Giang ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA Y DƯỢC NGUYỄN THỊ KIM TIÊN ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH CÓ TIỀN SỬ LAO PHỔI TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠN
Trang 1Giang
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
NGUYỄN THỊ KIM TIÊN
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG
Ở BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH CÓ TIỀN SỬ LAO PHỔI TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
NGUYỄN THỊ KIM TIÊN
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG
Ở BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH CÓ TIỀN SỬ LAO PHỔI TẠI
BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG
TỪ 2012 ĐẾN 2016
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH Y ĐA KHOA KHÓA: QH.2012.Y
Người hướng dẫn 1: Người hướng dẫn 2:
PGS.TS VŨ XUÂN PHÚ PGS.TS HOÀNG THỊ PHƯỢNG
Hà Nội - 2018
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS
Vũ Xuân Phú - Phó Giám đốc Bệnh viện Phổi Trung ương - Giám đốc Trung
tâm Đào tạo - Chỉ đạo tuyến - và PGS.TS Hoàng Thị Phượng - Giảng viên
Khoa Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội đã luôn hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức quý báu và tinh thần học tập, làm việc nghiêm túc trong quá trình thực hiện khóa luận này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ths.Bs Vũ Văn Thành – Trưởng
khoa Khoa Bệnh phổi mạn tính đã tạo điều kiện thuận lợi và có những góp ý kiến nhận xét quý báu giúp tôi có thể hoàn thành khóa luận này
Tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể các khoa, phòng Bệnh viện Phổi Trung ương, đặc biệt là Trung tâm Đào tạo - Chỉ đạo tuyến, Khoa Bệnh phổi mạn tính, Phòng Kế hoạch - Tổng hợp đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi có thể thực hiện khóa luận này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, cùng toàn thể các thầy cô giáo Khoa Y Dược- Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền đạt tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập tại trường
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn và chia sẻ đối với những bệnh nhân đã đồng hành với tôi qua những cuốn bệnh án trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn bên
cạnh, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận này
Hà Nội, ngày 10 tháng 04 năm 2018
Nguyễn Thị Kim Tiên
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 3
1.1.1 Định nghĩa BPTNMT 3
1.1.2 Dịch tễ 3
1.1.3 Các yếu tố nguy cơ của BPTNMT 4
1.1.4 Cơ chế bệnh sinh 5
1.1.5 Triệu chứng lâm sàng 5
1.1.6 Triệu chứng cận lâm sàng 6
1.1.7 Chẩn đoán BPTNMT 9
1.1.8 Chẩn đoán mức độ nặng BPTNMT 9
1.1.9 Chẩn đoán đợt cấp BPTNMT 12
1.2 Bệnh lao phổi 13
1.2.1 Khái niệm 13
1.2.2 Dịch tễ 14
1.2.3 Đặc điểm tổn thương lao phổi và hình ảnh di chứng lao phổi trên Xquang và CLVT 15 1.3 Mối quan hệ giữa BPTNMT và lao phổi 16
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.2 Phương pháp nghiên cứu 17
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 17
