1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của viêm phổi ở trẻ từ 2 36 tháng tại bệnh viện trung ương thái nguyên

109 46 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC LƯU THỊ THÙY DƯƠNG ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MỨC ĐỘ NẶNG CỦA VIÊM PHỔI Ở TRẺ TỪ 2 - 36 THÁNG TẠI BỆNH V

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

LƯU THỊ THÙY DƯƠNG

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MỨC ĐỘ NẶNG

CỦA VIÊM PHỔI Ở TRẺ TỪ 2 - 36 THÁNG

TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN BÁC SĨ NỘI TRÚ

THÁI NGUYÊN – NĂM 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

LƯU THỊ THÙY DƯƠNG

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MỨC ĐỘ NẶNG

CỦA VIÊM PHỔI Ở TRẺ TỪ 2 - 36 THÁNG

TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Nhi khoa

Mã số: NT 62 72 16 55

LUẬN VĂN BÁC SĨ NỘI TRÚ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Khổng Thị Ngọc Mai

THÁI NGUYÊN – NĂM 2019

Trang 3

Tôi là Lưu Thị Thùy Dương xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn

của TS Khổng Thị Ngọc Mai

2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã

được công bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi

nghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2019

Người viết cam đoan

Lưu Thị Thùy Dương

Trang 4

Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và động viên của tất cả thầy cô, bạn bè đồng nghiệp và gia đình

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người thầy - TS Khổng Thị Ngọc Mai đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, dìu dắt tôi trên con đường nghiên cứu khoa học

Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các thầy

cô Bộ môn Nhi - Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc và Tập thể cán bộ nhân viên Trung tâm Nhi khoa – Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên đã tạo điều

kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình triển khai đề tài, học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô trong Hội đồng khoa học

đã đã tạo điều kiện, đóng góp những ý kiến quý báu cho luận văn và động

viên tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và người thân đã giúp đỡ, động viên tôi cả về tinh thần và vật chất trong

quá trình học tập và nghiên cứu

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2019

Học viên

Lưu Thị Thùy Dương

Trang 5

BC Bạch cầu

CAP Community-acquired pneumonia Viêm phổi mắc phải tại cộng

đồng CRP (C reactive protein) Protein phản ứng C

Ne Neutrophil Bạch cầu đa nhân trung tính

SpO2 Độ bão hòa oxy qua da

UNICEF United Nations International

Children’s Emergency Fund

Qũy Nhi đồng Liên Hiệp Quốc

WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN 3

1.1 Đặc điểm giải phẫu và sinh lý bộ máy hô hấp trẻ em 3

1.2 Định nghĩa và phân loại viêm phổi ở trẻ em dưới 5 tuổi 5

1.3 Dịch tễ học viêm phổi trẻ em 7

1.4 Nguyên nhân viêm phổi trẻ em 10

1.5 Triệu chứng 11

1.6 Chẩn đoán 16

1.7 Một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của viêm phổi 18

CHƯƠNG 2.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27

2.3 Thiết kế nghiên cứu 27

2.4 Cỡ mẫu 27

2.5 Biến số và định nghĩa các biến số nghiên cứu 28

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 34

2.7 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 35

2.7.1 Phương pháp 35

2.8 Khống chế sai số 35

2.9 Đạo đức nghiên cứu 36

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

3.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 37

3.2 Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng 38

3.3 Các yếu tố liên quan đến mức độ nặng của viêm phổi ở trẻ em từ 2 tháng đến 36 tháng 45

Trang 7

4.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng 57

4.3 Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ với mức độ nặng của viêm phổi 65

KẾT LUẬN 80

KIẾN NGHỊ 82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH SÁCH BỆNH NHÂN

Trang 8

Hình 1.1: Tỷ lệ mắc bệnh VP lâm sàng ở trẻ em ở cấp quốc gia 8

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ triệu chứng cơ năng, thực thể của đối tượng nghiên cứu 39Biểu đồ 3.2: Kết quả vi khuẩn phân lập được 44

Trang 9

Bảng 2.1: Giá trị công thức bạch cầu ngoại biên theo lứa tuổi 30

Bảng 2.2 Lịch tiêm chủng chương trình tiêm chủng Quốc gia phòng 6 bệnh 32

Bảng 2.3: Tiêu chuẩn chẩn đoán thiếu máu 33

Bảng 3.1: Phân bố độ tuổi của viêm phổi 37

Bảng 3.2: Phân bố giới của viêm phổi 37

Bảng 3.3: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc và địa dư 37

Bảng 3.4: Dấu hiệu nguy hiểm toàn thân 38

Bảng 3.5: Phân bố thân nhiệt theo mức độ viêm phổi 39

Bảng 3.6: Phân bố SpO2 theo nhóm tuổi 40

Bảng 3.7: Hình ảnh X-quang tim phổi thẳng của đối tượng nghiên cứu 40

Bảng 3.8: Phân bố công thức bạch cầu theo mức độ viêm phổi 41

Bảng 3.9: Phân bố số lượng bạch cầu theo mức độ viêm phổi 41

Bảng 3.10: Phân bố tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính theo mức độ viêm phổi 42

Bảng 3.11: Tỷ lệ thiếu máu phân theo nhóm tuổi đối tượng nghiên cứu 42

Bảng 3.12: Phân bố huyết sắc tố theo mức độ viêm phổi 42

Bảng 3.13: Kết quả CRP 43

Bảng 3.14: Phân bố CRP theo mức độ nặng của viêm phổi 43

Bảng 3.15: Kết quả đường máu 43

Bảng 3.16: Kết quả chung phân lập vi khuẩn trong dịch tỵ hầu 44

Bảng 3.17: Phân bố độ tuổi theo mức độ nặng của viêm phổi 45

Bảng 3.18: Phân bố giới theo mức độ nặng của viêm phổi 45

Bảng 3.19: Phân bố địa dư theo mức độ nặng của viêm phổi 46

Bảng 3.20: Phân bố trình độ học vấn của mẹ theo mức độ nặng viêm phổi 46

Bảng 3.21: Phân bố nghề nghiệp của mẹ theo mức độ nặng của viêm phổi 47

Bảng 3.22: Liên quan tiền sử sản khoa với mức độ nặng của viêm phổi 47

Trang 10

Bảng 3.24: Liên quan tiêm chủng với mức độ nặng của viêm phổi 49Bảng 3.25: Liên quan hít khói thuốc lá với mức độ nặng của viêm phổi 49Bảng 3.26: Liên quan tiền sử bệnh với mức độ nặng của viêm phổi 50Bảng 3.27: Liên quan tiền sử bệnh lần này với mức độ nặng của viêm phổi 51Bảng 3.28: Liên quan tình trạng dinh dưỡng với mức độ nặng của viêm phổi 52Bảng 3.29: Liên quan bệnh mạn tính với mức độ nặng của viêm phổi 52Bảng 3.30: Liên quan tình trạng thiếu máu với mức độ nặng của viêm phổi 53Bảng 3.31: Mô hình dự báo tối ưu nguy cơ viêm phổi nặng qua phân tích hồi quy Logistic đa biến 53

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm phổi là bệnh lý thường gặp và là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em dưới 5 tuổi Ước tính năm 2010 có 120 triệu trường hợp viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi, trong đó 14 triệu trường hợp diễn tiến thành viêm phổi nặng [63] Theo báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) và Tổ chức

Y tế Thế giới (WHO) năm 2015 viêm phổi gây tử vong 920.136 trẻ em, chiếm 15,5% tổng số trẻ em tử vong dưới 5 tuổi [53]

Theo WHO thống kê năm 2008 Việt Nam thuộc nhóm 15 quốc gia có tỷ

lệ bệnh viêm phổi cao nhất, với ước tính 2,9 triệu trường hợp và 0,35 đợt viêm phổi/ trẻ dưới 5 tuổi/ năm [59] Mặc dù đạt được nhiều kết quả tốt trong điều trị nhưng tỷ lệ viêm phổi ở Việt Nam vẫn cao gấp gần 10 lần so với các nước phát triển như Úc, Nhật Ở Việt Nam mỗi ngày có 11 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong vì viêm phổi [62] Năm 2015, WHO ước tính tại Việt Nam tử vong do viêm phổi chiếm khoảng 11% các nguyên nhân tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi [66]

Nguyên nhân gây viêm phổi trẻ em có rất nhiều như vi khuẩn, virus, nấm… Tuy nhiên tại các nước đang phát triển vi khuẩn vẫn là nguyên nhân phổ biến nhất Vi khuẩn thường gặp trong viêm phổi ở trẻ em tại Việt Nam là phế cầu, Hemophilus influenza, tụ cầu, Mycoplasma pneumonia…[6], [9], [18], [30]

Chẩn đoán viêm phổi ở trẻ em trên lâm sàng chủ yếu dựa vào các triệu chứng: ho, khò khè, nhịp thở nhanh, khó thở, rút lõm lồng ngực… kết hợp với triệu chứng thực thể tại phổi và tổn thương phổi trên X-quang ngực thẳng [4], [8], [31] Đánh giá mức độ nặng dựa vào tình trạng suy hô hấp của trẻ và đo

độ bão hoà oxy qua da kết hợp các triệu chứng nặng như li bì, hôn mê, bú kém không uống được, nôn tất cả mọi thứ, co giật…

