Chính vì vậy, cấu trúc thế giới nghệ thuật ở mọi thể loại văn học, từ đề tài, chủ đề phản ánh, kiểu thức kết cấu cho đến thế giới nhân vật, đã có những thay đổi sáng tạo, thử nghiệm mới
Trang 1Con người trong tiểu thuyết Việt Nam
thời kỳ đổi mới Nguyễn Thị Kim Tiến
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận án TS ngành: Lý luận văn học; Mã số: 62 22 32 01
Người hướng dẫn: PGS.TS Trần Khánh Thành, PGS.TS Đoàn Đức Phương
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người và con người trong thể
loại tiểu thuyết Phân tích hình tượng con người trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới: con người dưới góc nhìn bản chất xã hội (người lính, người nông dân, người tri thức ); con người dưới góc nhìn loại hình văn học (con người lịch sử - văn hóa, con người
"huyền thoại", con người "dị biệt") Tìm hiểu nghệ thuật biểu hiện con người trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới qua nghệ thuật xây dựng nhân vật và ngôn ngữ nghệ
1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người chịu sự chi phối bởi cá tính sáng tạo của nhà
văn Khi tư duy nghệ thuật của nhà văn vận động biến đổi phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kỳ, từng trào lưu văn học thì quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của nhà văn cũng thay đổi Vì vậy, quan niệm về con người là một trong những vấn đề then chốt của đổi mới văn học Thông qua việc nghiên cứu quan niệm con người, chúng tôi xác định được mức
độ chiếm lĩnh, thể hiện, cắt nghĩa về con người ở tầm vi mô lẫn vĩ mô, ở chiều sâu không gian lẫn thời gian của bất kỳ hiện tượng văn học nào Nhờ đó, chúng ta có thể đánh giá được
sự đóng góp của một hiện tượng văn học qua phương thức phản ánh nội dung và hình thức biểu đạt nghệ thuật cho tiến trình phát triển văn học
1.2 Từ sau 1986, với công cuộc đổi mới xã hội, các nhà văn Việt Nam có sự thay đổi
về tư duy nghệ thuật trong việc tiếp cận với hiện thực đời sống con người Theo đó, họ có cơ hội nhìn lại, làm mới quan niệm nghệ thuật về con người theo một trường thẩm mỹ mới phù hợp với nhu cầu tiếp nhận văn học Con người trong văn học thời kỳ Đổi mới được các nhà văn quan niệm không còn đơn giản, xuôi chiều, thay vào đó, nhà văn nhìn con người ở nhiều thang bậc giá trị, ở những tọa độ ứng xử khác nhau, ở nhiều chiều kích, chân thực và toàn diện hơn Nhờ sự thay đổi quan niệm về con người, nhà văn đã cắt nghĩa các vấn đề cuộc sống liên quan đến con người theo hướng đa chiều Chính vì vậy, cấu trúc thế giới nghệ thuật
ở mọi thể loại văn học, từ đề tài, chủ đề phản ánh, kiểu thức kết cấu cho đến thế giới nhân vật, đã có những thay đổi sáng tạo, thử nghiệm mới mẻ, giúp nhà văn đi sâu khám phá thế
giới bên trong đầy bí ẩn và phức tạp của con người
Trang 21.3 Tiểu thuyết được xem là một thể loại năng động và linh hoạt nhất Với tính chất
tổng hợp cao, tiểu thuyết vừa có khả năng bao quát hiện thực rộng lớn, vừa có khả năng đi sâu khám phá đời tư, tâm hồn con người một cách toàn diện Phát huy triệt để mọi khả năng thể loại, tiểu thuyết có cơ hội đối thoại với cuộc đời, từ “cái hôm nay bề bộn, ngổn ngang bóng tối và ánh sáng” đến những “âm vang của tiếng lòng bí ẩn trong con người” qua cấu trúc ngôn từ “động” của nó
Bằng việc đổi mới tư duy nghệ thuật và quan niệm thể loại, tiểu thuyết sau Đổi mới
1986, vượt qua khung cấu trúc thể loại, đã đa dạng hóa các kiểu hình nhân vật, mở rộng khả năng khám phá nhiều mặt khác nhau trong con người, thể hiện sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người, nhằm đột phá và kiến giải một “thực tại mới” Điều này khiến tiểu thuyết khẳng định được bước tiến của thể loại với nhiều thành tựu nổi bật hơn cả so với thơ
và truyện ngắn, nhất là ở giai đoạn văn học sau 1986, trong hành trình phát triển của toàn bộ nền văn học Việt Nam
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài Con người trong tiểu thuyết Việt
Nam thời kỳ Đổi mới Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng đến hai mục đích Thứ nhất,
chúng tôi tái khẳng định vấn đề con người luôn là đối tượng trung tâm của văn học Thứ hai, với tư cách là “công cụ hữu hiệu của văn học”, tiểu thuyết đã giúp nhà văn đưa tâm điểm của văn học vào trong một trường nhìn mới đầy cởi mở và đa chiều về giá trị con người “chưa hoàn kết” trong xã hội hiện đại
2 Lịch sử vấn đề
Là cách hiểu, cách cắt nghĩa về con người, quan niệm nghệ thuật về con người quyết định đến việc miêu tả, thể hiện chủ đề, đề tài, nhân vật, ngôn ngữ… trong sáng tác Với vị trí quan trọng như vậy, vấn đề con người luôn được các nhà nghiên cứu, phê bình văn học quan tâm, đặc biệt là con người trong văn học Việt Nam hiện đại Nhiều tác giả đã đề cập và lựa chọn nó như cơ sở lý thuyết về mặt quan niệm tư duy nghệ thuật có tác động trực tiếp đến mọi yếu tố của văn học Chúng tôi xin đề cập một số công trình nghiên cứu trực tiếp vấn đề này
Đối với văn học trước 1975, các công trình tập trung nghiên cứu quan niệm con người
và biểu hiện của nó trong từng thời kỳ Cụ thể:
Lê Thị Dục Tú có công trình Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn Nguyễn Văn Long với Quan niệm nghệ thuật về con người và những đặc điểm của sự
thể hiện con người trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 Tác giả Phùng Ngọc Kiếm
trong chuyên luận Con người trong truyện ngắn Việt nam 1945 - 1975 (bộ phận văn học cách
mạng) Đồng tác giả Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Thị Bình ra mắt cuốn Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi Việt Nam sau cách mạng tháng Tám Trong bài viết Mấy vấn đề trong quan niệm con người của văn học Việt Nam thế kỷ XX, Trần Đình Sử nhận định con người
trong văn học mất dần tính nguyên phiến sử thi mà hiện ra chiều sâu mâu thuẫn, nhất là trong
tình cảm, đạo đức Ở bài Con người trong văn học Việt Nam sau 1945, tác giả đã nhận định
năm 1986 các vấn đề của văn học tiền đổi mới, trong đó vấn đề về con người thế sự đời tư, triết lý văn hóa mới thực sự trở thành bước ngoặt
Sau 1975, văn học có sự vận động nội tại theo quy luật của văn học thời bình Đặc biệt,
