Quá trinh đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp mà một nội dung chủ yếu là xác lập vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân với hình thức hợp tác mới đã góp phần giải phóng mạnh mẽ sứ
Trang 1ĐẠI HỌC Q UỐ C GIA HÀ NỘI
T R Ư Ờ N G K HO A HỌC XÃ H Ộ I & NHÂN VÃN
M Ộ T SỐ VÂN ĐỂVỂ KINH TÊ HỘ NÔNG DÂN V IỆ T NAM
T H Ờ I KỲ ĐỔI M Ớ I(Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia)
Mã số Qx 99.01
Chủ trì đề tài: PGS.TS Trương th ị tiến
Những người cùng thực hiện: TS Vũ Quang Hiển
Cử nhân: Nguyễn Thị Nhung
Trang 2Chương 1 Quá trình xác lập vai trò tự chủ 22
của kinh tẻ hộ nông dân Việt Nam thời kỳ đổi mói
1.1 Bước dầu tái lập vai trò tự chủ của hộ xã viên (1981-1988) 281.2 Kinh tế hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ (1988 - 1993) 301.3 Quyền tự chủ của hộ nông dân được nâng cao gắn với nhiệm vụ 40CNH - HĐH nông nghiệp, nông thổn (từ 1993 đến nay)
Chương 2 Vân để ruộng đát của kinh tè hộ 49
2.3 Chính sách ruộng dất - nhữniỉ tác dộng tích cực và nhữnu hạn chế 52
Chương 3: Xu hướng phát triển từ kinh tẻ hộ lên kinh te trang trại 77
3.1 Chủ trưưng chính sách của Đảng và nhà nước là cơ sở thúc 7Xđẩy kinh tế hộ phát triển lên kinh tế trang trại
3.2 Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại XI
Chương 4 Sự phân hoá của hộ nóng dân trong quá trình chuyển 9 9
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
1 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Trước những đòi hỏi bức xúc của đời sống kinh tế - xã hội, Đáng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, trọng tâm là đổi mới kinh tế Quá trình đổi mới kinh tế được tiến hành từng bước từ đầu thập niên
80 và mang dần ý nghĩa cải cách khi nhiệm vụ này được tiến hành đồng bộ hơn sau Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ Vỉ (1986)
Trong công cuộc đổi mới kinh tế nói chung thì đổi mới kinh tế nồng nghiệp vừa là khâu đột phá vừa là lĩnh vực đổi mới thành công nhất Quá trinh đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp mà một nội dung chủ yếu là xác lập vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân với hình thức hợp tác mới đã góp phần giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất và làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Kinh tế nông nghiệp có những bước phát triển đáng khích lệ Việt Nam từ chỗ thường xuyên phải nhập lương thực đã vươn lên đứng vào nhóm các nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới
Công cuộc đổi mới kinh tế nông nghiệp đã trải qua một quá trình, đủ thời gian để chúng ta nhìn lại, đánh gía các sự kiện chính xác hơn Chúng ta đã có thế tổng kết những thành công và những hạn chế của quá trình đổi mới để có thêm
cơ sớ khoa học tiếp tục hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách đối mới; góp phần phát hiện và giải quyết những vấn đề mới nảy sinh nhằm đẩy tới công cuộc đối mới với nhữns bước phát triển cao hơn, phù hợp với qui luật khách quan, với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
Vì vậy, tổng kết lại quá trình tiến hành đổi mới trong thời gian qua là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Đề tài “Một số vấn đề về kinh tế hộ nông dân Việt nam trong thời kỳ đổi mới” xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn đó
2 Lịch sử nghiên cứu vân đề.
Vì tấm quan trong của vấn đề nông nghiệp, nông Ihỏn nói chung, vấn đề kinh tế hộ nông dân nói riêng nên đã có rất nhiều công trinh tập trung nghiên cứu vấn để này Có thẻ kể đến các nhóm công trinh
Trang 4- Nhóm công trình đề cập đến chủ trương, chính sách đổi mới kinh tê của Đảng, Nhà nước (bao gồm các văn kiện Đại hội Đảng, Nghị định chính phủ và một số công trình nghiên cứu về mảng nội dung này như “Đổi mới, hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta” của GS.PTS Vũ Đinh Bách và GS.TS Ngô Đình Giao (đồng chủ biên), NXB Chính trị Quốc gia, H, 1993 “Đổi mới và hoàn thiện một số chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn” do PGS.TS Lê Đình Thắng và PTS Phạm văn Khôi chủ biên, NXB Nông nghiệp, H, 1995 )
- Nhóm tài liệu thống kê qua các đợt khảo sát do Tổng cục Thống kê xuất bản: “ Kết quả tổng điều tra nông thôn và nông nghiệp năm 1994” (xuất bản năm 1995); “Tư liệu kinh tế-xã hội chọn lọc từ kết quả các cuộc điều tra qui mô lớn những năm 1990-1996 (xuất bản năm 1998); “Kết quả điều tra kinh tế- xã hội hộ gia đinh 1994-1997” (xuất bản nãm 1999); “Kết quả điều tra đời sống kinh tế hộ gia đình năm 1999” (xuất bản năm 2000)
- Nhóm các công trình đề cập đến đổi mới kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung: “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp Thành tựu-Vấn đề và triển vọng” do PTS Nguyễn Văn Bích chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, H, 1994;
“Một số vấn đề về nông nghiệp, nông thôn hiện nay” của Bùi Huy Đáp - Nguycn Điền, NXB Khoa học và Kỹ thuật, H, 1996 và nhiều công trình nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học đề cập đến từng mảng vấn đề cụ thế như: ruộng đất, trang trại, phân hoá xã hội
- Nhóm các công trình nghiên cứu trực tiếp về hộ nông dân: “ Kinh tế hộ - Lịch sử và triển vọng phát triển” của Vũ Tuấn Anh, Trần thị Vân Anh, NXB KHXH, H, 1997; “Kinh tế hộ nông dân” của GS.VS Đào Thế Tuấn, NXB Chính trị Quốc gia, H,1997; “Kinh tế hộ trong nôn2 thôn Việt N am ” do Chu Văn Vũ chủ biên, NXBKHXH, H,1995
Háu hết các công trình trên đều nghiên cứu về kinh tế hộ dưới góc độ kinh
tế hoặc những vấn đề lý luận chung, rất ít công trình tiếp cận vấn đề kinh tế hộ nông dân Việt nam trong thời kỳ đổi mới dưới góc độ lịch sử
3 M ục đích nghiên cứu của đề tài:
- Đé tài “ Một số vân đề về kinh tế hộ nông dân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” nhầm dựng lại quá trình xác lập vai trò tự chủ cùa kinh tế hộ nông dán dưới tác động của công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp
Trang 5- Phân tích xu hướng phát triển của kinh tế hộ và sự phân hoá của kinh tế
hộ dưới tác động của cơ chế thị trường
- Nêu lên những khó khăn của kinh tế hộ hiện nay và những kiến nghị để
kinh tế hộ có thể tiếp tục phát triển
4 Nội dung, phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kinh tế hộ nông dân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Do một số điều kiện, đề tài tập trung nghiên cứu hộ nông dân trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp Hoạt động của hộ nông dân trong các ngành nghề phi nông nghiệp chỉ được đề cập đến dưới góc độ nhằm làm nổi bật hơn những vấn đề của hộ nông dân trong lĩnh vực nông nghiệp
- Về nội dung, đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu trong 4 vấn đề:
+ Quá trình xác lập vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân Việt Nam thời kỳ đổi mới
+ Vấn đề ruộng đất của kinh tế hộ
+ Xu hướng phát triển từ kinh tế hộ lên kinh tế trang trại
+ Sự phàn hoá của các hộ nông dân trong quá trình chuyển đối cơ chế
5 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử là chú yếu, có kết hợp với phương pháp nghiên cứu liên chuyên ngành giữa khoa học lịch sử và khoa học kinh tế
6 Đóng góp của đề tài:
- Dựns lại một cách có hệ thống quá trình xác lập vai trò tự chủ của kinh
tế hộ nông dân qua 3 giai đoạn phát triển: 1981-1988; 1988-1993; 1993 đến nay Qua đó góp phần khẳng định kinh tế hộ tự chủ là hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với bản chất và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
- Phân tích những biến đổi trong quan hệ sớ hữu-sứ dụng ruộng đất trong nông nghiệp, nêu lên những mặt tích cực cũng như nhữns mặt hạn chế của hình thức sớ hữu-sử dụng ruộng đất hiện nay
- Phân tích xu hướng phát triển từ kinh tế hộ lổn kinh tế trang trại Đây là
xu hưởng phát triển tích cực cán có giải pháp hỗ trợ
Trang 6- Phân tích sự phân hoá của hộ nông dân về nguồn lực sản xuất, về năng lực, mục tiêu sản xuất, về thu nhập và tình trạng phân hoá giàu nghèo Trong cơ chế thị trường, sự phân hoá tất yếu sẽ diễn ra nhưng nhà nước phải kiểm soát được quá trình phân hoá này để giữ ổn định xã hôị.
- Qua nghiên cứu về kinh tế hộ nông dân, đề tài đề xuất một số kiến nghị nhằm tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế hộ tiếp tục phát triển
- Kết quả nghiên cứu của đề tài được bổ sung vào nội dung giảng dạy các chuyên đề về lịch sử kinh tế Việt Nam cho sinh viên, học viên cao học và NCS khoa Lịch sử
7 Kết cấu của đề tài:
Ngoài Lời nói đầu, phần dẫn luận, kết luận, đề tài gồm 4 chương:
Chương 1: Quá trình xác lập vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân Việt Nam thời kỳ đổi mới
Chương 2: Vấn đề ruộng đất của kinh tế hộ
Chưưng 3: Xu hướng phát triển từ kinh tế hộ lên kinh tế trang trại
Chương 4: Sự phân hoá của các hộ nông dân trong quá trình chuyển đổi cơ chế
Trang 7Nhóm tác giả của công trình nghiên cứu “Kinh tế hộ trong nông thôn Việt Nam”, NXB KHXH, H, 1995 do Chu Văn Vũ chủ biên cho rằng khi phân định
hộ cần lưu ý một số điếm:
1 Hộ là một nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc
2 Hộ cùng sống chung hay không cùng sống chung một mái nhà
3 Có chung một nguồn thu nhập và ăn chung (ăn chung ở đây có hàm nghĩa phân phối chung nguồn thu nhập mà các thành viên của hộ sáng tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định)
4 Cùng tiến hành sản xuất chung
Nhóm tác giả cũng cho rằng gia đình là cơ sở của hộ nói chung Gia đình- một loại hình hộ - chứa đựng các yếu tố để hình thành những loại hình hộ mớ rộng khác Nhưng hộ và gia đình là hai khái niệm khác nhau
Nhóm tác giá Vũ Tuấn Anh, Trần Thị Vãn Anh trong công trình nghiên cứu “Kinh tế hộ-Lịch sử và triển vọng phát triển” , NXB KHXH, H, 1997, cho ràng “ hộ có những đặc điểm thay đổi theo thời gian lịch sử Khi trình độ phát triển của xã hội còn thấp, gia đình với kinh tế tự cấp, tự túc là thành tố cơ bán tạo nên hộ Gia đình như vậy cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng làm chung
và ăn chung Song khi xã hội phát triển hơn, thì thành viên của hộ không còn làm chung và ăn chung nữa Họ có thế cùng sống chung nhung làm việc ớ những nơi khác nhau và có thế chí dóng góp một phần thu nhập vào một số hoạt động chung của hộ Trình độ phát triển của xã hội càng cao, tính độc lập cá nhân của
Trang 8mỗi thành viên cao hơn thì tiêu thức chính còn lạ i đ ể xác định hộ là sự cư trú
chung”.
