1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xu hướng tăng vai trò tự quản của cộng đồng làng xã đồng bằng sông hồng trong thời kỳ đổi mới

122 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 21,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số công trình có đề cấp đến những khía canh cụ thô của tự quản CĐLX, hoặc đặt nó trong cơ cấu tổ chức quản lý nông thôn đó là: Lẽ làng phép nưổc hà nội, 1985 của Bùi Xuân Đính, Cơ cấ

Trang 1

ĐẠI HOC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯÒNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHẮN V ÌN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHẢN VÃN

KHOA XÃ HỘI HỌC

LUÂN

KHOÁ IV (1995 -1997)

ẤM TỐT NGHIỆP CAO HỌC

Trang 3

TRƯỜNG ĐAI HỌC KHOA HỌC XÃ HÔI VÀ NHẢN VÃN

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài 2

2 Mục đích, giả thiết nghiên cưú và khả năng đóng góp của luận án 3

1.3 Nông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác trong

Trang 5

đời sống dân cư 17

UW- Tính cộng đổng của cư dân làng Việt cổ truyền 19

2 Truyền thống tự quản của cộng đổng làng xã - ĐBSH #

2.6 Tự quản CĐLX trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 36

3 Tự quản CĐLX ở ĐBSH những thập kỷ trước đổi mới 39CHương Ó: Thực trạng và xu hướng tàng vai trò tự quản CĐLX

2 Từ "tự chủ” đến "tự quản" trong hoạt động kinh tế của

3 Tự quản CĐLX trong các lĩnh vực chính trị, xã hội và văn hoá 53

4 Những thay đổi của hệ thống quản lý ở thôn xã 62

4 1 Sự đổi mới bước đầu hệ thống quản lý cấp xã 624.2 Sự tái lập đơn vị thôn xóm truyền thống 634.3 Cơ chế tự quản ở thôn - xóm và vị trí chức nãng của trưởng

Chương ni: Xu hướng tăng vai trò tự quản của CĐLX trong chiên

lược phát triển nông thôn ngày nay 77

1 Những ván đề mới nảy sinh ừong quá trình tăng cường vai trò

tự quán của CĐLX

2 Giải pháp cho xu hướng tảng vai trò tự quản của CĐLX trong

chiến lược phát triển nông thôn ngày nay 842.1 Xu thế phát triển nông thôn theo hướng đô thị hoá, còng nghiêp

Trang 6

hoá và hiộn đại hoá 34

2.2 Giải pháp tự quản CĐLX trong chiến lược pháĩ triển

Trang 7

BẢNG CHÚ GIẢI CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

Luân án thạc s ĩ khoa học Lẻ Sgoc Binh

XU HƯỚNG TÃNG VAI TRÒ T ự QUẢN CỦA CỘNG ĐỔNG

LÀNG XẢ ĐỔNG BẰNG SÔNG HỔNG TRONG

THỜI KỲ ĐỔI MỚI A.GIỚI THIỆU

1 ĐẶT VẤN ĐE

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Tự quản là một trong những điểm nổi bật của các cộng đồng Iànsc xã (CĐLX) cổ truyển ở mức độ nhất định, nó phát huy được khả năng tu chu của người dân trong viộc quản lý xã hội nồng thôn, và biểu hiện một "Thẻ ứng

xử nước đôi" tương đối "khôn khéo" của CĐLX đối với Nhà nước

Trong lịch sừ, mỗi thời đại hay giai đoạn đều có những biểu hiện cu thể của hình thức tự quản CĐLX- Bởi thế, đã có nhiều cách phân chia loại hình như:Tự quản truyền thống và hiện đại; tự quảrí&iước Cách mạng Tháns Tám và sau Cách mạng Tháng Tám; tự quảnliiước đổi mới và trong đổi mới

Trong sự nghiệp đổi mới, vai trò tự quản cua CĐLX càng trở lẻn quan trọng không chỉ đối với công cuộc mớ rộng dân chủ hoá hiện đang xúc tiến mạnh mẽ, mà còn đối với việc phát huy tính hiệu lực của chính quyển cơ sơ cua Nhà nước ờ nòng thôn

Thực tê nói trên buộc chúng ta phải nghiên cứu một cách có hệ thòng vấn để vai trò tự quản của CĐLX, nhằm bổ sung thèm những nội dung tích cực cũng như tìm cách hạn chế những khía cạnh chưa hợp lý của vấn đề này ơ nông thôn Trong tình hình ấy, kể cả viộc tìm hiểu những kinh nghiệm của quá khứ lẫn việc xem xét có tính dự báo xu hướng vận động của vấn đề rự quan é nông thôn đều có những ý nghĩa thiết thực Do vậy việc thực hiện đề tài ỉuận

án này đã trở nẻn cấp thiết hơn, nhăm góp phần đáp ứng kịp thời cho Việc xàv dựng một cơ chế tự quản CĐLX mới, có tác dụng đẩy sự tiến bọ cua nông thôn, tham gia tích cực vào cỏng cuộc công nghiệp hoaT hiện đại hoá đát nươc

Trang 9

Luận án thạc s ĩ khoa học Lè Xgnc Bĩnh

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Đã có nhiều công trình khoa học xã hội, nghiên cứu về làng xả và tư quản CĐLX Những cồng trình nghiên cứu về làng xã nói chung, trongđố có

để cập ít nhiều đến tự quản CĐLX cần phải kể đến là: nống thốn Viẽt Nam trong lich sử (tập I và n , Hà nội, 1977 - 1978) của tập thể tác giả do viện sử học tổ chức; Nống dân và nống thốn Viẽt Nam thời câp dai (tâp I Hà nội 1990) của viện sử học; Tìm hiểu làng Viẽt (Hà nội, 1990) của Diệp Binh Hoa Một số công trình có đề cấp đến những khía canh cụ thô của tự quản CĐLX, hoặc đặt nó trong cơ cấu tổ chức quản lý nông thôn đó là: Lẽ làng phép nưổc (hà nội, 1985) của Bùi Xuân Đính, Cơ cấu tổ chức của làng Viet Cũ truvển ở Bắc bô (Hà nội - 1984) của Trần Từ; Tổ chức quản lý xã thốn (Hà nội 1978) của Huy Phúc, Kinh nghiêm tổ chức quản lý nống thốn Viet Nam trong ĩich sử (Hà nội 1994), Quản lý xã hối nống thốn nước ta hiên nay - mot số vấn

để và giải pháp (Hà nội 1996) do Phan Đại Doãn chủ biên; phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn (Hà nội 1996) của Chu Hữu Quý; Kinh tẽ - xã hỏi nỏng thổn Viẽt Nam ngày nay (Hà nội 1992) của Ban nóng nghiệp Trung ương

Có thể nói rằng, phần lớn các công trình nghiên cứu trên chỉ đề cấp đên

cơ cấu tổ chức quản lý và tự quản CĐLX dưới góc độ sử học dân tộc học nhiểu hon là những phân tích xã hội học và ngay cả dưới các góc độ sử học và dân tộc hoc Thì vấn để tự quản CĐLX cũng chưa được nghiên cứu một cách

có hệ thống Còn dưới góc độ xã hội học, thì hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và đầy đủ về vấn để tự quản CĐLX

Tuy nhiên, những thành tựu nghiên cứu mà chúng tôi đá để câp trên đây, dù ở bất cứ góc độ nào, cũng đều hết sức bổ ích đối với việc thực hiện đế tài này Nhờ đó, chúng tôi nhận thức được rằng: làng xã là tổ chức thiết chế cơ ban của xã hội nông thôn, và tự quản CĐLX là một đặc trưng bản chất, một thuộc tính vốn có của làng xã Bởi thế chúng tỏi nghĩ rằng bộ món sã hội học nông thôn phàí tiếp tục nghiên cứu sâu vấn đế tư quản CĐLX và _')! đo như

Trang 10

Luân án thac s ĩ khoa hoc Lư Xgoc Binh

mồt nhiệm vu của chuyên ngănh khoa học, và góp phần đáp ứng những nhu

cáu do thưc tiễn cồng cuộc đổi mới nông thôn đăt ra

1.3 Những vấn đề cân nghiên cứu

Trong tiến trình thưc hiện đê tài những vấn đề cần được nghiên cứu bao

gồm:

1.3.1 Hệ thống tổ chức và cơ chế tư quản của CĐLX từ khi có chú

trương đổi mới đến nay

1.3.2 Nội dung tự quản của CĐLX

1.3.3 Vai trò tư quản^ủa CĐLX trong việc quản iy nòng thôn

1.3.4 Những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình thưc hiên vai tro rư

quản cúa CĐLX

Trong khi để câp đến hệ thống tổ chức và cơ chế tư quàn của CĐLX,

chúng tôi đẳ đâu tư thích đáng cho việc tìm hiểu vê Ban quán lv thôn va vai

tro chức năng của Trương thỏn Chúng tôi cũng đăc biẽt quan tàm đen mui

quan hệ giữa quyền tư chủ cua kinh tê hộ sia đình và vai tro rư quan cua

CĐLX

2 MỤC ĐÍCH, GIẢ THUYẾT NGHIÊN cữ u VÀ KHẢ NĂNG ĐÓNG

GÓP CỦA LUẬN ÁN.