sự cởi trói tư tưởng cho văn học của thời kỳ Đổi mới, các thế hệ nhà văn đã có một sự thay đổi căn bản về tư duy nghệ thuật, khi họ có điều kiện đánh giá lại tính chất “văn học minh họa” một thời, được tiếp xúc giao lưu với các thành tựu văn học hiện đại phương Tây trong bầu không khí cởi mở, dân chủ của văn học Nhờ vậy, việc tìm hiểu về con người trong văn học cũng được giới nghiên cứu tiếp cận, lý giải tập trung, đầy đủ từ những nhân tố tác động khách quan và chủ quan, với sự thay đổi cả về lượng và chất qua những bài viết tiêu biểu sau:
Bài viết của Lê Ngọc Trà về Vấn đề con người trong văn học khẳng định: Văn học là
sự thật về con người Huỳnh Như Phương với Văn xuôi những năm 80 và vấn đề dân chủ hóa
nền văn học Bùi Việt Thắng trong Tạp chí Văn học số 6/1991 qua bài viết Văn xuôi gần đây
Trang 3và quan niệm con người lý giải tính chất “áp sát” tới cuộc sống và con người của văn học
trong đó bộc lộ một “quan niệm tiến bộ về con người” Tôn Phương Lan với Một vài suy nghĩ
về con người trong văn xuôi thời kỳ đổi mới ở Tạp chí Văn học số 9/2001 đã nêu ra vấn đề
con người trong thế tương quan so sánh qua đó khẳng định cái mới trong việc thể hiện con
người Trong bài Đổi mới văn học vì sự phát triển, Vũ Tuấn Anh cho rằng “đổi mới văn học
khởi đầu từ 1986 là sự tự ý thức của văn học trên một chặng đường mới của lịch sử và của
chính nó” Nguyễn Bích Thu có bài Ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
Ngoài ra có một số luận án, trong quá trình nghiên cứu đã xem quan niệm con người là tư duy nghệ thuật có tác động trực tiếp đến sự thay đổi của tư duy văn học, là chìa khóa vạn
năng mở cánh cửa khám phá các hình tượng văn học như: Nguyễn Thị Bình với Văn xuôi
Việt Nam 1975 - 1995 những đổi mới cơ bản Nguyễn Văn Kha - Đổi mới quan niệm về con
người trong truyện Việt Nam 1975 - 2000 Mai Hải Oanh năm 2007 với đề tài Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 - 2006 Trần Thị Mai Nhân (2008) - Những đổi mới trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 - 2000
Nhìn chung các công trình nêu trên đã khẳng định vị trí trung tâm của văn học là con người - mối quan tâm hàng đầu để khám phá những biểu hiện mới của văn học Việt Nam qua từng thời kỳ Vấn đề về con người trong văn học được các nhà nghiên cứu xem xét ở nhiều bình diện, qua đó phần nào đã cho thấy sự vận động của văn học thể hiện đầu tiên ở những biến chuyển trong quan niệm nghệ thuật về con người Mối quan tâm đó được các bài viết khảo sát và khai thác sâu chủ yếu ở giai đoạn 1945 - 1975 Mặt khác, qua nhiều bài viết, các tác giả đều cho rằng, sự thay đổi về tư duy văn học gắn với việc kinh tế xã hội, văn hóa tư tưởng đã có những tác động, đòi hỏi nhà văn có một cái nhìn mới trong việc mô tả con người sau 1986 Điều này sẽ giúp cho giới nghiên cứu có điều kiện khai thác nhiều góc
độ, nhiều chiều hướng, nhiều cách hiểu khác nhau trong văn học để đi đến tận cùng cái con người chiều sâu phức tạp của đời sống hiện đại
Tiếp nối và kế thừa mối quan tâm về vấn đề đa dạng này, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài này nhằm đánh giá rõ ràng hơn “mối bận tâm” của văn học về con người qua thể loại tiểu thuyết sau 1986 Thứ nhất về mặt thời gian chúng tôi chọn lựa từ năm 1986 đến nay vì chúng tôi cho rằng mốc 1986 đánh dấu sự “cởi trói” cho văn học dưới tác động của cả xã hội lẫn văn hóa tư tưởng Vì vậy, sự thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người theo chúng tôi cũng bộc lộ toàn diện và mang tính chất đồng thuận rõ rệt Thứ hai chúng tôi chỉ xét sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người qua thể loại tiểu thuyết, một thể loại có sự đổi mới sau phóng sự và thơ nhưng lại là thể loại “xung kích” mạnh mẽ nhất trong văn học thời kỳ Đổi mới
3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đề tài nghiên cứu về con người trong tiểu thuyết Việt Nam thực chất là lý giải quan niệm
nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới
3.2 Do hiện tượng phản ánh phong phú nên trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi chủ yếu
tập trung vào một số tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam trong nước sau năm 1986 - 2010 gây tiếng vang và
có dư luận Đồng thời chúng tôi cũng có khảo sát một số hiện tượng văn học nổi bật ở hải ngoại
như: Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác; Chinatown, Pari 11- 8 và T mất tích của Thuận; Gió từ thời khuất mặt của Lê Minh Hà; Quyên của Nguyễn Văn Thọ, nhằm có nhìn
toàn cảnh thuyết phục hơn sự vận động về quan niệm con người của văn học thời kỳ Đổi mới Trong quá trình triển khai đề tài chúng tôi cũng cố gắng cập nhật những tác phẩm xuất hiện gần đây đang được chú ý trên văn đàn nhưng chưa tạo sức thuyết phục lớn từ phía người đọc, với mục đích mở rộng vấn đề nghiên cứu có liên quan chứ không xem đó là đối tượng khảo sát trong toàn bộ luận án
3.3 Từ đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ của luận án là:
Khẳng định vai trò, vị trí đối tượng trung tâm của văn học là con người, từ đó chúng tôi
đi đến lý giải quan niệm nghệ thuật về con người trong sự vận động và phát triển của các giai
Trang 4đoạn văn học Việt Nam, cho thấy sự chi phối và biểu hiện của nó khi có sự chuyển đổi về mặt tư duy nghệ thuật của nhà văn, đặc biệt ở thời kỳ văn học Đổi mới
Phân chia con người dưới hai góc độ: con người bản chất xã hội và con người loại hình, luận án nhằm chỉ ra “cõi không gian riêng” của con người qua các hình tượng tiêu biểu, thấy được sự khác biệt của các kiểu nhân vật so với văn học trước đó Để tăng tính thuyết phục, luận
án khảo sát những điểm kế thừa tiểu thuyết truyền thống và khẳng định những thể nghiệm mới trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, bộc lộ tư duy sáng tạo của nhà văn, chịu khó làm mới mình trong việc thể hiện cách nhìn nhận về con người hiện đại
Dựa vào tiêu chí đề tài phản ánh, luận án dừng lại tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật, với mục đích bước đầu khẳng định sự mở rộng biên độ “lời nói” trong tiểu thuyết đã phản ánh tính phức tạp của ngôn ngữ đời sống, khi tiếp cận và “nói điều gì đấy” từ mọi góc độ về con người, nhằm góp phần vào sự thay đổi về cuộc đời, con người của các nhà văn đương đại