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc và mức độ nặng của viêm phổi, đặc biệt ở các nước đang phát triển như: tuổi nhỏ, cân nặng lúc sinh thấp, suy dinh dưỡng, gia đình đông con, trình độ học vấn của bố mẹ thấp,

Trang 12

không khí trong nhà ô nhiễm, thiếu sữa mẹ, không được tiêm chủng vacxin đầy đủ, có bệnh mạn tính kết hợp [5], [13], [24], [34], [57]…

Trung tâm Nhi khoa Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên hằng năm tiếp nhận và điều trị khoảng 400 bệnh nhân viêm phổi, trong đó chủ yếu là trẻ dưới

3 tuổi Nhiều trường hợp viêm phổi nặng diễn biến phức tạp, điều trị lâu khỏi Vậy đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở nhóm trẻ nhỏ này có gì đáng chú ý? Yếu tố nào liên quan đến mức độ nặng của bệnh? Để trả lời câu hỏi trên chúng

tôi tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu

tố liên quan đến mức độ nặng của viêm phổi ở trẻ từ 2 - 36 tháng tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên” với 2 mục tiêu sau:

1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của viêm phổi ở trẻ từ 2 - 36 tháng tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của viêm phổi ở trẻ từ 2 - 36 tháng tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Đặc điểm giải phẫu và sinh lý bộ máy hô hấp trẻ em

1.1.1 Đặc điểm giải phẫu

Bộ máy hô hấp được hình thành từ tuần thứ 3 - 4 trong thời kỳ bào thai Sau khi trẻ ra đời bộ máy hô hấp vẫn chưa hoàn thành mà còn tiếp tục phát triển và hoàn thiện [17]

Ở trẻ nhỏ, mũi và khoang hầu tương đối nhỏ, lỗ mũi và ống mũi hẹp, niêm mạc mũi mỏng, mịn, giàu mạch máu dễ xung huyết do đó dễ bị tắc Thanh, khí, phế quản có đường kính tương đối hẹp, tổ chức đàn hồi kém phát triển, vòng sụn mềm dễ biến dạng, tắc nghẽn khi viêm, khi gắng sức Trẻ càng nhỏ, lòng phế quản càng hẹp, càng dễ co thắt và biến dạng

Phế nang xuất hiện vào khoảng tuần 30 của thời kỳ bào thai, có mặt ở toàn bộ phổi vào tuần thứ 36 Số lượng phế nang ở trẻ sơ sinh vào khoảng 20.106 – 30.106 và tăng nhanh gấp khoảng 10 lần khi trẻ 8 tuổi Thể tích của phổi cũng phát triển rất nhanh, khoảng 65 – 67 ml ở trẻ sơ sinh và tăng lên gấp 10 lần khi trẻ được 10 tuổi Phổi của trẻ ít tổ chức đàn hồi, đặc biệt xung quanh các phế nang và thành mao mạch Các cơ quan ở lồng ngực chưa phát triển đầy đủ nên lồng ngực di động kém dẫn đến trẻ dễ bị xẹp phổi, khí phế thũng, giãn các phế nang khi bị viêm phổi Trung tâm hô hấp trẻ nhỏ cũng chưa hoàn thiện nên chưa điều hòa tốt nhịp thở và dễ bị ức chế do nhiều nguyên nhân khác nhau hơn ở trẻ lớn và người lớn [1]

1.1.2 Cơ chế tự bảo vệ của đường hô hấp

Mỗi ngày cơ thể trao đổi một thể tích khí từ 6000 đến 8000 lít Khí thở bình thường dù có trong lành cũng chứa rất nhiều vi vật thể nhỏ, trong đó có các

vi sinh vật gây bệnh Trước nguy cơ xâm nhập của tác nhân có hại hoặc gây bệnh, bộ máy hô hấp có hệ thống cấu trúc giải phẫu và sinh lý thích hợp để tự

Trang 14

bảo vệ mình

* Màng lọc không khí: Dọc đường thở từ cửa mũi đến phế nang, có một

hệ thống rào cản, lọc không khí Tại mũi các lông mọc theo các hướng đan xen nhau Lớp niêm mạc ở mũi họng giàu mạch máu với sự tiết chất nhầy liên tục Tại thanh quản có sự vận động nhịp nhàng đóng, mở của nắp thanh môn theo chu kỳ thở

* Phản xạ ho: Phản xạ ho rất quan trọng giúp cơ thể tống đẩy được dị

vật và các chất viêm nhầy xuất tiết ra khỏi đường thở

* Hàng rào niêm mạc và hệ thống nhung mao: Khoảng 80% tế bào lát

hệ thống phế quản lớn là tế bào biểu mô hình trụ có nhung mao giả tầng Mỗi

tế bào có khoảng 250 – 275 lông rung, sự vận động của các lông rung này theo kiểu làn sóng với tần số 1000 lần/ phút theo hướng về phía hầu họng Tất

cả các vật thể lạ cùng chất nhầy bị tống ra ngoài với vận tốc 10 nm/phút Hàng rào niêm mạc đã ngăn chặn phần lớn vi vật thể có kích thước trên 5μm không lọt vào phế nang

* Hệ thống thực bào: Bao gồm lớp tế bào biểu mô nằm trên mặt màng

đáy phế nang, tế bào diệt tự nhiên có tác dụng bắt, bất hoạt hoặc tiêu diệt các

vi sinh vật, các kháng nguyên lạ xâm nhập vào cơ thể

* Hàng rào miễn dịch (Tế bào và dịch thể): Lympho T sau khi nhận

diện kháng nguyên sẽ hoạt hóa và biệt hóa lympho B thành tương bào để sản xuất kháng thể đặc hiệu Sản phẩm kháng thể được chuyển tới mô kẽ, lòng

phế nang làm bất hoạt kháng nguyên

* Các dịch tiết của hệ hô hấp (Surfactant, lysozyme…): Cũng đóng vai

trò rất quan trọng trong chống nhiễm khuẩn để bảo vệ hệ hô hấp [27]

Hệ hô hấp có rất nhiều cơ chế bảo vệ khác nhau nhưng chúng quan hệ rất mật thiết và hoạt động hỗ trợ nhau để đạt được hiệu quả quan trọng nhất là chức năng tự bảo vệ

Trang 15

1.1.3 Khả năng miễn dịch của trẻ

Sau đẻ trẻ được bảo vệ chủ yếu bằng lượng IgA của mẹ truyền qua rau thai và sữa mẹ Thời kỳ dưới 1 tuổi, nồng độ γ globulin máu do cơ thể trẻ tạo

ra rất thấp Ở trẻ em, tổng hợp globulin miễn dịch IgA chậm hơn nhiều so với các globulin miễn dịch khác Nồng độ IgA rất thấp cả trong huyết thanh lẫn trong dịch tiết ở phổi

Các tế bào miễn dịch nằm rải rác ở các nơi trong phổi Khả năng huy động

và phối hợp còn chậm chạp, quá trình đề kháng nhiễm trùng của trẻ còn yếu

Sự chưa hoàn thiện của hệ thống phòng vệ trên là điều kiện thuận lợi để trẻ dễ bị nhiễm khuẩn hô hấp

Do những đặc điểm giải phẫu, sinh lý bộ phận hô hấp của trẻ em như

đã mô tả ở trên nên trẻ em, nhất là trẻ nhỏ dễ mắc bệnh đường hô hấp đặc biệt

là viêm phổi và khi bị bệnh trẻ thường bị nặng

1.2 Định nghĩa và phân loại viêm phổi ở trẻ em dưới 5 tuổi

1.2.1 Định nghĩa

Viêm phổi (VP) là hiện tượng viêm trong nhu mô phổi bao gồm viêm phế nang, túi phế nang, ống phế nang, tổ chức liên kết khe kẽ và viêm tiểu phế quản tận cùng hoặc viêm tổ chức kẽ của phổi Tác nhân gây VP có thể là

vi khuẩn, virus, ký sinh trùng hoặc các nguyên nhân khác [2]

1.2.2 Phân loại

Theo hình thái tổn thương: viêm phế quản phổi và viêm phổi thùy

Viêm phế quản phổi: Dùng để chỉ tình trạng viêm các phế quản nhỏ, phế nang và các tổ chức xung quanh phế nang rải rác 2 phổi, làm rối loạn trao đổi khí, tắc nghẽn đường thở dễ gây suy hô hấp (SHH) và tử vong [31]

Viêm phổi thùy: Là tình trạng tổn thương nhu mô phổi thường chiếm một thùy phổi X-quang thường có hình ảnh đông đặc khu trú trong một thùy phổi

Theo hoàn cảnh mắc bệnh VP: được chia thành 4 loại:

VP mắc phải tại cộng đồng (community-acquired pneumonia, CAP)

Trang 16

VP mắc phải tại bệnh viện (hospital-acquired pneumonia, HAP)

VP liên quan đến thở máy (ventilator-associated pneumonia, VAP)

VP liên quan đến chăm sóc y tế (health care-associated pneumonia, HCAP) [48]

Viêm phổi cộng đồng hay còn gọi là VP mắc phải tại cộng đồng là nhiễm khuẩn cấp tính (dưới 14 ngày) gây tổn thương nhu mô phổi, kèm theo các dấu hiệu ho, khó thở, nhịp thở nhanh và rút lõm lồng ngực, đau ngực Các triệu chứng này thay đổi theo tuổi [2]

