng bàng cách mỗi người yêu nước quyên 1 hào, cả nước 20 triệu người đã có 2 triệu đồng bạc Đem tiền đó mua súng đã khá nhiều rồi Đoàn kết được thì nhiều súng Người chứng minh: Riêng tinh Cao Bằng có độ 300 lính Tây và 2.700 lính ta Nếu binh lính ta đều có tổ chức thì súng trong tay họ tức là súng của ta Đoàn kết tức là súng Chúng ta tổ chức du kích khắp nơi, bằng vũ khí thô sơ đánh địch, cướp súng của địch, rồi lấy súng đó đánh nó” Bằng phương pháp tư duy sáng tạo, bằng cách viết độc đáo, sắc sảo đầy sức thuyết phục Hồ Chí Minh đã chứng minh, đã khơi sâu lòng căm thù địch và quyết tâm đoàn kết đấu tranh giành độc lập, tuyên truyền cho thắng lợi của phc dân chủ và thất bại của bọn pháp xít và thù địch
Theo Hồ Chí Minh, báo chí cách mạng phải có tính chiến đâu, tính tiên phong và tính định hướng Vì BC cách mạng là vũ khí đấu tranh trên mặt trận chính trị tư tướng có tác động sâu sắc đến đời sống xã hội Trong phạm trù hoạt động BC cách mạng là quá trình thay đổi lớn và căn bán theo hướng tiến bộ, tức là chính BC cách mạng phái giữ vai trò tiên phong, mớ dường, truyền bá những tư tướng và tri thức tiến bộ Tờ báo Thanh niên do
Hồ Chí Minh sáng lập nhằm mỡ đường, truyền bá những tư tướng, tri thức tiến bộ, một dòng tư tường cách mạng góp phần đưa phong trào cách mạng sang giai đoạn mới Cùng với các tờ báo khác, tờ Việt Nam độc lập đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn phong trào cách mạng trong thời kỳ bí mật, chuẩn bị cho cao trào đấu tranh của thời kỳ Cách mạng tháng Tám Báo chí cách mạng luôn luôn thế hiện rõ vai trò tiên phong của mình, khẳng định mình, khẳng định tiếng nói của Đảng là tiếng nói đầu nguồn, góp phần định hướng cho sự phát triến phong trào cách mạng Chính
BC cách mạng đã nhân lên những hiệu quá dạt được thông qua cuộc đấu tranh với mọi khuynh hướng sai lệch và tư tướng bao thu lạc hậu kìm hãm
sự phát triển cua xã hội
Trang 34B Báo chí cách mang từ sau Cách mang Tháng 8 nãm 1945.
Cả nước có hàng trăm tờ báo khác nhau cúa Nhà nước và các đoàn thế các ngành, các địa phương được xuất bán định kỳ hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng với số lượng ngày càng phát triển Vì vậy, Chú tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu báo chí phái có đặc điểm và sắc thái cúa riêng mình, tức là phái phục vụ đúng đối tượng, từ nội dung đến hình thức, tránh tình trạng rập khuôn, trùng lấp về đề tài, trùng lắp tin và ảnh nên khai thác và truyền bá thông tin trung thực, tôn trọng sự thật, nhân điển hình tiên tiến, gương người tốt việc tốt Với người đọc, chỉ cần biết những người thật, việc thật, làm báo phải chú trọng đến đối tượng bạn đọc của tờ báo đế có cách viết sao cho sự thật được bạn đọc tiếp nhận không bị khô khan, đơn điệu Hồ Chí Minh đã lấy kinh nghiệm hoạt động háo chí của mình để kể cho đội ngũ Nhà báo cách mạng Việt Nam học tập noi theo, Hồ Chí Minh kế: “Khi đi qua Liên Xô, đồng chí
L phóng viên tờ báo “Tiếng còi” bảo mình viết bài và dặn phải viết rõ sự thật: Việc đó ai làm, ờ đâu, ngày tháng năm nào và phải viết ngắn gọn Cách đây mấy năm, mình trở lại Liên Xô Đồng chí L lại báo mình viết Nhưng L lại bảo “Chớ viết khô khan quá Phái viết cho văn chương Vì ngày trước khác người đọc báo chỉ muốn biết sự thật Còn bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc” [73 4 1 7 - 4 1 8 ] Cùng với năm tháng, báo chí cách mạng Việt Nam ngày càng phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng nhưng luôn bám sát được tôn chỉ mục đích làm báo của từng tờ báo, luôn gắn nhiệm vụ của mình với sự nghiệp cách mạng của dân tộc