Trong các văn bản pháp luật hiện nay, hộ được xem như chủ thể trong các quan hệ dân sự do pháp luật quy định và được định nghĩa như là một đơn vị mà các thành viên có hộ khẩu chung, tài sản chung và hoạt động kinh tế chung Năm
1989, khi tiến hành tổng điều tra dân số, Tổng cục Thống kê đã đưa ra những tiêu chí để xác định hộ: Hộ gồm những người có quan hệ hôn nhân hoặc ruột thịt hoặc nuôi dưỡng có quỹ thu chi chung và cùng chung sống lâu dài
Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi không xét tới khía cạnh nhân chủng học, xã hội học của hộ mà chỉ tập trung nghiên cứu hộ dưới góc độ lịch sử kinh tế và cũng chỉ nghiên cứu trong phạm vi kinh tế hộ nông dân
Theo GS.VS Đào Thế Tuấn, “hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn Trong các hoạt động phi nông nghiệp khó phân biệt các hoạt động liên quan đến nông nghiệp và không liên quan với nông nghiệp Gần đây đã có một khái niệm rộng hơn là hộ nông thôn, tuy vậy giới hạn giữa nông thổn và thành thị cũng đang là một vấn đề còn tranh luận” 1
Như vậy theo GS v s Đào Thế Tuấn hộ nông dân bao gồm những hộ hoạt động nông nghiệp ở cả nông thôn và thành thị và những hộ hoạt động phi nông
nghiệp ớ nông thôn Tuy nhiên những khái niệm này chí có ý nghĩa tương đối
Hộ nông dán có những đặc điểm sau:
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là m ộ t ổơn vị sản xuất vừa
là m ột đơn vị tiêu dùng.
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của
hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sán xuất hàng hoá hoàn toàn Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường
- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau khiến cho khó giới hạn thế nào
là một hộ nông dân
2 Tình hình cơ bàn của hộ L
CiS.VS Đào T h ế Tuấn Kinh tế hộ nóng dân. NXBCTQG, H 1997 tr: 50-51.
Trang 9v ề s ố lượng hộ, nhân khẩu, lao động' Trong những nãm qua, số hộ, số
nhân khẩu, số lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản tuy có giảm chút ít về tỷ lệ % ( từ 72,2% năm 1985, 71,6% năm 1990 xuống 67,2% nãm 20 002 nhưng vẫn tiếp tục tăng lên về con số tuyệt đối
Bảng 1: Hộ, nhân khẩu, lao động nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
II Tổng sỏ nhân khẩu
Trong đó
1000 người
58.800 60.076 61.275 62.265
III Tổng sô lao động
Trong đó
1000 người
28.175 28.623 29.425 27.922
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Vụ Kế hoạch và Quv hoạch, S ố liệu
thống kê ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn 1996-2000, NXB Nông nghiệp,
H, 2002, tr: 30
G hi chú: Tổng s ố hộ, nhân khẩu, lao động trong biếu này bao g ồm toàn bộ s ố
hộ, nhân khẩu, lao động ở khu vực nông thôn và s ố hộ, nhân khẩu, lao động thuộc lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản ở kh u vực thảnh thị.
Về tình hình cơ bán của hộ, theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, tính đến 1/10/2001, cả nước có 13.909.485 hộ ( tư liệu không ghi chú
; GS.VS Đào Thê Tuấn Tmh hình nông nghiệp ớ Việt Nam gần đây và các thách thức cùa phái triển nông thôn
Phát triển nông thôn (Bản tin tham khảo về phát triển nông thôn và các tổ chức nóng dãn) thánơ 10 năm 2002 tr:7.
Trang 10là bao gồm những loại hộ nào như bảng số 1), số nhân khẩu bình quân một hộ là4,5, số người trong độ tuổi lao động bình quân một hộ là 2,4 Đổng bằng sông Hổng có số hộ cao nhất nhưng đồng bằng sông Cửu Long lại là nơi có số nhân khẩu đông hơn nên bình quân nhân khẩu và lao động của một hộ cao hơn đồng bằng sông Hồng.
1 hộ
Số người trong độ tuổi lao động
Số người trong độ tuổi LĐ
8 ĐB sông Cứu Long 3.029.531 14.199.368 4,7 8.326.770 2,7
Nguồn: Bô Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Vụ Kế hoạch và Quy hoạch/ S ố liệu
thõng kê ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn 1996 - 2000, NXB Nông nghiêp,
H, 2002, tr.35-36
Nếu phân theo ngành sản xuất thì hộ nông nghiệp chiếm tới 77,1%, hộ lâm nghiệp chiếm 0,17%, hộ thuỷ sản chiếm 3,7%, hộ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm 4,3%, hộ xây dựng chiếm 1,2%, hộ thương nghiệp chiếm 5,5%, hộ vận tải chiếm 1%, hộ hoạt động dịch vụ khác chiếm 4,1%, hộ khác chiếm 2,9%
Trang 11Bảng 3: Hộ phân theo ngành sản xuất
(Tính đến 01/10/2001)
Hộ lâm nghiệp Hộ thuỷ sản
Trang 12Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Vu Kế hoạch và Quy hoạch: S ố liệu
thống ké ngành nông nghiệp và phát triển nóng thôn 1996 - 2000, NXB Nông nghiệp
H, 2002, tr.37-42
Nếu phân theo nguồn thu nhập chính thì 78,5% số hộ có nguồn thu nhập chính từ nông, lâm, thuý sản, 11,4% số hộ có nguồn thu nhập chính từ dịch vụ, 6% số hộ có nguồn thu nhập chính từ công nghiệp, xây dụng, 4% có thu nhập chính từ các nguồn khác
Báng 4 : Hộ phán theo nguồn thu nhập chính.
(Từ 01/10/2001
Số hộ có TN chính từ nông, lâm , ngư, thuv
sản
Số hộ có TN chính từ công nghiệp, xây dựng
Trang 13Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Vu Kế hoạch và Quy hoạch: S ố liệu
thống kê ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn 1996 - 2000, NXB Nông nghiôp
H, 2002, tr.43-46
Nếu tính tỷ lệ lao động chia theo việc làm thì 71,82% lao động có đủ việc làm, 25,87% lao động thiếu việc làm và 2,32% lao động thất nghiệp Tuy nhiên con số này chỉ có ý nghĩa tương đối vì Việt Nam không có chế độ bảo hiếm thất nghiệp nên không thể dựa vào số liệu đó để xác định chính xác số người thất nghiệp Hơn nữa, ở nông thôn, các thành viên của hộ thường tự tìm kiếm việc làm thêm, tuy không ổn định, không thường xuyên, thu nhập rất thấp nhưng vẫn được xếp vào vào loại có việc làm
Trang 14Bảng 5: s ỏ lượng và tỷ lệ lao động chia theo tình trạng việc làm
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Vụ Kế ho ạch và Quy hoạch: S ố liệu
thống kê ngành nông nghiệp vả phát triển nóng thòn 1996 - 2000 NXB Nông nghiệp,
H, 2002, tr.47
3 Những đặc trưng của hộ nông dân:
Thành công lớn nhất trong công cuộc đổi mới kinh tế nông nghiệp là sự thay đổi thể chế: từ thể chế hợp tác hoá-tập thế hoá sang thể chế kinh tế hộ nông dân tự chủ với mô hình hợp tác mới tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường Trong thực tiễn, kinh tế hộ nông dân đã khảng định được vị trí, vai trò của mình, góp phần quan trọng nhất, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển với những bước dột phá đáng ghi nhận Kinh tế hộ nông dân đã có hước tiến xa so với kinh tế hộ tự chù thời kỳ khôi phục và bước đầu phát triển kinh tế (19551957) Tuy nhiên nếu so với mục tiêu phát triển một nền kinh tế thị trường hiện
Trang 15nay thì sự phát triển đó cũng mới chỉ là bước đầu Điều đó được thê hiện ờ những đặc trưng sau của kinh tế hộ nông dân trong hơn hai thập niên đổi mới.
3.1.Quy mô sản xuất của kinh tế hộ nông dán nhìn chung vẩn còn nhỏ bé.
Đặc trưng này thể hiện ở các điểm như sau:
3.1.1 Q uy m ô đất đai canh tác nhỏ, manh mún, biếu hiện rõ nét tính chất tiếu
nông.
Theo kết quả Điểu tra mức sống dân cư Việt Nam 1997-1998, đối với đất nông, lâm nghiệp thì bình quân một hộ là 9.039 m2, nếu tính riêng đất nông nghiệp thì bình quân chung một hộ có khoảng 0,5ha Quy mô canh tác của một nông hộ như vậy là quá nhỏ bé, đặc biệt là nếu so sánh với một số nước trong khu vực Chẳng hạn như Thái Lan, bình quân một hộ có từ 1,5 đến 1,8 ha (số liệu năm 1983), Băngladet: 1,3-1,5 ha/hộ (số liệu năm 1985), Philippin: 2,1 ha/hộ3
Không chỉ quy mô canh tác của một hộ nhỏ bé mà phần lớn số hộ có quy
mô canh tác dưới mức trung bình (70% số hộ canh tác có dưới 0,5 ha, đặc biệt là đồng bằng sông Hổng, bình quân một hộ chí có 0,23 ha4)
Quy mô canh tác của một hộ vốn đã nhỏ lại do cách khoán ruộng đất có gần, có xa, có tốt, có xấu khi thực hiện khoán 100, khoán 10 nên tinh trạng manh mún về ruộng đất càng trở nên nặng nề hơn (xin được trình bày kỹ hơn ớ phan: Vấn đề ruộng đất của kinh tế hộ)
3.1.2 Lao động của hộ chủ y ế u là sử dụng sức lao động của các thành viên trong
gia đình.
Không như các hình thức tổ chức sản xuất khác, hộ trước hết là một đơn vị
tự tổ chức lao động Trong các hoạt động nông nghiệp, hộ sử dụng nhân công trong gia đình là chủ yếu Các thành viên trong gia đình có cơ cấu tuổi tác, giới tính, sức lao động, kinh nghiệm làm ăn khác nhau Điều đó cho phép hộ sử dụng nguồn nhân lực rất linh hoạt và có hiệu quá Đây là sự khác nhau giữa hộ
và các đơn vị kinh tê khác
Hạn chế của lao động trong nông nghiệp là không được đào tạo chính qui
mà là tự đào tạo và truyền nghề từ thế hệ này sang thế hệ khác Số lao động có
’ Trung tâm K H XH -NV , Viện Kinh tế học Kinh tế hộ trong nỏng [hỏn Việt nam N X B K HX H H 1995 tr: 26
4 Kinh tế và chính sách đất đai ờ Việt Nam (Kỷ yếu Hồi thào kh oa học Thái N guyên 17-18/12/1999).
Trang 16trình độ kỹ thuật chiếm một tỷ lệ nhỏ Nếu tính số nhân khẩu đù tuổi 15 trờ lẻn hoạt động kinh tế thường xuyên ớ khu vực nông thôn chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật thì vào năm 2000, số nhân khẩu thuộc loại này trong cả nước có 29.917.091 người Trong đó số nhân khẩu không có chuyên môn kỹ thuật lên tới 27.154.749 người (chiếm 90%), số nhân khẩu có trình độ sơ cấp học nghề trờ lên chỉ có 2.762.342 người (chiếm 9 ,2 % )5.