Viêm phổi mắc phải tại bệnh viện được định nghĩa là VP xảy ra 48 giờ hoặc hơn sau khi nhập viện, mà không được ủ bệnh tại thời điểm nhập viện [48]

Theo căn nguyên gây bệnh: VP được chia thành VP do vi khuẩn, VP

do virus

Viêm phổi do vi khuẩn: Thường gặp ở trẻ lớn nhiều hơn VP do virus, lâm sàng có sốt cao, X-quang có hình ảnh đông đặc nhu mô phổi Vi khuẩn thường gặp là phế cầu, Haemophilus influenza, tụ cầu…[31]

Viêm phổi do virus: Là VP gây lên bởi nhiễm virus tại đường hô hấp dưới Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ dưới 1 tuổi, lâm sàng không sốt cao, X-quang có thể

có hình ảnh đông đặc nhu mô phổi, hình lưới, nốt (tổn thương mô kẽ), tổn thương

có tính lan tỏa chính vì vậy VP do virus còn được gọi là VP kẽ Thuật ngữ VP kẽ còn để chỉ trường hợp mạn tính không do nhiễm khuẩn như VP kẽ vô căn [7]

Theo mức độ nặng của bệnh: theo WHO 2014 [65]

Trang 17

- Ngoài ra có thể nghe ran phổi: ran ẩm nhỏ hạt, ran nổ, ran phế quản, giảm thông khí khu trú

 Viêm phổi nặng (VPN): Trẻ có dấu hiệu của VP kèm theo ít nhất một trong các dấu hiệu sau:

- Dấu hiệu nguy hiểm toàn thân

+ Không thể bú hoặc uống

tử vong trong giai đoạn 1-59 tháng là 12,8%, giai đoạn sơ sinh là 2,7% [53]

Tử vong do VP chiếm 19% trong tổng số trẻ tử vong dưới 5 tuổi ở các nước phát triển Tuy nhiên ở các nước vùng cận Sahara và Đông Nam Á, VP chiếm đến 70% các trường hợp tử vong Tỷ lệ mắc trong nhóm tuổi này được ước tính là 0,29 đợt mắc/trẻ mỗi năm ở các nước đang phát triển và 0,05 đợt/trẻ mỗi năm ở các nước phát triển Điều này ước tính 156 triệu đợt mới mỗi năm trên toàn thế giới, trong đó 151 triệu đợt ở các nước đang phát triển Hầu hết các trường hợp xảy ra ở Ấn Độ (43 triệu), Trung Quốc (21 triệu) và Pakistan (10 triệu), tương đối cao ở Bangladesh, Indonesia và Nigeria (6 triệu người) Trong tất cả các trường hợp viêm phổi cộng đồng trẻ

em, có 7–13% là VPN đe dọa tính mạng và phải nhập viện [59]

Trang 18

Hình 1.1: Tỷ lệ mắc bệnh VP lâm sàng ở trẻ em ở cấp quốc gia [59] Bảng 1.1: Ước tính tỷ lệ mắc và số ca mắc mới mỗi năm VP ở trẻ dưới 5

tuổi theo khu vực của WHO [59]

Khu vực của WHO

Tổng số trẻ

từ 0-4 tuổi (triệu)

Tỷ lệ dự kiến

Ước tính trường hợp mắc mới mỗi năm (triệu)

Phía tây Thái Bình Dương 133,05 0,22 29,07

Các nước đang phát triển 523,31 0,29 151,76

Trang 19

chiếm gần 800.000 ca tử vong ở trẻ em ≤ 19 tuổi năm 2015 (31,1/100.000 dân), chỉ đứng sau biến chứng sinh non/ sơ sinh [67]

1.3.2 Việt Nam

Việt Nam đứng thứ 9 trong 15 quốc gia có tỷ lệ mắc mới VP trẻ em cao nhất trên thế giới

Bảng 1.2: 15 Quốc gia có số ca mắc VP cao nhất [59]

Tổ chức Y tế Thế giới thống kê năm 2008 Việt Nam vào nhóm 15 quốc gia có gánh nặng bệnh tật VP cao nhất, với ước tính 2,9 triệu trường hợp và 0,35 đợt VP/ trẻ dưới 5 tuổi/ năm [59] Mặc dù đạt được nhiều tiến triển tốt trong thời gian gần đây, gánh nặng bệnh tật viêm phổi Việt Nam vẫn cao gần gấp 10 lần các nước phát triển như Úc, Nhật Năm 2015, WHO ước tính nhiễm trùng hô hấp cấp tính chiếm 11% tử vong dưới 5 tuổi tại Việt Nam,

Trang 20

trong khi đó tử vong do suy giảm miễn dịch mắc phải (HIV) và sốt rét cộng lại chiếm ít hơn 2% [66]

Theo số liệu báo cáo năm 2004 của UNICEF và WHO thì nước ta có khoảng 7,9 triệu trẻ < 5 tuổi và với tỷ lệ tử vong chung là 2,3% thì mỗi năm

có khoảng 38000 trẻ tử vong trong đó VP chiếm 12% trường hợp Như vậy mỗi năm có khoảng 4500 trẻ < 5 tuổi tử vong do VP [2]

Theo thống kê của các cơ sở y tế VP là nguyên nhân hàng đầu mà trẻ

em đến khám và điều trị tại các bệnh viện và cũng là nguyên nhân tử vong hàng đầu trong số tử vong ở trẻ em

Tại viện Nhi Trung ương theo Đào Minh Tuấn 2010 thống kê tỷ lệ bệnh nhi viêm phổi chiếm đa số các bệnh nhân tại khoa hô hấp với 50,59% [35]

Tại Thái Nguyên, năm 2012 tỷ lệ bệnh nhi nhập viện vì VP tại Trung tâm Nhi khoa Bệnh viên Trung ương Thái Nguyên trong nhóm nhiễm khuẩn hô hấp (NKHH) cấp tính là 15,99% [10] Năm 2016 Bệnh viện A Thái Nguyên số bệnh nhi mắc VP là 1.100 trẻ, chiếm hơn 21,4% tổng số trẻ điều trị nội trú [32]

1.4 Nguyên nhân viêm phổi trẻ em

Tần suất của tác nhân gây bệnh thay đổi tùy thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi, mùa, vị trí địa lý, tiêm chủng vacxin, điều kiện kinh tế xã hội, bệnh

lý nền (HIV, suy dinh dưỡng…) Việc xác định tác nhân gây bệnh thường khó

vì độ nhạy thấp, độ đặc hiệu không cao của các xét nghiệm chẩn đoán vi sinh học Thêm vào đó, việc lấy mẫu bệnh phẩm cũng gặp nhiều trở ngại do trẻ nhỏ không thể khạc đờm hiệu quả và mẫu đờm thường tạp nhiễm các vi trùng cộng sinh của đường hô hấp trên [49]

Viêm phổi có thể do nhiều tác nhân khác nhau gây nên, có sự khác biệt đáng kể về tác nhân gây viêm phổi liên quan đến tuổi ở trẻ em Sơ sinh từ lúc sinh đến 20 ngày tuổi, hầu hết viêm phổi do liên cầu nhóm B và vi khuẩn gram

âm đường ruột Virus là tác nhân thường gặp nhất gây viêm phổi ở trẻ nhỏ Chlamydia pneumoniae và Mycoplama pneumoniae thường gây viêm phổi ở trẻ

Trang 21

tuổi học đường và trẻ vị thành niên Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu cho thấy tác nhân này cũng gây viêm phổi ở trẻ nhỏ Tụ cầu vàng trước đây là tác nhân thường gặp gây viêm phổi ở trẻ dưới 1 tuổi, nhưng hiện tỷ lệ mắc do tác nhân này đã giảm nhiều

Trong một nghiên cứu trên 196 trẻ từ 2 – 5 tuổi bị viêm phổi ở Ý năm

2002, Esposito S và cộng sự ghi nhận 24,5% trường hợp do Streptococcus pneumoniae, 23,5% trường hợp do tác nhân không điển hình (Mycoplasma pneumoniae và Chlamydia pneumoniae), và 8,2% do các tác nhân phối hợp Các tác nhân virus không được xét đến trong nghiên cứu này [43]

Theo nghiên cứu của Zhang Q và cộng sự năm 2013 ở miền Nam Trung Quốc 10 836 trẻ em nhập viện vì viêm phổi thì viêm phổi nguyên nhân

do virus được phát hiện ở 38%, đứng hàng đầu là virus hợp bào hô hấp 24% Viêm phổi do vi khuẩn là 23%, trong đó Streptococcus pneumoniae 7%, Haemophilus influenza b (Hib) 4%, Mycoplasma 11% [71]

Có thể rối loạn tiêu hóa: nôn trớ, tiêu chảy

Các dấu hiệu thực thể ở phổi chưa rõ [8], [31]

 Toàn phát

Sốt: Là phản ứng của cơ thể trước tác nhân gây bệnh do nhiễm khuẩn Trẻ càng khoẻ, sự phản ứng của cơ thể càng mạnh, sốt càng cao Ngược lại trên những trẻ bị suy dinh dưỡng (SDD), trẻ sơ sinh đặc biệt là trẻ đẻ non phản ứng này rất kém nên sốt thường không cao, thậm chí còn có biểu hiện hạ thân nhiệt