2.1 Mục đích nghiên cứu.

2.1.1 Làm sáng tỏ đăc điểm của tư quản CĐLX trong lịch sư cũng như

xu hướng tăng vai trò tư quản của CĐLX trong cồng cuôc đôi mới hiên nay

2.1.2 Nêu bât V nghĩa, tác đung của xu hướng tăng vai tro tư quan cua

CĐLX đối với quá trình phát trién nông thông theo hướng đo thi hoá (ĐTH)

công nghiệp hoá (CNH) vá hiên đai hoá (HĐH)

2.2 Giá thuyêt nghiên cứu

2.2.1 Tư quản CĐLX là một hiên tương đăc thù của làng Vièt cò tnr.én lyén được hình thành trén cơ sơ những điều kien lích sử về kinh tế xà hoi nhất đinh

Ngày nay trong công cuộc đôi mới, khi những điểu kiên ấy xuất hiẻn trơ lai thi

sư phuc hổi cơ chê tư quản CĐLX là mốt lo síc tất yếu

Trang 11

Luân án thac s ĩ khoa hoc Lé Ngoe Bính

2.2.2 Tự quản CĐLX là một xu hướng tất yéu của tiến trình dan chu

hoá đang được xúc tiến manh mẽ ờ nông thôn nước ta hiện nay

2.2.3 Mọt trong những đặc thù của công cuộc đổi mới hiên nay là sư kết hợp giữa hai hình thức quản lý xã hội: Nhà nước pháp quyền của dãn do

dân và vì đân, với khả năng tự quản của các cộng đổng dán cư Sư kết hợp nói

trên có tác dụng vừa đảm bảo được sư an toàn của xã hội và tinh hiên thưc của

Nhà nước pháp quyển, vừa phát huy được tính tích cưc, năng đông, tư giác và

tinh thẫn dân chủ truyền thống của nhân dân

2.2.4 Hệ thống và cỡ chế tư quản của các CĐLX hiên nay được xây

dựng trên cơ sơ kêt hợp những quan hê xã hội của làng Việt cổ truyền nói

riêng và của xả hội Viêt Nam truyên thống nói chung, với những cơ chế xà hôi

hiện đai do cuôc sống đổi mới tao ra

2.3 Khá năng đóng góp cùa luặn án

2.3.1 Tư thưc tiễn nghiên cứu nồng thôn đổng băng sồnơ Hổng, luân án

sẽ góp phần vào việc xác định vaí trò tự quản của CĐLX thưc chất là mỏt xu

hướng tích cực nhằm phát huy triẹt để năng lưc chính trị tích cưc cua ngươi

dân trong việc quản lý xã hội Tìm hiểu những truyền thống tốt đep cua đời

sống làng xã và góp phần hạn chế đến mức thấp nhất tình trang mất dân chủ ơ

nông thôn

2.3.2 Luận án sẽ làm sáng tỏ mối liên hệ giữa quyền tư chủ kinh tế của

các hộ gia đình và vai ữò tư quản của CĐLX, cũng như khả năng vươn tới

quyền làm chủ thưc sư của người dân nông thôn

2,3.3 Luân án cũng sẽ nêu lên những han chê của quá trình thưc hiên

vai trò tư quản của CĐLX hiện nay

2.3.4 Luận án sẽ cố găng đưa ra những gợi mơ về một mô hình tư quản CĐLX kiểu mói phù hợp với công cuộc ĐTH và sư nghiêp CNH, HĐH đất

nước

4

Trang 12

Luân án thac s ĩ khoa hoc Le Ngoc Binh

3 CO Sỏ LÝ LUẬN VÀ THựC TIEN

3.1 Chính xác hoá các khái niệm

3.1.1 Làng và làng - xã (Village or Commune)

Theo từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1996 của Nhà xuất ban Từ điển

học thì "làng" là một khối dân cư ở nông thôn làm thành một đơn vị có đời

sống riêng về nhiều mặt và là đơn vị hành chính thống nhất dưới thời phong

kiến Ngoài ra, khái niệm làng còn được đùng theo nghĩa là những người có

cùng một nghề (theo nghĩa nghề nghiệp)

Còn ở đây khái niệm làng theo quan niệm của chúng tôi, đó là một cộns

đổng xã hội, đơn vị nền tảng của xã hội nông thôn, một tập hợp dân cư sống ở nông thôn Việt nam mà cấu trúc của nó như một xã hội nòng thôn thu nhỏ Trong cấu trúc đó có đủ các thành phần, các quan hệ cơ bản của nông thôn Việt nam truyền thống cung như hiện đại

Trong tiếng Anh khái niệm "làng - x a ' hay được dũng cùng hai từ Village or Commune Khái niệm xã, theo Từ điên tiếng Việt, đó là đơn vị

hànhcJfính cuối cùng ở nông thổn, bao gồm một số thôn

Vì vậy, xã là cấp cuối và trên làng xóm về mặt hành chính pháp lý Theo cách quan niệm thông thường trong dân gian, thì khái niệm lang tương đương với khai niệm thôn Làng là cách gọi cũ còn thôn là cách gọi mới Như

vậy, trong một xã có thể có nhiều làng, làng không tương đưcmg với xã Song

theo cách hiểu của nhiều nhà khoa học xã hội thì khái niệm lâng và thôn là rất khấc nhau Nhiểu người cho rằng, làng không phải là một đơn vị hành chính

mà lằ một đơn vị cộng đổng tập hợp dân cư theo nghĩa tự nhiên - xã hội, còn

thôn là một đơn vị hành chính.

3.1.2 Cống đổng làng - xâ (Village - Community )

Khấi niệm "Cộng đồng làng xã" chỉ ra phương thức tòn tại xã hội của các tập đoàn dân cư nông thôn miền Bắc trong quá khứ và hiện tại Trong các tập đoàn dân cư này, đời sống xã hội chủ yếu dựa trên các quan hẹ gia dinh, thân tộc, xóm thôn hay làng - xã, trong khi các quan hệ chức năng chi có vị trí

Trang 13

Luận án thạc s ĩ khoa học Lê Ngọc Binh

khiêm tốn so vói đời sống xã hội đô thị Khái niệm cộng đổng cũng ám chì xu hướng chủ yếu của các tập đoàn dân cư nông thôn là hướng nội và tinh thản địa phưcmg hay cục bộ của đời sống cộng đồng trong quá khứ và hiện tại, nlut

là khi các tập đoàn đó sống chủ yếu nhờ nông nghiệp và ít có quan hệ với thi trường Đời sống xã hội cộng đồng chủ yếu mang tính truyền thòng, bơi nó dựa chủ yếu vào tục lộ và tập quán hơn là dưa trên pháp luật hay các quan hệ chức năng kiểu đô thị

Tuy nhiên, khái niệm cộng đổng cũng chỉ phản ánh xu hướng của đời sống xã hội nông thôn theo những đăc điểm trên, chứ không hẳn chúng đã là một thực tế đương nhiên như người ta thường nói về nó- Bơi vì, trong các tập đoàn dân cư ấy, đời sống vản luôn luôn thể hiện những mâu thuẫn, xung đột ngay cả trong gia đình, gia tộc hay thôn xóm Tinh thần cộng đồng chính là lý tưởng, mong muốn của mọi người dân nhảm chế ngư những nguy cơ chia rỗ trong đời sống xã hội địa phương của họ Khi tinh thần cộng đổng mạnh, đời sống xã hội nông thôn có kết hợp Trong trường hợp ngược lại, đời sống xã hội nông thôn có thể tự tan rã, lâm vào tình trạng bị khùng hoang

3.1.3 Khái niẽm tư quản (Self - goverment) tư trí (Autonomy) vẫn theo Từ điển tiếng Việt thì khái niệm "tự quản" có nghĩa là tự mình

trông coi, quản công việc của mình không cần CG sự điều khiển của người

đó, nhưng "tự quản" có ý nghĩa xã hội rộng hơn khái niệm ’tự trị", khái niem

"tự trị" mang nhiểu ý nghĩa chính trị hcm) (thiết chế chính trị, pháp luậĩ chật chẽ hơn)

Tự quản, tự tn ừong cộng đổng làng xã là tự quan lý vể kinh te tư quan

vể chính trị, tự quản lý vể văn hoá xã hội cộng đổng Nhưng; tự quan ỉv theo

6

Trang 14

Luân án thac s ĩ khoa hoc Lê \° n t; Bình

chúng tôi nó phải nằm trong khuôn khổ "phép nước’ , phải bao đam đinh hướng xã hội chủ nghĩa Không có cái gọi là "tư quản, tư tri thuần tuv"

3.1.4 Khái niêm "vai trò tư quản"

Khái niệm "vai trò tư quản" của các CĐLX luồn gắn liên với khái niêm

"vị thế" của chính các công đổng đó, trong hệ thống các quan hệ kinh té chính trị xã hội vă pháp luật của toàn xã hội Bởi vì, trong quan niệm xả hội học, khái niệm vai trõ tự quản thể hiện sư thưc thi những quyền hạn và nghĩa vu trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, của các cộng đồng nông thôn, được qui đinh trong các chính sách kinh tế xã hội và pháp hiât của Nhà nước

Do đậc điểm kinh tế xã hôi và lịch sử của các cộng đông nông thôn hien nay, Đảng và Nhà nước ta đã thừa nhận vị thẽ tư chủ của kinh tế hộ nòng dân của kinh tế tâp thể nông thôn trong lĩnh vưc kinh tế Trong lĩnh vưc xả hôi cũng vây, các đơn vị xã hôi đia phương như thôn xóm, xã đêu thế hiên những điểu kiên tư quản cao hơn nhiêu so với đời sống đô thi Chỉ có một so ít các cán bộ của xã như chủ tịch, Bí thư, các Phó chù tich, các trương thôn hiên na)

là có phụ cấp hay lương này chỉ mang tính chất tượng trưng còn phần lớn thu nhâp của ho vẫn dựa vào phần sàn xuất và táng gia dưa trên ruộng khoán, đo

xã cáp Khi chế độ quản lý Nhà*ihu hep thì chế độ tư quản tảng lên Ngay che

độ bầu cử của các cán bộ quản lý địa phương cũng vãy đều được giới thiéu, tuyển chọn từ chính các cộng đổng địa phương chứ không phải từ nơi khác đến, như ờ đô thi

Những đảc điểm về quyền han ấy cũng chính là nhũng nghĩa vu mà họ phải thưc hiện đối với bản thân họ và đối với Nhà nước Sư tư quan chính la một nhu cầu của các cộng đổng nông thôn trong suốt tiến trình lich sử cua ho Bởi họ còn có tục lệ dưa trên tình làng nghĩa xóm, bao ban nhường nhin lẫn nhau trước khi cần đến pháp luât hay các biên pháp hành chính Xu hướng này ngày càng manh bời họ ngày càng có kha năng thưc hiện điều mong muốn đó

Sư tư quản trong sản xuất kinh tế chính là điêu kiện cơ bản dẫn tới nhu cảu tư quan về xă hội và chính tri