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 17
2.2.3 Các bước tiến hành nghiên cứu 18
2.3 Nội dung nghiên cứu 18
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng 18
2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm cận lâm sàng 19
2.3.3 Đánh giá mức độ nặng của đợt cấp BPTNMT Anthonisen(1987) 19
2.3.4 Đánh giá các chỉ tiêu cận lâm sàng 20
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 52.4 Đạo đức trong nghiên cứu 24
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 24
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 25
3.1 Đặc điểm chung về nhóm bệnh nhân nghiên cứu 25
3.1.1 Đặc điểm về tuổi, giới 25
3.1.2 Đặc điểm tiền sử 25
3.1.3 Đặc điểm triệu chứng lâm sàng 27
3.1.4 Đặc điểm cận lâm sàng 28
3.2 Một số yếu tố lâm sàng liên quan đến mức độ nặng của đợt cấp BPTNMT có tiền sử lao phổi (n=71) 34
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 37
4.1 Những hạn chế của nghiên cứu 37
4.2 Đặc điểm tuổi, giới 37
4.3 Đặc điểm liên quan đến tiền sử 38
4.3.1 Đặc điểm liên quan đến tiền sử lao phổi 38
4.3.2 Đặc điểm về tiền sử khác 38
4.4 Đặc điểm lâm sàng 39
4.5 Đặc điểm cận lâm sàng 40
4.5.1 Sự biến đổi một số chỉ số trong khí máu động mạch 40
4.5.2 Công thức máu, CRP 40
4.5.3 Đặc điểm vi khuẩn gây bệnh 41
4.5.4 Các tổn thương trên Xquang 41
4.5.5 Các hình ảnh tổn thương trên CLVT 42
4.5.6 Sự biến đổi điện tâm đồ 43
4.5.7 Đặc điểm chức năng thông khí 44
4.6 Một số yếu tố lâm sàng liên quan đến mức độ nặng của đợt cấp BPTNMT có tiền sử lao phổi 46
4.6.1 Liên quan giữa yếu tố tuổi, giới và đợt cấp BPTNMT 46
4.6.2 Liên quan giữa tiền sử lao phổi và đợt cấp BPTNMT 47
4.6.3 Liên quan giữa các bệnh đồng mắc và đợt cấp BPTNMT 47
KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 56
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Viết tắt tiếng Việt
BPTNMT: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
CLVT: cắt lớp vi tính
RLTKHH: Rối loạn thông khí hỗn hợp
RLTKTN: Rối loạn thông khí tắc nghẽn
Viết tắt tiếng Anh
CAT: COPD Assessment Test
COPD: Chronic Obstructive Pulmonary Disease
CRP: C – Reactive Protein
FEV1: Forced Expiratory Volume in One Second
FVC: Forced Volume Capacity
GOLD: Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease.
LYM: Lymphocyte
mMRC: modified Medical Research Council
NEUT: Neutrophil
TB: Tuberculosis
WBC: White Blood Cell
WHO: World Health Organization
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 7Bảng 12: Đặc điểm hình ảnh tổn thương trên CLVT
Bảng 13 Sự biến đổi trên điện tim
Bảng 14: Đặc điểm các chỉ số trong chức năng thông khí
Bảng 15 Phân loại rối loạn thông khí hô hấp và giai đoạn theo GOLD 2017 Bảng 16 Liên quan giữa yếu tố tuổi, giới với mức độ nặng đợt cấp BPTNMT
Bảng 17 Liên quan giữa tiền sử lao phổi với mức độ nặng đợt cấp BPTNMT Bảng 18 Liên quan giữa các bệnh đồng mắc với mức độ nặng đợt cấp BPTNMT
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 1 Thang điểm CAT
Hình 2 Sơ đồ nghiên cứu
Hình 3 Đặc điểm các bệnh đồng mắc