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp lịch sử - xã hội Phương pháp loại hình Phương pháp tiếp cận thi pháp học hiện đại, tự sự học
Các phương pháp này sẽ được chúng tôi thực hiện trong thao tác so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê để tiến hành nghiên cứu, xử lý và viết đề tài Đặc biệt việc sử dụng phương pháp loại hình kết hợp với thi pháp học cho phép người viết có thể tiếp cận hình tượng con người trong văn học dựa theo lý thuyết hiện đại có tính chất đổi mới tương xứng với nền văn học Việt Nam ở thời kỳ Đổi mới trong cái nhìn tương quan với văn học giai đoạn trước
5 Đóng góp mới của luận án
Luận án đã tổng quan, khái quát được sự phát triển, chi phối của quan niệm nghệ thuật
về con người trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới Từ đó, luận án đi sâu khảo sát những biểu hiện của quan niệm về con người dưới phương diện nội dung và hình thức tiêu biểu Ở một góc độ nhất định, luận án đã chỉ ra được những cái mới trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật
Luận án có cơ hội bàn sâu hơn quan niệm nghệ thuật về con người gắn với đặc điểm một thể loại cụ thể Các kết quả nghiên cứu trong luận án đóng góp một phần giá trị khoa học, về mặt lý thuyết và lịch sử văn học, đối với người dạy - học lý luận văn học trong nhà trường cũng như trong giới phê bình, sáng tác, tiếp nhận văn học Việt Nam hiện đại
6 Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án được triển khai thành ba chương:
Chương 1: Quan niệm nghệ thuật về con người và con người trong thể loại tiểu thuyết Chương 2: Hình tượng con người trong tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới
Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện con người trong tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới
Chương 1 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI VÀ CON NGƯỜI TRONG THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT 1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người
1.1.1 Con người với tư cách là đối tượng chủ yếu của văn học
Vấn đề con người giữ vị trí trung tâm của mọi khoa học, là vấn đề cốt lõi của các lý luận
xã hội và nhân văn, kinh tế, quản lý… Trong văn học con người là điểm xuất phát, đồng thời cũng là đích cuối cùng của mọi sáng tạo Toàn bộ thế giới nghệ thuật trong văn học bộc lộ một quan niệm thẩm mỹ về con người Một tác phẩm văn học có thể không có nhân vật người nhưng nó luôn phải là câu chuyện về cõi nhân sinh Có như vậy, văn học mới làm cho con người lương thiện hơn, nhân ái hơn và cũng làm cho con người đa dạng, phong phú, từng trải
và hiểu biết hơn
1.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người - một phạm trù thi pháp học
Trang 5Quan niệm là một điều cốt lõi của sáng tạo nghệ thuật Nó cung cấp một mặt bằng để trên
đó diễn ra sự lựa chọn, khái quát, nhào nặn, tạo ra hình tượng nghệ thuật, thậm chí có thể biến đổi hình dạng sự vật hoặc miêu tả “không chính xác” về đời sống Theo D.X Likhachiev, quan niệm nghệ thuật gắn với sự miêu tả con người, cái nhìn nghệ thuật về con người trong sự miêu tả đó Cho nên quan niệm nghệ thuật về con người như là cơ sở trung tâm đưa văn học vào đúng quỹ đạo “nhân học” của nó Chừng nào chưa có sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người thì sự tái hiện các hiện tượng đời sống khác nhau chỉ có ý nghĩa mở rộng về lượng trên cùng một chiều sâu Điều này chứng tỏ sự phát triển của tư duy nghệ thuật phải song hành cùng sự mở rộng, đào sâu các giới hạn trong quan niệm nghệ thuật về con người
1.1.2.1 Một khi đã là đối tượng của văn học, con người phải được nhìn nhận như một nhân
cách đích thực và toàn vẹn, được soi ngắm từ nhiều mối quan hệ, được thừa nhận ở mọi giá trị liên quan tới nó Vì vậy quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học cũng sẽ khác với quan niệm về con người trong các hình thái ý thức xã hội khác, như triết học, mỹ học, tôn giáo…
1.1.2.2 Khi nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm văn học, chúng ta
cũng thấy điểm nhìn khác nhau về con người của các nhà văn trong từng giai đoạn, từng thời kỳ Trong thực tế sáng tác và tiếp nhận văn học, người sáng tác có cách giải mã con người theo ý đồ riêng mình và người tiếp nhận cũng đã dễ dàng nhận ra Bởi vì, những thay đổi trong quan niệm nghệ thuật qua các chặng đường sáng tác văn học, thể hiện ý thức của nhà văn về việc miêu
tả con người, cho thấy sự biến đổi mô hình nghệ thuật về con người, đã được người nghệ sĩ
cụ thể hóa trong các kiểu nhân vật
1.1.2.3 Một nền văn học mang tầm vóc, chiều sâu và ý nghĩa chẳng những phụ thuộc vào
lý tưởng và mục đích phục vụ của nó, mà còn phụ thuộc và cách hiểu biết, tiếp cận, sáng tạo nên hình tượng con người trong nó Mỗi một thời đại, một giai đoạn văn học có cách quan niệm, thể hiện con người khác nhau Thực chất, sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người chính là quá trình vận động biện chứng của ý thức nghệ thuật cho phù hợp với đặc điểm lịch sử,
xã hội Nói cách khác, việc chuyển đổi mối quan tâm của văn học chính là nguyên nhân chi phối sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học
Văn học của chúng ta hôm nay vẫn hướng đến việc phản ánh con người theo quan điểm của K Marx, “con người là thực thể tự nhiên có tính người, là “thực thể sinh học - xã hội”,
“trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội” Sự đổi mới
và sáng tạo không ngừng của các nhà văn là minh chứng rõ rệt thúc đẩy sự đổi mới phát triển của văn học, trong đó đổi mới và đa dạng trước hết trong quan niệm nghệ thuật về con người Mặt khác khi nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người giúp chúng ta thâm nhập vào cơ chế tư duy văn học, khám phá quy luật vận động phát triển của hình thức văn học góp phần chứng tỏ tầm vóc cho một nền văn học
1.2 Con người trong thể loại tiểu thuyết