Trang 22

Tình trạng hạ thân nhiệt: Ở trẻ em, nhất là ở trẻ nhỏ do đặc điểm sinh lý

hệ thần kinh trẻ em, trung tâm điều nhiệt chưa hoàn chỉnh, khi trẻ bị SDD, trẻ

bị suy giảm miễn dịch, hoặc khi trẻ bị nhiễm trùng nhiễm độc quá nặng… Tất

cả những biến cố đó đều có thể dẫn đến nguy cơ hạ thân nhiệt, đe doạ tính mạng trẻ Nghiên cứu của Đào Minh Tuấn và cộng sự (CS) tỷ lệ có hạ thân nhiệt ở nhóm trẻ VP rất nặng bị tử vong là 11,2%, còn ở nhóm trẻ VP không

bị tử vong là 0,87% [34]

Ho là dấu hiệu rất thường gặp trong các bệnh lý về hô hấp Trẻ thường

ho khan hoặc ho có đờm Dấu hiệu này xuất hiện sớm nhưng không đặc hiệu cho một bệnh NKHH riêng nào Trong các nghiên cứu triệu chứng ho thường

là triệu chứng lâm sàng chiếm tỷ lệ cao nhất như: 96,1% trẻ có ho theo nghiên cứu đặc điểm NKHH cấp tính của Thành Minh Hùng tại Kon Tum [11] Theo Nguyễn Thành Nhôm thấy ho là triệu chứng lâm sàng phổ biến nhất với tỷ lệ 97,7% [24]

Khò khè: Là triệu chứng ít có giá trị trong chẩn đoán VP Người ta thấy dấu hiệu này trong VP không điển hình là trên 50% [9] Khò khè có tỷ lệ cao hơn ở trẻ bị viêm tiểu phế quản như trong nghiên cứu của Bùi Bình Bảo Sơn

và CS là > 78% [28] Nếu khò khè xuất hiện ở trẻ nghi mắc hen nhưng không đáp ứng với thuốc điều trị hen thì cần nghĩ đến VP không điển hình và viêm tiểu phế quản bội nhiễm

Thở nhanh: Nhịp thở là thông số thay đổi sớm nhất khi có tổn thương tại phổi Khi phổi bị viêm sẽ nhanh chóng giảm thể tích trao đổi khí do tổn thương viêm, chất xuất tiết, đờm dãi gây bít tắc lòng phế quản có thể gây xẹp phổi do

đó gây tình trạng thiếu O2 và tăng CO2 Để khắc phục tình trạng này trẻ phải tăng tần số thở Theo WHO thở nhanh là một triệu chứng quan trọng để định hướng chẩn đoán VP [64] Palafox và CS khi dùng tiêu chuẩn thở nhanh của WHO để chẩn đoán viêm phổi trẻ em có độ nhạy 74% và độ đặc hiệu 67% Tuy nhiên ở giai đoạn sớm của bệnh độ nhạy và độ đặc hiệu thấp hơn [54]

Trang 23

Nghe phổi: Thường có ran ẩm, ran nổ hoặc giảm rì rào phế nang, có thể

có ran ngáy, ran rít kèm theo Tiếng ran ở phổi là triệu chứng quan trọng để chẩn đoán VP Trong các nghiên cứu tỷ lệ ran ẩm/nổ có tỷ lệ cao 89,2% có khi 100% ở VPN, ran ngáy/rít khoảng 30% [39], [24]

Rút lõm lồng ngực (RLLN): Là biểu hiện của suy hô hấp nhưng còn khả năng bù trừ Nó chứng tỏ tình trạng thiếu O2 và tăng CO2 ở trẻ VP Dấu hiệu RLLN là do sự chênh lệch áp suất bên trong và bên ngoài thành ngực Sự chênh lệch này càng tăng thì RLLN càng nặng Trong nghiên cứu của Huỳnh Văn Tường triệu chứng RLLN có ở 100% các trẻ CAP nặng [39] Ở viêm phổi nói chung tỷ lệ này 37,2% [22]

Tím tái: Là dấu hiệu thiếu O2 máu trầm trọng Đây chính là triệu chứng

để đánh giá tình trạng SHH nặng trên lâm sàng Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Phương Thanh tại Thái Nguyên có tỷ lệ trẻ VP có triệu chứng tím tái là 23,1% [30] Ở trẻ em đặc biệt là trẻ nhỏ dưới 1 tuổi độ bão hòa O2 trong máu cao nên khi giảm O2 máu ở mức độ vừa phải thì trên lâm sàng vẫn chưa có biểu hiện tím tái và khi có biểu hiện thiếu máu thì triệu chứng tím tái cũng không rõ ràng Như vậy khi có biểu hiện tím tái chứng tỏ là khi bệnh đã nặng Nhiều khi xem triệu chứng tím tái để chỉ định can thiệp oxy liệu pháp là muộn vì trẻ nhỏ có khả năng thích nghi với tình trạng thiếu O2 hơn trẻ lớn

Rối loạn nhịp thở: Khi có tình trạng giảm O2 và tăng CO2 máu lúc đầu kích thích trẻ thở nhanh nhưng khi tình trạng nặng thêm, cơ thể mất bù kèm theo tình trạng kiệt sức làm cho nhịp thở chậm hơn bình thường Trường hợp VPN, trung tâm hô hấp bị ức chế gây rối loạn nhịp thở và xuất hiện cơn ngừng thở Theo Đào Minh Tuấn và CS thấy cơn ngừng thở cùng với hạ thân nhiệt, chướng bụng là 3 triệu chứng có giá trị tiên lượng tử vong ở bệnh nhân VPN [34]

Thở rên: Do đặc điểm sinh lý hệ thần kinh và hệ hô hấp trẻ em và nhu cầu chuyển hoá của chúng nên khi trẻ nhỏ bị VP, dẫn đến tình trạng thiếu O2,

Trang 24

tăng CO2 trong máu đã kích thích trẻ thở nhanh để bù lại Nhưng khi tình trạng nặng, cơ thể mất bù, trẻ kiệt sức nên nhịp thở chậm hơn cả mức bình thường Những trường hợp trẻ quá nặng, ức chế trung tâm hô hấp gây rối loạn nhịp thở như cơn ngừng thở kéo dài nhất là ở trẻ nhỏ, hoặc thở rên Bình thường dây thanh âm mở ra khi thở vào và đóng lại khi thở ra để duy trì dung tích cặn chức năng giúp cho phổi không xẹp hoàn toàn, chức năng này ở trẻ nhỏ còn hạn chế Vì vậy, khi bị VP, thông khí thường giảm, đường thở bị tắc nghẽn do dịch xuất tiết, phế nang bị tổn thương, xẹp từng vùng, trao đổi khí kém, cộng thêm phổi giãn nở kém, nên dung tích cặn chức năng giảm Trẻ phải gắng hết sức để duy trì dung tích cặn chức năng cuối thì thở ra bằng cách khép dây thanh âm trong thời kỳ thở ra để giữ lại khí trong phổi làm cho khí nhanh chóng lùa vào phổi ở cuối thì thở ra tạo ra tiếng động, đó chính là nguyên nhân của tiếng thở rên trên lâm sàng Khi nghe thấy tiếng thở rên ở trẻ

VP, điều đó chứng tỏ bệnh nhân đã có SHH, đây là một triệu chứng có giá trị

để tiên lượng bệnh [5]

Các triệu chứng khác:

Bú kém hoặc bỏ bú ở trẻ nhỏ, không uống được ở trẻ lớn, cũng là dấu hiệu quan trọng để đánh giá tình trạng nặng của VP mặc dù nó không phải là triệu chứng của VP WHO cũng dùng dấu hiệu này làm một trong những tiêu chuẩn để chẩn đoán VPN ở trẻ em Tỷ lệ trẻ VPN có triệu chứng bú kém, bỏ

bú theo nghiên cứu (NC) của Huỳnh Văn Tường là 49,1% [39] Triệu chứng

bỏ bú hoàn toàn có giá trị tiên lượng nặng với tỷ lệ 91,38% ở nhóm VPN và rất nặng so với 10,43% ở nhóm VP không có SHH theo Đào Minh Tuấn [34]

Yếu tố thần kinh: Ta biết rằng não là cơ quan thứ 2 có mức tiêu thụ oxy sau tim do vậy khi thiếu oxy não cùng với tim là những cơ quan bị đe doạ trước tiên và trạng thái kích thích chính là phản ứng sớm nhất của não đối với tình trạng thiếu oxy Do đặc điểm sinh lý hệ thần kinh trẻ em, trẻ càng nhỏ sự hoàn chỉnh các chức năng càng kém, sự phản ứng với các tác nhân tỏ ra rất

Trang 25

nhạy cảm, luôn có sự phản ứng lan toả, phản ứng toàn thân Ở trẻ VP khi có SHH tình trạng thiếu oxy làm trẻ kích thích vật vã, hốt hoảng nếu không được xử lý kịp thời sẽ dẫn đến tình trạng li bì, đáp ứng kém, nếu vẫn không được can thiệp tích cực trẻ đi vào tình trạng ngày càng nguy kịch, lúc này tỷ lệ tử vong sẽ rất cao Các triệu chứng này không đặc hiệu của VP nhưng là dấu hiệu của tình trạng nặng có giá trị tiên lượng bệnh Trong nghiên cứu của Huỳnh Văn Tường tỷ lệ viêm phôi nặng có triệu chứng li bì khó đánh thức là 19,3% [39] Triệu chứng co giật có thể

do sốt cao như trong nghiên cứu của Phạm Thu Hiền đã nghi nhận 7,75% trẻ có

co giật do sốt cao ở bệnh nhân VP do M pneumonia [9]