Trên 50 năm hoạt dộng cách mạng của Chít tịch Hồ Chí Minh Người
d ã thê hiện tư tưởng quan diểm của mình qua hàng ngàn bài báo Trong dó tlìể hiện rõ nét những quan điểm lớn là đấu tranh cho một nên tư cl() b áo chí;
B áo chí là vũ khí đấu tranh của ccìcli mựHỊi trên mật trận tư tướng, là írunx tàm tập hợp lực lượng đoàn kết giành cliính quyên, aiiìỉi c ố và xúy dựiìỊỊ chínlì quyền Nạưởi luôn luôn chú trọiỉịỉ lie'll cáclì viết báo như ílìứ nào cíé dụt được Iiiỉliệ thuật Ììgỏn từ của b áo chí đáp ứng cao Iilìấr liliu cáu thónx tin cua bạn đọc.
34
Trang 351.2.3 Q uan điểm H ố C h í M inh vê môi quan hệ N hà nước và báo chí cách m ạng Việt Nam
Nói đến mối quan hệ Nhà nước và báo chí cách mạng Việt Nam tác già tập trung làm rõ dưới góc độ là Hồ Chí Minh người đứng đầu Nhà nước, Nhà
nước dùng quyển lực của mình đê ra các văn bản pháp lý tạo điều kiện cho báo chí hoạt động đúng khuón khổ của pháp luật trong phạm vi của một Nhà nước pháp quyền Đồng thời báo chí cách mạng cũng tò rồ vị trí vai trò chức nâng của mình trong việc tổ chức tuyên truyén, cổ động, hướng dẫn và giám sát việc thúc đẩy xã hội phát triển theo đúng quy luật khách quan mà Đảng và Nhà nước đã chọn.
Bán Tuyên ngôn độc lập do Chú tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quáng trường
Ba Đình, Hà Nội ngày 2.9.1945 là bản Tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà Có thể nói, sau khi chính quyền cách mạng (hành lập tháng 9.1945, nhân dân được hướng quyền tự do, trong đó có tự do BC Đê BC có cơ
sớ pháp lý hoạt động tốt hơn trong điều kiện mới cúa một thời kỳ mới, ngày 29.3.1946, Chính phủ ra sắc lệnh 41-SL về những quy định tạm thời cho chế
độ BC và xuất bản do Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phú Việt Nam dân chủ Cộng hoà ký Khi sắc lệnh được ban bố công khai thì các tờ báo cách mạng trước kia xuất bán bí mật, bất hợp pháp nay đăng ký, xin phép Bộ Nội vụ được tiếp tục ra công khai Những tờ báo xuất bán dưới thời thống trị của Pháp, Nhật, nay muốn tiếp tục xuất bản phai xin phép lại và những tờ báo mới ra dưới danh nghĩa đoàn thế cách mạng đều phải xin phép Bộ Nội vụ chuẩn y Bàng cách làm như vậy, từ năm 1945 đến nay Nhà nước Việt Nam đã thế hiện được bán chất tốt đẹp của một NN cách mạng gắn bó chặt chẽ với nhân dán dưới sự lãnh đạo của Đang tiên phong của giai cấp công nhân Cũng từ đó đến nay, Đáng Cộng sán Việt Nam luôn luôn coi NN là ván đé cơ han cua sự nchiệp cách mạng Đàng luôn quan tâm xây dựng và hoàn thiện NN de NN
Trang 36thực sự là công cụ chủ yêu thực hiện quyền lực của nhân dân là điều kiện đảm bảo để giữ vững và phát huy thành quả cách mạng Đảng đã kế thừa và vận dụng một cách sáng tạo tư tướng Hồ Chí Minh về xây dựng NN pháp quyền,
NN của dân, do dân và vì dân trong đó “Chính phủ là công bộc của dân Các công việc cúa Chính phú làm phái nhằm vào mục đích duy nhất là mưu cầu tự