Lao động của nông hộ, nhất là những nông hộ còn ớ trons tình trạng sản xuất tự cung, tự cấp thường không được xem là lao động dưới hình thái hàng hoá, hay sức lao động của hộ không được coi là hàng hoá Các nông hộ không tính toán nhiều đến chi phí sức lao động bỏ ra, thậm chí còn ứng xử theo cách lấy công làm lãi
Một đặc trưng nổi bật của việc sử dụng thời gian lao động của hộ trong khu vực nông thôn là thời gian lao động còn chiếm tỷ trọng thấp so với quỹ thời gian lao động Nông nghiệp là ngành sản xuất vốn mang tính thời vụ Bán thân nhũng hộ thuần nông, nhất là những hộ trồng lúa, không thể có đủ việc làm trong
cả năm Công việc nhà nông thường chỉ chiếm khoảng 70% quỹ thời gian của
họ Mặt khác dân số thì mỗi ngày một tăng, quỹ đất nông nghiệp có hạn, các ngành nghề chưa phát triển nên số lao động dư thừa ớ nông thôn ngày càng nhiều
Số liệu ớ báng 5 cho thấy, ngay cả những người trong độ tuổi lao động thì chí có 71,82% tổng số lao động có đủ việc làm Số còn lại là thất nghiệp từng phần hoặc toàn phần
3.1.3 N guồn vốn sản xuất kinh doanh eo hẹp.
Trong những năm đầu đổi mới, các hộ nông dân đều trong tình trạng thiếu vốn nghiêm trọng, đặc biệt là các hộ nông dân ở miển Bắc Trong thời kỳ tồn tại của mô hình hợp tác hoá-tập thể hoá, nhờ công sức lao động tập thê’ nhiều năm, nhờ sự hao cấp quốc tế (viện trợ của các XHCN) và bao cấp quốc gia (vật tư, phương tiện, vốn liếng của Nhà nước đầu tư trực tiếp cho nông nghiệp) mà trước khi giải thế hoặc chi còn tổn tại trên danh nghĩa, nhiều HTX đã có một vốn liếng không nhỏ: tài sán cố định sán xuất và phi sản xuất, tài sán lưu động, quỹ không chia, quỹ dự trữ Khi chuyển sang kinh tố hộ, đáng tiếc là không có chủ trương
' Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Vụ k ế hoạch và quy hoạch So liệu thóng kẻ ngành Nòng nghiẻp và phát triển nông thôn 1996-2000 NXB Nòng nghiệp H 2002 tr: 60.
Trang 17hướng dẫn của Nhà nước về cách thức sử dụng số tài sản công đó Hiện tượng phổ biến là đem chia cho từng hộ hoặc để phân tán, mất mát Trong thực tế, việc phát tán tài sản công như vậy không đem lại sự hỗ trợ đáng kế cho sự phát triển của kinh tế hộ Trong những năm đầu đổi mới, Nhà nước cũng chưa có chính sách tín dụng kịp thời cho kinh tế hộ Vì vậy, các hộ nông dân đều trong tình trạng thiếu vốn nghiêm trọng Hiện tượng nông dân phải đi vay nặng lãi xảy ra khá phổ biến ở nông thôn.
Tinh trạng thiếu vốn gây trở ngại lớn đến khả năng nâng cao trinh độ thâm canh nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trổng vật nuôi, mở mang ngành nghề, tăng thêm thu nhập cho các hộ
Từ khoảng giữa thập niên 90 trở đi, các hộ đã bắt đầu có sự tích luỹ (sự tích luỹ chưa hẳn là dựa trên một nền nông nRhiệp thặng dư mà là do tiết kiệm chi tiêu là chính), đồng thời hệ thống ngân hàng thương mại hình thành, chủ công là ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, đã chuyển từ cho các HTXNN vay là chủ yếu sang cho các hộ nông dàn vay là chủ yếu Vì vậy, nhu cầu về vốn để tái sản xuất giản đơn không căng thẳng như trước nhưng hiện nay nhiều hộ lại thiếu vốn để mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá
Do các yếu tố sản xuất về quy mô đất đai, tình trạng lao động, vốn, trình
độ công nghệ của kinh tế hộ nông dân còn nhiều hạn chế như đã trình bày nên
quy m ô sản xuất của các hộ nông dân nhìn chuns còn nhỏ bé, đcì s ố chưa vượt khỏi tình trạng tiếu nông Tuy nhiên cũng đã có một số hộ vươn lên trinh độ sản
xuất hàng hoá, hình thành các trang trại (quy mô đất canh tác đã vượt mức hạn điền, phải thuê mướn nhân công, đầu tư nguồn vốn tương đối lớn, giá trị sán lượng hàng hoá dịch vụ bình quân năm từ 40 triệu đồng trở lên đối với các tính phía bắc và duyên hải miền trung, từ 50 triệu đổng trở lên đối với các tính phía nam, Tây Nguyên)
3.2 Hệ thống công cụ tuy có sự cải tiêh nhưng nhìn chung mức độ cải tiên còn hạn chế K ỹ thuật canh tác chưa có sự đột phá.
Hệ thống công cụ sán xuất được coi là một trong những nguồn vốn cốđịnh của hộ nông dân Mức độ trang bị kỹ thuật được coi lù thước đo trình độphát triển của lực lượng sán xuất
Sau khi thực hiện Nghị quyết 10, năng lực sàn xuất kinh doanh của các hộ được phát huy Do đó, việc trang bị tài sán cố định tăng lén nhanh chóng Cuộc
Trang 18điều tra của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm vào năm 1992 cho thấy, tính chung trên các địa bàn điều tra cho tất cả các nhóm hộ, có tới 56,4% giá trị tài sản cố định được mua sám từ 1988 đến 19916 Trong đó tập trung trong 3 lĩnh vực chủ yếu: xây dựng các vườn cây dài ngày (cao su, cà phê, tiêu ), mua sấm máy động lực, phương tiện vận tải.
Từ giữa thập niên 90, mức độ trang bị kỹ thuật của các hộ nông dân tiếp tục tăng lên nhưng nhìn chung vẫn còn thấp Nguyên nhân của tình trạng trên là
do lao động trong nông nghiệp dư thừa; quy mô canh tác nhỏ bé, manh mún; thiếu vốn đê đầu tư Nói chung sự tăng lên về mức độ trang bị kỹ thuật chỉ tập
trung ở những hộ giàu, ở những vùng có quy mô canh tác lớn, ở khu vực kinh tế
trang trại
Khác với hệ thống công cụ, kỹ thuật canh tác nông nghiệp trong thời gian gần đây đã có những đổi mới đáng kể về giống cây, giống con, các chủng loại vật tư nông nghiệp (phân bón, thuốc trừ sâu, chất kích thích ) Cơ cấu mùa vụ thay đổi ở nhiều vùng Năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi đã tăng lên rõ rệt nhưng nhìn chung kỹ thuật canh tác vẫn chưa có sự đột phú, nhất là trong khu vực trồng lúa
3.3 Nông nghiệp vẩn là nên tấng của kinh t ế nông hộ, cơ cấu sấn xuất ít có sự thay đôi.
Nước ta vốn là một nước nông nghiệp, trong những năm tiến hành đổi mới, cơ cấu sản xuất có sự thay đổi nhung nông nghiệp vẫn là nền táng của kinh
tế hộ Tính đến tháng 10 năm 2001, số hộ nông dân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thuý sản vẫn chiếm 80,97%, chỉ có chưa đầy 20% số
hộ nông dân hoạt động trong các ngành nghề phi nông nghiệp Số hộ nông dân
có thu nhập chính từ nông, lâm, ngư, thuỷ sản chiếm 78,5%7 Nếu tính theo tý lệ trong tổng thu nhập thì ở khu vực nông thôn, thu nhập từ nông, lâm nghiệp, thuý sán chiếm 48,6%, thu nhập từ tiền công, tiền lương là 15,9%, từ sản xuất kinh doanh ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản: 19,9%.8 Những con số trên cho thấy, lực lượng lao động chủ yếu vẫn tập trung trong ngành nông nghiệp
6 Trung tâm K H X H -N V Viện Kinh tế học Kinh tế hộ trong nóng thôn Việi nam N X B KHXH H 1995 tr: 40.
7 Bộ Nông nghiệp và phát triển nòng thôn Vụ kế hoạch và quy hoạch, sỏ' liệu thống ké ngành Nóng nghiệp và phát triển nòng thôn 1996-2000 NXB Nông nghiệp H, 2002 tr: 37.43.
“ Tone cục Thông kẽ Điéu tra mức sống dãn cư 1997-1998 NXB Thống kẽ H tr: 300.
Trang 19Phần lớn hộ nông dân vẫn có nguồn thu nhập chính từ nông nghiệp và nguổn thu
đó vẫn chiếm tý lệ cao trong tổng thu nhập
Trong nông nghiệp vẫn bao gồm 2 ngành mang tính truyền thống: trổng trọt và chăn nuôi với tỷ trọng trong cơ cấu giá trị sản lượng chậm thay đổi (trồng trọt trên 70%) Trong trồng trọt thì sản xuất lương thực vẫn là chủ yếu Cây lúa vẫn là cây chủ đạo
Nói chung, các hộ nông dân đang tích chuyển đổi cơ cấu sán xuất nhung
họ vấp phải rất nhiều trở ngại: quy mô sản xuất của nông hộ nhỏ bé, trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, kiến thức thị trường của hộ nông dân còn hạn chế, thị trường trong và ngoài nước chưa ổn định và bị cạnh tranh gay gắt
3.4 Hộ nông dán đang chuyên từ mục tiêu sản xát tự cấp sang mục tiêu sản xuất hàng hoá.
Trong những năm đầu thời kỳ đổi mới, hầu hết các hộ nông vừa mới được quyền tự chủ sản xuất kinh doanh nên mục tiêu ưu tiên hàng đầu là sản xuất đế đáp ứng nhu cầu của các thành viên trong gia đình Khi đã đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, các hộ mới tính đến mục tiêu sản xuất hàng hoá Đưưng nhiên có chuyển được sang mục tiêu sản xuất hàng hoá hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác: vốn, trình độ kỹ thuật, trình độ quản lý của bản thán hộ, môi trường kinh doanh
Khoáng giữa thập niên 90, theo cách tính của GS.VS Đào Thế Tuấn thì tý
lệ hộ nông dân có mục tiêu tự cấp chiếm 60% tổng số hộ ớ đồng bằng Bắc Bộ và 40% ở đổng bằng sông Cửu Long Tỷ lệ hộ nông nông dân có mục tiêu sản xuất hàng hoá còn quá thấp: 2,5% ỡ đồng bàng Bác Bộ và 45% ở đổng bằng sông Cửu Long.y(số lượng còn lại là những hộ vừa có mục tiêu tự cấp vừa có mục tiêu sản xuất hàng hoá)
Các hộ nông dán tự cấp thường là các hộ nshèo đói, có ít đất, vốn và lao động, thường độc canh lúa (hay màu) Các hộ có mục tiêu sản xuất hàng hoá thường là các hộ giàu, có nhiều đất, vốn và lao động, thường kinh doanh đa dạng, nhiều ngành nghề
Vàn đề quan trọng nhất của hộ nông dân là quá trình phát triển từ hộ tự cung tự cấp sang sán xuất hàng hoá Theo GS.VS Đào Thố Tuấn, nhân tố vốn là
CiS vs Đào T h ế Tuân Kinh tế hộ nông dãn NXB Chính trị Quốc gia H tr: 7 1.