Do đặc trưng của mỗi thể loại, con người trong thơ là chân dung tâm hồn Trong kịch, con người xuất hiện xoay quanh trục xung đột - hành động Còn con người tiểu thuyết là con người tổng hợp Cho nên nhân vật có thể được khai thác ở cả chiều sâu và chiều rộng của không gian, thời gian, ở cả tầm vĩ mô lẫn vi mô của đời sống nhân vật; từ ngoại hình đến hành động, từ cảm xúc nội tâm đến lý trí… Trong quá trình triển khai vấn đề, chúng tôi không có tham muốn nhận diện việc phản ánh con người ở các thể loại qua các giai đoạn của văn học Đó là một việc làm quá sức, mặt khác chúng tôi cho rằng thể loại tiểu thuyết xuất hiện những năm 20 của thế kỷ XX mới thực sự bước đầu định hình được những đặc trưng thể loại của nó Vì vậy chúng tôi chỉ dừng lại ở thời điểm hiện đại trong cái nhìn lịch đại khi bàn đến vấn đề con người ở thể loại tiểu thuyết
1.2.1 Con người trong tiểu thuyết trước 1986
1.2.1.1 Con người trong tiểu thuyết giai đoạn 1930 - 1945
Giai đoạn văn học 1930 - 1945 với sự xuất hiện của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, Thơ Mới và văn học hiện thực phê phán đánh dấu thành tựu chuyển biến của văn học dân tộc từ
Trang 6trung đại sang hiện đại với trung tâm là sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người Nhìn chung, văn học lãng mạn đã khẳng định được chủ thể sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật khi nói lên được “một nhu cầu lớn về tự do và phát huy bản ngã” (Tố Hữu) Trong khi đó, tiểu thuyết hiện thực phê phán đã khám phá con người cá nhân ở một cấp độ mới, đó là con người
xã hội và con người cá nhân kết hợp
1.2.1.2 Con người trong tiểu thuyết giai đoạn 1945 - 1975
Giai đoạn văn học 1945 - 1975, con người được nhìn nhận chủ yếu ở góc độ là con người xã hội gắn với thời đại, với cộng đồng Sự phát triển về số lượng tiểu thuyết xuất hiện trong giai đoạn gian khổ của dân tộc đã chứng minh một điều: sự soi chiếu cùng một cái nhìn nghệ thuật, một quan niệm về con người đã tô điểm cho nền văn học sử thi cách mạng những bức tượng đài kỳ vĩ của con người mang lý tưởng phẩm chất cách mạng chung cho cả một dân tộc
1.2.1.3 Con người trong tiểu thuyết giai đoạn 1975 - 1985
Với những tác động về mặt lịch sử xã hội, văn học giai đoạn này có những điểm chú ý sau: Thứ nhất, bàn tay tác giả tác động vào đời sống nhân vật còn lộ liễu, chưa mạnh dạn khai thác những vấn đề liên quan đến cá nhân con người Vấn đề con người vẫn được phân tuyến rõ ràng: tiêu cực - tích cực, tốt đẹp - tha hóa, chúng ta - chúng nó, tiến bộ - bảo thủ Nhân vật có
sự vận động tâm lý nhưng nhìn chung xung đột tâm lý vẫn diễn ra ở bên ngoài, nhân vật vẫn còn mang tính “quá trình” Đã xuất hiện con người cá nhân, nhưng con người cá nhân với vấn
đề đạo đức nhân cách được đặt trong mối quan hệ với lịch sử, tính thế sự chưa đậm nét Thứ hai, hình tượng con người giai đoạn này không chỉ xuất hiện như những giá trị để khẳng định tư tưởng xả thân mà chủ yếu là sự tự khẳng định những giá trị bản thân trong ngọn lửa cách mạng Tức là mọi vấn đề về con người phần lớn vẫn còn quy chiếu trong tương quan với chiến tranh cách mạng Mặc dù vậy, đây là tiền đề cho sự đổi mới về cách nhìn con người, nhất là bình diện con người cá nhân cho tiểu thuyết sau này
Chúng tôi cho rằng, những chuyển biến tư duy về con người trong tiểu thuyết giai đoạn
1975 - 1985 là nhân tố đòi hỏi cần có một cơ chế thay đổi của văn học nghệ thuật để nhà văn được phát huy khả năng phản ánh đời sống của mình Vì thế văn học giai đoạn này cũng như tiểu thuyết nhìn chung đang chuẩn bị thêm cho mình một nội lực mới, dẫn đến tất yếu phải có
sự chuyển hóa trong đó chủ yếu nhất là bàn về vấn đề con người cá thể với những tồn tại của mình trong quan hệ với chính mình, với người khác và với xã hội trong thế lưỡng phân, đa diện, nhiều chiều
1.2.2 Con người trong tiểu thuyết sau 1986
Văn học giai đoạn 1975 - 1985 vẫn chủ yếu nhìn con người cá nhân ở góc độ xã hội, sau 1986 tính toàn diện về con người đã được bộc lộ Đó là cá tính nhiều mặt, nhiều dáng vẻ của con người ở tư cách con người cá nhân cá thể
1.2.2.1 Tiếp tục khuynh hướng ca ngợi những phẩm chất con người ở mức độ cao hơn
Bên cạnh việc tiếp tục bộc lộ khuynh hướng ngợi ca khi ca ngợi những con người vẫn giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, mang đậm những phẩm chất của tâm hồn Việt, tiểu thuyết đã nhìn nhận con người dưới góc độ đời tư mang tính chất “phi sử thi hóa” (Trần Đình Sử) Cảm hứng lãng mạn cách mạng mang tính “hướng ngoại” giờ nhường bước cho xu hướng “hướng nội”
1.2.2.2 Con người cá nhân gắn với cảm hứng bi kịch
Đời sống xã hội ngày càng vận động theo hướng khẳng định cá nhân, những tác động
xã hội bên ngoài sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến từng thành viên của cộng đồng người Cho nên, mọi mặt cuộc sống đều biến đổi, nhân tố riêng tư cá nhân “xé rào” đòi giải phóng trước một môi trường xã hội hết sức năng động bên ngoài, kiểu gia đình nặng về ràng buộc cá nhân sẽ
là “điểm nóng”, gánh nặng trung tâm tác động đến số phận con người, đẩy con người vào những bi kịch của sự khe khắt, bảo thủ và lỗi thời
1.2.2.3 Con người trước nguy cơ tha hóa
Trang 7Con người tha hóa không phải là một hiện tượng hiếm hoi trong đời sống và không phải đến nay mới có, mà nó đã từng là thành tựu của văn xuôi giai đoạn 1930 - 1945 Sự trở lại của nó trong những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa khác trước, đánh dấu sự gắn bó với đời sống vật chất và tinh thần của con người đương đại, góp phần tạo nên một diện mạo phản ánh sôi nổi trong tiểu thuyết nói riêng
1.2.2.4 Con người trong chiều sâu tự nhận thức
Cùng với lớp nhà văn trưởng thành trong chiến tranh, lớp nhà văn sau này không bị ám ảnh và ràng buộc bởi các vấn đề chính trị đạo đức, tự do trong tư duy sáng tạo, Phạm Thị Hoài,
Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái… đã đem lại cho văn học tính chất “tự vấn” với những suy tư, triết
lý, trải nghiệm của những con người tự “đi tìm nhân cách” cho mình trong đời sống tinh thần đầy phong phú Hiện thực bề bộn không đơn giản như trước đây càng ngày càng thúc giục con người nhìn lại, đặt ra những câu hỏi, khái quát thành các vấn đề, rút ra chiêm nghiệm về