Trang 15

Luan an mac 5Ĩ Kfioa noc La \ g o c Binh

Cũng từ cách tiếp cận tổng thể và hệ thống này, phương pháp nghiên cứu liên ngành ở đây cần được coi là một nguyên tắc và phương pháữ luan Các nghiẽn cứu kinh ĩế sẽ có mổt vị trí xứng đáng trong các phan tieh ve nguyồn nhân dẫn tới những nhu cầu tự quản của các CĐLX, Các phân tích dân tộc học và xã hội học sẽ giúp người ta hiểu rõ hơn các kiểu tỏ chức xã hội nỏng thôn và những lý do của chúng Các phân tích chính trị, vãn hoá cũng

sẽ góp phần làm sáng tỏ tính chỉnh thể và cố kết của đời sống xã hội Ròi cà cách nhìn lịch sư cũng là cần thiết cho chúng ta hiểu diễn tiến cua từng sự kiện và trật tư thời gian của chúng

Cách tiếp cận định lượng vốn là sở trường của xã hội học cẩn phải đươc phát huy để đo cho được tính phổ quát của các quá trình xã hòi Tuy nhiên, khi có sự thay đổi về chất của các quá trình xã hội đó những phân tích định tính sẽ cần phải được sử dung với khả nâng cho phép, Bởi chúng rất công phu

và tốn kém, lại luôn bị giới hạn ở khả năng đại diện

3,3 Phương pháp luận

Thực hiện đề tài luận án này, nguyên tắc lựa chọn phương phap nahien cứu của chúng tôi là:

8

Trang 16

Luận án thạc sĩ khoa học Lẻ Ngoc Binh

- Sử dụng phương pháp liên ngành, xã hội học với các ngành khoa học

xã hội khác như: kinh tế học, sử học, chính trị học, dân tộc học

- Kết hợp các phương pháp định tính và định lượng trong nghiên cứu xã hội học

3.4 Cơ sở thực tiễn

Công cuộc đổi mới toàn điện về kinh tế và xã hội do Đảng và Nhà nước tiến hành trên cả nước ta hơn 15 năm nay, chính là một thực tiễn quí báu cho việc thực hiện để tài này Hơn nữa nó còn là một đòi hỏi đối với những người nghiên cứu muốn đóng góp sự hiểu biết của mình cho công cuộc đổi mới hôm nay

Những kết quả cho dù to lớn cũng cần phải được phân tích đánh giá rút

ra những bài học kinh nghiêm và thực tiễn cho tương lai Những bài học vế sự chưa thành công lại càng cán phải có những thao tác phân tích để tìm ra những nguyên nhân và cơ chế của chúng

tuy nhiên, trong phạm vi luận án này, chúng tôi chỉ có thể phàn tích những gì mà chúng tôi có thể quan sát, tiếp cận trực tiếp hay thông qua các công trình nghiên cứu khác mà chúng tôi có thể khai thác Đây không phai là một dự án nghiên cứu, nói đúng hơn, nó chỉ là một luận án cao học mà ở đó tác giả của nó muốn trình bầy, hệ thống hoá những điều đã học được và áp dụng nó vào trong một bối cảnh nghiên cứu của một vấn đề cân được nghiên cứu

Trang 17

Luận án thạc s ĩ khoa hoc Le ìSgoc Binh

Về thời gian: Luận án sẽ giới hạn thời điểm nghiên cứu từ khi các chu trương đổi mới kinh tế xã hội của Đảng đã bất đầu phát huy hiệu lực trong đời sống xã hội nông thôn trở lại đây Đó là từ khi chúng ta triển khai thực hiện chỉ thị 100 (1981) nhằm cải tiến chế độ khoán sản phẩm tới người lao động

4.2 Phương pháp nghiên cứu.

Viộc sử dụng phương pháp luận nghiên cứu xã hội học Mác xít, tự nó đã giả đinh những phương pháp bổ xung như sau:

- Lý thuyết hộ thống nhằm xác định các mối liên hê giữa những yếu tố thành phần và yếu tố tổng thể là hệ thống xã hội tính qui định hệ thong chính

là lô gíc của mối liên hộ giữa các sự kiện xã hội được phân rích

- Lý thuyết cơ cấu chức năng giả đinh hệ thống xã hội cũng là một hệ thống những chức năng xã hội, mà mỗi bộ phận cua nó phải thoả mãn để cho

hệ thống đó luôn tổn tại trong sự hoà giải và ổn đinh, lĩnh vực ván hoa phái đảm bảo chức năng duy trì các mô hình giá trị Lĩnh vực chính trị gan với việc thực hiện những mục tiêu tập thể thông qua việc đưa ra những quyết định và tổ chức thực hiện chúng Lĩnh vực kinh tế phải giải đáp những đòi hỏi vè sản phẩm tiêu dùng và dịch vụ, Lĩnh vực xã hội gắn với việc duy trì đời sons cọng đổng thực hiện chức năng tích họp hay cố kết xã hội

Tất nhiên, con người ngay cả khi hành động theo những chuẩn mực xã hội hay mục tiêu tập thể, vẫn luôn thể hiện những sắc thái cá nhân của nó trong suy nghĩ, cảm nhận và hành động cụ thể Lý thuyết hành vi xã hội cho phép chúng ta tìm thấy những động cơ khuynh hướng cá nhân trong mối tương tác với những nhân tố xă hội, do đó giải thích được những nguyên nhân của sự biến đổi xă hội

Các phương pháp khảo sát, điều tra xã hội học sẽ được sử dụng tơi mức cẩn thiết của chúng như:

- Phương pháp quan sát - thâm nhập

* Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến

- Phương pháp điều tra và bằng phỏng vấn sâu

- Phương pháp lịch sử và phân tích các tài liệu sần có

10

Trang 18

5 KHUNG LÝ THUYÊT

Xu hướng tâng vai tTÒ tự quản của CĐLX ơ nông thôn đông báng sông

Hổng trong thời kỳ đổi mới

Luân án thac sỉ khoa hoc Lt! \g o c Binh

Trang 19

at SI khoa hoc LỂ Ngọc tìììiìi

g Việt năng lực làng Viẹt

fèn bảo lưu truyến

ng văn hoá thông

ẩn và » vai công cuộc cái

) của kinh tế lố bộ máy

gia đình quản ly hành

\ % \ c ầ ' h í » 1 Kinh à Iiòne

Vai trò tư quản CĐ LX

Vai írò của Vai trò tư các lố chức quản của trong thiết chê CĐLX

tư quán (nói chung) CĐLX

Biểu hiện xu hướng tăng vai trò

tự quản cuả CĐLX

Các lĩnh vực

lự quản cua CĐLX (kinh

tế, chính til.

vãn hoá, xã

Xu hướng tàng vai Irò lư quản cùa CĐLX

Tac động

Trang 20

Luân án thac s ĩ khoa học Lé Sgoc Bình

6 K ÍT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khao, luân án này gổm 3 chương:

Chương I: Truyền thống tự quản của cộng đổng làng xã đông bảnơ

sông Hổng lịch sử Chương II: Thực trạng xu hướng tăng vai trò tự quản cùa cac cộng

đồng làng - xã đổng bằng sông Hồng Ưong thời kỳ đổi mới Chương III: Xu hướng tăng vai trò tự quản của cộng đông làng - xã và

chiến lược phát triển nông thôn ngày nay

Trang 21

Luân án thạc s ĩ khoa học Lê Ngúc Bmh

Về mặt hành chính, nông thôn ĐBSH nằm trong pham vi 78 huyện thuộc 16 tỉnh - thành, trong đó các tỉnh - thành chủ yếu là Hái Phòng, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Nam Đinh, Ninh Bình, Thái Bình Ngoài ra, các tỉnh Quảng Ninh Bẳc Thái, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hoà Bình, mỗi tỉnh cũng có một số huyện thuộc địa hình ĐBSH Chỉ

có 7 huyện vành ngoàỉ ĐBSH là có nhiều đổi núi xen kẽ, còn lai 7 l huyện được coi như hoàn toàn đổng bằng

VỚI một địa giới tự nhiên ngơản ngèo thì việc xác định diện tích của ĐBSH quả là khó chinh xác Tuy vậy, lâu nav người ta thừa nhận con só diện tích ĐBSH vào khoảng 1,5 đến 1,6 ha (15.000 đến ló.ooơm \ mà trong đó khu vực nông thôn chiếm phần lớn (23 - tr,7) và néu như lịch sư hmh thanh

14

Trang 22

Luận án thạc s ĩ khoa học Lẻ Sgọc Bình

đặc điểm địa hình và sự phân hoá khồng gian của ĐBSH có anh hường lớn đèn quá trình phát sinh phát triển của vãn hoá cư dân ĐBSH thì ngược lại, có thể nói bộ mặt hiện nay của ĐBSH tạo nên bằng bàn tay làm thuỷ lợi và cây lúa của họ

Về dân cư, tính đến năm 1994, ĐBSH (cả khu vực nông thôn và thành thị) có khoảng 14 - 15 triệu người, trong đó chủ yếu là người Việt, với mật độ trung bình 900 - 1000 người/km2 Trong khi đó, mật độ dần sô trung bình của các tỉnh duyên hải Trung Bộ là 160 người/km2 và đổng bằng sông Cửu Long

là 366 người/km2 (23 - tr 38) Nơi cư dân nông thôn tập trung đônsr nhất là Thái Bình - 1116 người/km2, Hải Hưng (cũ) - 991 người/km2, Hải Phòng - 935 người/km2 (23 - tr 38)

Do mật độ dân cư quá đông đúc mà diện tích canh tác theo đáu ngươi rất ít, bình quân chỉ có 579 người/m2, nếu tính dân số nông nghiệp thì điện tích canh tác bình quân theo đầu người cũng mới là 768rrr Điều này sẽ chi phối hàng loạt các vấn để kinh tế - xã hội ở nồng thòn ĐBSH

Là một vùng đất đai phì nhiêu và được coi là một trong hai 'vựa lúa” của cả nước, song trước đây hàng năm ĐBSH vẫn thiếu khoảng vài chục vạn tấn lương thực Từ khi có cơ chế khoán ưong nông nghiệp, đặc biệt là từ khoán 10 (1998), ĐBSH không những tiến từ mức tự túc được ỉương thực, giải quyết nạn thiếu đói trong nhân dân, mà còn đóng góp được một phần cho xuất khẩu