Trang 20nhân tố chủ yếu quyết định việc phân hoá các hộ ra các mục tiêu sản xuất khác nhau và theo đó là tình trạng giàu nghèo.
Từ những năm cuối thập niên 90 đến nay, vấn đề vốn cho nông dàn đã có
sự cải tiến nên số hộ chuyển sang sản xuất hàng hoá chiếm tỷ lệ cao hơn Hệ thống các nông trại sản xuất hàng hoá đã hình thành và khẳng định được vai trò của kinh tế trang trại trong chiến lược phát triển một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá (xin xem phần kinh tế trang trại)
Trang 21Trong kháng chiến chống Pháp, tuy khẩu hiệu “Người cày có ruộng” chưa thực hiện triệt để nhưng những cải cách dân chủ từng phần như giảm tô, giám tức, tịch thu ruộng đất của tư bản thực dân, địa chủ phản cách mạng chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng công đã từng bước cải thiện đời sống cho nhiều hộ nông dân, đặc biệt là các hộ tá điển Rất nhiểu hộ nhờ có cái cách dán chủ từng phần đã có đủ ruộng đất để sản xuất tự cung tự cấp, đáp ứng nhu cầu của gia đình và đóng góp cho kháng chiến.
Thời kỳ khôi phục kinh tế 1955-1957, Đảng và Nhà nước đã có hai quyết sách quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp:
1 Tiếp tục thực hiện triệt để khẩu hiệu “Người cày có ruộng”, đem lại ruộng đất cho hàng triệu hộ nông dân Nông thôn miền Bắc trở nén thuần nhất với hàng loạt các hộ tiếu nóng có mức sở hữu ruộng đất và qui mô canh tác gần như nhau, dựa chủ yếu vào sức lao động của gia đình, sản xuất tự cung tự cấp là chính với kinh nghiệm quán lý và kỹ thuật canh tác háu như chưa thay đổi
2 Duy trì và phát triển kinh tế hộ tự chú (các hộ được đám báo quyền sớ hữu ruộng đất, được tự do thuê mướn nhân công, tự do vay mượn, khuyến khích khôi phục và phát triển nghề phụ gia đình ) kết hợp với việc phát huy sức mạnh cộng đổng thông qua cúc hình thức hợp tác gián đơn như tổ đổi công
Trang 22Nhờ vậy, các hộ nông dân hình thành sau cải cách ruộng đất trở thành đơn
vị kinh tế tự chủ và là hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp Đây là hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp (lao động cụ thể của từng gia đình có điều kiện gắn bó mật thiết với đất đai, cây trổng, vật nuôi để kịp thời ứng phó với những thay đổi bất thường của thời tiết và đòi hỏi của cây trồng, vật nuôi trong quá trình sinh trưởng) Hình thức tổ chức theo từng hộ gia đình còn phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (nông nghiệp nước ta phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, ruộng đất manh mún, lao động thủ công, sản xuất tự cung, tự cấp nên chưa đòi hỏi hợp tác ở trình độ cao)
Do hình thức tổ chức sản xuất phù hợp nên trong những năm 1955-1957, tuy nhà nước chưa đầu tư nhiều cho nông nghiệp nhưng kết quả sản xuất nông nghiệp đã tãng lên rõ rệt so với năm 1939-nãm được mùa nhất trước cách mạng tháng Tám (tính binh quân trong 3 năm khôi phục kinh tế, sản lượng lương thực tăng 57%, nãng suất bình quân 1 vụ tăng 30,8%, lương thực bình quân nhân
khẩu đạt 303 kg, tăng 43,6% l0)
Sự phát triển của sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ này chủ yếu do tinh thần làm chủ cuả nông dân được phát huy sau những thay đổi lớn lao về chế độ chính trị, về quyền sở hữu ruộng đất, về mô hình tổ chức sản xuất phù hợp
Lẽ ra mô hình tổ chức sản xuất này phải được củng cố, hoàn thiện, nâng cao tính hợp lý của nó Nhưng đáng tiếc là kinh tế hộ tự chú lại chỉ được phép tổn tại m ột thời gian ngắn giống như bước đệm đế tiến tới xây dựng mô hình tổ chức sản xuất được coi là cao hơn- hợp tác trên cơ sở tập thế hoá
Đương nhiên kinh tế hộ trong thời kỳ này cũng có những điểm hạn chế của nó Chẳng hạn như qui mô ruộng đất quá nhỏ, manh mún cản trở quá trình cải tạo đất, tiến hành công tác thuỷ lợi, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật Mặt khác, sán xuất nhỏ của kinh tế hộ có khả năng dẫn đến sự phân hoá
về mức thu nhập giữa hộ làm ăn giỏi với những hộ không có kinh nghiệm sản xuất hoặc gặp những rủi ro bất thường trong cuộc sống Trên thực tế, một sô' nơi sau cái cách ruộng đất đã có sự phân hoá giàu nghèo ớ mức độ nhất định Điều
đó trái với mục tiêu công bàng xã hội của chúng ta và trong tương lai có thể dẫn đến những bất công lớn hơn, thậm chí theo quan niệm cũ những bất công này có
111 N guyền Sinh Cúc Quan hệ ruộng dắt ở nông thôn: 50 năm nhìn lại. Tạp chí nghiên cứu lý luận, số 9, nám
2000.
Trang 23thể tạo mảnh đất tốt để chủ nghĩa tư bản phát triển (sản xuất nhó hàng ngày, hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản) Vì thế việc ngăn chặn con đường phát triển tự phát của sản xuất nhỏ, đẩy nhanh tốc độ xây dựng nền sản xuất lớn XHCN được coi là nhiệm vụ hết sức trọng yếu của cách mạng lúc đó.
Thực ra, Sự lựa chọn mô hình hợp tác hoá-tập thể hoá không phải chỉ vì những hạn chế của hình thức tổ chức sản xuất theo từng hộ gia đình mà còn vì sự phù hợp với mô hình kinh tế chung của cả phe XHCN, vì nhận thức đã được định hình từ trước về con đường hợp tác hoá nông nghiệp là phải theo phương thức tập thể hoá từ thấp đến cao Chính vì vậy ngay từ kháng chiến chống Pháp, một số HTXNN đã được thành lập Sau năm 1954, khuynh hướng phát triển chung là khẳng định kinh tế hộ tự chủ nhưng một số HTXNN vẫn tiếp tục được xây dựng theo định hướng từ trước Yêu cầu xây dựng miển Bác trở thành hậu thuẫn cho tiền tuyến lớn miền Nam góp phần củng cố thêm định hướng đó
Trong bối cảnh lịch sử như vậy, những điếm phù hợp của kinh tế hộ không dược xem xét một cách khoa học và quá “nhẹ cân” so với những hạn chế của nó Giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế của kinh tế hộ đúng ra không phải là giải pháp hạn chế hoặc xoá bỏ kinh tế hộ mà chí nên là giải pháp cái tiến nhàm củng cố, phát triển kinh tế hộ Nhưng trong điều kiện lịch sử lúc đó, chúng ta đã nhanh chóng cải tạo nông nghiệp theo hướng đã định
Để thực hiện nhiệm vụ này, từ năm 1958, chủ trương tập thể hoá thông qua việc phát triển nhanh các hợp tác xã, thậm chí bàng mệnh lệnh hành chính
đã được thực hiện đồng loạt ở nông thôn Những yếu tố tích cực của tập thế hoá, tạo khả năng khắc phục những hạn chế của kinh tế hộ được nhận thức và vận dụng một cách giản đơn duy ý chí, thậm chí có nơi có lúc, những mật tích cực này bị thổi phổng, cường điệu hoá Ngược lại, nhũng điểm không phù hợp của các HTX lại không được xem xét một cách khoa học Thậm chí vào hay không vào HTX không chỉ là sự lựa chọn hình thức hợp tác trong sán xuất mà còn được coi là một tiêu chí đê phân biệt thái độ chính trị của mỗi người đối với đường lối xây dựng CNXH mà Đáng vạch ra
Theo quan niệm về tập thể hoá thời kỳ bấy giờ thì bằng cách tập hợp nhiều
hộ nông dân cá thế vào những đơn vị tập thế, biến sớ hữu riêng thành sở hữu chung đối với tư liệu sản xuất, sẽ tạo khả năng tập trung vốn đáu tư, tập trung sức lao động để cải tạo đổng ruộng, làm thuý lợi, áp dung những tiến bộ khoa hoc kỹ thuật, hỗ trợ nhau trong sản xuất đồng thời xoá bỏ được sự phân hoá về thu nhập
Trang 24dẫn đến sự phân hoá về xã hội Điều đó không phải không có khía cạnh hợp lý, song mô hình tổ chức mới về căn bản là không phù hợp với đặc điểm cùa sản xuất nông nghiệp, không phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong nông thôn, nông nghiệp lúc bấy giờ và không nhữnơ không phát huy được những lợi thế vốn có của kinh tế hộ, mà còn hạn chế, triệt tiêu những lợi thế đó.