lẽ đời, cuộc sống, cá nhân… như một tất yếu
1.2.2.5 Con người đa nhân cách
Trong xu hướng bùng nổ thông tin, mọi cái trong guồng quay xã hội đều biến đổi khôn lường, con người chẳng hề có chân lý tuyệt đối nào cả, văn hóa đại chúng khiến cho con người khó phân tuyến được đâu là cao nhã, đâu là thông tục Khi tiểu thuyết trở thành tiếng gọi của trò chơi mỗi nhân vật chính là cuộc thử nghiệm cái tôi nhỏ bé của con người mang trong mình
“mọi mầm mống của tình cảm con người” Bằng thái độ không thỏa hiệp, không khoan nhượng, các nhà tiểu thuyết đã nhận thức lại chính bản chất con người, viết chúng theo khuynh hướng đối thoại đa chiều cho tác phẩm để có thể đi đến một kết luận: “Nhạt nhẽo là thuộc tính thứ nhất của con người Gồng gánh suốt đời là thuộc tính thứ hai của con người Đau đớn thay, có thể ăn thịt người khi đói khát, cùng cực cũng là một thuộc tính của con người”
1.2.2.6 Con người được khai thác ở góc bản năng tính dục
Khi khai thác góc bản năng tính dục của con người, nhà văn có cơ hội dẫn dắt độc giả đến với “những điều dị thường vốn nằm sâu trong bản chất của con người trong cuộc sống yên bình mỗi ngày” (Oe Kenzaburo), đồng thời gửi đến thông điệp: lẽ sống của con người là yêu và được yêu cả về thể xác lẫn tinh thần Con người phải sống đúng với bản chất của con người
Vì thế, khoái cảm, nhục cảm, sự giao hoan giữa đàn ông và đàn bà không có gì là xấu nếu nó
là sự thăng hoa của cảm xúc, của tình yêu Đó chính là biểu hiện một khát vọng chính đáng của hạnh phúc đích thực mang tính nhân bản và văn hóa trong cõi nhân sinh của con người
1.2.2.7 “Giải thiêng” miền bí ẩn của cõi tâm linh con người
Cảm hứng giải thiêng là cách thức tiếp cận, hóa giải để làm rõ thêm miền hiện thực trong con người mà các nhà văn giai đoạn này sử dụng chứng tỏ tâm linh vẫn tồn tại trong cùng với con người như một chiều kích quan trọng của con người, bởi lẽ đời sống tâm linh không phải là cái gì thần bí, “dẫu đôi khi nó cố ý khoác một cái vỏ thần bí, mà là một cái thường tồn trong con người” Đây cũng là phương diện được các nhà tiểu thuyết Đổi mới khám phá, xâm nhập để lý giải chiều bí ẩn bên trong của con người
Sau 1986, con người không chỉ được mổ xẻ ở vấn đề đạo đức nhân cách trong mối quan
hệ với sự kiện lịch sử mà còn được tiểu thuyết nhìn dưới nhiều góc độ, ở cả con người tự nhiên, con người xã hội, con người tâm linh Qua mỗi đề tài, chủ đề về con người, nhà văn đã
Trang 8phát huy cái đa diện, đa tầng vừa gai góc trần trụi, vừa thẳng thắn chân thành, vừa băn khoăn suy tư, vừa hoài nghi tự vấn, vừa lo lắng hoang mang trước “phần nhân tính dư thừa chưa được thể hiện” (M Bakhtin) của con người Đó cũng là một hành trình nghệ thuật khó mà khai thác cạn kiệt được
Như vậy, vấn đề đời tư con người là một vấn đề quan trọng của tiểu thuyết giai đoạn Đổi mới mà các nhà văn đã tìm đến phản ánh Tuy nhiên, “cùng với một số thành tựu đáng mừng, các số phận cá nhân cứ quằn lên, trương phồng, cứ vật vã, cứ thống khổ, cứ rên la thê thiết, cứ vô thức cứ bản năng đục ngầu mà bất chấp các nguyên tắc thẩm mỹ, bất chấp hiện thực cuộc sống nó không phải như vậy” cũng là những hạt sạn nhỏ đang tồn tại ở một số nhà tiểu thuyết khi khắc họa số phận con người
Chúng tôi đồng ý với nhiều ý kiến cho rằng, tiểu thuyết Việt Nam còn đang ở trong giai đoạn vận động, phát triển, đang trong thời kỳ trưởng thành Trên chặng đường nó đã và đang bước đi chúng ta có quyền đặt một niềm tin: “mỗi tiểu thuyết là một cách đào sâu hơn về cõi người, cõi đời để đạt được một tầm sâu cho nhận thức về cõi nhân sinh”
Chương 2 HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT
THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Nhân vật là một yếu tố không thể thiếu trong tiểu thuyết khi qua đó người đọc có thể tìm thấy “bộ mặt con người” Nó là chiếc cầu nối giữa “cuộc đời thực” với “cuộc đời có vẻ thực” trong tiểu thuyết Nói như Booth, “nhân vật là sự thể hiện con người, chứ không phải chỉ là việc xây dựng hình thức bằng lời” Qua thế giới nhân vật, người đọc sẽ tìm thấy những vấn đề nhân sinh mà tác giả muốn gửi gắm, muốn sẻ chia Vì “nhân vật là yếu tố mang theo cảm hứng nhân văn, là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người” Việc chúng tôi phân chia con người ở hai phương diện bản chất xã hội và loại hình văn học về cơ bản vẫn dựa vào
cơ sở xem xét trên các bình diện xã hội, mặt khác dựa trên mục đích xây dựng thể hiện để thấy được cái nhìn cận cảnh, khu biệt tương đối cho thấy tính chất làm mới của các nhà văn khi viện giải tính đa trị, đa sự, phiền nhiễu phức tạp ở cả những mặt phẩm chất, bản chất, cấu trúc bên trong của từng số phận cá nhân con người thế sự Dựa vào cách phân chia này, sẽ xuất hiện khá nhiều hình tượng, tuy nhiên, chúng tôi chỉ đưa ra một số hình tượng theo chúng tôi, có tính chất nổi bật nhất để khảo sát, qua đó thấy rõ tính đổi mới tư duy nghệ thuật của nhà văn
2.1.1.1 Con người cá nhân bi kịch
Xét ở khía cạnh làm mới về người lính, tiểu thuyết giai đoạn này đã làm tròn nhiệm vụ lấp đầy khoảng cách con người cá nhân ẩn sâu nơi những người từng cầm súng một thời Khi
họ may mắn được trở về với đời thường cũng là lúc họ nhận thấy mình gánh trên vai bi kịch của số phận chính họ Đó là di chứng rõ rệt còn lại ở nỗi đau về thể xác và tinh thần, đi kèm
là nỗi khát khao bất thành trong đời sống hiện tại
2.1.1.2 Con người tự nhiên trong cuộc sống đời thường
Trong thời chiến, do hoàn cảnh con người tự nhiên không được bộc lộ, thay vào đó chỉ
là con người chiến đấu, con người xã hội được hiện diện như một hình tượng trung tâm của văn học cách mạng Chiến tranh vốn dĩ là cái không bình thường, nó tước đoạt đi những điều
Trang 9bình thường nhất của con người Vì thế, sau thời bình con người tự nhiên (qua bản năng sống
và bản năng dục vọng) được trả về theo đúng nghĩa khiến hình tượng người lính được nhìn lại với những tính chất, màu sắc, thái cực khác nhau trong mối quan hệ giữa ký ức chiến tranh với cuộc sống đời thường hôm nay
2.1.2 Người nông dân