Ở ĐBSH, dân cư nông thôn vẩn chiếm đa số Năm 1991, dân cư nông thỏn chiếm tới 83,4% trong tổng số dân cư ĐBSH, trong khi dân số thành thị chỉ chiêm 16,6% (23 - tr 38) Những năm gần đây, do mơ cửa kinh tế, thành thị trở thành các trung tâm hoạt động công thương sầm uất, nên ty lệ dân thành thị đã tăng nhanh, song rõ rệt hơn vẫn chỉ có Hà Nội, một trong hai đô thị lớn nhất của cả nước Tuy vậy, cho đến thời điểm này Lhành thi ở ĐBSH vẫn chìm ngập trong một biển nông thôn, và cư dân nóng thôn vẫn là những chủ nhàn chiếm số đông ở đổng bằng châu thổ nàv

Trang 23

Luân án thạc s ĩ khoa hoc Le Xgoc Binh

1.2 Đặc điểm quần cư

Do ĐBSH vể cơ bản là địa bàn nông thôn nên đời Sồng cư dàn rat gân với tự nhiên và phải chịu sự chi phối nhiều bởi các điều kiện tu nhiên Tro-!í bối cảnh ấy, người dân nông thôn đã biết thích nghi và luôn tìm cách cái tạo tự nhiên để phục vụ cho cuộc sống của họ Một trong những biểu hiện thích nshi

đó là việc lựa chọn các kiểu quần cư phù hợp với điều kiện tự nhiên cua mỗi vùng, miền khác nhau Vì vậy có thể nói, ĐBSH có bao nhiêu vùng rự nhiên khác nhau thi cũng có bấy nhiêu kiểu quần cư khác nhau của cư dân nông thôn

Cơ sở của các đơn vị quần cư là các làng xã Làng xã bao gồm cả khu

cư trú (làng theo nghĩa hẹp) và đổng ruộng, trong đó không loại trừ trường hợp

có thể xen canh xen cư Số làng ở ĐBSH rất lớn Theo p Gourou (1936) thi có tới 7000 làng, với diện tích trung bình khoảng 200 ha, làng nhỏ dưới 50 ha, còn làng lổm phải trên 500 ha Trung bình mỗi làng có 1000 dân, ỉàns I n đèn trên 5000 dân Thậm chí có làng trên 10.000 dân (như ở Hải Thịnh - Hải Hâu -

Nam Định) Như thế, ở ĐBSH, dân số có làng còn đông hơn dân số một thị

trấn đô thị Vào thời điểm năm 1991, số làng xóm của 78 huyện ĐBSH là 1478ỉlĐáng lưu ý là trước đó cùng với quá trình ghép tỉnh, ghép huyện thì việc ghép các làng (thôn) thành xã lớn cũng được tiến hành Ngày nay, các tỉnh ghép được phân chia trở lại khuôn khổ cũ, nhưng các huyện ghép và đặc biệt

là các xã ghép hầu như vẫn chưa có chủ trương chia nhỏ lại Tính đên nãm

1991, ĐBSH có khoảng 2.219 xã, và mỗi xã có từ 6 đến 7 thôn xóm (23 - tr 53)

Làng xã ở ĐBSH đã được hình thành từ lâu đời và phân bố rải khấp trên toàn địa bàn Ban đầu, làng ĐBSH mang tính chất làng thị tộc với chế độ sớ hữu công cộng vể ruộng đất, và dân làng có quan hệ thân thuộc với nhau trên

cơ sở cùng dòng máu Các thành viẻn cửa làng cùng nhau chung lưng đâu cật

để chống chọi thiên tai, chinh phục thiên nhiên, và trải qua nhiêu đờ* các gia đình đòng họ sinh sôi nẩy nơ đất đai được khai thác, làm cho làng đưc:-w mơ rộng thêm ra,

16

Trang 24

Luân án thac sĩ khoa hoc Lè \ rgoc Binh

Khi chế độ quân chủ bộ lạc dưa trên cơ sớ thi tôc chuyển sang chẽ đo quân chủ Nhà nước thi làng thị tộc chuyển sang làng công xã nông thôn Các thành viên trong làng vẫn gắn bó với nhau, nhưng không phải báng quan he ho hàng máu mủ, mà bằng quan hệ sản xuất, Đà có sư phãn loai đẳng cãp có ke ơíàu và người nghèo, quan lai và thứ dân, chủ tơ

Với sự gia táng của chủ đất tư hữu, công xã nông thôn dần đần tan rả và đến cuối thế kỷ XV đã hình thành nên các làng tiểu nông, với chủ yếu là sơ hữu nhỏ ruộng đất của nông dân, và một số ít cống đién, còng thô Làng tiêu nông định hình rõ rệt từ thế ký x v m và tổn tai cho đến cách mang Tháng Tám - 1945

Từ sau năm 1945, ĐBSH chuyển sang mồt giai đoan mới vói cải cách mông đất và phong trào hợp tác hoá, mờ đáu la hơp tác xã (HTX) qui mo thôn, rồi qui mô xã, và bắt đầu từ những nảm 60, làng xã dần dần bi đổng nhất hoá với HTX Các đơn vị thôn xóm truyền thống bi thay thế băng các tổ, đôi san xuất Và một khi chế độ tãp thể với sư xoá bỏ tư hữu của các họ cá thê {ít nhat

la về hình thức) được để cao thì hình ảnh của làng xã vốn được hình thành trên

cơ sớ công đổng các hò gia đình tiểu nông cũng tam thời bị che phú đi

1.3 Nông nghỉêp và các hoạt đông kinh tê khác trong đời sống dán

ĐBSH là khu vưc châu thổ lớn ở miên Bắc nước ta Từ lâu những con người mà sau này trớ thành chủ nhàn của ĐBSH đả biết trổng cấy trên những đẻo đất cao quanh đồng băng, đẩy lùi các cánh rừng về miền Vièt Băc và Tây Bấc Do vây, phương thức sống và thói quen sinh hoat gắn với rừng hầu như không còn trong đời sống cư đân ĐBSH Trong khi đó, biên Băc Bộ lai nóng,

bờ bỉển lại thấp, lầy lội, thuân lợi cho người Viet từ phía trong lấp ra biên làm nỏng nghiêp, kết hơp phần nào với làm muối và đánh cá vùng duyên hai Con công việc đánh bàt cá có qui mô tương đối lớn ơ vinh Bãc Bộ trước kia vồ cơ bản lai năm trong tay người Hoa Vì thế sư gân bỏ cua cư dân ĐBSH vói biên,

sự thật cũng không mấv sâu đâm Chính mơi trưm g ĩtíiihièn va truyèn thonơ

Trang 25

Luân án thạc s ĩ khoa học Le i\goc Bính

cư dân nói trên đã hướng các chủ nhân của ĐBSH vào nông nghiệp một cách thuần tuý mà chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước

Là đổng bằng châu thổ phì nhiêu, có truyền thống lúa nước, trong khi sức ép dân số lại quá cao, nên ĐBSH từ lâu đã đi vào thâm canh cây lúa và ngày càng đạt năng suất cao so với các vùng châu thổ khác trong nước Nám

1931, ở ĐBSH bên cạnh náng suất lúa bình quân còn thấp (1,4 tân/ha/VU ), thì đây đó đã thấy nãng suất vọt lên 3,5 tân/ha/vụ, tức là 6 - 7 tấn/ha/nám Cho đến đầu những năm 90, nâng suất lúa binh quàn ở ĐBSH đã lèn tới 5 - 6 tấn/ha/nám, và đã có những mũi nhọn đặt 9 - 10 tấn/ha/nảm (23 - tr i00) Thâm canh năng suất tăng, kết hợp vói hàng loạt các biện pháp khác, ké cá thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, hoá học hoá tất cả đều nhằm tao nên những biến đổi cơ bản trong nông nghiệp ĐBSH, để có thể chịu được một mức độ dân so cao hơn gấp hai lần so với trước đó 60 năm

Dơ đất chạt, người đông, nhất là ờ vùng chiêm $iũng chí trổng lúa mọt nhiệm vụ nên người nông dân có nhiều thời gian nhàn rỗi để làm thêm các nghể phụ thủ công, nhầm thoả mãn nhu cầu tự cấp, tự túc trong phạm vi gia đìnhf làng xóm hay mang bán sản phắm ở chợ quẻ để tăng phần thu nhập Cho đến Cách mạng Tháng Tám, người ta đã ’“hôna kê được hàng trăm nghề thù cống khác nhau ở ĐBSH, trong đó nổi lên ba cụm nghế chính là: dệt làm đổ gốm và luyện kim Cho đến đầu những năm 90, tuy công nghiệp ơ ĐBSH đã khá phát triển so với các vùng khác trong nước, thì thủ công nghiệp ơ đây vẫn chiếm tới 70% giá trị tổng sản lượng công nghiệp toàn khu vực Và trong đời sòng của cư dân ĐBSH thì TTCN vẫn đóng vai trò là "bát cơm thứ hai" sau nông nghiệp

Nói tới nông nghiệp và các nghề thủ công, ta không thể không nhắc đến hoạt động thương nghiệp kiểu chợ quê mà chính hoạt động này đã góp phán tạo nên những nét đặc trưng của đời sống cư dân nồng thòn ĐBSH Trong lịch

sử, chợ làng ở ĐBSH đã đóng vai trò trung tâm trao đổi kính tế của các làng

xã truyền thống Mổí huyện ở ĐBSH có khoáng 14 - 20 chợ và tính ra cử 4 - làng thì có chung một chợ Mặc dù ở các chợ làng những người non ạ dân

18

Trang 26

Luận án thạc sĩ khoa học Lẻ Xgoc Bình

mang sản phẩm thừa đến trao đổi với nhau là chính, song cũng trong sò họ đã xuất hiện lớp người tiểu thương kết hợp làm ruộng và đi buôn, mà phân lớn là phụ nữ

Mặc dù có những hoạt động thương nghiệp kiểu chợ quẻ như vậy, nhưng nhìn chung kinh tế truyền thống ĐBSH chủ yếu vẫn là kinh tế nông nghiệp tự cấp, tự túc Tình trạng đó cùng với chính sách ức thương của các tríểu đại phong kiến, các quan hệ xã hộí phong kiến địa chủ và chế độ ruộng đất công làng xã, đã tạo nên sức trì níu tương đối lớn và tâm lý hướng nội trong các tầng lớp xã hội ở nông thôn