Hình 4 Tỷ lệ số lượng bạch cầu
Hình 5 Đặc điểm hình ảnh tổn thương trên Xquang ngực
Hình 6 Sự biến đổi số lượng bạch cầu
Hình 7 Sự biến đổi CRP
Hình 8 Các tổn thương trên Xquang ngực
Hình 9 Đặc điểm điện tim
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 91
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) và lao phổi là hai bệnh đường hô hấp gây ra chi phí tốn kém lớn và tỷ lệ tử vong cao trong cộng đồng
Tại Hoa Kỳ, BPTNMT là nguyên nhân gây tử vong thứ tư sau bệnh tim, ung thư và đột quỵ Dự báo năm 2020 BPNMT sẽ là nguyên nhân thứ ba gây tử vong trên toàn thế giới[41,61] Còn ở riêng Châu Âu, BPTNMT là nguyên nhân do hô hấp gây tử vong đứng thứ hai chỉ sau ung thư phổi[43]
Tính riêng tại Mỹ, năm 2006 có 1.254.703 trường hợp nhập viện vì đợt cấp BPTNMT, tỷ lệ tử vong trong bệnh viện là 4,3%, chi phí điều trị trung bình là 9 545 đô la và tổng chi phí điều trị lên tới 11,9 tỷ đô la Theo báo cáo của Hiệp hội Hô hấp Châu Âu năm 2013, chi phí dành cho BPTNMT và hen suyễn lên đến hớn 200 tỷ euro[43,60] Tính riêng tại Việt Nam năm 2009, chi phí cho một ngày điều trị BPTNMT trung bình là 504.417 đồng, bằng một nửa mức lương tối thiểu trong một tháng của người Việt Nam năm 2009 Trong đó chủ yếu là chi phí dành cho thuốc, máu, dịch truyền và cận lâm sàng, chi phí vật tư tiêu hao và thủ thuật rất thấp[25]
Năm 2016, Tổ chức Y tế Thế giới thông báo bệnh lao là nguyên nhân thứ 9 gây tử vong trên thế giới, xếp trên HIV/AIDS, và là nguyên nhân gây tử
người được cứu sống nhờ được chẩn đoán và điều trị kịp thời, ước tính riêng trong năm 2011 trên toàn thế giới có 1,4 triệu người chết vì bệnh lao, năm
2016 là 1,3 triệu người[58]
Giữa BPTNMT và bệnh lao phổi có chung nhiều yếu tố nguy cơ và mối quan hệ cơ học Việc bệnh nhân BPTNMT sử dụng corticoid là yếu tố tiền đề cho lao phổi Những người có tiền sử lao trước đây cũng có nhiều khả năng bị BPTNMT sau đó, có thể là do các thương tổn của cấu trúc phổi trong các đợt lao phổi dẫn tới tắc nghẽn đường thở mạn tính và khối lượng phổi giảm Bệnh nhân mắc BPTNMT sử dụng liệu pháp corticosteroid làm tăng biểu hiện bệnh lao và ngược lại, mắc bệnh lao có thể tăng tính nhạy cảm với bệnh BPTNMT sau này[57,58]
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 102
Theo nghiên cứu tại các bệnh viện Thụy Điển, bệnh nhân BPTNMT có
tỷ lệ nguy cơ phát triển bệnh lao tiến triển tăng gấp 3 lần so với các đối tượng chung Ngoài ra, bệnh nhân BPTNMT những người có lao hoạt động có nguy
cơ tử vong gấp đôi trong tất cả các bệnh nhân lao được chẩn đoán trong năm đầu tiên so với các bệnh nhân lao khác[48] Điều này rất quan trọng đối với các bác sĩ lâm sàng trong việc điều trị bệnh BPTNMT và kiểm soát bệnh lao Tuy nhiên ở Việt Nam tính tới thời điểm này chưa có nhiều nghiên cứu về mối liên quan giữa hai bệnh này, chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về đợt cấp BPTNMT ở bệnh nhân có tiền sử lao phổi Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có tiền sử lao phổi tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ 2012 đến 2016 với hai mục tiêu nghiên cứu:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đợt cấp có tiền sử lao phổi đến khám và và điều trị tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ tháng 9/2012 đến tháng 12/2016