Trước 1986 nông dân chỉ như một đối tượng để tuyên truyền giác ngộ, sau 1986, bằng việc quy chiếu dưới cái nhìn thế sự đời tư, nhà văn đã để người nông dân suy nghĩ, hành động, chiêm nghiệm thông qua nhiều việc làm và sự từng trải của chính đời họ
2.1.2.1 Con người mang dấu vết “tha hóa”
Người nông dân tham gia vào cách mạng bởi lẽ “cách mạng là một cuộc giải phóng, một nhu cầu đòi hỏi chân thật và giản dị, một thái độ chối bỏ số phận con cừu và luôn cả số phận con sư tử, mà chỉ đòi hỏi số phận con người” Cái số phận đó trong những cuộc chuyển dịch lịch sử xã hội không chỉ có những nỗi đau ẩn giấu mà còn có những thay đổi, tha hóa
đến khó lường Sự tha hóa của người nông dân thời kỳ này (Lời nguyền hai trăm năm,
Mảnh đất lắm người nhiều ma, Ba người khác, Dòng sông Mía) được nhìn rõ không những
do tác động và chi phối bởi hoàn cảnh sống mà chính còn bởi sự tha hóa từ ngay trong mầm ý thức cá nhân
2.1.2.2 Nạn nhân của những ràng buộc lạc hậu
Khác với các tiểu thuyết trước cách mạng viết về người nông dân, các nhà tiểu thuyết thời Đổi mới đã chỉ ra và nhìn thấy được căn nguyên của mọi bi kịch, trong nhiều trường hợp, người nông dân suy cho cùng họ vừa là nạn nhân nhưng cũng là thủ phạm của tấn bi kịch đời mình (như Vạn, Sài, lão Khổ…) vì chính họ đã được nuôi dưỡng trong môi trường vừa có những giá trị truyền thống vừa còn những tàn tích trì trệ tối tăm Đó là “ngọn nguồn những ràng buộc” (Bùi Việt Thắng) khiến họ chưa thoát ra được, qua đó thể hiện sự băn khoăn, trăn trở cùng cái nhìn phản ánh chân thực các vấn đề chính trị xã hội ở nông thôn hiện nay mà các nhà tiểu thuyết đang đào xới và muốn đi đến tận cùng
2.1.3 Người trí thức
Bước sang giai đoạn sau 1986, những người đại diện cho trí thức đương thời, theo yêu cầu khách quan của xã hội, chính là những người có sứ mạng phổ biến, duy trì, phát triển văn hóa của dân tộc Nhờ không khí cởi mở của đổi mới xã hội và văn học, nhà văn có quyền và nhu cầu công bố những tư tưởng riêng của mình để có thể phát ngôn về nhiều vấn đề xã hội khác nhau Cho nên, nhân vật người trí thức đã trở lại với một diện mạo mới, chân thực và toàn diện hơn
2.1.3.1 Con người của lương tri và trí tuệ
Đặt người trí thức trước sự xô bồ, hỗn tạp đầy nghịch lý của thực tế cuộc sống một cách
chân thực, với những bác sĩ Chiểu (Đêm thánh nhân), Tự, Kha (Đám cưới không có giấy
giá thú), Toàn, Hiệp, Trang (Người và xe chạy dưới ánh trăng)… đều là những trí thức đã
chọn sự cống hiến hết mình cho sự nghiệp, cho lẽ phải Trong thời đại của tri thức ngày nay,
xã hội vẫn luôn cần có những con người có kiến thức, tài năng thực sự bên cạnh một ý chí, sức sống, niềm tin và nhiệt huyết để có thể làm cho cuộc sống này tốt đẹp hơn Đó chính là
“một kiểu trí thức “tự do và dấn thân” của thời kỳ hậu hiện đại” (Trần Huyền Sâm)
2.1.3.2 Con người của sự mưu toan, tư lợi, ích kỷ, hám danh
Trước 1945, người trí thức tha hóa được khai thác chủ yếu ở phương diện đạo đức và nhân tính Sau 1986 kiểu dạng tha hóa của trí thức đã có những điểm khác Họ thực sự là những kẻ không thắng được những ham muốn dục vọng, những ti tiện tráo trở, đánh mất tình nghĩa, có khi cuối cùng trở thành những kẻ “lạnh tanh, tàn nhẫn, nhạt nhẽo đến ghê cả người” Như vậy, sự trở lại của con người trí thức đánh dấu một thay đổi quan trọng trong quan niệm về con người với sự thức tỉnh của ý thức cá nhân, cũng như sự thay đổi về bản chất văn chương
2.2 Con người dưới góc nhìn loại hình văn học
Trang 10Như chúng tôi đã đề cập ở trên, bức màn “linh thiêng” của nhân vật dần dà được các tiểu thuyết gia giải thiêng cho nó theo nhiều cách khác nhau Nhân vật thời kỳ này về mặt cấu trúc và chức năng đã có sự khác biệt so với văn học trước đây Do đó, xem xét ở góc độ loại hình mục đích của chúng tôi là để nhận diện chiều sâu bên trong về con người ở những đặc tính nổi bật
2.2.1 Con người lịch sử - văn hóa
Với tuyến nhân vật có thật được lưu tên trong sử sách cùng với những hư cấu về đời
sống, tâm lý riêng của nhân vật (Sông Côn mùa lũ, Hồ Quý Ly, Giàn thiêu, Đàn đáy), nhà
văn hé mở cho người đọc cuộc sống đang vận động của những con người ở một thời lịch sử, nhưng vẫn gần gũi với chúng ta hôm nay
2.2.1.1 Con người đối thoại với lịch sử
Mỗi nhà văn khi lựa chọn đề tài lịch sử đã tự đưa ra cho mình một cách thức để đối thoại với lịch sử riêng biệt Nhưng họ gặp nhau ở một điểm chung, đó là để nhận thức lại lịch sử trong con mắt toàn vẹn (nhưng thực ra cũng để mượn xưa nói nay tựa như chuyện cũ viết lại - chúng tôi nhấn mạnh), họ phải mượn chính các nhân vật lịch sử, dựng lại không khí lịch sử ấy để chúng ta hiểu hơn thời cuộc đã qua, đồng thời tự tìm ra cho mình cách sống trong thời hiện đại từ bức thông điệp được gửi bởi quá khứ
2.2.1.2 Kết nối với cuộc sống hiện tại
Con người với những vấn đề cơ bản của nó, bất kỳ ở đâu, đều là điều quan tâm chính của mỗi nhà văn Tiểu thuyết lịch sử cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ, nó vẫn đi tìm những mạch ngầm về con người ở những tính chất tiêu biểu để viện giải cuộc sống Vẫn
là những vấn đề của lịch sử nhưng chúng lại là chiếc cầu nối từ quá khứ đến hiện tại về những vấn đề xã hội, nhân văn và sự sinh tồn của con người Tiểu thuyết đã biến lịch sử thành những thang giá trị cuộc sống mà con người hiện tại quan tâm, mở ra chân trời khám phá mới, phù hợp với tư duy của con người hiện đại trong cảm thức truy vấn những sự thực của lịch sử
2.2.2 Con người “huyền thoại”
Bước vào thời hiện đại - hậu hiện đại, khi nhân loại hoài nghi lý trí và hoài nghi thánh thần, cũng là lúc văn học “thoải mái trộn lẫn cái thường nhật với cái hoang đường” để lý giải cho mọi niềm tin vào trí tưởng tượng và vào lý trí đã bị phá sản hoàn toàn Đặc biệt khi con người bị chính xã hội nó tạo ra bóp nghẹt, trở nên bơ vơ cô đơn, họ tạo ra cái ảo để chế ngự nỗi lo âu như một “tiếng nói về sự mầu nhiệm để con người vững tin trên hành trình đơn độc của kiếp người” Chúng tôi sử dụng hình tượng con người “huyền thoại” trên cơ sở đó
2.2.2.1 Con người trong thế giới tâm linh và vô thức
Đó là những con người ( Tân - Trong sương hồng hiện ra, Thống Biệu - Mảnh đất