1.4 Tính cộng đồng của cư dân làng Việt cổ truyền:

Nếu như nói rằng một trong những truyền thống đặc trưng của xã hội Việt Nam cổ truyền là tính cộng đổng, thì chính cái truyền thống ấy đã được hình thành và lưu giữ bên vững trong môi trường làng xã

Tính cộng đổng của làng xã ĐBSH có cơ sờ và được bất đâu từ vựng đổng về lãnh thổ: cả làng sở hữu chung về đất đai, mà thể hiện rõ ở chẻ độ ruộng công Với chế độ đó, ruộng công được chia theo đinh kỳ cho mỏi thành viên trong làng, và người nhận ruộng có nghĩa vụ phải đóng góp của cải và công sức cho Nhà nước Đổng thời, tính cộng đồng còn được thể hiện trong lao động, sản xuất như: vỡ hoang, đắp đê, làm các công trình thuỳ lợi, xây dựng đường xá, cầu cống, lao động kiểu vần cồng, đổi công

Dưới chế độ phong kiến, tuy quan hệ giai cấp giữa phong kiến và nông dân chi phối toàn xã hội, nhưng lồng vào đó vẫn là quan hệ cộng đồng và nguyẻn tắc cộng đổng Nhân lõi của tính cộng đồng là các gia đình, gia tộc với nguyẻn tắc ứng xử theo quan hê huyết thống, và mơ rộng ra là quan hệ láng giềng theo kiểu "tình làng nghĩa xóm", "tối lửa tất đèn có nhau' Trong lằng xã Việt cổ truyền, các mối quan hệ bao chứa những mâu thuản, một bên

là những quan hệ giai cấp giữa nông dân và phong kiến ngày càng sâu sac Nhưng bẻn cạnh đó và bao trùm lên đó ván là quan hê CĐLX với những thiet chế, phe, giáp gây cho người nông dân một ảo tường vể sự bình dăng cọng cảm giữa các thành viên

Trang 27

Luận án thac s i khoa hoc Lé Sgoc Binh

Từ "cộng đổng” tói "cộng cảm" và "cộng mệnh", những thành viên trong làng buộc chung số mệnh vào nhau Và những người buộc chung nhau

về số mệnh đó, lại có sự cộng cảm vể quê hương, cũng như có chung một tâm

lý hướng nội bển vững và mạnh mẽ Cái cột chặt những người trong làng xã với nhau không chỉ là những quan hệ hữu hình như: lãnh thổ, quyền sở hữu, quan hệ kinh tế - xã hội, mà còn là hàng trăm nghìn các quan hệ vô hình khác,

đó là thế giới tâm linh, những biểu tượng, những kỳ vọng vươn tới sự chuẩn mực về chân, thiện, mỹ

Đời sống tâm linh là cái nền vững chắc của quan hệ CĐLX Trước nhát,

đó là ý thức hướng về cội nguồn, gia đình, dòng họ, qua việc thờ cúng tổ tiên, thành hoàng, thuỷ thần và những vị thuỷ tổ có công lập làng Từ cội nguổn quê hương bản quán, mở rộng hơn lên là cội nguồn đất nước, dân tộc Nhin chung, thế giới tâm linh là thế giới của cái thiồns liêng, mà ở đó chỉ có những

gì cao cả, lương thiện và vẻ đẹp mới có thể vươn tới Cả cộng đống tôn thư và

cố kết với nhau trên cơ sờ cái thỉêng liêng ấy

Làng xã ĐBSH còn là môi trường cộng cảm vãn hoá Hội làng gan như

là những dịp để phổ díển những sinh hoạt văn hoá cộng đổng Hội làng con là môi trường thâm nhập và trao truyền vãn hoá giữa các thế hệ Giới tre cam nhận ván hoá cộng đổng phần nhiều qua môi trường lễ hội, rối từ đó kế thừa, phát huy và trao truyền lai cho thế hệ kế tiếp theo

Tóm lại, cùng vói sự hình thành những phẩm chất chung khác, tại các làng xã ĐBSH cũng đã hình thành một tinh thần cộng đổng (cũng như V thức hay tính cộng đổng), trong đó mỗi cá thể là một bộ phận hữu cơ của cộng đổng, và cộng đồng là tổ chức của mọi cá thể Mỗi quan hệ cá thê cộng đống này đựơc hình thành trong quá trình cố kết và tổ chức thành sức manh để chinh phục thiên nhiẻn và báo vệ thành quá lao động Nó trở thành chuàn mực ứng xử giữa các làng thành viên trong cộng đổng, cũng như trở thanh hẹ qui chiếu cho mọi qui đinh khác trong lệ làng, mà nhiều khi ' phép vua” „;ữna phai

" chịu thua" Cũng cần phải nói thêm là mối quan hệ giữa các cộng đổng trong khuôn khổ quốc gia cũng được thiết lập, trong đó mỗi cộng đône là n g " là

20

Trang 28

Luân án thac s ĩ khoa hoc Lẻ Sgoc Bình

một bộ phận của quốc gia, và ngược lại quốc gia cũng được ý thức như lá moi làng Như vậy, quan hệ dân - làng đã được mở rộng thành quan hè làng - nước, bắc cấu cho quan hệ dân - nước và quan hệ gia đình - quốc gia - dân tòc Điều

đỗ nói lên rẳng tinh thần cộng đổng lớn hem, đó là cộng đổng quốc gia dân tôc Nói cách khác, ý thức cộng đổng làng xã đã được chuyển hóa thành V thức quốc gia dân tộc

2 TRUYEN THỐNG Tự QUẢN CỦA CỘNG ĐổNG LÃNG XÃ ĐBSH TRƯỠC NĂM 1954.

2.1 Cơ sở hình thành truyền thống tự quàn cộng đồng làng xả.

Tự quán cộng đổng là một đặc trung của làng xã Việt Nam nói chang và

lăng xã ĐBSH nói riêng Cơ sở để cho làng xă trò thành hat nhân tư quản là

chế độ công điển, công thổ tôn tai trong suốt thời kỹ phong kien, song song với tư điên của các quan lại và nông dân tự đo Ngoài công điền, công thô được chia đinh ký cho các dân đinh, còn có mống ho, mông chùa tát cá đả khiẽn cho người nống đân bị trói buộc, đổng thời cũng tư nguyên tham gia vào các hoat động xã hội trong làng xã

Cơ sơ để tự quản CĐLX hình thành còn đo đăc điểm cư trú va cách thức

tô chức của đời sòng cộng cư tạo nên Cụ thể, mỗi cộng đổng người Viet song trong một ngôi làng Mỗi làng có địa giới lãnh thổ riêng, đất đai của làng bao gổm: đất cư trú (gồm cả vườn và ao), đất ruộng, đất gò đống, đát đền miếu, đình chùa Các làng như những hòn đảo xanh nổi lên giữa biển lúa Mối hòn đảo ấy là một khuôn viên khép kín, có luỷ tre bao boc, chỉ chừa cổng làng ban đêm đỗng lai "nội bất xuất, ngoại bất nhập" Có làng còn đào hào bên ngoài luỷ tre Sư rào chăn kiên cố, môt mãt để đề phòng sư xám nhap bất lợi àr bèn ngoài, mặt khác để khống chế sự ra vào, buộc ngươi ta phải qua công làng, như vậy kiểm soát được người lạ vào làng Cấu true không gian khép kín vưa tạo ra sư biệt lập dản đến yẻu cầu tư quản, lại vừa phan ánh mỏt năng lưc tổ chức chãt chẽ của mỗi làng xã, mà điểu đó chỉ có thể được thưc hiên bơi môt tinh thần tư nguyện của cả cộng đổng

Trang 29

Luận án thạc sĩ khoa học Lé Ngọc Binh

2.2 Hệ thống và cơ chế tự quản cộng đồng làng xã:

Hộ thống tự quản của cộng đổng làng xẫ bao gồm hai thànhphần: bộ máy quản lý làng xã và cộng đổng dân làng* (chủ yếu là "dân hàng xã” h phối hợp với nhau trên cơ sở lệ làng (hương khoán ước), theo cơ chế nhất định để tạo ra hiệu quả tự quản

Từ xa xưa, viộc điều hành trong ỉàng xã ĐBSH vẫn do những đại biểu dân cừ theo tục lệ cổ truyển, và tuỳ từng làng mà tục lệ có đỉều này hay điều kia khác nhau Đến thời lý, triểu đình bắt đầu cử các xã quan cai trị và quan lý dân đinh để có thể huy động khi cần thiết Sang thời Trần, việc tổ chức làng xã

có phần chặt chẽ hơn Triều đình đã bổ dụng hai loại xã quan là: đại tư xã và tiểu rư xã để cai trị thôn xã Thời Hậu Lố, các làng có từ 100 dân đinh trở lên được bổ dụng tới 3 xã quan để cai quản, làng có trên 50 dân đinh thì phải có 2

xả quan Đời vua Lổ Thánh Tông, các xã quan được thay thể bảng các xã trưởng Còn nhà Nguyễn sau đó thì đã chấp nhận hán việc bau xã trương và công nhận sự tự quản của làng xã

Như vậy, tuy nhà nước phong kiến có cố gắngvưcm tới làng xã để nắm dân đinh, nhưng thực ra chỉ lo thu thuế, bắt lính và huy động phu dịch Còn trên thực tế, làng xã vẫn tự quản và đã làm cho "phép vua thua lệ làng

Cho đến khi người Pháp đặt ách cai trị ở Việt Nam, bộ máy quan lý làng

xã ở ĐBSH đã ừải qua hai thời kỳ với hai kiểu tổ chức được xây dựng dựa trên hai tập quán khác nhau: tập quán Thiên tước và tập quán Vương tước