do hạnh phúc cho mọi người Chính phú nhán dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi của nhân dân lên hết thảy Việc gì có lợi cho dân thì làm việc gì có hại cho dân thì phái tránh” Trên lĩnh vực báo chí lúc này Hồ Chí Minh đã khắng định trách nhiệm nặng nề và cao cả của mình trước nhân dân Chính lúc này, tiếng nói của Người trên báo chí đã mang thêm danh nghĩa mới Với cương vị là Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh nhân danh cho đất nước, cho nhân dân để phát biểu, luận bàn Với sắc lệnh 41-SL được ban hành có tác dụng tích cực góp phần củng cố chế độ dân chủ cộng hoà, ngăn chặn và tiêu diệt các thế lực phán động, thống nhất lực lượng dân tộc, tập trung vào ke thù bcn ngoài là bọn thực dân phán động Pháp đang tiến hành mọi thú đoạn nhằm dặt lại ách thống trị lên nhân dân một lần nữa Rồi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng
nổ, tình hình thay đổi ở các vùng kháng chiến (kế cả ớ vùng tự do và vùng địch chiếm) BC xuất bản đều do Đảng lãnh đạo, của trung ương hay cấp uỷ đáng bộ địa phương Sau khi đánh thắng thực dân pháp, Trung ương Đang và Chính phu rời căn cứ địa Việt Bắc về Thù đô Hà Nội Các cơ quan trung ương Đang và các đoàn thể, các ngành của CP cũng chuyển từ Việt Bắc về Hà Nội, hoạt động trong điểu kiện mới, với tình hình mới Khi các thành thị mới giải phóng, bổn cạnh những tờ báo, tạp chí cách mạng, còn một số tờ báo cũ xuất ban trong thời kỳ địch chiếm Nhiệm vụ của Đáng là giáo dục, cái tạo và chí đạo họ hoạt động phục vụ cho sự nghiệp cái tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chu nghĩa xã hội cho đấu tranh thông nhất nước nhà Một số phán tư tay sai của địch trước đáy
khôn1* chuvển biến kịp nhận thức về thời kỳ mới cua cách mạng, lợi dung sách
36
Trang 37báo để đi ngược lại đường lối của Đáng và NN BC lúc này là một mặt trận đấu tranh giai cấp và dân tộc vô cùng nóng bỏng Bén cạnh nhũng biện pháp để giáo dục, tổ chức, lãnh đạo thông qua các đoàn thế quần chúng và hướng dẫn cùa các
cơ quan nghiệp vụ, việc dùng quyền lực của NN đế phối hợp đáu tranh là một yêu cầu hêt sức quan trọng, báo đám quyền tự do BC chán chính, chống mọi lợi dụng tự do BC để đá kích chế độ, làm bình phong cho các thế lực phàn động chống phá cách mạng Trong giai đoạn (1945 - 1954) BC đã tập trung tuyên tuyền phán ánh tốt nhiệm vụ cúa mình như: Việc chuyển từ Uý ban dân tộc giái phóng đến Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dán chứ Cộng hòa, sự ra đời cùa Chính phủ liên hiệp Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và việc Tổng tuyến cử - thành lập Chính phủ kháng chiến, thông qua Hiến pháp đáu tiên cứa nước Việt Nam Dàn chủ Cộng hoà và thành lập CP mới BC còn tích cực tuyên truyển những thắng lợi của ta trcn mặt trận ngoại giao; động viên mọi người tích cực đáy mạnh cuộc kháng chiến chống Pháp và kết thúc giai đoạn này là tuycn truyền về chiến thắng lịch sử Điện Bicn Phủ Hiệp định Giơnevơ được ký kết, kết thúc một giai đoạn đấu tranh của toàn dân cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dàn tộc
Sau khi hoà bình lập lại 1954 đến năm 1975, tình hình đất nước có nhiéu thay đổi, đối với hoạt động BC đã được CP quan tâm chỉ đạo thông qua các văn bản pháp luật như:
- Ngày 14.12.1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh sỏ' 282/SL về chế độ BC gồm 3 chương 19 điều
- Ngày 20.5.1957 Chu tịch Hồ Chí Minh kỷ Luật số 100 SL/L002 quy định chế độ BC
- N°ày 18.6.1957 Chu tịch Hồ Chí Minh ký Sắc luật số 003 vé Quyền tự
do xuất bán gồm 4 chương 21 điều trong đó nói rõ hoạt động xuất ban phai nhàm phục vụ quyền lợi cua Tổ quốc, của nhân dãn, xây dựng va báo vệ chó
độ dân chú nhân dân
Trang 38- Ngày 24.6.1957, Thủ tướng Phạm Vãn Đồng ký Nghị định 275-TTg quy định chi tiết thi hành sắc luật số 003SLT ngày 18.6.1957 quy định chế độ xuất bán.