1.5.2 Dấu hiệu cận lâm sàng

X-quang ngực

Là một kỹ thuật có giá trị trong chẩn đoán VP ở các nước đang phát triển, đặc biệt là VPN Theo WHO không thể loại trừ viêm phổi khi hình ảnh X-quang phổi bình thường vì các triệu chứng trên lâm sàng (như sốt, ho, khó thở…) thường xuất hiện trước khi có tổn thương trên phim Hình ảnh tổn thương trên phim thường là các nốt, đám, bóng mờ tập trung hay lan tỏa Hình ảnh thâm nhiễm, khí phế thũng, xẹp phổi cũng có thể gặp [8], [31]

Tuy nhiên tỷ lệ bệnh nhi VP có tổn thương trên phim X-quang không cao như trong NC của Nguyễn Thành Nhôm tần suất trung bình 45,4% [24]

Công thức máu

Số lượng bạch cầu (BC) tăng, tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính (Ne) thường tăng [31] Khi BC, Ne tăng là dấu hiệu gợi ý nguyên nhân do vi khuẩn, tuy vậy BC không tăng cũng không loại trừ nguyên nhân do vi khuẩn [2] Có khi BC giảm là một triệu chứng có giá trị tiên lượng nặng [34]

Chỉ số Hemoglobin (Hb) cần được quan tâm vì ở 1 trẻ có thêm biểu hiện thiếu máu dẫn đến tình trạng SHH nặng hơn vì hồng cầu có chức năng vận chuyển O2 và CO2 Có nghiên cứu chỉ ra rằng thiếu máu là yếu tố tiên lượng nặng ở trẻ VP [34] Tình trạng thiếu máu được ghi nhận là 76,8% theo

Trang 26

Phạm Thu Hiền [9] Hơn nữa khi Hb thấp sẽ ảnh hưởng đến đánh giá tình trạng tím tái trên lâm sàng

CRP (C reactive protein): Từ năm 1930 đến nay vẫn được sử dụng như

một xét nghiệm chẩn đoán nhanh quá trình viêm nhiễm CRP được tổng hợp qua trung gian các cytokine, tăng cao trong trường hợp VPN do vi khuẩn CRP có ưu điểm hơn các phản ứng pha cấp khác, vốn thường bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố và trở về bình thường chậm hơn dù đã hết phản ứng viêm Hs–CRP là một xét nghiệm mới có thể đo CRP ở nồng độ rất thấp trong máu Theo nghiên cứu của Trần Thị Thanh Nhàn và CS thấy rằng nồng độ Hs–CRP huyết thanh tương quan thuận với nhiệt độ và số lượng BC, tỷ lệ BC đa nhân trung tính của máu ngoại vi ở các bệnh nhi VP [23] Trên thực tế nó góp phần định hướng khi quyết định sử dụng kháng sinh hay không

Ngoài ra có thể tiến hành thêm một số xét nghiệm khác như đường máu, điện giải đồ, protein máu nếu trẻ bị VP có bệnh lý khác kèm theo (tiêu chảy, SDD…)

Xét nghiệm vi khuẩn hoặc virus: trong dịch tỵ hầu; dịch nội khí quản;

máu để tìm nguyên nhân gây bệnh

- Rút lõm lồng ngực, co kéo cơ hô hấp

- Suy hô hấp: khó thở, tím tái, phập phồng cánh mũi, thở rên, rối loạn nhịp thở, ngừng thở…

- Nghe phổi: ran ẩm nhỏ hạt, ran nổ, có thể kèm ran rít, ran ngáy…

- X-quang tim phổi: hình ảnh nốt mờ to nhỏ không đều, rải rác 2 phổi, tập trung vùng rốn phổi cạnh tim 2 bên, có thể tập trung ở 1 thùy hoặc 1 phân

Trang 27

thùy phổi Có thể có hình ảnh biến chứng như ứ khí phổi, xẹp phổi, tràn dịch màng phổi

1.6.2 Chẩn đoán mức độ suy hô hấp: Là biến chứng sớm và nặng nề nhất

của VP và đây là tiêu chuẩn có giá trị để chẩn đoán VPN

Định nghĩa: Suy hô hấp cấp là tình trạng hệ thống hô hấp đột ngột không đảm bảo được chức năng trao đổi khí (bao gồm chức năng cung cấp O2

và thải trừ khí CO2) gây ra giảm O2 máu, kèm theo hoặc không tình trạng tăng

+ SHH độ 3: khó thở và tím tái liên tục kèm theo những cơn ngừng thở

1.6.3 Chẩn đoán nguyên nhân: Dựa vào xét nghiệm cấy vi khuẩn, phân lập,

PCR virus từ các bệnh phẩm như dịch tỵ hầu, dịch khí phế quản, máu…

1.6.4 Chẩn đoán biến chứng viêm phổi trẻ em

Trong các trường hợp VPN trẻ có thể có nhiều biến chứng, làm cho tình trạng SHH ngày càng nặng và dễ tử vong Những biến chứng thường gặp:

Suy tim: Là biến chứng thường gặp ở trẻ nhỏ, nhất là trẻ có kèm bệnh

lý tim bẩm sinh Suy tim do tăng áp lực động mạch phổi hơn là do nhiễm độc nhiễm khuẩn Trẻ nhỏ bị VP có tình trạng giảm O2 máu do sự đông đặc nhu

mô phổi và sự tắc nghẽn các nhánh phế quản Hơn nữa tình trạng tăng áp lực động mạch phổi làm tăng sức cản mao mạch phổi dẫn đến giảm tốc độ tuần hoàn Điều này làm cho tim phải làm việc nhiều nhất là trong hoàn cảnh thiếu

Trang 28

O2, tình trạng suy tim xuất hiện và vòng xoắn bệnh lý làm tình trạng SHH nặng thêm

trạng thiếu O2 tổ chức càng trầm trọng

Xẹp phổi: Đặc biệt cần chú ý ở trẻ nhỏ, trẻ sơ sinh vì đường thở của trẻ

này rất nhỏ dễ bị bít tắc do phù nề niêm mạc phế quản, và xuất tiết dịch trong lòng phế quản

Ứ khí phổi: Ứ khí phế nang làm cản trở nghiêm trọng quá trình trao đổi

Theo nghiên cứu của Geberetsadik và cộng sự cho thấy giảm 50% tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ từ 48 – 59 tháng tuổi so với trẻ dưới 6 tháng tuổi [46] Nghiên cứu của Phan Xuân Mai (2001), Nguyễn Thành Nhôm (2015) cho thấy trẻ dưới 12 tháng nguy cơ mắc viêm phổi nặng cao [20],[24]

1.7.2 Giới

Có nhiều nghiên cứu đưa ra những kết quả khác nhau về sự phân bố giới tính trong viêm phổi Theo Phan Xuân Mai (2001), trong nhóm viêm

Trang 29

phổi nặng trẻ trai chiếm tỷ lệ cao hơn trẻ gái, tuy nhiên sự khác biệt không có

ý nghĩa thống kê [20] Nguyễn Thành Nhôm và cộng sự (2015) lại cho thấy tỷ

lệ nam mắc viêm phổi ít hơn nữ [24]

1.7.3 Địa dư

Nhiều nghiên cứu cho thấy viêm phổi nặng tập trung ở nông thôn nhiều hơn thành thị Trẻ sống ở vùng nông thôn, vùng núi do điều kiện kinh tế thu nhập bình quân thấp có tỷ lệ tử vong cao Tình trạng chăm sóc sức khoẻ vì thiếu thốn phương tiện cứu chữa nên tỷ lệ tử vong do VP rất cao Điều này có thể giải thích là do điều kiện kinh tế ở nông thôn thấp hơn thành thị, hệ thống

y tế ở nông thôn chưa phát triển, đội ngũ cán bộ y tế thiếu về số lượng lẫn chất lượng nên trẻ thường được đưa đi khám khi bệnh đã nặng buộc phải nhập viện Mặc khác, nhận thức và chất lượng đời sống cao nên người dân thành thị thường đưa trẻ đến các phòng mạch tư khám và chữa bệnh sớm ngay từ đầu Ngày nay hệ thống phòng mạch tư nhân ở thành phố phát triển, bên cạnh

đó nhiều loại thuốc kháng sinh có hiệu quả bằng đường uống ra đời nên các trường hợp VP nhẹ ở thành phố có thể được điều trị tại nhà mà không cần nhập viện Nghiên cứu của Phan Xuân Mai (2001) kết luận viêm phổi nặng tập trung chủ yếu ở nông thôn với OR = 2,32, p < 0,05 [20]

1.7.4 Trình độ học vấn và nghề nghiệp của mẹ

Trình độ học vấn và nghề nghiệp mẹ liên quan đến nguy cơ gia tăng tỷ

lệ nhập viện và tử vong do viêm phổi Nhóm trẻ có bà mẹ trình độ học vấn từ Trung học cơ sở trở xuống nguy cơ nhiễm khuẩn hô hấp cấp cao hơn 1,9 lần

so với nhóm trẻ có bà mẹ học vấn từ bậc Trung học phổ thông trở lên [38] Trình độ học vấn của bà mẹ luôn là yếu tố được xem xét trong các nghiên cứu

về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em tại cộng đồng Bà mẹ có trình độ học vấn thấp hoặc nghề nghiệp làm ruộng thì khả năng cũng như thời gian để tiếp nhận các thông tin y tế phổ cập qua các phương tiện truyền thông đại chúng (đài, sách, báo, ti vi ) rất hạn chế Càng khó khăn hơn khi tiếp nhận các