Tập quán Thiên tước (tóc trọng tuổi tác) vốn ra đời từ khá sớm, có thể từ khi Nhà nước quân chủ chưa trực tiếp can thiệp vào thiết chế làng xã, và quyển cai quản làng xã (hay công xã) được trao cho những nsrười cao tuổi nhất trong cộng đổng, (còn gọi là quản lý theo kiểu ’lão quyền") Tập quán này

còn được duy trì ở mức nhất định cho mãi đến sau này, khi bộ máy quản ìv

theo Vưcmg tước đã ra đời (thậm chí đến tận nưa đâu thế kỳ XX) nhất là ư những làng không có người làm quan có phẩm hàm, và cũng đã đươc tảp quán theo Vương tước kế th ìa một phần

Trang 30

Luận án thạc s ĩ khoa học Lẻ Sgọe Binh

Thế nhưng, một điểu cũng phải nói thêm là, ngay ở thời kỳ Nhà nước

quần chủ chưa với tới làng xã, thì bộ máy quản lý làng xã cũng truy thuộc Vào nguồn gốc của làng mà có những đặc điểm khác nhau Đối với nhũng làng có nguồn gốc nguyên thuỷ thì đứng đầu bộ máy quản lý và điéu hành các công việc hành chính, kinh tế - xã hội của làng là người cao tuổi nhất, bất kể thuộc dòng họ nào Còn đối với những làng được hình thành muộn hơn, trên cơ sở quan hệ huyết thống, thì ban đầu vai trò của dòng họ là rất quan trọng Trường

họ đồng thời cũng là người nắm quyền quản lý làng xã Trường họp làng có nhiểu dòng họ đến cư trú thì dòng họ nào lớn nhất và cư trú lâu đời nhất thường nắm quyền quản lý làng Việc thiết lập bộ máy quản lý, do vậy chủ yếu ỉà dựa vào quan hệ thân tộc Cố nhiên, hiện tượng quản lý làng xã trên cơ

sở quan hệ dòng họ hoàn toàn khồng có tính phổ biến ờ ĐBSH

Ra đời muộn hơn, khi Nhà nước đã bắt đầu vươn tới làng xã và mặc dù

có kế thừa được ít nhiểu theo tập quán Thiên tước song bộ máy quản lý theo tập quán Vương tước (tức trọng phẩm tước) đã chuyển sang trao quvổn cai quản làng xã chủ yếu cho những người đã từng làm ouan và có pham tước do vua ban tặng Bộ máy quản lý làng xã theo Vương tước được tổ chức như sau:

Tiên chỉ và thứ chỉ là hai nhân vật có phẩm hàm cao nhất và nhì trong

xã, có khi là những vị hưu quan (quan lại đương chức không được tham sia vào công việc làng xã), nhưng dù trường hợp nào cũng do hội đống kỳ muc cử lên, sau đó mới được quan trèn chấp thuản Tiên chỉ ỉà người đứng đau to chưc quyển lực làng xã (và đương nhiên là người đứng đầu hội đổng kỵ mục ỉ

Trang 31

Luân án thac s ĩ khoa hoc Le Nl*oc Bình

Trường hợp xã lớn, dân đông, nhiều hưu quan và khoa bảng thì đứng ngay sau tiên chi’còn có một đến hai thứ chì

Các bô lão và kỳ mục là hai thành phần khác nhau nhưng đan xen vào nhau Bô lão gồm tất cả các cu già trong làng tứ 60 tuối trớ lên Trong sò các

cu cũng nhiểu người có chức sắc, phẩm tước hay khoa muc nên cũng đổng thời đứng vào hàng kỳ muc, Còn kỳ muc gổm các hưu quan (từ cửa phẩm trơ lên); các bậc khoa muc (từ tú tài trờ lên); các chức sắc như cứu chánh, phó

tổng và chánh, phó tòng đương chức; các hương trường, hào trương, các CƯU

chánh, phó lý; các chánh, phó tổng, chánh phó lý mua hoăc xã nhiêu mua Đứng đầu kỳ mục chính là tiên chỉ, rồi đến thứ chỉ Các bô lão, ky muc làm thành một hội đổng (thường đươc gọi tãt là "hội đồng ky mục") Đây là bộ ữhân thiết chế để ra chủ trương (nhiều khi cả những biện pháp cơ bản ) đê lý dich cân cứ vào đó mà thi hành Theo truyền thống, thành viên cua hội đòng

ky muc không đo bầu cử, và cũng không cần có sư công nhân cua Nhà nước

L ý dịch đương thứ gồm có: lỷ trưởng, phó ly, hương trương trương tuần

hay xả tuần Lý trưởng là người được uy quyền thay mặt cho các hang người nói trên trong quan hê với Nhà nước, chủ yếu là các vấn đê thuế khoá, ưu dich, binh địch và các cổng việc hành chính khác, đồng thơi, ly trương cũng la người được uỷ nhiệm thực hiên mọi quyẽt đinh của hổi đổng ky muc Lý trương do các tiên, thứ chi, bô lão, ky muc cử ra, sau đó phải công khai được

sư tán thành của dân làng, cuối cùng trình lên chính quyền cáp trẽn để được cỏng nhận và bổ nhiệm Phó lý và hương trương đểu là những người giúp vĩêc cho ly trường và cũng được cắt cử như lý trường Trương tuần hay xà mần la người đăc ừách vể an ninh trât tư ừong làng xã, trong nom bao vệ đổng ruons: hay đất đai thuộc địa phận của làng

Dich muc hay hương chức gổm có: thầy từ (lo soan thảo vãn tế khi có đinh đám), thầy thông giảng (giải thích các giãy tờ cấp tren đưa xuống), thu

hộ (giữ sổ đinh, sổ điẻn), lang caỉ (lưu giữ các giấy tờ văn khẻ cua làng), thày

sa man (coi nghi lễ phong tuc)

Trang 32

Luận ấn thạc s ĩ khoa học Le Xgoc Binh

Ngoài ra, giúp việc cho bộ máy quản lý làng xã theo Vương rước còn có một tuần đinh và các nhân vật như thầy chùa, trưởng chợ, mõ

Mô hình quản lý làng xã theo Vương tước nói trên được duy trì về cơ bản cho đến khi người Pháp tiến hành các cuộc cải lương hương chính Thè nhưng, vấn đề cần xem xét ở đây là khả năng tự quản của cộng đồng làng xã cỏn được giữ lai bao nhiêu trong cái bộ máy nói trên, khi bàn tay cua Nhà

nước quân chủ đã tìm cách can thiệp vào Cốt lõi của vấn la ở hội đồng kỳ

mục và lý dịch, cơ quan "lập pháp" và "hành pháp" của làng xã, và thực chất mối quan hệ giữa hai bộ phận này

Hội đổng kỳ mục trên danh nghĩa là do dân hàng xã cử lên, nhưng thực

ra là những người vừa có điển sản, vừa có chức vụ, phẩm hàm và lợi ích gán liền với Nhà nước phong kiến Bởi thế, hội đổng kỳ mục, nẻu đấy là một tổ chức nghiêm túc, làm viộc đúng chức năng thì những chủ trương và bìẻn pháp

mà nó đưa ra cũng chỉ một phần nào đó vì ỉợi ích của làng, còn lai nó phải vì lợi ích của Nhà nứơc quân chủ Mặt khác, nói rằng hội đổns kỳ mục để ra chu trương cho lý dịch thì cũng là nói "lý thuyết" Và cho đến nhửns năm 30 của thế kỷ cái hội đổng ấy rõ ràng chỉ còn là hữu danh vô thực Nguyên nhản cua tình trạng này thực chất đã có sẩn ngay trong tính chất tiểu nông tư hữu của xã hội Việt cổ truyền ở ĐBSH, mà hệ quả là sự xuất hiên của các phe phái Các phe phái đó đã không ngừng tìm cách lán át nhau để tranh giành quvền lợi và

uy thẻ "Sân khấu" tự nhiên nhất của các vụ tranh chấp nói trên chính là hội đổng kỳ mục Mâu thuẫn giữa các phe phái càng gay gắt thì quyền lực của tâp thể hội đổng kỳ mục (bộ phận được coi là đại điện cho ý chí tự quản trong bộ máy quản lý làng xã) càng giảm sút Và, chính ở kẽ hở này mà vai trò cua lý dịch đã nổi bật lên (33 - ữ 74)

Vậy thực chất lý dịch là ai? Là đại diện cho quvển lợi của dân làng xã, của Nhà nước quân chủ, hay của cả hai bên? v ề danh nghĩa, lý dịch phải chap hành các quyết định của hội đổng kỳ mục, nghĩa là phụ thuộc vào hội đổng này Trong phạm vi từng xã, ỉý dịch phải chịu trách nhiệm chính trong việc thi hành mọi chủ trương của nhà nước quân chủ "Trát” của quan trên tư vè ;ho

Trang 33

ở những kỳ mục hay quan viên, và rất có khả năng biến thành cãi vã, do đó

nhiều khi khổng đi đến những quyết định cụ thể Trong tình hình đó, tiên chi, thứ chỉ cũng chỉ phát biểu mội cách chung chung, cố giữ thái độ dãh hoà giữa các phe phái Và một khi đã "lĩnh ý" các cụ một cách "đại khái” như thế, cũng như đã có lời với dân hàng xã rồi, thì lý dịch cứ chiểu theo tình hình thực tế

mà thi hành mệnh lệnh của quan trên Như vậy, bàn cãi chỉ là hình thức Hội đổng kỳ mục càng vô hiệu và vai trò của lý dịch càng nổí bật, tức là tính tư quản cùa bộ máy quản lý làng xã càng yếu đi, và tính hiệu lực của quvển lực

Nhà nước quân chủ ở làng xa càng rõ rệt hơn.