Quá trình hợp tác hoá nông nghiệp diễn ra đồng thời với quá trình kinh tế
hộ mất đi vai trò tự chủ Hộ gia đình không còn vai trò gì đối với việc quản lý đất đai, điều hành tổ chức sản xuất, phân phối sản phẩm thu hoạch được Kinh tế hộ
bị thu hẹp lại trong phạm vi kinh tế “phụ” gia đình trên mảnh đất 5%
Trên thực tế, mặc dù bị hạn chế như vậy nhưng kinh tế “phụ'’ gia đình vẫn khẳng định sức sống và vai trò to lớn của nó khi đảm đương từ 50 đến 60%" tổng thu nhập của các hộ xã viên Sức sống và vai trò to lớn của kinh tế gia đình còn được thể hiện ở sự trỗi dậy của hình thức khoán hộ bất chấp sự ngăn cản Sự trỗi dậy không phải chỉ một lần và không phải ở một địa phương, dần dần trở thành phổ biến ở nhiều địa phương, thể hiện nhu cầu phải được thừa nhận, đánh giá đúng với bản chất của nó
Sau năm 1975, công tác cải tạo nông nghiệp ở các tỉnh miền Nam khổng thành công càng làm bộc lộ sự bất hợp lý của mô hình hợp tác hoá-tập thể hoá đổng thời càng khẳng định tính tất yếu, hợp qui luật của kinh tế hộ Nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp mà về bản chất là phục hổi và phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ trở ncn bức xúc hơn
Trước tình hình đó, một số tổ chức đảng và quần chúng ớ địa phương đã tự tìm kiếm cách làm mới Từ đầu năm 1975, ớ một số nơi đã xuất hiện hình thức khoán đến hộ gia đình, hoặc cho xã viên mượn đất, khuyến khích xã viên khai hoang, phục hoá đất đai Hải Phòng và Vĩnh Phúc là nơi xuất hiện hình thức khoán hộ từ thập niên 60 nhưng không được chấp nhận Thập niên 70, hai địa phương (Đồ Sơn - Hái Phòng, Vĩnh Lạc - Vĩnh Phú) lại là nơi xuất hiện trở lại hình thức khoán hộ Sau đó hình thức này lan dần ra các địa phương với các mức
Trang 25ra Nghị quyết về những vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách Nội dung của Nghị quyết thể hiện một số tư tưởng tuy chưa cơ bản và toàn diện nhưng đánh dấu một
sự khởi đầu của quá trình đổi mới Trong đó, tư tưởng nổi bật của Hội nghị là điều chỉnh một số chính sách kinh tế, làm cho “sản xuất bung ra” Từ đó dẫn đến
sự ra đời của một loạt các chủ trương, chính sách cụ thế nhằm khuyến khích phát triển sản xuất, trước hết là nông nghiệp Chẳng hạn chủ trương cho phép các hộ
xã viên được mượn đất của hợp tác xã để sản xuất; ổn định mức nghĩa vụ giao nộp lương thực; sửa mức thuế, điểu chỉnh giá mua nông sản; bãi bỏ chế độ phân phối lương thực theo định mức; hạn chế mức trích lập quỹ trong các hợp tác xã; thừa nhận sự tồn tại của kinh tế gia đình xã viên như là một bộ phận hợp thành kinh tế xã hội chủ nghĩa, v.v
Những chủ trương, chính sách trên đã nới lỏng cơ chế quản lý trong các hợp tác xã, tạo điều kiện cho khoán hộ ngày càng mớ rộng Khoán hộ đối với rau màu được áp dụng tương đối phố biến trong sản xuất vụ đông ở nhicu hợp tác xã của miền Bắc Do đó, những năm 79-80, diện tích, năng suất, sản lượng của vụ đông đều tăng nhanh, góp phẩn đáng kể vào việc tăng thêm rau, màu lương thực Cách khoán mới này cũng đã được áp dụng linh hoạt vào việc sán xuất các loại cây nông nghiệp ngắn ngày (đay, lạc, mía, đỗ tương), một số cây công nghiệp dài ngày (chè, sơn, dâu tầm ) và đều cho kết quả tốt Khi khoán hộ đối với rau màu trớ thành phố biến, ờ nhiều nơi lại thực hiện khoán chui đối với cây lúa
Sự xuất hiện của cơ chế khoán hộ ở thời điểm cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 đã dẫn đến cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng cũ và mới về cơ chế quản lý nông nghiệp trong các hợp tác xã Ó Trung ương, trong các cơ quan nghiên cứu lý luận và chí đạo, có một bộ phận cán bộ, đảng viên ủng hộ cơ chế khoán hộ, coi đó là hiện tượng lành mạnh, phù hợp với tư tướng của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa IV, góp phẩn tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp phát triển có hiệu quả Bộ phận khác phàn ứng gay gắt, cho rằng khoán hộ sẽ làm xói mòn quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được xây dụng ớ miền Bắc hơn 20 năm qua và gây trở ngại cho công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp trên địa bàn phía Nam ở địa phương cũng vậy, có nơi ủng
hộ, tạo điều kiện cho cơ chế khoán được mở rộng; có nơi vẫn kiên quyết ngãn chặn, không cho phép
Đê chọn lựa một quyết định đúng đắn trước hiện tượng khoán hộ, ngày 21/10/80 Ban Bí tlur Trung ương ra Thông báo số 22 ghi nhận và cho phcp các
Trang 26địa phương làm thử hình thức khoán sản phẩm đối với cây lúa Sau khi có Thông báo 22, cơ chế khoán hộ được triển khai rộng rãi ở nhiều hợp tác xã trên các vùng đồng bằng, trung du, miền núi.
Năm 1980, phần lớn các hợp tác xã của Hải Phòng đã thực hiện chế độ khoán mới từ 20 đến 100% diện tích lúa mùa Năng suất bình quân toàn thành đạt trên 23tạ/ha (mặc dù vụ mùa năm 1980, miền Bác kể cả Hải Phòng bị bão, úng lụt rất nghiêm trọng Năng suất bình quán của miền Bấc chi đạt 18,8tạ/ha) Tổng sản lượng lương thực cả nãm của Hải Phòng tâng 6,3% so với năm 1979 và tâng 4,2% so với năm 1976 là năm được mùa lớn Do đó, Hải Phòng đã hoàn thành sớm nghĩa vụ đóng góp lương thực cho Nhà nước với 23.299 tấn, vượt kế hoạch 299 tấn Riêng ở huyện Đồ Sơn, phần lớn các hợp tác xã đều khoán sản phẩm cây lúa cho người lao động, vụ mùa năm 1980 đã thu hoạch thêm 1.372 tấn thóc (so với năm 1979), hoàn thành nghĩa vụ lương thực và thực phẩm sớm nhất, tăng thêm 82 tấn thóc phúc lợi cho tập thể Mức ăn (chưa kể phần vượt khoán sản lượng của xã viên) bình quân hàng tháng của mỗi người tăng thêm 3kg thóc12
Nói chung, năng suất lúa ớ những hợp tác xã thực hiện chế độ khoán mới này (như ở Hải Phòng, Vĩnh Phú, Nghệ Tĩnh và các nơi khác) đéu tăng, nơi ít nhất cũng được 4-5%, nơi trung bình 15-20%, nơi nhiều tăng tới 50% trở lên Sán lượng lúa ớ những hợp tác xã đó đều tăng từ 10 đến 15% so với năm trước Trong khi đó, sản lượng lúa cùa cả nước đến lúc đó bình quân hàng năm chi tăng khoảng 1%13 Qua thực tế, cách khoán mới tỏ ra có ưu thế hơn hẳn so với cách khoán cũ
Hình thức khoán việc có thưởng phạt bằng công điểm trước đây thực chất
là lối khoán thời gian cho người sản xuất Hình thức này có hạn chế lớn nhất: chưa gắn trách nhiệm với lợi ích của người lao động, với kết quá sản xuất, tức là sản phẩm cuối cùng Trong khi dó đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những sinh vật sống (cây trổng, vật nuôi ) các công đoạn sản xuất không tách rời nhau nên kết quà của từng công đoạn sản xuất phụ thuộc vào kết quả sán phẩm cuối cùng Chính vì thế, vân để phức tạp và khó khăn nhất trong việc tổ chức quân lý sán xuất trong các hợp tác xã là làm sao phải tạo ra được sự quan tâm của người
Võ Chí Còng: “ Cái tién chẽ độ khoán trong nông nghiệp", tạp chí Cộng sán số 3 nám 19 8 1 tr.20.
1 ’ Võ Chí Cõng: "Cái tién chê độ khoán trong nông nghiệp", tạp chí Cộng sản số 3 năm 1981 tr.20
Trang 27lao động với sản phẩm cuối cùng của tập thể Hình thức khoán hộ có khả năng
giải quyết được vấn đề đó.
Trên cơ sở tổng kết đánh giá tình hình thực tiễn, ngày 13/01/1981, Ban Bí thư Trung ương đã ban hành Chỉ thị 100 CT-TW, chính thức quyết định chủ trương thực hiện cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động
Chỉ thị 100 CT-TW được coi là sự đột phá đầu tiên vào mô hình hợp tác hoá - tập thể hoá Bước đột phá này tạo ra một số biến đổi mà sự biến đổi quan trọng nhất là xác lập lại vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân trong nông thôn, nông nghiệp Quá trình xác lập vai trò tự chủ của kinh tế hộ có thể chia thành 3 giai đoạn: 1981 - 1988, 1988 - 1993 và từ 1993 đến nay
1.1 Bước đầu tái lập vai trò tự chủ của hộ xã viên (1981-1988)
Thực hiện khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động về bản chất là tái lập lại vai trò tự chủ của hộ xã viên Giai đoạn 1981 -1988, tuy mức độ còn rất hạn chế, sự thay đổi dù chưa căn bản nhưng đã biểu hiện trên cả 3 phương diện:
Về quan hệ s ở hữu-sử dụng ruộng đất. ruộng đất vẫn thuộc sở hữu tập thể nhưng sau một thời gian dài tổn tại của HTXNN, lần đầu tiên ruộng đất được giao khoán cho các hộ
Về phương thức quản lý ở một số khâu (cấy trồng, chăm sóc, thu hoạch),
lao động cá thể của hộ gia đình đã thay thế cho lao động tập thể
Về phương thức phân phối: phương thức phân phối theo kết quả lao động
cuối cùng đã thay thế một phần cho phương thức phân phối theo công điểm
Theo hướng đó, quan hệ giữa hợp tác xã và các hộ xã viên đã có biến đổi Thay thế cho lao động tập thể cho tổ nhóm, hoặc đội sản xuất là lao động của hộ gia đình đảm nhận một số khâu canh tác nhất định, trên một diện tích canh tác nhất định, với định mức chi phí về giống, phân bón, công lao động và sản lượng tương ứng Hộ gia đình có thể tự đầu tư thêm công sức và chi phí để tăng sản lượng vượt khoán vì họ được hưởng hầu hết phần sản lượng đó Lợi ích của người lao động không còn phu thuộc hoàn toàn vào số lượng công điểm như trước, mà còn gắn với kết quá cuối cùng của quá trình sán xuất, gắn với phần sản phárn vượt khoán Vai trò tích cực của hộ gia đình xã viên bước đầu được xác lập lại
Trang 28Đó chính là động lực quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển mà cơ chế khoán
cũ chưa tạo ra được
Chính vì vậy, cải tiến quản lý theo tinh thần của Chỉ thị 100 CT/TW không đơn giản chỉ là sự cải tiến hình thức khoán như trước đây Bước chuyển từ khoán việc sang khoán sản phẩm, từ khoán đội đến khoán hộ gia đình ở một số khâu
chính là bước quá độ từ kiểu quản lý và tổ chức sản xuất tập th ế của các H T X
sang phát h u y quyền tự chú của tìm g hộ x ã viên.
Về mặt lý luận, Chỉ thị 100 CT/TW và các Chỉ thị, Nghị quyết tiếp theo của Đảng là bước đột phá đầu tiên hết sức quan trọng để vượt lên những quan niệm cũ về nội dung hợp tác hoá nông nghiệp Trong đó, việc đánh giá lại vị trí, vai trò của hộ xã viên là nội dung quan trọng nhất
Về mặt thực tiễn, cơ chế khoán mới đáp ứng nhu cầu bức xúc của thực tiễn nên đi vào cuộc sống rất nhanh, phát huy hiệu quả cũng rất nhanh, góp phần chặn đứng xu hướng giảm sút liên tục của sản xuất nông nghiệp trong những năm 1976-1980 Nâng suất, sản lượng, tốc độ tăng trướng trong nông nghiệp sau khi thực hiện khoán 100 đều tăng lên so với trước Bình quân lương thực đầu người đã trở lại mức trên 300 kg/lnăm- mức mà trong suốt thời kỳ tồn tại, HTXNN đã không làm được
Điều quan trọng nhất là thành tựu của sản xuất nông nghiệp trong những năm đầu thập niên 80 chứng minh đổi mới theo hướng từng bước trả lại quyền tự chủ cho hộ xã viên là hướng đi đúng, phù hợp, có khả nãng tạo nèn sự chuyển biến căn bản
Tuy nhiên, sau một thời gian phát huy tác dụng, động lực vượt khoán dần dán bị triệt tiêu Nguyên nhân chính là hộ xã viên mới được xác lập một phần quyền tự chủ Trong nông thôn, nông nghiệp, HTXNN với phương thức quản lý tập thể hoá vẫn đóng vai trò quyết định, chi phối
Với khoán 100, ruộng khoán và mức khoán không ổn định, không đồng đều; xã viên không được làm chủ ruộng đất, không yên tâm đầu tư thâm canh vì
lo hợp tác xã sẽ điều chinh mức khoán khi năng suất cao Trong thực tế, sau mộtthời gian khuyến khích hộ xã viên, nhiều hợp tác xã đã tăng mức khoán, ở nhiều nơi, nông dân chỉ còn nhận được từ 15 đến 20% phần sản lượng trong khoán Phần sán lượng vượt khoán nhiều khi không bù đáp được chi phí vật chất đã đầu
tư thêm
Trang 29Việc phân chia quá trình sản xuất thành 8 khâu, hợp tác xã thực hiện 5 khâu, hộ xã viên thực hiện 3 khâu cũng giống như phân chia lao động thành các đội chuyên, đội sản xuất cơ bản, không phản ánh đúng tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp và không phát huy hết tính tích cực của người nông dân Trong 5 khâu do hợp tác xã đảm nhận, cơ chế quản lý vẫn dựa trên lao động tập thể, phân phối theo công điểm, không ràng buộc chật chẽ lợi ích và trách nhiệm, không bảo đảm gắn tư liệu với sản xuất, với sản phẩm cuối cùng trong toàn bộ quy trình sản xuất.