Trang 30

thông tin truyền thông giáo dục sức khỏe từ cán bộ y tế Trong gia đình, bà

mẹ luôn là người gắn bó, trực tiếp chăm sóc trẻ, nhất là trong giai đoạn 0 đến

5 tuổi Những hành vi chăm sóc sức khỏe của bà mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng sức khỏe của trẻ Bà mẹ có kiến thức, hiểu biết đúng về bệnh là một yếu tố khởi đầu quan trọng để bà mẹ có hành vi sức khỏe tốt

1.7.5 Hít khói thuốc lá

Theo Tổ chức Y tế Thế giới ước tính có khoảng 50% số trẻ em trên thế giới (xấp xỉ 700 triệu trẻ em) bị hít khói thuốc lá thụ động Hằng năm có khoảng 170 000 trẻ em trên thế giới chết do bệnh liên quan đến khói thuốc lá Tại Việt Nam năm 2002 theo báo cáo của Điều tra Y tế quốc gia có tới 71,7% trẻ em dưới 5 tuổi bị phơi nhiễm khói thuốc lá Nguồn gây ô nhiễm không khí lớn nhất trong nhà là do bố mẹ hút thuốc lá, thuốc lào Người ta đã phát hiện hơn 4000 hợp chất khí và giọt cặn tạo nên khói thuốc lá, trong đó có tới 30 chất gây tác hại xấu đến sức khoẻ Hai chất được biết đến rõ nhất là CO và Nicotin, là những chất gây hại lên hệ hô hấp, tim mạch Khói thuốc lá không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến người hút mà những người hít phải cũng chịu độc hại rất lớn, nhất là trẻ nhỏ bởi phổi của trẻ chưa phát triển hoàn thiện và sức

đề kháng chưa cao Trẻ em rất nhạy cảm với các chất kích thích và chất độc trong khói thuốc Những chất này có thể tồn tại rất lâu trong không khí sau khi đã ngừng hút thuốc Trẻ có bố mẹ hút thuốc sẽ bị giảm các chức năng của phổi và dễ gặp các vấn đề sức khỏe [13]

Nghiên cứu của Mai Anh Tuấn (2008) chỉ ra nhóm trẻ sống trong hộ gia đình có người lớn hút thuốc lá có nguy cơ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính cao hơn 1,39 lần so với trẻ sống trong nhà không có người hút thuốc [38]

1.7.6 Cân nặng lúc sinh thấp hoặc sơ sinh non tháng

Cân nặng khi sinh của trẻ là chỉ tiêu đánh giá triển vọng sống, sự tăng trưởng và phát triển của trẻ Trẻ nhẹ cân khi sinh có nguy cơ gặp các rủi ro nghiêm trọng về sức khỏe Cả nước có 94,3% trẻ được cân khi sinh, trong đó

Trang 31

5,7% có cân nặng dưới 2500 gram [21] Đây còn là một chỉ điểm có hiệu lực đánh giá trình trạng kinh tế xã hội phát triển của cộng đồng Những trẻ có cân nặng khi sinh dưới 2500 gram hoặc trẻ đẻ non trước 37 tuần sức đề kháng với bệnh tật kém hơn các trẻ cân nặng khi sinh bình thường Trẻ cân nặng lúc sinh thấp cơ hô hấp kém phát triển, bộ máy hô hấp chưa hoàn thiện làm trẻ dễ khó thở, năng lượng dự trữ hạn chế Quá trình phát triển của những trẻ này thường chậm và khả năng thích nghi với môi trường thấp Với trẻ cân nặng thấp, các kháng thể từ mẹ truyền sang giảm ngay trong thời gian sau đẻ, do đó khả năng miễn dịch kém, trẻ dễ mắc các bệnh truyền nhiễm trong đó có viêm phổi Theo nghiên cứu của Phan Xuân Mai (2001), trọng lượng lúc sinh dưới

2500 gram có liên quan rõ rệt đến viêm phổi nặng với p < 0,05; OR = 8,15 [20]

1.7.7 Tiền sử mổ lấy thai

Theo một số liệu thống kê cho thấy Việt Nam là một trong những nước

có tỷ lệ sinh mổ rất cao Tại các bệnh viện huyện có thực hiện kỹ thuật sinh

mổ, tỷ lệ này có khi đến 15 - 20% Một số bệnh viện tuyến trên như Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Phụ sản Trung ương thì tỷ lệ ca sinh mổ lên đến 40 - 50%

Theo GS.TS Nguyễn Công Khanh, việc lạm dụng sinh mổ gây ảnh hưởng tiêu cực lên trẻ nhỏ Vì việc đứa trẻ chào đời không bằng con đường sinh tự nhiên nên dạ dày và phổi có thể vẫn còn nước ối làm tăng nguy cơ suy

hô hấp, gây bệnh màng trong Trẻ rất dễ mắc các bệnh về đường hô hấp như khò khè, viêm phổi

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng trẻ em sinh mổ có nguy cơ phát triển khò khè và hen suyễn Đây có thể là kết quả của hệ thống miễn dịch bị thay đổi hoặc tăng tỷ lệ mắc bệnh hô hấp ở giai đoạn sơ sinh Nghiên cứu của Magnus M.C và cộng sự ghi nhận kết quả trẻ sinh mổ có thể tăng nguy cơ hen suyễn hiện tại ở 36 tháng với OR = 1,17 (khoảng tin cậy 95% CI: 1,03 - 1,32), nhưng không tăng nguy cơ thở khò khè hoặc tái phát nhiễm trùng đường hô hấp dưới [55]

Trang 32

1.7.8 Thiếu sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời

Bú sữa mẹ trong những năm đầu đời có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ trẻ khỏi các bệnh lây nhiễm, cung cấp nguồn dinh dưỡng lý tưởng, kinh tế và an toàn [21] Nuôi con bằng sữa mẹ mang lại cho trẻ em sự khởi đầu tốt nhất để bước vào cuộc sống Tổ chức Y tế Thế giới, Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc và các nhà khoa học, các bác sĩ trên toàn thế giới khuyến nghị nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu đời của trẻ

và tiếp tục cho trẻ bú mẹ đến hai tuổi hoặc lâu hơn Đây chính là lựa chọn tốt nhất cho mọi gia đình ở Việt Nam và cũng là sự lựa chọn tốt nhất cho đất nước chúng ta Sữa mẹ có đủ các chất dinh dưỡng cho trẻ, bao gồm đường, chất béo, đạm, nước với nồng độ cần thiết cho trẻ Cơ thể của trẻ tiêu hóa nguồn dinh dưỡng từ sữa mẹ tốt hơn sữa ngoài Sữa mẹ chứa tất cả các chất dinh dưỡng và kháng thể mà trẻ cần, bảo vệ trẻ khỏi sự nhiễm trùng hô hấp, tai và một số bệnh dị ứng như hen, chàm Sữa mẹ còn có vai trò giúp phát triển hệ miễn dịch tự nhiên của trẻ bằng cách tạo điều kiện cho các vi khuẩn

có lợi trong đường ruột phát triển, giúp diệt trừ các vi khuẩn có hại từ đó đẩy lùi nguy cơ nhiễm trùng và bệnh tật Việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn cho trẻ sơ sinh trong sáu tháng có thể làm giảm tỷ lệ NKHH cấp tính và VP lên đến 15 lần Việt Nam chỉ có 17% bà mẹ cho bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tỷ lệ thấp nhất ở Đông Nam Á [62]

Nghiên cứu của Phan Xuân Mai (2001) cho thấy thiếu sữa mẹ là yếu tố nguy cơ của viêm phổi nặng [20]

1.7.9 Tình trạng tiêm chủng

Tiêm chủng đã bảo vệ cuộc sống hàng triệu trẻ em trong suốt 4 thập kỷ

kể từ khi Chương trình tiêm chủng mở rộng được phát động từ năm 1974 [21] Trong 30 năm trở lại đây, vacxin đóng một vai trò quan trọng trong dự phòng viêm phổi Vacxin chống lại hai nguyên nhân vi khuẩn hàng đầu về các trường hợp tử vong viêm phổi trẻ em là Haemophilus influenzae nhóm B và

Trang 33

phế cầu Đây là một trong những biện pháp hiệu quả, ít tốn kém nhất của y học hiện đại Năm 2007, WHO khuyến cáo đưa Pneumococccal Conjugate Vacxin (PCV) vào chương trình tiêm chủng trẻ em, tuy nhiên việc áp dụng trên toàn cầu còn thấp Chương trình tiêm chủng mở rộng ở Việt Nam được bắt đầu từ năm 1981 với các vacxin bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, lao, sởi Đến năm 1997, thêm vacxin viêm gan B, và năm 2010 thêm vacxin Haemophilus influenzae nhóm B Cuối năm 2013, 86% trẻ em Việt Nam đã chủng ngừa đủ 3 mũi [66] Tại Khánh Hòa, nghiên cứu cho thấy VP khẳng định bằng X-quang giảm 39% sau khi áp dụng vacxin [44]

Ho gà là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính, có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi Bệnh xảy ra nhiều nhất ở các nước đang phát triển và có thể lan thành dịch