Tóm lại, là thành phần được nói đến trước tiên của hộ thống tự quan làng xã thời phong kiến, song bộ máy quản lý theo Vương tước đã thể hiện rất

rỗ tính hai mặt của nó Và chính vì phải chịu trách nhiệm thi hành những đòi hỏi của Nhà nước quân chủ mà bộ máy này chỉ thực hiện được một chức năng

tự quản mà CĐLX giao cho

Trong hệ thống tự quản CĐLX thì lộ làng, mà cụ thể là hương ước (hay khoán ước) giữ vai trò liên kết giữa bộ máy chính quyền cấp xả với toan thê cộng động dân làng

Từ xa xưa, trong buổi đầu được nhóm họp mỗi làng Việt còn ít ỏi về dân cư, đơn giản vể tổ chức và quan hệ xã hội Tuy vậy, để tổn tại được, mối cộng đổng nhỏ ấy phải đề ra những qui ước truyền miêng về tập tuc ăn ơ, đi lại, về các mặt sản xuất, an ninh, thu nhập thành viên mới, thờ cúng,., cua cộng đổng Quá trình phát triển của làng xã làm cho cư dân ngày mòt đỏng đúc, các thiết chế xã hội lần lượt ra đời và nhiều ỉên, khiến cho các quan hẹ

26

Trang 34

Luận án thạc s ĩ khoa hoc Lê Ngoe Bình

ạiữa các cá nhân, các tổ chức xã hội cũng như quan hệ giữa làng xã với Nhà nước ngày càng phức tạp Do đó, các tập quán, tục lệ cũng phong phú phức tạp thêm lên Trong tình hình đó, những qui ước truyền miệng trước kia phải được

bổ sung cho phù hợp Đổng thời để tránh tình trạng có thể bỏ sót các điều khoản khi vận dụng, thì việc văn bản hoá những tập tục cốt yếu trước đây thành những qui ước cụ thể là tối cần thiết Do vậy, bộ "tập quán pháp' thành vãn mà ta quen gọi là !,hương ước" hay "khoán ước” đã ra đời nhàm đáp ứng yẻu cầu tổn tại và phát triển của các làng xã

Có ba điều kiện cơ bản để các tập tục làng xã được văn bản hoá thành

"tập quan pháp" đó là:

1 Chữ Hán phảỉ trở thành thứ văn tự phổ biến được dùng để giải quvết các công việc thường ngày cuả làng

2 Phải có một tầng lớp Nho sĩ trực tiếp sử dụng thứ vãn tự đó

3 Nhầm hướng làng xã đi vào quĩ đạo của mình, Nhà nước phong kiên phải mượn tay lệ làng đê buộc các đơn vị tự cư ấy phải "khuôn phép" theo mẫu nhất đinh Muốn làm được việc đó, phải văn hoá các tục lệ, các qui ườc của làng xã (10 - tr 17 - 18)

Căn cứ vào những cơ sở dữ liệu cho phép, có thể ước đoán, vào khoảng cuối thế kỷ XIV - đầu thế kỷ XV thì hương khoán ước (tức các lệ làng thành ván) của các làng xa^người Việt bắt đầuacuất hiện Thế nhưng, điều cấn quan tâm ở đây là tự quản CĐLX đã được thẻ hiện thế nào ở hương khoán ước, ừong khi đối diộn vói Nhà nước quân chủ Có thể thấy, trước khi trình bầv những nội dung cụ thể, hương khoán ước của làng nào cũng đều khẳng đinh:

"nước có luật của nước, làng có lê của làng", hoặc tương tự như thế Phau chảng, đó là tuyên ngôn vể quyền tự quản hay tự trị của mỗi công đổng làng

xẵ trước nhà nước phong kiến

Tính tự quản của cộng đổng làng xã còn thể hiộn ở chỗ, ỉàng nào cũng

có hương khoán ước riêng, và mọi điểu khoản trong đó đều khác xa với luật pháp Nhà nước Và muốn cho tinh thần của luật nước được thể hiện trong hương khoán ước, với những qui định về các nghĩa vụ sưu thuế, binh dỉch thi

Trang 35

Luân ấn thac s ĩ khoa hoc Lfc Sgoc Buih

luật nước cũng phải chịu sự "khúc xa", và cuối cùng chỉ con là những hmh bống mờ nhat trong đó

Tính tự quản của cộng đổng làng xă thông qua hương khoán ước càn thè hiộn mối quan hê giữa các nho sĩ - những người soan thảo hương - khoán ước vói làng xã Là những người thấm nhuần nho giáo, y thức hẹ phong kien, nhưng các nho sĩ đếu phải gắn bó cuộc sống của mình và gia đình mình với dân làng, nên chiều hướng "làng xã hoá" trong ý thức của họ kiiông thế không xảy ra Bởi thế, những tư tưởng phong kiến mà Nhà nước quân chu muôn thông qua Nho sĩ để ăp đăt vào đời sống làng xã không phải có thố dễ dàng đươc thưc hiện Trong tâm thức cửa Nho sĩ, nhiều khi vièc làng lai con quan trọng hơn cả việc nước, bởi ý thức vể cái "ta" của làng cũng có ý nghĩa rát lưn đối với họ

Tính tư quản cùa cộng đống làng xã thông qua hương - khoán ước con đươc thể hiên ờ chỗ: lệ làng nhiều khi được coi trọng hơn cả "phép vua luàt nước" Hầu như hương ước của làng nào cũng răn đe trừng phat những kẻ 'vượt làng” đi kiện quan trốn Mât khác, làng xử theo "lệ làng", con quan xử theo "luât nước" Một người dân què pham luật, Nhà nước muốn xử phai tỏ chức thông qua làng xã, ngay cả Lẻ Thánh Tông ở thẻ ky XV cũng phải khuyên "các làng xã không nên có khoán ước riêng", điều đó chứng tỏ le lăng

đã phần nào đôc lâp với luât nưóc mà làm cho luát nước ít nhiều bi giam híêu lưc (10 - tr Ỉ03)

Tìm hiểu ly do vì sao trong quá trình bị phong kiẽn hoá ngày càng sâu sác, các làng xã vẫn giữ đươc một cách đáng kê quyên tư quản của mình Có y kiên cho ràng đó là do tính chất tiêủ nông của làng Việt cổ truyền, mà một trong những hệ quả của nó là sư tổn tai của các phe phái, các mau thuân, "roi như tơ vò" trong nội bỏ môi làng xã

Trong tình hình ấy, nẽu Nhà nước có can thiệp vào cũng bất lưc \ ẵ nếu

như Nhă nước càng cố gắng và kẻo làng vể phía mình thỉ kha náng biet lap của làng xã càng lớn và mổỉ làng xã sẻ bùng lên ngon lưa chiẻn tranh, nong dân đe doạ sự tổn vong cua cả chè độ Bởi vây, chừng nao con muỏn mưa

Trang 36

Luân án thac s ĩ khoa hoc Le Ngoe Binh

thuân gió hoà" và khống chẽ được làng xã đế đat những yêu cầu V'ế sưu thuê

và binh dịch, thì Nhà nước càng phải chấp nhân cho làng xã được ít nhiổu cái quyền tư quản hay tự tri, và đó cũng là cái "lề an toàn" cho Nhà nưóc Chính trong cái thế nhượng bộ "khôn ngoan" đó của Nhà nước phong kiến mà các quyền tự quản hay tự trị của làng xã được duy t ì Như vậy, hương - khoán ước

là biểu hiên của sư duy hoà về quyền lợi giữa Nhà nước và ỉàng xã

Thành phần thứ hai trong hệ thống tư quản làng xã, đó là công đống dãn lăng Là chủ thể của tinh thần tự quản, tức là vừa tư quản trực tiếp bằng V thức

và hành vi của mỗi cá nhân, vừa gián tiếp thông qua bộ máy quản lý làng xã

do "dân hàng xã" bầu lên, song cộng đổng dân làng cũng là đối tượng khách thể của tư quản, nhất là trong việc sưu thuế, binh dich va phu đich, trong viêc

an ninh nội bộ thôn xã

Goi là cộng đổng, tức là những người chung sống với nhaư trong cùng môt dơn vị tu cư, song người ta vẫn có sư phân biêt giữa dân chính cư va dãn ngu cư Những người ngu cư phải gánh chịu một thân phân thấp kém: như chí được dưng nhà ở rìa làng, không được vào giáp, không được tham gia vièc làng, nước tai đình, không được hưởng quyền lợi ruộng công, phải sông bâng làm thuê, làm mướn mà vẫn phải chịu nghía vu sưu thuế, phu dịch, va thám chí cả binh dich Nhưng ngay đối với dân chính cư thì không phải tất cả moi người đêu được tham gia vào các công việc làng - nước, mà đối tượng bi loai trừ một cách đương nhiên, đó là phụ nữ Tư tưởng trọng nam khinh nữ được Nho giáo củng cố, đâ gat bỏ phụ nữ ra khỏi các công việc làng - nước, cả về quvền lợi và nghĩa vụ (trừ những sinh hoat lễ hôi, tín ngưỡng, vui chơi aiải trí ,) và biên sư tham gia công việc làng - nước thành đăc quyẻn của đàn ông, dưới cái danh từ chung: "dân hàng xã"

Dân làng xã, đó là gồm toàn bộ cư dân nam giới từ 18 tuôi trơ lên, tức

lầ ĩoàn thể những người đóng sưu thuế cho Nhà nước và được Nhà nước chấp nhân là có quyền bâù cử ờ cáp xã, cũng như quvền bàn bac viec làng - nước trong các tổ chức ớ cáp xã Đương nhiên, trong một xã hội đã phan hoá 'lai cãp sâu săc thì dân hàng xã cũng bị phân chia thành nhiểu hàng, đó là các

Trang 37

Luân án thac s ĩ khoa học Lẻ Ngoe Bình

hạng: "chức sắc", "chức dịch", "thí khoá sinh", '’lão" và 'dân đinh" Gọi là có

5 hạng (không kể hạng "ti ấu" chưa đến tuổi thành đinh) nhưng thực ra trong nhiều trường hợp, hạng thứ ba (thí khoá sinh) chỉ tồn tại trên lý thuyết Chỉ xã nào ít người đỗ đạt thì mới có hạng "thí khoá sinh" để đề cao vãn học Đối với các hạng còn lại thì hạng "lão" đã "xuất lão vô ngự", còn hạng "đinh" thí thường chỉ biết "vâng", "dạ" trong các dịp hội họp Do vậy, chỉ có hai hạng trên cùng, "chức sắc" và "chức dịch" vốn chủ yếu là những người có phẩm hàm chức vụ, điều san, gộp lại dưới danh nghĩa "quan viên hàng xã" là có

"quyền ăn, quyền nói" ở chốn đình trung

Thế nhưng, cho dù có phân biệt giữa nam và nữ, giữa các thứ hạng theo phẩm hàm, chức vụ, điển sản, tuổi tác thì toàn thể các thành viên của cộng