Chính sách và cơ chế quản lý vĩ mô ở thời kỳ này chậm được đổi mới cũng làm trầm trọng thêm tình hình sản xuất nông nghiệp
Hai năm 1986,1987, sản xuất nông nghiệp giảm sút, có nguy cơ trì trệ trở lại, sản lượng lương thực năm 1986 đạt 18,37 triệu tấn, đến năm 1987 chi còn17,5 triệu tấn Tinh hình lương thực trở nên căng thẳng Đầu năm 1988 đã xảy ra nạn đói giáp hạt trên diện rộng ở 21 tỉnh với 9,3 triệu người thiếu ăn14 Việc cung cấp lương thực cho dân cư phi nông nghiệp trên phạm vi cả nước gặp nhiều khó khăn, căng thẳng Cơ chế khoán 100 không còn vai trò tích cực nữa Động lực vượt khoán vừa được tạo ra đã dần dẩn bị thui chột Không ít nơi nông dân trả lai ruộng khoán, bỏ nông thôn đi tìm việc khác kiếm sống
Từ vụ đông xuân 1987 - 1988, nhiều địa phương đã nghiên cứu cải tiến Khoán 100 thành khoán gọn đến hộ xã viên và đạt kết quả tốt, được nông dân đổng tình Chẳng hạn như ở Thổ Tang (Vĩnh Lạc, Vĩnh Phú), hợp tác xã đã cắt 30% diện tích đất khoán trước đây giao cho các hộ sản xuất Các hộ chỉ phải đóng thuế 10% Ngoài ra không phải đóng hất cứ khoản đóng góp nùo (70% diện tích đất còn lại vẫn giao khoán theo cách cũ)
Đó là hướng đi đúng xuất hiện trong thực tiễn
1.2 Kinh tê hộ nòng dân trỏ thành đơn vị kinh tê tự chủ (1988-1993)
Thực hiện những tư tưởng đổi mới của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, ngày 5/4/88, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10 “ v ề đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” (thường gọi tắt là khoán 10)
Với Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, cơ chế quản lý nông nghiệp đổi mới một cách căn ban:
4 N °uyẻn Sinh Cúc: "3 0 năm hợp tác hoá nông nghiệp ò nước ta” (qua số liéu thống kẽ) Tap chi Thòng till lv luận, tháng 11 - 1989 tr.69.
Trang 30v ề quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, Nghị quyết 10 đã thực hiện một bước điều chỉnh quan trọng: giao khoán ruộng đất ổn định dài hạn trong khoảng 10 -
15 năm; chuyển nhượng, bán hoá giá trâu bò và những tài sản cố định mà hợp tác xã quản lý, sử dụng kém hiệu quả cho xã viên (trừ ruộng đất, đất rừng và mặt nước)
Về quan hệ quản lý, Nghị quyết 10 chủ trương tiếp tục hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm hộ và hộ xã viên, đến người lao động và đến tổ, đội sản xuất tuỳ theo điều kiện ngành nghề cự thể ở từng nơi, gắn kế hoạch sản xuất với kế hoạch phân phối
Về quan hệ phân phối, xoá bỏ hạch toán và phân phối theo công điểm, xã viên chỉ có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước và đóng góp xây dựng quỹ của Hợp tác xã Các hoạt động dịch vụ sản xuất giữa hợp tác xã với xã viên đều thông qua quan hệ hàng hoá - tiền tệ Hộ xã viên được quyền tự chủ về kinh tế; được hướng trên dưới 40% sán lượng khoán
Ngoài thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể, Nhà nước công nhận sự tổn tại lâu dài, bình đẳng và tác dụng tích cực của thành phần kinh tế cá thể, tư nhân trong nông, lâm, ngư nghiệp
Tháne 3-1989, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khoá VI tiếp tục khảng định những phương hướng lớn trong đổi mới quản lý nông nghiệp của Đáng và Nhà nước Nghị quyết của Hội nghị đã xác định:
- Hợp tác xã và tập đoàn sản xuất là những đơn vị kinh tế hợp tác vớinhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất
- Khái niệm hợp tác xã được mớ rộng bao gồm mọi tổ chức kinh doanh donhững người lao độne, tự nguyện góp vốn, góp sức và được quản lý theo nguyên tắc dân chủ, không phân biệt quy mô, trình độ kỹ thuật, mức độ tập thể hoá tư liệu sản xuất
- Hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ
Như vậy, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 6 (khoá VI) là bước tiến xa so với Chí thị 100 trong quá trinh dổi mới cơ chế quan lý kinh tế nông nghiệp Quan hệ sản xuất được điều chỉnh trên cả 3 phương diện: sở hữu, quản lý, phân phối cho phù hợp hưn với tính chất
và trình độ phát triển của lực lượng sán xuất H ộ x ã vi én trỏ th a n h đơn vị kinh
Trang 31tẻ tự chủ, cơ sở tổn tại của mô hình hợp tác hoá- tập thể hoá cùng với cơ chế
quản lý xơ cứng bị phá vỡ Nhận thức về mô hình hợp tác xã nông nghiệp có một bước chuyến căn bản Tập thể hoá về tư liệu sản xuất không còn là tiêu chí hàng đầu của các hợp tác xã Thậm chí, hợp tác xã còn có thể có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất
Đến đây lực lượng sản xuất được giải phóng mạnh hơn khỏi sự trói buộc của cơ chế cũ, những yếu tố của mô hình hợp tác mới có khả năng được thiết lập
Khác với thời kỳ thực hiện khoán 100, thời kỳ thực hiện khoán 10 được tiến hành trong bối cảnh công cuộc đổi mới mà trọng tâm là đổi mới kinh tế được tiến hành đổng bộ và căn bản trên qui mô cả nước và trong tất cả các ngành kinh tế
Trong lĩnh vực tiền tệ, tài chính, Nhà nước đã chủ trương chuyến từ cơ chế hai giá (giá Nhà nước và giá “thị trường tự do” ) sang cơ chế một giá, chủ yếu do thị trường quyết định
Rút kinh nghiệm qua 2 lần cải cách giá (1981 - 1982 và tháng 10 - 1985), trong 3 năm (1988 - 1990), cải cách giá được tiến hành từng hước:
Từ quý 11-1989 trở đi, về cơ bản Việt Nam đã chuyến được từ hệ thống giá hành chính do Nhà nước định sang hệ thống giá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước15
Sự thành công của cải cách giá đã xoá bỏ chế độ bao cấp qua hệ thống giá
cả của Nhà nước, làm giảm mức thiếu hụt ngân sách và quan trọng hơn nó đã góp phần quyết định vào việc hình thành cơ chế thị trường trong nền kinh tế, tạo điều kiện cho các cơ sở thực hiện quyền tự chủ kinh doanh, thực hiện cạnh tranh theo pháp luật, đem lại động lực mới cho nền kinh tế
Cũng từ năm 1989, Nhà nước thực hiện chính sách tự do hoá thương mại Hàng hoá được tự do lun thông trên toàn lãnh thổ Việt Nam, các trạm kiểm soát
“ngăn sông cấm c h ợ ” hình thành từ thời bao cấp được bãi b ỏ 16, xuất nhập khẩu
" Nhà nước chì còn quyết định giá một sò mật hàng như điện, cước phí bưu điện và cũng phái dựa irén cơ sớ giá thị trường.
|f' Trước dó tinh trạng ngân sõng cấm chợ trong việc giao lưu hàng hoá nhát là lương thực giữa các vùng trớ nén gay gát vì các diạ phương phái hoàn thành phần nghĩa vụ lương thực và cá phán ngoài nghĩa vụ (nhưng van có tính chát bắt buộc), đồng thời ngăn sõng cám chợ cũng cốdể giữ cho giá cá ờ địa phương khỏng bị biến động lớn Nông dãn m uốn dem thóc gao cùa mình đi bán ờ noi khác phái xin phép chính quyên xã huyện, tinh, với sỏ lượng rất hạn chế.
Trang 32được nới lỏng, đặc biệt là xuất nhập khẩu qua biên giới, cho phép người Việt Nam ở nước ngoài được gửi hàng hoá, ngoại tệ vể nước không hạn chế,.v.v
Chính sách kế hoạch hoá kinh tế được đổi mới, chuyên từ kế hoạch mệnh lệnh sang chế độ kế hoạch hoá định hướng Nhà nước dùng luật pháp, các công
cụ chính sách kinh tế, những phương tiện vật chất cần thiết để tác động vào thị trường, điều tiết các quan hệ thị trường theo định hướng kế hoạch
Đồng thời với các chính sách nói trên là sự tăng cường quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế cơ sở trong tất cả các thành phần kinh tế
Đối với thành phẩn kinh tế quốc doanh, tháng 10/1987, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định 217-HĐBT về việc mở rộng quyền tự chủ kinh doanh cho các xí nghiệp quốc doanh Những đơn vị này được đối xử với tư cách
ỉà người sản xuất hàng hoá, hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh, tự chủ tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình Nhà nước xoá
bỏ dần những khoán bao cấp lớn qua giá vật tư, qua vốn, qua lãi suất tín dụng Đồng thời doanh nghiệp được quyền thoả thuận giá mua, điều chỉnh giá bán, thay đổi mặt hàng, khối lượng sản phấm và nơi tiêu thụ sản phẩm Trừ một số ngoại lệ, quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với Nhà nước và với bạn hàng được xây dựng trên cơ sở trao đổi ngang giá Hầu hết các doanh nghiệp chỉ còn phải thực hiện một chỉ tiêu kế hoạch phép lệnh duy nhất là nghĩa vụ nộp ngân sách
Đối với thành phần kinh tế tập thể Sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1988), kinh tế hộ xã viên trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, hợp tác xã chuyển sang làm các khâu dịch vụ đầu vào đầu ra cho sản xuất nông nghiệp
Đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, tuy đã có chính sách khuyến khích nhưng do Nhà nước nắm đốc quyển kinh doanh ờ hầu hết các lĩnh vực: xuất nhập khẩu, ngân hàng, sản xuất và lun thông các nhu yếu phám,v.v nên các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh không có đất để phát triển Từ năm 1989, Nhà nước từ bỏ dần độc quyền kinh doanh trước hết là những mặt hàng không quan trọng, sau đó đến mặt hàng quan trọng nhất là lương thực, cho phép tư nhân được tham gia nhất định vào việc trực tiếp xuất nhập khẩu nên thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có điểu kiện phát triển Việc cấm tư nhân hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp mà Đại hội VI nêu ra cũng được Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khoá VI xóa bỏ
Trang 33Cơ chế mới đã khơi dậy khă năng tự chủ của các thành phần kinh tế, đẩy lùi đáng kể nạn lạm phát phi mã, mở rộng quan hệ đối ngoại, tăng nhanh xuất khẩu, giảm nhập siêu Tỷ lệ lạm phát giảm từ 774,7% năm 1986, xuống cịn 67,45 năm 1990.