2 Nhận xét một số yếu tố lâm sàng liên quan đến mức độ nặng của đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có tiền sử lao phổi
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 11mô phổi Việc sử dụng thuốc giãn phế quản không làm giảm các triệu chứng[2,41]
Tổ chức sáng kiến toàn cầu về BPTNMT(GOLD) định nghĩa
“BPTNMT là bệnh đặc trưng bởi sự hiện diện của triệu chứng hô hấp và giới hạn dòng khí dai dẳng do bất thường ở đường dẫn khí và/hoặc phế nang thường do tiếp xúc với hạt và khí độc hại”[56]
Triệu chứng hô hấp thường gặp là khó thở, ho và khạc đờm
1.1.2 Dịch tễ
1.1.2.1 Dịch tễ BPTNMT trên thế giới
Năm 2010 có 384 triệu người mắc BPTNMT, ước tính chung 11,7% Năm 2015, trên toàn cầu ước tính có khoảng 3 triệu người chết do căn bệnh này(5% số ca tử vong trên toàn cầu trong năm đó) Tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam, ước tính tỷ lệ mắc chung là 6,2%, phần lớn là giai đoạn I và II, ít giai đoạn III, IV Các nước Đông Nam Á có tỷ lệ bệnh nhân mắc giai đoạn nặng cao hơn so với các khu vực xung quanh[47,54]
1.1.2.2 Dịch tễ BPTNMT ở Việt Nam
Riêng ở Việt Nam, năm 2006- 2007, tỷ lệ mắc BPTNMT ở tất cả các lứa tuổi là 2,2%, trong đó nam (3,4%) cao hơn nữ (1,1%) Có sự khác biệt rõ rệt giữa tỷ lệ mắc BPTNMT ở tuổi > 40 tuổi (4,1%) và < 40 tuổi (0,4%), tỷ lệ giảm dần từ miền Bắc (3,1%), miền Trung (2,2%) và miền Nam (1,0%)[35]
Theo Đinh Ngọc Sỹ, năm 2009 tỷ lệ mắc chung cả hai giới là 4,2%, tỷ
lệ nam giới cao hơn nữ giới (7,1% so với 1,9%)[27]
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 124
Tính riêng các tỉnh phía Bắc 2006 tỷ lệ mắc BPTNMT ở đối tượng trên
40 tuổi ở cả hai giới là 5,1%, trong đó ở nam là 6,7% và ở nữ giới là 3,3%[5]
1.1.3 Các yếu tố nguy cơ của BPTNMT
• Hút thuốc lá
BPTNMT có thể sẽ tăng lên trong những năm tới do tỷ lệ hút thuốc cao hơn và số người già tăng ở nhiều nước[47] Các yếu tố nguy cơ gây khởi động quá trình viêm trong đó khói thuốc lá là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất 80-90% bệnh nhân BPTNMT có hút thuốc lá, trẻ em trong gia đình có người hút thuốc lá cũng dễ mắc các bệnh đường hô hấp hơn so với trẻ em trong gia đình không có người hút thuốc[4]
Nghiên cứu trong các nhà máy công nghiệp ở Hà Nội cho thấy tỷ lệ hút thuốc chung là 51,7%, nam giới hút thuốc chiếm 87,91% Tỷ lệ mắc BPTNMT chung là 3,58%, trong đó tỷ lệ ở nhóm hút thuốc lá (5,77%) cao hơn nhóm không hút thuốc (1,24%) Tỷ lệ mắc các chứng ho và khạc đờm ở đối tượng hút thuốc cũng cao hơn[10]
• Bụi và hóa chất công nghiệp, ô nhiễm môi trường là yếu tố quan trọng khởi phát BPTNMT Những người làm việc trong các nhà máy công nghiệp trên 20 năm có nguy cơ mắc BPTNMT cao hơn 5,5 lần những đối tượng làm việc dưới 20 năm [9]