- Ngày 6.7.1957, Bộ trướng Bộ Thương Nghiệp Phan Anh ký Nghị định
số 302-BTN quy định giá bán lẻ giấy viết học sinh và giấy in báo
- Ngày 9.7.1957, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định 297/TTg qui định chế độ về quyền lợi những người làm cồng tác BC chuyên nghiệp và Nghị định 298/TTg qui định chi tiết thi hành Luật số 100-SL/L002 ngày 20.5.1957
về chế độ BC
- Ngày 19.10.1957, Thừa lệnh Thứ tướng Chính phủ, Thứ trướng Thu tướng phủ (Phó Chủ nhiệm Vãn Phòng Chính phủ ngày nay) ký Thông tư sô 491-T Tg về việc đăng các văn kiện, thông cáo, thông báo của các cơ quan chính quyền trên báo chí
- Ngày 31 1.1959, Bộ Tài chính có Thông tư số 95-TC/HCP, do Thứ trưởng Trịnh Văn Bính ký, quy định về việc mua báo cho các cơ quan
- Ngày 13.3.1959, Bộ Giao thông và Bưu điện có Thông tư số 06 -T T quy định thù lao bán tem thư, phát triển báo dài hạn, bán báo lẻ và phát hành báo đối với các trạm bưu chính xã
- Ngày 20.4.1961, Bộ Văn hoá ra Quyết định số 170-VH/QĐ do Bộ trưởng Hoàng Minh Giám ký, ban hành chế độ nhuận bút sách và nhuận bút của các ngành sân khấu, múa, xiếc, điện ảnh, âm nhạc, hội hoạ, điêu khắc, mỹ nghệ, nhiếp ánh và BC
- Ngày 24.4.1959, Bộ trướng Thủ tướng phu Phạm Văn Bạch ký Thông tư
số 1771 -CP về việc đăng cống báo và sử dụng công báo
- Nkày 01 1 2.1 961, Thủ tướng Chính phu Phạm Vãn Đỏng ký han hanh Nơhị định số 207- CP quy định the lệ đối với phỏng viên nước ngoai hoại dóng
ớ nước Việt Nam
Trang 39- Ngày 8.8.1962 Liên Bộ Tài chính, Ngán hàng Nhà nước Việt Nam và Truyên thanh có Thông tư số 20-T T-LB quy định về thế thức thanh toán tiền mua BC của cơ quan, xí nghiệp.