lắm người nhiều ma, ông hộ Hiếu - Mẫu thượng ngàn, Phương - Tàn đen đốm đỏ, Hương và
Hoa - Người sông Mê ) tồn tại những công năng riêng biệt trong cõi mông lung Cõi mông lung
ấy bên ngoài có vẻ ảo là tiếng nói một phần của mảnh bên trong cõi lòng mình Thế giới bên trong
đó không ai giải thích một cách rạch ròi bằng năng lượng của khoa học mà chỉ có thể lý giải theo cách của từng cá nhân trong cuộc đã tự mình chứng kiến, trải nghiệm
2.2.2.2 Con người trên biên giới ảo - thực
Từ những bé Hon (Thiên sứ), bào thai (Thiên thần sám hối), Thương Ơi (Đêm thánh
nhân), Mai Trừng (Cõi người rung chuông tận thế)… việc phản ánh và xây dựng con
người “huyền thoại” khiến tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới khoác lên cho các nhân vật những nét lạ và hấp dẫn Con người không thể là một lát cắt nguyên phiến, ngược lại con người luôn tiềm ẩn những “cái kỳ lạ” bên trong, đòi hỏi người nghệ sĩ khai thác nhiều hơn, sâu hơn cái mảnh tưởng như phi lý để tạo nên tính chất đa nguyên của bản thể con người Qua tiếp xúc với thế giới con người ấy như nhà văn Hồ Anh Thái đã nói: “những gì ta thấy, ta nghe, ta trải nghiệm là chưa đủ Hiện thực còn là cái ta cảm nữa” Đó là lý do tại sao trong
Trang 11cõi sâu xa, bí ẩn của những con người huyền thoại, thế giới thực của họ không bị ảo hóa mà chúng vừa hết sức mới lạ, hấp dẫn vừa gần gũi, bình dị và thân quen
2.2.3 Con người “dị biệt”
Con người trong tư duy nghệ thuật của nhà văn ở điểm này, theo chúng tôi không nhấn mạnh đến yếu tố hoang đường mà chú trọng ở tính chất “dị biệt” Đó là những người (nhân vật - chúng tôi nhấn mạnh) sinh ra là con người nhưng lại gặp những điều bất thường (xét cả mặt tích cực lẫn tiêu cực)
sẻ chia
2.2.3.2 “Lệch lạc” về tinh thần
Đây là loại con người cho thấy khung quan niệm về nhân vật bị phá vỡ một cách rõ nhất trong tiểu thuyết sau 1986, đặc biệt trong những năm gần đây Một thể xác méo mó, đã
đủ đem lại cho họ sự bất hạnh, nhưng như chúng tôi đã nói, thế giới tinh thần cũng chứa đựng
những vỉa ngầm bên trong (Quang lùn - Thiên sứ, bác sĩ Cần - Đêm thánh nhân, Khẩn -
Ngồi, Tính - Thoạt kỳ thủy…) Bề sâu tâm hồn bên trong một con người có thể chứa cả mặt rắn
rết lẫn rồng phượng Đây cũng là điều tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới lật xới để bộc lộ tính đa diện trong quan niệm về con người
Tiểu kết:
Mặc dù chỉ tạm dừng lại khảo sát ở những hình tượng tiêu biểu nhưng chúng tôi cho rằng: tiểu thuyết nói riêng hiện nay đang đi tìm cho mình bức chân dung cuộc đời con người đầy phong phú, phức tạp, luôn hàm chứa tính đa trị với cái nhìn thẳng thắn và trung thực, sáng tạo và tìm tòi của các nhà văn Các nhân vật đều được khám phá ở mọi khía cạnh với đầy đủ các chức năng của mình, không còn những kiểu nhân vật phi thường mà đó là những cá thể phi hiện thực, cá biệt, luôn soi chiếu vào nhau Điều này khiến “mỗi tiểu thuyết trở thành một “tiểu tự sự” về nội tâm và khát vọng
cá nhân của con người, với những vang âm của một tinh thần nhân bản sâu xa và mạnh mẽ”
Chương 3 NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật
3.1.1 Những cách tân từ truyền thống
Trong khá nhiều tác phẩm, yếu tố truyền thống và hiện đại luôn đan xen vào nhau khi hiện thực đời sống trong tiểu thuyết đã trở nên đa dạng với những hướng mới, phức tạp hơn Những thể nghiệm nghệ thuật đó, là điều đáng trân trọng, ghi nhận sự chuyển mình đầy triển vọng của tiểu thuyết trong tương lai Đồng thời việc “quay về với một số nét nào đó của cái
cũ cũng được coi là… mới” khi những tiểu thuyết ấy đã và đang bằng cách viết nội dung thay cho kể, bộc lộ sự sáng tạo trong hình thức để chuyển tải mục đích tư tưởng tác phẩm theo một cách mới hơn
3.1.1.1 Mô tả nhân vật qua phương diện bên ngoài
Các tiểu thuyết mô tả nhân vật dạng này dưới nhiều hình thức: qua nhiều điểm nhìn của
nhân vật (Mẫu thượng ngàn, Thời xa vắng, Gió từ thời khuất mặt), xây dựng “chân dung
đối nghịch” giữa ngoại hình bên ngoài với phẩm chất, tính cách bên trong, qua đó xây dựng con người theo những “xung lực” vừa thuận chiều vừa nghịch chiều đầy bất ngờ của số phận
(Đám cưới không có giấy giá thú, Những mảnh đời đen trắng, Hồ Quý Ly)
Trang 12Như vậy, các nhà văn xây dựng nhân vật (ngoại hình, tính cách, hành động) không còn dập khuôn theo truyền thống mà đã nâng con người nhân vật lên một mức cao Không chỉ là làm nổi một tính cách tiêu biểu, nét đặc tả ngoại hình nhân vật, nhà văn còn tạo nên nét cá tính hóa, dị biệt hóa cho nhân vật trong một môi trường đã bị phá vỡ tính điển hình Nhân vật không còn được xác định hoàn toàn bằng sự hiện diện lý lịch đầy đủ mà nó tồn tại bằng những hành vi, những ứng xử trước mọi hoàn cảnh, trong đó tác giả không cần giải thích vì không thể giải thích mà chỉ có thể quan sát
3.1.1.2 Miêu tả trực tiếp tâm lý qua nội tâm
Nhà văn đã đưa những xung đột nội tâm trải dài qua cả điểm nhìn bên ngoài lẫn bên trong, nhưng tính chất “toàn tri” không được hé lộ mà để tự nội tâm nhân vật bộc lộ ra ngoài Nhờ việc làm này mà tiểu thuyết giai đoạn sau 1986 đã khác trước Thay vì khi miêu tả tâm lý, nhà văn quan tâm đến kết quả của quá trình tâm lý, thì nay hính bản thân quá trình đó tự thể hiện không chỉ bằng lời kể có tính chất hướng ngoại, mà bằng xu hướng tự hướng nội, tự bộc lộ những nỗi niềm suy tư sâu kín, phơi bày tiến trình vận động tự thân của tư duy và những xúc cảm đa chiều của con người
Qua một số dẫn giải trên, chúng tôi đi đến nhận định: nhà văn sau 1986 đã đặt xung đột nội tâm nhân vật trên phương diện con người cá nhân - đời thường, do đó đặc điểm tâm lý mang tính cá nhân, cá biệt thuộc về nhu cầu bản thân bên trong của nó, quy chiếu vào những biến cố trong tâm hồn nhân vật để người đọc tìm thấy bóng dáng của hiện thực xã hội Nhờ
khai thác đắc địa khía cạnh này mà những tiểu thuyết như Sông Côn mùa lũ, Gia đình bé mọn,
Tiểu thuyết đàn bà, Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn… đã tạo nên ấn tượng khó quên về hình
tượng nhân vật
3.1.2 Tiếp cận nhân vật với bút pháp hiện đại
3.1.2.1 Xây dựng nhân vật theo lối “ẩn danh”