Những biến đổi đĩ chứng tỏ cải cách kinh tế là đúng hướng Đồng thời kết
quả của cải cách kinh tế tương đối đổng bộ đã tạo điều kiện và m ơ i trườn2 thuận
lợ i cho đổi m ớ i kin h t ế nơng nghiệp.
Từ sau Đại hội Đảng tồn quốc lần thứ VI, và nhất là từ năm 1988 trớ đi, việc quản lý kinh tế nơng nghiệp mới chuyển dần sang cơ chế thị trường
Trước hết, chương trình lương thực, thực phẩm được đặt ra và giải quyết khơng phải theo kiểu tự cấp tự túc khép kín trên từng địa bàn mà theo quan điểm kinh tế hàng hố, dựa vào thế mạnh của mỗi vùng và sự đa dạng của sản phẩm nơng nghiệp, dựa vào việc mở rộng tự do lưu thơng lương thực trong cả nước và hoạt đơng xuất nhập khẩu để giải quyết nhu cầu lương thực, thực phẩm cho nhân dân
Chính sách quan trọng để chuyển nơng nghiệp sang cơ chế thị trường là chính sách tự do hố lưu thơng, thực hiện cơ chế giá thị trường đối với vật tư nơng nghiệp và nơng sản hàng hố là những mặt hàng cĩ tác động trực tiếp đối với tình hình sản xuất nơng nghiệp Điều đĩ khơng những cho phép loại bỏ những tiêu cực do việc thực hiện cơ chế hai giá mà cịn tạo điều kiện cho hộ nơng dân chủ động trong việc mua sắm tư liệu sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
Do cĩ những chính sách này, quan hệ giữa Nhà nước với hộ nơng dân thay đối căn bản Hộ nơng dân được đối xử với tư cách là những đơn vị sản xuất tự chú Nhà nước khơng quyết định phương thức trao đổi, giá cả vật nơng nghiệp và nơng sản hàng hố Nghĩa vụ thu mua lương thực, thực phẩm theo giá thấp bị xố bỏ Ngói thuế là nghĩa vụ bắt buộc, quan hệ mua bán, trao đổi hàng hố giữa Nhà nước và nơng dân là quan hệ bình đảng, thuận mua vừa bán theo thị trường
Những yếu tố mới về giá cả, lưu thơng, về vai trị tự chủ của kinh tế hộ, về
sự thay đổi trons quan hệ giữa Nhà nước và nơng dân, cùng một sơ' chính sách khác về tín đụng, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là những yếu tơ' căn bản thế hiện việc xố bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường cĩ sự điều tiết của Nhà nước
Trang 34Những chính sách mới ban hành từ năm 1988 trở đi đã đảm bảo được quyền tự chủ kinh doanh của hộ nông dân trên cả ba mặt:
Một là, về tư liệu sản xuất, hộ được nhận khoán ruộng đất ổn định trong khoảng 10-15 năm, không bị hạn chế việc mua sắm tư liệu sản xuất khác Trâu
bò và nhiều cổng cụ sản xuất thuộc tài sản tập thể được chuyển thành sở hữu của
xã viên
Hai là, về tổ chức sản xuất, với lực lượng lao động trong gia đình, hộ xã viên tự sắp xếp bố trí công việc, xác định cơ cấu cây trồng và đảm nhiệm phần lớn các khâu trong quá trình sản xuất
Ba là, về phân phối, xã viên thu hoạch toàn bộ sản phẩm Sau khi đóng thuế, góp quỹ, trả công dịch vụ cho hợp tác xã, hộ xã viên được quyền tự so sử dụng số sản phẩm còn lại Chế độ phân phối này càng có ý nghĩa khi thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp được mở rộng ở cả trong nước và nước ngoài
Những thay đổi lớn về vị trí, vai trò của kinh tế hộ đã khơi dậy các tiềm năng to lớn trong từng hộ gia đình nông dân Từ chỗ không thiết tha đến ruộng đất, nông dân đã có ý thức chăm sóc, bồi bổ và sử dụng đất đai có hiệu quả hơn Nhiều địa phương, nông dân đã bỏ sức để khai phá các diện tích đất hoang hoá đưa vào sản xuất Chỉ trong vòng 3 năm (từ đầu năm 1988 đến đầu năm 1990), tổng diện tích gieo trồng đã tăng 3,9% (từ 8.641.700 ha lên 8.983.300), khai hoàng được 257.000 ha, trổng rùng mới được 326.000 ha, diện tích mặt nước được sử dụng vào môi trường thủy sản tăng lên 27,5% trong đó diện tích nuôi tôm tăng 52% (từ 130.500 ha lên 200.000 ha)17 Các hộ nông dân còn chủ động mua sắm thêm công cụ, máy móc để phát triển sản xuất Trong những năm trước, đại bộ phận máy kéo do các trạm máy kéo quản lý, nhưng tới năm 1990 số máy kéo của các hộ gia đình đã chiếm 35,9% số máy kéo lớn (6.100 c á i/17.000 cái) và gần 100% số máy kéo nhỏ (16.900 cái) Đàn trâu bò cày kéo sau khi chuyển giao về cho hộ xã viên quản lý đã được chăm sóc, nuôi dưỡng và sử dụng tốt hơn trước Tổng đàn trâu bò cày kéo cả nước đã tăng từ 3.050.700 con (năm 1987) lên 3.201.700 con (Năm 1990)18
17 Nguyền Văn Bích (chủ biên): Đổi mới quản lý kinh tế nóng nghiép - Thành tựu Vấn đé và Triển vọng Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội 1994 tr.35
'* N °uyễn Văn Bích (chú biên): Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp - Thành tựu Vấn đé và Triển vọng Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội 1994 tr.35
Trang 35So với giai đoạn thực hiện “khoán 100” thì ở giai đoạn này vai trò tự chù của hộ nông dân được khẳng định và được xác lập trên thực tế Hộ nông dân tự chủ không chỉ trong 3 khâu như giai đoạn trước mà trong toàn bộ quá trình sản xuất Mức độ tự chủ cũng cao hơn, trên cả 3 phương diện: sở hữu quản lý, phân phối.
Cũng giống như miền Bắc sau cải cách ruộng đất, ở nông thôn nước ta sau khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã hình thành hàng loạt các hộ nông dân19 tự chủ về kinh tế nhưng sự khác nhau căn bản là các hộ nông dân thời
kỳ này không thuần nhất như các hộ nông dân thời kỳ tiền hợp tác xã mà đã có
sự khác nhau về loại hình, về cơ cấu ngành nghề, về năng lực sản xuất và khả
năng thu nhập Các hộ nông dân đang có xu hướng vượt kh ỏ i tình trạng tự cung,
tự cấp, trở thành hộ sản xuất hàng hoá.
Về số lượng, cho đến năm 1993, nông thôn nước ta có khoảng gần 11 triệu
hộ nông dân phân bố trong 7 vùng nông nghiệp với khoảng 10.000 đơn vị xã, thị trấn và khoảng 50.000 thôn, ấp, bán Bình quân mỗi xã có 1.000 hộ và mỗi thôn,
ấp trôn dưới 200 hộ20 Khác với các nông hộ thời kỳ tiền hợp tác hoá, các nông
hộ thời kỳ này có sự phong phú về loại hình, về cơ cấu ngành nghề Sự phân hoá
về năng lực sán xuất và khả năng thu thập cũng bộc lộ rõ
Về loại hình của các nông hộ, do các đơn vị kinh tế quốc doanh cũng giao khoán đất đai, cây trồng vật nuôi cho các hộ gia đình công nhân hoặc các hộ nône dân ở địa phương có nhu cầu nên loại hình củ a các nông hộ bao gồm: kinh
tế hộ tự chủ của những người nông dân cá thế (đó là những người chưa vào hợp tác xã hoặc đã vào hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nhưng những tổ chức này đã tự giải thể); kinh tế hộ tự chủ cúa những nông dân xã viên hợp tác xã và kinh tế hộ
tự chủ của các thành viên trong các nông, lâm trường quốc doanh
Về cơ cấu hộ theo ngành nghề: qua điều tra hộ nônc dân năm 1990 ớ 5 tỉnh cho thấy cơ cấu ngành nghề của các hộ nông dân có khác nhau, nhưng xu hướng nói chung vẫn thuần nông
Đổi mới cơ ch ế quàn lý kinh tế nông nghiệp đã dẫn đến sự thay đổi mô hình hợp tác, khác về căn bản so với
mô hình hợp tác hoá-tập thể hoá trước đây Các hộ gia đình có quyền lựa chọn hình thức hợp tác phù hợp với gia dinh mình Trong nông (hỏn có hộ xã viên, có hộ cá thê Kinh tế của các hộ gia đình độc lập với kinh tế hợp tác
Vì thế khái niệm hộ gia đình xã viên khống phù hợp nữa Khái niệm kinh tế hộ kinh tế hộ nóng dán được dùng với nội hàm rộng hơn đó chính là hoạt động sản xuất-kinh doanh-địch vụ do các thành viên trong hộ thực hiện, dưa trên các nguồn lực cùa hộ là chính (vốn, đất đai sức lao động v.v ) và các thành quá (lược tạo ra chú yếu thuộc sớ hữu cùa hộ.
N guyễn Điển: "Kinh té hộ nỏng dãn nước ta hiện nay và xu thế phát triến [rang trai gia đinh", tap chí Thòng tin
ký luận, iháng 5/1993 tr 12.
Trang 36Bảng 6: Sự phân bô các hộ theo ngành nghề ở nóng thôn
Chung cả nước
Hoàng Liên Sơn
Ninh
Bình Định
Đắc Lắc
Hậu Giang
(Nguồn: Nguyễn Văn Bích - Đổi mới quản lý kinh tếnông nghiệp - Thành tựu, Vấn đề
và Triển vọng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.47.)
Về năng lực sản xuất và khả năng thu nhập: Hoạt động trong cơ chế thị trường, hộ nông dân có sự phân hoá tương đối rõ nét Theo số liệu điều tra tình hình kinh tế hộ nông dân trong 3.057 hộ ở 7 tính: Sơn La, Hà Bắc, Hà Nam Ninh (cũ), Nghệ Tĩnh (cũ), Quảng Nam - Đà Nẵng, Lâm Đồng, Tiền Giang vào năm
1991 cho thấy21
- 14,8% số hộ nông dân nghèo (khoáng 1,5 - 1,6 triệu hộ) đang còn ở trình
độ sản xuất tiểu nông, tự cấp tự túc, nhiều khi chưa đủ ăn
- 62,8% số hộ nông dân trung bình (khoảng 6,3 - 6,5 triệu hộ) chủ yếu là sản xuất tự túc, đủ ăn và có một ít nông sản hàng hoá nhưng chưa đáng kể
- 22,4% số hộ nông dân khá và giỏi (khoảng 2,2 - 2,3 triệu hộ) bước đầu vượt ra khỏi quỹ đạo của nên kinh tế tiếu nông tự cấp tự túc đi vào sán xuất nông sán hàng hoá với các mức độ và phương thức khác nhau
Những hộ nông dân này thường có quy mô sản xuất lớn hơn quy mô trung bình ở địa phương (Bình quân ruộng đất trồng trọt của một hộ nông dán ở nước
ta là 0,56ha) Ớ đổng bằng sông Cửu Long nhiều hộ trổng từ 3 -5 ha lúa ở vùng Đổng Tháp Mười, nhiều hộ trổng 10 - 20 ha lúa Ớ vùng đối núi có những hộ trổng 5 - 1 0 ha rừng, cà phê, quế v.v ơ vùng ven biến có những hộ nhận thầu từ
5 - 1 0 đến 20 ha dám bãi nuôi tôm, cá22
:i Nguyền Điển: tài liệu đã dẫn tr 12.