đồng dân làng, dù ở bất kỳ vai trò, vị trí nào, tất cả đã họp thành một bộ phận

nằm trong hệ thống tự quản khép kín của làng xã: bộ máy quản lý Iàns xã và cộng đổng dân làng Sự phối hợp giữa hai bộ phận đó trên cơ sở lệ làng đã tạo nẻn cơ chế tự quản cộng đổng, đó là: CĐLX tự quản bằng "lệ làng" (do chính cộng đổng xây dựng lên), thòng qua vai trò của bộ máy quản lý (cũng do dân hàng xã bầu ra) và thông qua vai trò của mỗi thành viên Đương nhiẻn, một khi làng xã vừa chịu sự chi phối của Nhà nước (thông qua bộ phận lý dịch do

Nhà nước bổ nhiệm), lại vừa thể hiện tính độc lập rương đối với Nhà nước (ở

lệ làng và hội đổng kỳ mục) thì sự tự quản của nó cũng chỉ tương đối và không thể đối lập hoàn toàn với vêu cầu của nhà nước quân chủ

2.3 Các Unh vưc tự quản của cộng đồng ỉàng xã

Nội dung tự quản của cộng đổng làng Việt cổ tmvền ở ĐBSH gồm 5 vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất: Đó là tự quản về đất đai và các tài nguyên nằm trong lãnh thổ cùa làng như: đổi gò, sông ngòi, ao, hồ, đầm, bến bãi Diện tích của toàn bộ lãnh thổ cũng như của từng loại công tư điển thổ phai được ghi rỗ trong sổ sách hàng xã Trong các hương - khoán ước bên cạnh những qui đinh vé nghĩa vụ của mỗi thành viên cộng đổng trong việc bảo vệ các bộ phận lãnh tho

30

Trang 38

Luân án thạc s ĩ khoa hoc Lê Ngoc Binh

và tài nguyên của làng, còn có những qui định về việc sử dụng các bộ phân lãnh thổ và tài nguyên đó

Thứ hai: Tự quản về các vấn đề có liên quan đến sản xuất, mà trước hết

là sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường Hầu hết hương - khoán ước các làng đều khẳng đinh "việc nhà nông là cái gốc lớn” Để bảo vộ và phát triển nông nghiệp các làng xã đểu có những quí ước vể tận đụng đất đai, tu bổ và bảo vệ đê điều, khai thác, sử dụng và bảo vệ các nguồn nước, xây dưng và bao

vệ các hổ, đập trữ nước, mương máng tưới tiêu, bảo vệ sức kéo (tràu, bò), các cộng cụ sản xuất và thành quả của nông nghiệp Ngoài ra, một số làng còn

có qui định tự quản vể các nghề thủ công, mà chủ yếu là việc lập các phường, hội ngành nghể

Thứ ba: Tự quản vể các vấn đề có liên quan đến cơ cẩu tổ chức, quan tý hành chính và các quan hệ trong làng xã

Trước hết, các làng đều có những qui định về các tổ chức xả hội, truyền thống và bộ máy chính trị làng xã Các hương - khoán ước thường dành một so điểu khoản qui đinh chức năng, quyẻn hạn, quyền lợi và nghĩa vại của các thang bậc xã hội Trong sinh hoạt ở thôn xã, việc quan lý hộ tịch, hộ khấu, việc sinh, tử, hôn thú (khai sinh, ma chay, cưới xin), việc chia cấp ruộng đất, đất công và mua bán đất tư, việc giữ gìn an ninh thôn xóm việc tổ chức lực lượng vũ trang (dân binh), chế độ tuần phiên, canh gác, việc ngăn chận các tệ nạn như cờ bạc, nấu rượu lậu, buôn bán trái phép cũng là những nội đuns- tự quản mà CĐLX quan tâm

Về các quan hệ xã hội, chú trọng đến sự cư xử giữa người với người trong làng, đề cao tình thương vêu đùm bọc giữa các thành vièn cộng đồng và

có những qui đinh nhầm hạn chế sự bè cánh, gảv chia rẽ trong nội bộ Những

điểu khoản nhằm ngăn chận quân ịỊ/L bất chính giữa nam và nữ, đè cao và trọng

đãi người già cũng là những nội dung được nhăc đến khá nhiều trong các hương - khoán ước làng xã

Thứ tư: Tự quản trong lĩnh vực ván hoá, giáo dục và tôn giáo :ín ngưởng Cụ thể, các làng đều thực hiện khá nghiêm cúc những qui đinh c ệ

Trang 39

Luân án thac s ĩ khoa hoc Lẻ ,\%flc Binh

sinh làng xóm, chống ô nhiễm môi trường, về tu bổ va bao vè các công trình văn hoá (đình chùa, miếu, mạo ) việc giáo due, hoc hành được nhiêu làng chú trọng, với những qui định về chế độ cho những ngưòi có công mơ lớp day học trong làng, chế độ trợ cấp động viên đối với các nho sĩ đang học hoãc đi thi, chẻ độ đôi với người đỗ đạt Các smh hoat tổn giáo, tín ngườngnhư việc thờ phât, thờ thành hoàng, thờ căc nhân vât lịch sư va các lễ hôi, hoat đòng vãn nghệ, vui chơi giải trí cũng hoàn toàn do mổi CĐLX tư tổ chức và quan

Thứ nám: Tự quản trong việc thưc hiên các nghĩa vu đối với Nhà nước phong kiẽn Có ba nghĩa vu chủ yếu mà làng xà phải thưc hiên là: sưu thuế, binh dịch và phu dịch, thuế có 2 loai: thuế đinh (thời Pháp gọi là sưu) đánh vào nam giới từ 18 đến 60 tuổi, và thuế điền (thuế ruộng đất) Mối làng xà có một cách giải quyết khác nhau để đảm báo số thuế được 2;iao Viêc binh đích tuy từng thời kỳ mà Nhà nưóc bổ lính cho các làng Làng xã một mat phan bò nghĩa vu đi lính cho các giáp, măt khác cân cứ vào những điồu khoản trong hương khoán ước về vấn đề này mà thi hành Nghĩa vu phu dich cd«Nhà nước cũng được các làng xã thưc hiện nghiêm chinh Mối làng giải quyết theo mót cách phù hợp với mình Một số làng còn căt cư chức "khan thủ quan” đê đốc thúc các viẻc công ích

2.4 Vai trò của tư quản cộng đồng làng xã frong lỉch sử

Trước hẽí, tư quản CĐLX đả tạo điêu kiện đê người dãn nòng thôn có thế phát huy được tính tích cực của mình trong việc tổ chức đời sống và tham gia quản lý thôn xã Một khi tính tích cưc của người dân đươc phát huy thì làng xã sẽ trơ thành cơ sơ xã hỏi vững chắc và nguồn dư trử nhân tài vât ỉưc hùng hẫu cho Nhà nưởc trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, cũng như trong cuộc kiẽn thiết đất nước Nhiêu làng đã trơ thànhpháo đài chiến đấu kiên cố, làm châm và yếu bước tiến của những độí quân xam lược nước :i2oai

Trong tình thẻ đất nước bi ngoai bang đô hò mòi làng xã với càu true tư nhiên và không gian xã hôi khép kín và với truvền thống nr quan cua minh đả làm thất bai những ảm mưu đổng hóa của ke thù, từ chỗ bao vè đươc nhửn-

32

Trang 40

Luân án thac sĩ khoa hoc Le Ngoe Binh

phong tuc tăp quán và truyền thống tinh thần riêng, mỗi làng đã góp một phân

không nhỏ vào việc giữ gìn bản sãc vàn hoá tốt đep của dân tộc

Dưối chế độ phong kiến dân tộc, tự quản cộng đổng giúp cho các làng

giữ được thế độc lập tương đối với Nhà nước quân chủ Điều đó khiến cho Nhà

nước luôn phải biết tôn trong làng xã, biết "lấy dân làm gốc” và điều chỉnh

chính sách đối nội sao cho phù hợp với lợi ích cuả làng xã Nhà nước không

thê áp đãt vào làng xâ một cách miễn cưỡng bất cứ một tư tưởng vay mươn

nào từ bên ngoài, nếu như tư tưởng đó không phù hợp với tâm thức người Việt

Cũng thông qua vai trò của tư quản CĐLX cũng đã thoá mãn đươc

những nhu cẫu của Nhà nước quân chủ (vể sưu thuế, binh dich, phu dịch.,.)

báng cách riêng của mỗi làng Và, mặc dù có sư khác nhau cân bản giữa

hương - khoán ước các làng với luât pháp Nhà nước, song trước khi biết đến

s,phép nước" mỗi người dân nông thôn đêu đà sống va làm theo "lệ làng" Ỏ

chừng mưc nhất định, đó cũng là môt thói quen tốt để ho tiếp xúc với Luàt

nước một cách nhanh chóng hom

2.5 Chính quyền thực dán Pháp đới với truyén thống tư quản công đồng làng xã của người ViêL

Trong con mãt của các chính khách thuộc đia Pháp, cái gọi là quyền "tư

quản" hay "tự tri" làng xả là một công cu cai trị tuyệt diệu, bơi lẽ nó phân

cách giữa làng nọ với làng kia, do đó "không cho phép cư đân liên kết lai

trong m ột hành động chung để chống đối chúng ta" (33 - tr 64) Bời thế, ho ra

sức ca ngợi hệ thống tư quản làng xã và cho đãy chẳng khác nào cái hê thống

tổ chức được thiết lâp bời nguyên tắc phân quyền nổi tiếng của nền dân chu tư

sản, mà hội đổng kỳ muc được ví với "hổi đổng thành phố" hay "cơ quan lâp

pháp", hội đổng lýdich với "cơ quan hành pháp”, và dan hàng xã với "đoàn cử

tri" ớ Pháp Thế nhưng, sau khi đã quá mêt mỏi bơi phải đối phó với những

"rầc rối" ở các làng xã, người Pháp đã quay sang phẽ phán kich lièt cai mà họ

đã ca ngợi trước đây, đó là hội đồng kỳ muc và hỏi đông ly dich Ho cho đấ’v

ỉà những bộ phân được tổ chức lỏng ỉeo, tuy tiện, kém híeu qua sây ra sư

Ngày đăng: 22/04/2020, 15:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w