- Ngày 27.1 196 6 Phó Thủ tướng Phạm Hùng ký Quyết định sô 18- TTg/TN vê việc điều chính giá giấy, giá công in sách báo và văn hoá phẩm khác, việc cung cấp một số loại sách giáo khoa
- Ngày 5.9.1966 Tổng Cục Bưu điện và Truyền thanh do Tổng cục phó Nguyễn Văn Đạt ký Quyết định số 619-QĐ thống nhất chế độ phát hành phí đối với các BC xuất bán trong nước do ngành bưu điện phát hành
- Ngày 15.9.1971, Tổng cục Bưu điện, do Tổng cục phó Nguyễn Văn Đạt
ký Quyêt định sô 1099-QĐ sửa đổi chế độ hoa hồng, thù lao trong cồng tác phát hành BC
- Ngày 10.11.1971, Tổng cục Bưu điện ra Thông tư số 31-TT/PH quy định việc nhận đặt mua BC xuất bản trong nước
Giai đoạn 1955-1975 là giai đoạn xây dựng chú nghĩa xã hội và dấu tranh thống nhất đất nước Báo chí lúc này tập trung tuyên truyén ớ hai miền:Miền B á c : Hoàn toàn giải phóng đi lcn chủ nghĩa xã hội - chi viện cho miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà; Hoàn thành cái cách ruộng đất và khôi phục kinh tế quốc dân (19 55-1957 ) tiếp đến là hoàn thành cái tạo xã hội chủ nghĩa, bước đẩu phát triển kinh tế và văn hoá - đưa miền Bắc vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Xây dựng chù nghĩa xã hội và đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ; Khôi phục kinh tế và đánh thắng chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ; Tiếp đến là khỏi phục
và phát triển kinh tế, dồn sức chi viện cho miền Nam [82]
Đối với miền Nam: Nhân dân trực tiếp chống xâm lược Mỹ và tay sai lùm phá sán nhiều chiến lược chiến tranh của Mỹ, giai phóng miên Nam hăt đầu từ phong trào khới nshĩa Đổng Khới; Đánh tháng chiên lược "Chién tranh
Trang 40đặc biệt” của đế quốc Mỹ (1961-1965); Cuộc Tổng tiến cồng và nổi dậy Mậu thán 1968, đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ (1 9651968); CP Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra đời chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ (1969 - 1972) thất bai; Hội nghị Pari về Việt Nam, cuộc đàm phán hoà bình gay go nhất thế kỷ X X ; Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam [82],
“Trong cuộc kháng chiến chống Pháp nhân dân Việt Nam được sự ủng
hộ của nhiều Nhà báo tiến bộ như Uyn phrết Bơcsét, MađôRen Riphô đã lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam tiếp theo là cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc lần thứ 2 Nhiều Nhà báo có mặt ở chiến trường và một số đã hy sinh dũng cám Chúng tôi ghi nhận sự đóng góp của các nhà báo Mỹ đã đến chiến trường Việt Nam và lén tiếng đòi chấm dứt mọi chiến tranh xâm lược Việt Nam” [38 177], Đặc biệt là tờ Nhân dân, tờ báo của Đảng Cộng sán Việt Nam đã được tác giả Dương Xuân Sơn lùm rõ trong
đề tài “Báo chí Việt Nam - Vũ khí sắc bén trong cống cuộc dâu tranh chống
đế quốc Mỹ xâm lược” “Nêu rõ tính chất của cuộc chiến tranh, vạch trán hộ mặt thật của đế quốc Mỹ, làm sáng tỏ tình hình chiến sự cũng như hoạt động quân sự của các lực lượng vũ trang của Việt Nam trên hai miền đất nước giái thích, phân tích cho nhân dân Việt Nam và toàn thế loài người tiến bộ biết rằng sự nghiệp của chúng ta là chính nghĩa” [78],
Báo chí trong chiến tranh đã làm nổi lên chủ nghĩa yêu nước anh hùng của dân tộc Việt Nam, góp phần tạo nên tiếng nói gần gũi, thống nhất giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân tiến bộ trên thế giới Nhất là với nhãn dán yêu chuộng hoà bình Mỹ
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giái phóng, đát nước thông nhát, hoạt động BC vẫn được CP coi trọng bằng cách thường xuyên chi đạo các các đơn
vị có liên quan đến hoạt động BC hiệu chính và bố sung những văn ban mới đế tạo điều kiện cho BC hoạt động được tốt hơn như:
4 0