:: Nguyền Điền: tài liệu đã dẫn tr 14
Trang 37Về chăn nuôi, bình quân 1 hộ có 1 - 1,2 đầu lợn và 5 - 6 con gà, nhưng đã
có những hộ chăn nuôi 10 -50 con lợn, 500 - 1000 con gà, vịt, 1 0 - 5 0 trâu bò, 50- 100 dê23
Tuy số lượng các nông hộ sản xuất hàng hoá chưa nhiều nhưng lại đang có khuynh hướng phát triển Đó chính là sự chuyển biến quan trọng sau một thời gian thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị Đó cũng là sự phát triển của kinh
tế hộ tự chủ thời kỳ này so với kinh tế hộ tự chủ thời kỳ tiền hợp tác hoá - tập thế hoá Trong số các nông hộ sản xuất hàng hoá, một số đã trở thành các hộ tư nhân, các chủ trang trại có vốn lớn, có đầu óc sản xuất kinh doanh, một số đã mở rộng quy mô đến mức phải thuê thêm nhiều người làm, gọi thêm nhiều cổ phần
Sự khác nhau về năng lực sản xuất và khả năng thu nhập dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo Đó là vấn đề mới nảy sinh đòi hỏi phải được giải quyết
Việc xác định vai trò kinh tế tự chủ của hộ nông dân và thực hiện vai trò
đó trong thực tế đã dẫn đến kết quả: hộ nông dân là đơn vị kinh tế chủ yếu ở nông íhôn thay thế cho vai trò độc tôn của các hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ trước đây Vai trò đơn vị kinh tế chủ yếu thể hiện ở chỗ hộ nông dân là hình thức
tổ chức sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp, cung cấp đại bộ phận nông sản phẩm cho xã hội v ề nông sản thực phẩm, kinh tế nông hộ đã cung cấp 95-98% sản phẩm chăn nuôi và gần 100%rau quả v ề sản lượng lương thực, kinh tế nông
hộ đã tạo ra một khối lượng hàng hoá chiếm tỷ trọng khoảng trên dưới 90%, trong đó lương thực xuất khẩu là 1,5 - 2triệu tấn/năm Huyện Tháp Mười, tỉnh Đổng Tháp, bình quân một năm hộ nông dân sản xuất 17 tấn thóc, có những hộ đạt 30 - 50 tấn thóc/năm24
Kinh tế nông nghiệp cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 lại tiếp tục phát triển, phần lớn là nhờ vào sự năng động của kinh tế nông hộ Năm 1989, lần đầu tiên sau nhiều năm luôn ở trong tình trạng thiếu lương thực, Việt Nam không những đáp ứng đủ nhu cầu trong nước mà còn vươn lên trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới
Trong khi kinh tế hộ khẳng định được vị trí, vai trò cúa mình trong quá trình tổ chức sản xuất thì đây lại là thời kỳ kinh tế hợp tác trong nông thôn, nông nghiệp đứng trước những thử thách lớn về sự tồn tại và phát triển
Nguyền Điền: tài liệu đã dãn tr l4
: j Nguyền Điển: tài liệu đã dàn tr 14
Trang 38Mặc dù đã có những nhận thức mới về mô hình hợp tác phù hợp đối với nông thôn, nông nghiệp nước ta, nhưng việc đổi mới nội dung, chức nãng hoạt động của các HTXNN còn lúng túng và kết quả thu được rất hạn chế Hàng loạt các HTX và tập đoàn sản xuất đã tự giải thể vì không đổi mới được Các HTX còn tồn tại chủ yếu ở miền Bắc và vùng duyên hải miền Trung và cũng chủ yếu
là tồn tại về hình thức hoặc chí còn hoạt động trong một vài khâu sản xuất Loại HTX đổi mới có kết quả chiếm tỷ lệ rất thấp, khoảng hơn 10% Trons khi đó, quá trình sản xuất của các hộ nông dân ngày càng đòi hỏi phái có sự hợp tác đế giải quyết những vấn đề mà từng hộ không làm được, hoặc làm không tốt Xuất phát từ nhu cầu đó, các hộ nông dân với tư cách là những đơn vị kinh tế tự chủ
đã tự tim đến với nhau, hình thành các tổ hợp tác mới Phổ biến nhất là các tổ liên kết sản xuất ( hợp tác với nhau theo tùng khâu, từng việc hoặc nhiều khâu, nhiều việc như tổ liên kết làm thuỷ lợi, tổ đường nước, tổ liên kết vay vốn ) hoặc các hộ tự nguyện góp vốn, góp công thành lập các tổ sản xuất, mớ rộng phát triển ngành nghề Khác với các loại hình kinh tế hợp tác của các HTX cũ chuyến sang, loại hình kinh tế hợp tác này thể hiện rõ nét bản chất tương trợ giữa các hộ nông dân thành viên Nó lại có lợi thế: tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt và phục
vụ trực tiếp, có hiệu quả cho kinh tế hộ Vì vậy, các hộ nông dân tham gia với tinh thần tự nguyện Một mô hình tổ chức sản xuất lấy kinh tế hộ là đơn vị kinh
tế tự chủ với sự hợp tác mới- thật sự có ý nghĩa kinh tế đang dần hình thành
Nhìn chung, cơ chế khoán 100, khoán 10, đã từng bước giải phóng lực lượng sản xuất khỏi những trói buộc của cơ chế cũ; từng bước làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sán xuất Cụ thế là đã xác định đúng vị trí, vai trò của kinh tế hộ, mối quan hệ giữa kinh tế hộ
và kinh tế hợp tác cùng với những thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô nhằm chuyến sang cơ chế thị trường định hướng XHCN Thực tế chứng minh, công cuộc đổi mới với nội dung trên không phải dễ dàng Đó là kết quả của cuộc đấu tranh để thay đổi nhận thức về một mô hình tổ chức sản xuất phù hợp và để tổ chức thực hiện thành công mô hình đó trong cuộc sống Thực tế cũng chứng minh kết quá của đổi mới trong nông nghiệp là rất to lớn Nông nghiệp được coi
là lĩnh vực tiến hành đổi mới sớm và thành công nhất so với các ngành kinh tế khác
Nhưng nếu dừng ở đây thì nông nghiệp không thể tiếp tục phát triến, kinh
tế hộ dù được quyền tự chú nhưng cũng không thể phát huy vai trò tư chú của
Trang 39mình một cách tích cực Do vậy, Đảng và Nhà nước đã tiếp tục tìm hướng đi mới
để đẩy mạnh công cuộc đổi mới trong nông nghiệp, nông thôn Đó chính là chủ trương đổi mới nông nghiệp gắn với thực hiện công nghiệp hoá-hiộn đại hoá nông nghiệp, nông thôn Tư tướng đổi mới này được đề ra từ Hội nghị TW 5, khoá VII (năm 1993) và được tổ chức thực hiện từ đó cho đến nay
1.3 Quyển tự chủ của hộ nông dân được nâng cao gắn với nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới kinh tế nông nghiệp và căn cứ vào Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Hội nghị Trung ương lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá VII đã họp ngày 3 - 6 - 1993 và ra Nghị quyết về “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn”
Sau khi xác định mục tiêu, quan điểm đổi mới về phát triển nông nghiệp, nông thôn, Nghị quyết đề ra phương hướng và giải pháp cụ thế nhằm thực hiện mục tiêu đó:
- Nghị quyết xác định phải đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn, phá vỡ thế độc canh cây lúa, phá vỡ cơ cấu thuần nông và xây dựng một nền kinh tế nông nghiệp phát triến cân đối và đặc biệt “trên cơ sở xúc tiến công cuộc công nghiệp hoá nói chung, công nghiệp hoá nống nghiệp và nông thôn nói riêng mà thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển mạnh, vững chắc, có hiệu quả công nghiệp - dịch vụ ở nông thôn, tăng n hanh tý trọng của những ngành này trong cơ cấu nông - công nghiệp
- dịch vụ”23
- Kiên trì và nhất quán thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quán lý của Nhà nước Nghị quyết chủ trương phải đổi mới kinh tế hợp tác xã, phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ
xã viên; đổi mới hệ thống doanh nghiệp nhà nước và khuyến khích phát triển kinh tế cá thể, kinh tế tư bán tư nhân
- Thực hiện chính sách giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho hộ nôngdân
- Đổi rmới chính sách vĩ mô của Nhà nước
- Đổi mới và nâng cao hiệu quá hoạt động của hệ thống chính trị
Vãn kiên Hội nghị lần thứ 5 Ban Cháp hành Trun gương khoá VII HàN ội 1993 tr 63
Trang 40Trong các phương hướng nêu trên thì việc gắn phát triển nồng nghiệp và kinh tế nông thôn với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là nhiệm
vụ có tầm quan trọng hàng đầu và có ý nghĩa chiến lược
Tư tưởng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn được tiếp tục khắng định trong Hội nghị Đại biểu Đảng toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoáVII (tháng 1 nãm 1994), trong Hội nghị Trung ương lần thứ 7 khoá VII (tháng 7 năm 1994)
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một chủ trương rất quan trọng, đánh dấu một mốc lịch sử trong quá trình đổi mới kinh tế nông nghiệp
Nếu như Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị mở ra thời kỳ mà nông nghiệp được giải phóng khỏi những cản trở của cơ chế quản lý cũ thì Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá VII và các nghị quyết tiếp theo đã tạo sức bật mới cho kinh tế nông nghiệp - nông thôn phát triển
Tháng 6 - 1996, Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã họp và thông qua nhiều văn kiện quan trọng nhằm đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đọc tại Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã tổng kết lại những thành tựu của đất nước sau 10 năm đổi mới, đã vạch ra mục tiêu đến năm 2020, năm 2000 và đã xác định những định hướng phát triển trong các lĩnh vực chủ yếu Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Đảng nhất trí với chủ trương tiếp tục định hướng phát triển và chuyến dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nội dung cơ bản số một của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong những năm còn lại của thập niên 90 là “ Đặc biệt coi trọng cổng nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn; phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuý sản ”26
Mục tiêu tổng quát và lâu dài của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dụng một nển kinh tế nông nghiệp nông thôn phát triển và tăng trướng bền vững với nhịp độ cao trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, cơ cấu hợp lý, quan hệ sản xuất tiến
bộ và phù hợp, nhằm giái phóng mạnh mẽ sức sản xuất, tăng năng suất lao động,
36 Đáng Cộng sán Vièt Nam: Vãn kiện Đại hội đại biếu toàn quốc lần thứ VIII Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
1996 tr.86.