Sởi là bệnh nhiễm virus cấp Virus sởi xâm nhập chủ yếu qua đường hô hấp trên và hay gây thành dịch Nhờ có vacxin sởi tỷ lệ trẻ tử vong do bệnh sởi đã giảm đáng kể Năm 2013 ở nước ta ước tính 98% tất cả các trẻ nhận được ít nhất 1 liều vacxin sởi trước sinh nhật 2 tuổi Theo thống kê của WHO năm 2015 tỷ lệ trẻ em Việt Nam dưới 5 tuổi tử vong do sởi đã giảm từ 8% năm 2000 xuống 2% năm 2013 [66]

Chính vì những lý do trên, trẻ không được tiêm chủng đầy đủ có nguy

cơ cao bị viêm phổi nặng hoặc tử vong

1.7.10 Tiền sử nhiễm khuẩn hô hấp cấp

Những trẻ có tiền sử nhiễm khuẩn hô hấp cấp thường dễ tái phát và mức độ nặng cũng tăng lên Theo nghiên cứu của Teepe J và cộng sự (2010), trẻ có tiền sử nhiễm khuẩn hô hấp cấp càng nhiều lần nguy cơ mắc viêm phổi càng cao [61] Tuy nhiên, vẫn chưa biết đây có phải là yếu tố liên quan đến viêm phổi nặng không

1.7.11 Thời gian khởi bệnh trước nhập viện

Thời gian khởi bệnh trên 3 ngày có nguy cơ cao dẫn đến viêm phổi nặng bởi diễn tiến của viêm phổi rất nhanh Sự chậm trễ đưa trẻ tiếp cận các

Trang 34

dịch vụ y tế để có can thiệp kịp thời sẽ làm tăng mức độ nặng của bệnh thậm chí có thể tử vong

Theo nghiên cứu của Phan Xuân Mai, nếu khởi bệnh trên 3 ngày thì viêm phổi nặng chiếm tỷ lệ ưu thế so với nhóm viêm phổi, 78,69% so với 21,31% [20]

1.7.12 Sử dụng kháng sinh trước nhập viện

Việc sử dụng kháng sinh tại nhà khá phổ biến hiện nay Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ được điều trị kháng sinh sớm giảm nguy cơ mắc viêm phổi nặng [20], [57] Năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo điều trị viêm phổi không nặng bằng kháng sinh uống tại nhà được kê đơn bởi cán bộ y tế cơ

sở đã được đào tạo ở cấp độ cộng đồng

1.7.13 Tiền sử bệnh mạn tính hoặc bệnh nền phối hợp

Khi trẻ mắc các bệnh lý phối hợp, hệ miễn dịch trẻ kém hơn bình thường nên nhạy cảm với các tác nhân gây bệnh và khi đó chính các bệnh nền làm diễn biến bệnh nặng hơn

Bệnh tim bẩm sinh: Với trẻ mắc các dị tật bẩm sinh tại tim có tăng áp

ở động mạch phổi, cơ thể trẻ vốn luôn tồn tại tình trạng thiếu oxy Khi trẻ bị viêm phổi, tình trạng thiếu oxy vốn sẵn có làm tình trạng bệnh nặng lên Trẻ nhanh chóng đi vào tình trạng SHH, thiếu oxy nghiêm trọng, tim phải làm việc nhiều mà lại phải làm việc trong điều kiện cơ tim vốn đã phì đại để thích ứng với thiếu oxy, trẻ đi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, suy tim mất

bù nhanh chóng xuất hiện Bởi vậy khi trẻ VP kèm theo mắc các dị tật bẩm sinh tại tim tỷ lệ VP nặng hơn Theo Đào Minh Tuấn nghiên cứu về yếu tố tiên lượng VP trẻ em dưới 5 tuổi nhận thấy: nhóm VPN và rất nặng có tỷ lệ bệnh tim bẩm sinh, suy tim là 21,5% và 25,6% cao hơn hẳn so với nhóm VP

là 1,71% và 3,6% [34]

Tình trạng thiếu máu: Khi nồng độ huyết sắc tố dưới 110g/l có ảnh

hưởng làm xấu hơn tình trạng SHH Như chúng ta đã biết, chức năng chủ yếu

Trang 35

của hồng cầu là vận chuyển hemoglobin, rồi hemoglobin sẽ vận chuyển O2 từ phổi đến các mô Ngoài ra, hồng cầu còn chứa men cacbonic anhydraza giúp cho hồng cầu vận chuyển một lượng lớn CO2 từ các mô đến phổi dưới dạng HCO3

Vì vậy, khi cơ thể bị thiếu máu, nhất là trong tình trạng VP có SHH, chức năng vận chuyển oxy, khí cacbonic sẽ bị ảnh hưởng Điều đó góp phần làm cho tình trạng SHH ngày càng nặng thêm Trong nghiên cứu của Bùi Văn Chân tình trạng thiếu máu chiếm 63,79%, dấu hiệu này ở bệnh nhi VPN, rất nặng gấp 3,18 lần những trường hợp không có dấu hiệu này trên lâm sàng Sự khác biệt này rất có ý nghĩa, với p < 0,001 Bằng phân tích đơn biến, so sánh với các bệnh nhi tử vong, thiếu máu là một trong mười dấu hiệu có giá trị để tiên lượng tử vong, với OR=9,6; p=0,0006 [5]

Tình trạng suy dinh dưỡng: Khi trẻ bị SDD luôn dẫn đến giảm sự tổng

hợp các kháng thể Vì vậy khi trẻ suy dinh dưỡng mắc VP khả năng đề kháng của trẻ bị suy giảm Hơn nữa sự phản ứng của cơ thể cũng rất kém làm các triệu chứng lâm sàng dễ bị mờ đi, như phản ứng sốt khi bị nhiễm khuẩn kém, thậm chí còn hạ thân nhiệt Tình trạng đói và kiệt sức, bởi khi bị bệnh, trẻ bú kém, nếu tình trạng nặng có thể trẻ bỏ bú, vốn khả năng dự trữ ở trẻ này kém, nên tình trạng rối loạn chuyển hoá sẽ tăng lên Chính vì vậy, nhiều nghiên cứu, nhiều tác giả đã khẳng định: SDD là yếu tố nguy cơ hàng đầu làm tăng

nặng và nguy cơ tử vong trong VP trẻ em [12], [22], [57]

Nghiên cứu của Zhang Q và cộng sự chỉ ra rằng trẻ mắc các bệnh lý mạn tính hoặc có bệnh nền: dị tật bẩm sinh đường hô hấp; bệnh tim bẩm sinh; bệnh lý suy giảm miễn dịch; bại não; hen phế quản… có nguy cơ cao mắc viêm phổi nặng và tử vong cao [71]

Nguyễn Thành Nhôm và cộng sự (2015), Onyango và cộng sự (2012) nghiên cứu thấy có sự liên quan giữa bệnh nền kèm theo với mức độ nặng của viêm phổi [24], [57]

Trang 36

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng

Trẻ từ 2 tháng đến 36 tháng được chẩn đoán xác định viêm phổi điều trị tại Trung tâm Nhi khoa Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Bố, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ

2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn

Tuổi: từ 2 tháng đến 36 tháng

 Được chẩn đoán viêm phổi, viêm phổi nặng theo tiêu chuẩn WHO 2014

 Gia đình trẻ đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm phổi, viêm phổi nặng theo WHO 2014 [65]

- Dấu hiệu nguy hiểm toàn thân

+ Không thể bú hoặc uống

+ Nôn tất cả mọi thứ

+ Li bì hoặc khó đánh thức

+ Co giật

Trang 37

- Dấu hiệu SHH nặng

+ Tím trung tâm hoặc độ bão hòa oxy (SpO2) < 90%

+ Thở rên

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

Viêm phổi bệnh viện

Viêm phổi do sặc sữa, sặc bột

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm

Trung tâm Nhi khoa Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

2.2.2 Thời gian

Tháng 6/2018-6/2019

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả

Thay vào công thức: n= 1.962 = 148.03

Như vậy cỡ mẫu nghiên cứu lấy tối thiểu là 149

Thực tế nghiên cứu chúng tôi đã lấy được 174 bệnh nhân

Trang 38

2.5 Biến số và định nghĩa các biến số nghiên cứu

2.5.1 Đặc điểm chung của đối tượng

- Tuổi (theo tháng): Tính theo tháng theo quy ước của WHO, chia làm các nhóm tuổi sau :

+ Nhóm 1: Từ 2 tháng đến < 12 tháng (tròn 2 tháng đến 11 tháng 29 ngày) + Nhóm 2: Từ 12 tháng đến < 36 tháng (tròn 12 tháng đến 35 tháng 29 ngày)

- Giới: nam; nữ

- Địa dư: phân vùng nông thôn; thành thị

+ Thành thị: Khu vực thành thị bao gồm các phường nội thành, nội thị

+ Các nghề khác: cán bộ hành chính; tự do; công nhân…

2.5.2 Các biến số và định nghĩa biến số cho mục tiêu 1

- Cân nặng: đơn vị (kg), được cân khi vào viện, đo cân nặng bằng cân đồng hồ có vạch phân độ tương ứng 0,1 kg

- Thân nhiệt:

Dùng nhiệt kế thuỷ ngân có vạch phân độ tương ứng 0,10C

Trong nghiên cứu này chúng tôi đo nhiệt độ ở nách

Sốt được định nghĩa là khi thân nhiệt của bệnh nhân ≥ 37,5 độ C [3] Thân nhiệt bình thường: từ 36oC đến 37,4oC