• Nhiễm trùng đường hô hấp như nhiễm virus (đặc biệt là hợp bào hô hấp) ở đường hô hấp dưới gây tổn thương lớp tế bào biểu mô đường hô hấp
và các tế bào lông chuyển, giảm khả năng chống đỡ của phổi, đặc biệt nhiễm virus hợp bào hô hấp làm tăng tính phản ứng phế quản, làm bệnh phát triển Một số trường hợp mắc bệnh phổi tắc nghẽn do hen suyễn kéo dài[4]
• Yếu tố gen di truyền (gây thiếu α1- antitrypsin) cũng được xác định chắc chắn gây BPTNMT
• Tỷ lệ mắc BPTNMT cao hơn ở người già và tăng dần theo tuổi, tỷ lệ ở những đối tượng trên 40 tuổi cao hơn rõ rệt so với đối tượng dưới 40 tuổi[9] Năm 2009,ở Việt Nam tỷ lệ mắc BPTNMT ở những đối tượng trên 40 tuổi là 4,2%[4]
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 135
Phần lớn xuất hiện bệnh ở bệnh nhân trên 40 tuổi, đặc biệt là những người từ 40 đến 64 tuổi Tỷ lệ BPTNMT tăng theo tuổi, người trên 65 tuổi có nguy cơ mắc tăng gấp 5 lần bệnh nhân dưới 40 tuổi Còn ở những đối tượng làm việc trong môi trường khói bụi, những người trên 60 tuổi có tỷ lệ mắc cao hơn 38,6 lần so với những người ở độ tuổi 40-50 tuổi[9,61]
1.1.4 Cơ chế bệnh sinh
Đặc điểm của BPTNMT là quá trình viêm nhiễm thường xuyên toàn bộ đường dẫn khí và nhu mô Sự đáp ứng viêm do tiếp xúc với chất khí độc hại làm kích hoạt phản ứng miễn dịch bẩm sinh với hóa ứng động làm xâm nhập đại thực bào, bạch cầu đa nhân trung tính, tăng sinh các tế bào lympho T và B
và hình thành nang lympho trong đường dẫn khí nhỏ Các tế bào viêm cũng giải phóng ra các chất trung gian như leucotrien B4, interleukin 8, yếu tố hoại
tử u,… Cuối cùng dẫn đến sự biến đổi và tắc nghẽn đường dẫn khí, phá hủy cấu trúc phổi, làm gia tăng hoạt động của trung tâm hô hấp Sự biến đổi này làm gia tăng tình trạng mệt cơ hô hấp và ảnh hưởng tới chuyển hóa như toan máu, thiếu phospho, magie máu…
Sự tắc nghẽn thường xuất hiện tại các đường dẫn khí nhỏ, thường là các tiểu phế quản có đường kính ≤ 2mm do hiện tượng dày thành phế quản kết hợp xơ hóa phế quản cùng với sự hiện diện nút đờm làm tiền đề dẫn đến sự tắc nghẽn lòng phế quản
Khí phế thủng phổi xuất phát từ sự phá hủy thành phế nang do sự mất cân bằng các men protéase–antiprotéase, hiện tượng chết tế bào theo chương trình apoptosis, quá trình lão suy, hoặc do những rối loạn tự miễn[2,50,17]
+ Khó thở khi gắng sức, tăng dần, giai đoạn muộn thì khó thở liên tục
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 146
• Triệu chứng thực thể
+ Kiểu thở mím môi, nhất là khi gắng sức + Khó thở gây co kéo các cơ hô hấp: cơ liên sườn, co kéo hõm ức là hố thượng đòn
+ Lồng ngực hình thùng + Dấu hiệu Campbell: khí quản đi xuống thì hít vào + Dấu hiệu Hoover: giảm đường kính phần dưới lồng ngực khi hít vào + Gõ vang nếu có giãn phế nang
+ Nghe: tiếng tim mờ nhỏ; rì rào phế nang giảm, có thể có ran rít ran ngáy, ran ẩm, ran nổ
• Các dấu hiệu tăng áp lực động mạch phổi:
+ Mắt lồi do tăng mạch máu màng tiếp hợp + Nhịp tim nhanh, có thể loạn nhịp hoàn toàn + T2 đanh mạnh, tiếng click tống máu, rung tâm thu ở ổ van động mạch phổi, tiếng ngựa phi phải tiền tâm thu