Đó là “những nhân vật không nổi lên bằng một nét hình dung diện mạo rõ rệt nào, một
cá tính nào, một đường viền lịch sử nào”, nó chỉ được tái hiện qua những mẩu, những mảnh,
có khi chỉ là những ý nghĩ Trong tiểu thuyết Việt Nam hiện nay (Pari 11 tháng 8, T mất
tích, Chinatown, Đi tìm nhân vật) thật khó tìm thấy một nhân vật điển hình kiểu của chủ
nghĩa hiện thực, thay vào đó là những nhân vật đủ mọi hạng người, nó đã và đang thải bỏ dần
“tất cả những gì khiến nó nên người, để trở thành bóng ma vô danh mà người ta chỉ còn nghe được giọng nói”
3.1.2.2 Xây dựng nhân vật qua những mảnh vụn tâm lý, ký ức rời rạc không liên kết
Việc các nhà văn chọn lối tự sự chất liệu ký ức với sự xáo trộn chóng mặt các tình tiết trong mạch chuyện theo kiểu dòng ý thức đã khiến cho ký ức bị chia nhỏ thành những mảnh vụn của sự kiện và dẫn tới cảm giác tìm ra “con người ẩn náu” bên trong Với sự đổi mới cách nhìn trong sáng tạo, quan niệm, nhà văn Việt Nam đã tìm ra một số thủ pháp mới dưới ảnh hưởng của văn học hiện đại thế giới để “biết đột phá hiện thực” (Ma Văn Kháng), trong
đó họ dường như đã “trao ngòi bút cho nhân vật, để nhân vật tự viết lấy giọng điệu riêng của nó”, nhà văn để mặc cho nhân vật “phơi trần” cảm xúc, tâm trạng một cách tự nhiên, “xé toang” trật tự niên biểu
3.1.2.3 Xây dựng nhân vật với phương thức huyền thoại hóa
Tận dụng lợi thế của cái kỳ ảo dưới dạng giấc mơ, biến dạng, báo ứng, hiện hồn, không gian, thời gian huyền thoại, các nhà văn đã khám phá và phản ánh thế giới hiện thực đời sống
đa dạng nhiều chiều của con người, đặc biệt ở chiều tâm linh con người, tất cả có tác động nghệ thuật rất lớn đến hiện thực tâm hồn con người với bao điều phức tạp, chồng chéo, đồng thời tạo nên một hiệu ứng tâm lý thẩm mỹ cho người đọc Nói như Heinrich Boll, “một nền văn học thật sự dân chủ cần phải tạo ra những huyền thoại về con người, huyền thoại về đời thường của con người, cần phải tái tạo những yếu tố huyền thoại của đời thường nhân thế, cái thơ ca của đời thường nhân thế… phát hiện ra trong văn học cái huyền thoại nhân bản mới của con người”
Trang 133.2 Ngôn ngữ nghệ thuật
Để nhận diện một nhà văn có quan niệm như thế nào về đời sống và con người thông thường người ta tìm hiểu tiếng nói riêng của anh ta qua ngôn ngữ, thông qua các thành phần được biểu hiện trong một tác phẩm ở cả ngôn ngữ nhân vật (lời đối thoại, lời độc thoại) và ngôn ngữ trần thuật (lời kể, lời tả, lời bình luận) Khảo sát những thành phần này, chúng tôi rút ra một số đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ tiểu thuyết Việt Nam đương đại như sau:
3.2.1 Ngôn ngữ có tính lịch sử cụ thể
Đặc điểm này nổi bật nhất là ở tiểu thuyết lịch sử, tức tác phẩm lấy lịch sử làm đề tài, làm cảm hứng sáng tạo nghệ thuật, có nghĩa đòi hỏi hoàn cảnh, nhân vật gần như không có sự
“sai trật” về thời gian sự kiện
Nhờ lớp ngôn ngữ xác nhận có tính lịch sử cụ thể, người đọc có thể khám phá được đời sống bên trong của mỗi thời đại cũng như hiểu được tâm hồn con người qua mỗi thời kỳ biến thiên của lịch sử xã hội Mặt khác, nó cho thấy các nhà văn khi lựa chọn tiểu thuyết lịch sử,
đã một phần nào đó thể hiện sự kết hợp giữa tư duy hiện đại và cổ điển trong việc chuyển tải ngôn từ
3.2.2 Ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, dễ hiểu
Một khi được xem là chất liệu, phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn học thì ngôn ngữ tiểu thuyết vẫn được cho là ngôn ngữ gần gũi tới mức tối đa với đời sống Vì vậy, đây là một đặc điểm cho ta thấy tính linh hoạt của ngôn ngữ trong văn học sau 1986
3.2.3 Ngôn ngữ mang màu sắc dân gian
Chưa bao giờ trong văn chương hiện đại mật độ xuất hiện kiểu lời ăn tiếng nói dân gian được đưa vào miệng nhân vật nhiều như trong tiểu thuyết giai đoạn này Việc đưa vào tính chất suồng sã, bớt đi vẻ trang trọng, nghi thức, các nhà văn phần nào thể nghiệm được “những thành phần ngôn ngữ mới theo định hướng rút ngắn triệt để khoảng cách nghệ thuật vào dòng chảy xô
bồ, ào ạt của đời sống” đã thực sự làm rung chuyển lối văn mực thước, đưa đẩy tạo nên “tư thế dân chủ bình đẳng giữa con người với con người”
3.2.4 Ngôn ngữ có tính thế tục
Một khi ý thức ngôn ngữ trở nên tự giác hơn, văn chương không nhất thiết phải đặt mình trong sự câu nệ, khách sáo, đó cũng là thời điểm đánh dấu cho sự phong phú của ngôn ngữ ở nhiều mặt du nhập vào khu vườn sáng tạo ngôn từ của các thể loại văn học Tính chất trần tục, bụi bặm, thậm chí đôi khi thô tục được đẩy vào phát ngôn của nhân vật nhiều khi khiến người
ta phải giật mình Thứ “ngôn ngữ sinh hoạt thế sự” (Nguyễn Thị Bình) ùa vào trong lời ăn tiếng nói của tác phẩm tuy còn đôi chỗ gắng gượng, gò ép, dung tục trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, Chu Lai, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh… nhưng đã góp phần làm nên hiệu ứng nghệ thuật tích cực trong từng tác phẩm, bỏ xa lối văn đạo mạo, kín kẽ, chải chuốt bóng mượt
“từ đầu đến chân” của văn học giai đoạn trước Mặt khác nhà văn đã rút ngắn khoảng cách giữa tác giả - nhân vật - người đọc, đưa tác phẩm gần gũi và thật như cuộc sống vậy
3.2.5 Ngôn ngữ chứa đựng tính đối thoại và tính “cá thể hoá” cao
Đọc tiểu thuyết sau 1986, độc giả phần nào có hướng tiếp cận khác trước Tính chất đối thoại theo kiểu lời thoại thuần tuý gần như mất dấu, thay vào đó là sự đối thoại nhiều tầng nghĩa nhưng diễn biến nằm ở bề sâu ngôn ngữ, tức là người kể chuyện hay nhân vật có thể diễn ra cuộc đối thoại nhưng chủ yếu việc đối thoại lại nằm ở sự nhìn nhận, chiêm nghiệm, mang tính triết luận tự nhận thức của nhân vật qua chiều nội tâm bên trong
Tiểu kết:
Trên thực tế quan niệm nghệ thuật về con người chi phối đến sự thay đổi trong cấu trúc nghệ thuật của một tác phẩm Tuy nhiên sự thay đổi tư duy nhận thức nghệ thuật về con người vẫn rõ hơn cả ở việc xây dựng thể hiện các hình tượng Qua hai vấn đề chúng tôi bàn kỹ ở trên, chúng tôi tạm rút ra hai ý kiến sau:
Thứ nhất, khi nhà văn quan niệm nhân vật như một ý thức, một tiếng nói, một chủ thể độc lập, anh ta đã không bắt nhân vật phải suy nghĩ giống mình mà để nhân vật hiện ra như