Trang 39

Sốt nhẹ: từ 37,5 đến < 38oC

Sốt vừa: từ 38 đến <38,5oC

Sốt cao: từ 38,5oC trở lên

Hạ thân nhiệt: dưới 36oC

- Bỏ bú hoặc không uống được ở trẻ lớn (thông qua hỏi bệnh hoặc có sự chứng kiến của cán bộ y tế)

- Nôn tất cả mọi thứ: thông qua hỏi bệnh hoặc cán bộ y tế chứng kiến

- Các dấu hiệu về hô hấp:

+ Ho, khò khè: thông qua hỏi bệnh hoặc có sự chứng kiến của cán bộ y tế + Nhịp thở nhanh: Lấy nhịp nhanh theo các lứa tuổi theo tiêu chuẩn của

Tổ chức Y tế Thế giới [65] cụ thể như sau:

Trang 40

+ SpO2:Đo độ bão hòa oxy qua mao mạch, được đo ở tay, chân bệnh nhân và đo bằng Monitoring

Được chỉ định ngay sau khi có chẩn đoán lâm sàng

Đo bằng máy đo nồng độ oxy chuyên dụng Masimo

SpO2 ≥ 95 %: bình thường

+ SHH cấp chia làm 3 mức độ:

SHH độ 1: khó thở và tím tái khi gắng sức, 90% ≤ SpO2< 95%

SHH độ 2: khó thở và tím tái liên tục, 80% ≤ SpO2< 90%

SHH độ 3: khó thở và tím tái liên tục kèm theo những cơn ngừng thở, SpO2 < 80%

+ Tiếng ran ở phổi (phổi có ran ẩm, nổ, rít, ngáy) Ran ở phổi được đánh giá ở tất cả trường phổi (phía trước, sau, trên, dưới, rốn phổi cũng như vùng rìa phổi hai bên)

 Cận lâm sàng

- Công thức bạch cầu

+ Giảm: dưới 4000 BC /mm3

+ Tăng: ≥ 12000 BC/mm3

+ Tăng bạch cầu đa nhân trung tính: tăng 10% so với lứa tuổi theo bảng 2.1

Bảng 2.1: Giá trị công thức bạch cầu ngoại biên theo lứa tuổi [16]

Ngày đăng: 03/03/2020, 16:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ môn Nhi Trường đại học Y Dược Thái Nguyên (2018), "Đặc điểm hệ hô hấp trẻ em", Bài giảng nhi khoa tập 1, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, tr. 27-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm hệ hô hấp trẻ em
Tác giả: Bộ môn Nhi Trường đại học Y Dược Thái Nguyên
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Năm: 2018
2. Bộ y tế (2015), Quyết định về việc ban hành tài liệu chuyên môn "Hướng dẫn sử dụng kháng sinh", Quyết định số 708/QĐ-BYT ngày 02/3/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng kháng sinh
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 2015
3. Bộ Y tế (2016), Tài liệu hướng dẫn kỹ năng lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh, Nhà xuất bản Y học, tr. 5-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn kỹ năng lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2016
4. Bạch Văn Cam và Phạm Văn Quang (2017), Hướng dẫn điều trị các bệnh lý Nhi khoa thường gặp, Nhà xuất bản Y học, tr. 80-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh lý Nhi khoa thường gặp
Tác giả: Bạch Văn Cam và Phạm Văn Quang
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2017
5. Bùi Văn Chân (2005), Nghiên cứu một số yếu tố tiên lượng trong viêm phổi trẻ em dưới 5 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung Ương, Luận án chuyên khoa 2, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố tiên lượng trong viêm phổi trẻ em dưới 5 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung Ương
Tác giả: Bùi Văn Chân
Năm: 2005
6. Lê Công Dần và và cộng sự (2007), "Tỉ lệ nhiễm và mức độ đáp ứng kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập được từ bệnh nhân viêm đường hô hấp tại viện Nhi Trung Ương", Hội nghị khoa học Nhi khoa Việt - Úc lần V, tr. 388-394 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉ lệ nhiễm và mức độ đáp ứng kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập được từ bệnh nhân viêm đường hô hấp tại viện Nhi Trung Ương
Tác giả: Lê Công Dần và và cộng sự
Năm: 2007
7. Nguyến Tiến Dũng (2015), "Bệnh phổi kẽ", Tiếp cận chẩn đoán và điều trị bệnh hô hấp trẻ em, Nhà xuất bản Y học, tr. 412-423 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổi kẽ
Tác giả: Nguyến Tiến Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2015
8. Nguyến Tiến Dũng (2015), "Viêm phổi cộng đồng", Tiếp cận chẩn đoán và điều trị bệnh hô hấp trẻ em, Nhà xuất bản Y học, tr. 366-385 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viêm phổi cộng đồng
Tác giả: Nguyến Tiến Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2015
9. Phạm Thu Hiền (2014), Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng viêm phổi không điển hình do vi khuẩn ở trẻ em, Luận văn tiến sĩ Y học, Viện vệ sinh dịch tễ Trung Ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng viêm phổi không điển hình do vi khuẩn ở trẻ em
Tác giả: Phạm Thu Hiền
Năm: 2014
10. Hoàng Thị Huế, Lê Thị Kim Dung và Phạm Trung Kiên (2013), "Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị nhiếm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Thái Nguyên năm 2012", Tạp chí Y học thực hành, 876(7), tr. 154-156 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị nhiếm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Thái Nguyên năm 2012
Tác giả: Hoàng Thị Huế, Lê Thị Kim Dung và Phạm Trung Kiên
Năm: 2013
11. Thành Minh Hùng (2016), Đặc điểm nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi điều trị tại khoa Nhi Bệnh viện khu vực Ngọc Hồi năm 2016, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi điều trị tại khoa Nhi Bệnh viện khu vực Ngọc Hồi năm 2016
Tác giả: Thành Minh Hùng
Năm: 2016
12. Lê Thị Minh Hương và Ngô Thị Tuyết Lan (2013), "Một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ tử vong của viêm phổi do vi khuẩn Gram âm ở trẻ dưới 5 tuổi", Tạp chí Y - Dược học Quân sự, 4, tr. 1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ tử vong của viêm phổi do vi khuẩn Gram âm ở trẻ dưới 5 tuổi
Tác giả: Lê Thị Minh Hương và Ngô Thị Tuyết Lan
Năm: 2013
13. Lê Thị Thanh Hương (2012), "Hút thuốc lá thụ động và sức khỏe trẻ em", Tạp chí Y học công cộng, 23(23), tr. 11-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hút thuốc lá thụ động và sức khỏe trẻ em
Tác giả: Lê Thị Thanh Hương
Năm: 2012
14. Nguyễn Thu Hương (2008), Nghiên cứu mối liên quan giữa các biểu hiện lâm sàng với sự thay đổi một số chỉ số sinh học trong viêm phổi nặng và rất nặng ở trẻ em, Luận văn bác sĩ chuyên khoa cấp II. Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mối liên quan giữa các biểu hiện lâm sàng với sự thay đổi một số chỉ số sinh học trong viêm phổi nặng và rất nặng ở trẻ em
Tác giả: Nguyễn Thu Hương
Năm: 2008
15. Nguyễn Công Khanh và Bùi Văn Viên (2009), "Hội chứng thiếu máu", Bài giảng Nhi khoa tập II, Nhà xuất bản Y học, tr. 88-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chứng thiếu máu
Tác giả: Nguyễn Công Khanh và Bùi Văn Viên
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2009
16. Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương (2011), "Xét nghiệm sử dụng trong lâm sàng", Nhà Xuất Bản Y học, tr. 200–201 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xét nghiệm sử dụng trong lâm sàng
Tác giả: Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Y học
Năm: 2011
18. Phạm Thị Đức Lợi và Nguyễn Thị Thu Lan (2016), "Đánh giá chất lượng mẫu đờm được lấy bằng phương pháp hút mũi hầu trên bệnh nhân viêm phổi nhập khoa nội 3 từ 1/2013-9/2014", Hội nghị khoa học Nhi khoa toàn quốc lần thứ 22, tr. 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chất lượng mẫu đờm được lấy bằng phương pháp hút mũi hầu trên bệnh nhân viêm phổi nhập khoa nội 3 từ 1/2013-9/2014
Tác giả: Phạm Thị Đức Lợi và Nguyễn Thị Thu Lan
Năm: 2016
19. Trần Đình Long và Phạm Xuân Tú (2009), "Đặc điểm, cách chăm sóc trẻ sơ sinh đủ tháng và thiếu tháng", Bài giảng Nhi khoa tập I, Nhà xuất bản Y học, tr. 138-156 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm, cách chăm sóc trẻ sơ sinh đủ tháng và thiếu tháng
Tác giả: Trần Đình Long và Phạm Xuân Tú
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2009
20. Phan Xuân Mai (2001), Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ liên quan đến viêm phổi nặng ở trẻ em dưới 5 tuổi, Luận văn Thạc sĩ y học, Đại học Y dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ liên quan đến viêm phổi nặng ở trẻ em dưới 5 tuổi
Tác giả: Phan Xuân Mai
Năm: 2001
21. Tổng cục thống kê Việt Nam (2014), Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ 2014, tr. 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ 2014
Tác giả: Tổng cục thống kê Việt Nam
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w