+ Dấu hiệu Carvallo: thổi tâm thu ở dọc theo bờ trái xương ức, tăng lên
1.1.6.1 Đo chức năng hô hấp
Đây là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định và đánh giá mức độ nặng của bệnh BPTNMT Biểu hiện rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn với thuốc giãn phế quản Chỉ số FEV1 giảm, chỉ số Gaensler(FEV1/FVC) < 70%[4]
Trong đợt cấp bùng phát thì RLTKHH chiếm ưu thế(84%)[20]
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 157
Theo nghiên cứu của Baun Rekha có 42% đối tượng nghiên cứu BPTNMT cho biết họ bị giảm sút chất lượng cuộc sống, trong đó 23% đối tượng cho biết họ không thể làm việc[54]
Tuy nhiên mức độ FEV1 thấp có tương quan không lớn với mức độ khó thở và chất lượng cuộc sống nhưng giúp tiên lượng tử vong và xếp loại bệnh nhân theo giai đoạn bệnh FEV1 < 50% dự báo tỷ lệ tử vong bắt đầu tăng
Tỷ lệ suy giảm của FEV1 là dốc hơn cho người hút thuốc hơn so với người không hút thuốc Nó cũng là dốc hơn cho người hút thuốc nặng hơn so với người hút thuốc lá nhẹ[40,18]
1.1.6.2 X-quang phổi
Hình ảnh tăng đậm các nhánh phế huyết quản, hình ảnh phổi bẩn Dấu hiệu của giãn phế nang: lồng ngực sáng, tăng khoảng sáng tước và sau tim, trường phổi quá sáng, xương sườn nằm ngang, khoang liên sườn giãn rộng, cơ hoàng hai bên hạ thấp, có hình bậc thang
Mạch máu ngoại vi thưa thớt, bóng khí Cung động mạch phổi nổi, có thể thấy nhánh động mạch thùy dưới phổi phải có đường kính > 16 mm
Tim không to hoặc hơi to, tim dài, thõng xuống; giai đoạn cuối tim to toàn bộ[4]
Trong nghiên cứu hình ảnh Xquang phổi BPTNMT đợt cấp của Nguyễn Huy Lực (2010), hình ảnh phổi bẩn gặp nhiều nhất, chiếm tới 57,46%; chỉ số tim lồng ngực > ½ chiếm 36,18%, < ½ chiếm 46,8% Hình ảnh phổi bẩn, khí thũng phổi, chỉ số tim lồng ngực giữa các giai đoạn bệnh không có sự khác biệt[20]
1.1.6.3 Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực
Dấu hiệu khí phế thũng
Các dấu hiệu tổn thương khác: thâm nhiễm nhu mô, tổn thương phổi
kẽ, tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi, dày dính màng phổi
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 16Khí phế thũng
toàn tiểu thùy
Sự phá hủy các tiểu thùy phổi đồng đều tạo ra hình ảnh
“phổi đen” đồng nhất, hệ thống mạch máu nghèo nàn Tổn thương phân bố lan tỏa tập trung chủ yếu ở thùy dưới của phổi
Khí phế thũng
cạnh vách
Dạng ngoại vi của khí phế thũng thể trung tâm tiểu thùy Các vùng giảm tỷ trọng phân bố ở vùng dưới màng phổi, cạnh các vách giữa các tiểu thùy và mạng mạch máu phổi thể này dễ phát triển thành bóng khí và biến chứng tràn khí màng phổi
Bóng khí, kén
khí nhu mô phổi
Có đường kính trên 1cm, thành mỏng, có vùng không
có mạch máu Các bóng khí này thường có xu hướng tập trung ở thùy dưới của phổi
1.1.6.4 Điện tâm đồ
Dấu hiệu dày thất phải, nhĩ phải:
+ P phế ở DII, DIII, aVF: P cao > 2,5 mm, nhọn, đối xứng Tiêu chuẩn dày thất phải của TCYTTG có ít nhất 2 trong số các dấu hiệu sau:
+ Trục phải > 110o
+ R/S ở V5, V6 <1 + Sóng S chiếm ưu thế ở DI hoặc block nhánh phải không hoàn toàn + P > 2mm ở DII
+ T đảo ngược ở V1 tới V4 hoặc V2 và V3
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 179
1.1.6.5 Siêu âm tim
Chủ yếu là để đánh giá mức độ tăng áp lực động mạch phổi Các hình ảnh có thể gặp:
- Áp lực động mạch phổi tăng trên 30mmHg
- Buồng thất phải giãn
Tuy nhiên khi không có điều kiện đo chức năng thông khí thì cần nghĩ đến chẩn đoán BPTNMT ở những bệnh nhân trên 40 tuổi có các triệu chứng
ho, khạc đờm và tiền sử phơi nhiễm với các yếu tố gây bệnh[4]đặc biệt ở những đối tượng hút thuốc lá và/hoặc tiếp xúc khói bụi trên 20 năm[9] Không phải tất cả đối tượng có ho và khạc đờm đều tiến triển thành BPTNMT nhưng ho và khạc đờm thường là biểu hiện bắt đầu của sự tắc nghẽn thông khí sau nhiều năm[4]
Trang 1810
Nhóm A: Nguy cơ thấp, triệu chứng ít, giới hạn đường thở nhẹ hoặc trung bình, và /hoặc có 0-1 đợt cấp trong 12 tháng, không có đợt cấp phải nhập viện, và thang điểm CAT < 10 hoặc mMRC từ 0-1
Nhóm B: Nguy cơ thấp, triệu chứng nhiều, giới hạn đường thở nhẹ hoặc trung bình, và /hoặc có 0-1 đợt cấp trong 12 tháng, không có đợt cấp phải nhập viện, và thang điểm CAT ≥ 10 hoặc mMRC ≥ 2
Nhóm C: Nguy cơ cao, triệu chứng ít, giới hạn đường thở nặng hoặc rất nặng, và /hoặc có ≥ 2 đợt cấp trong 12 tháng, có ≥ 1 đợt cấp phải nhập viện,
và thang điểm CAT < 10 hoặc mMRC từ 0-1
Nhóm D: Nguy cơ cao, triệu chứng nhiều, giới hạn đường thở nặng hoặc rất nặng, và /hoặc có ≥ 2 đợt cấp trong 12 tháng, có ≥ 1 đợt cấp phải nhập viện, và thang điểm CAT ≥ 10 hoặc mMRC ≥ 2[47]
Bảng 2: Phân độ khó thở theo mMRC
Đi bộ chậm hơn người cùng tuổi vì khó thở hoặc phải dừng lại để
thở khi đi cùng tốc độ của người cùng tuổi trên đường bằng
2
Phải dừng lại để thở khi đi bộ khoảng 100m hay vài phút trên
đường bằng
3
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 1911
Hình 1 Thang điểm CAT[49]
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 2012
• Chẩn đoán giai đoạn, đánh giá mức độ tắc nghẽn đường thở theo GOLD 2017: 4 giai đoạn
- GOLD I (nhẹ): FEV1 ≥ 80%
- GOLD II (trung bình): 50% ≤ FEV1≤ 79%
- GOLD III (nặng): 30% ≤ FEV1≤ 49%
- GOLD IV (rất nặng): FEV1<30%
1.1.9 Chẩn đoán đợt cấp BPTNMT
Đợt cấp BPTNMT là tình trạng thái đổi cấp tính của các biểu hiện trên lâm sàng như khó thở, khạc đờm tăng; thay đổi màu sắc đờm
Theo GOLD: đợt kịch phát COPD được định nghĩa là đợt cấp tính xấu
đi của triệu chứng hô hấp và cần phải điều trị phối hợp thêm
• Các nguyên nhân gây ra đợt cấp chủ yếu do:
- Nhiễm khuẩn hô hấp
- Do dùng các thuốc
- Các bệnh lý hô hấp không phải nhiểm khuẩn
- Do các bệnh lý của tim như suy tim, rối loạn nhịp hoặc do các rối loạn chuyển hóa và nhiễm trùng ở các cơ quan khác
Trong các nguyên nhân gây nhiễm khuẩn hô hấp thì virus chiếm 50%, sau đó đến phế cầu và Moraxealla catarrhalis…
Bảng 3: Phân loại mức độ nặng của đợt cấp BPTNMT theo Burge S (2003)
khí máu Điều trị cần dùng kháng sinh, không cần corticoid toàn thân Trung bình Không có dấu hiệu suy hô hấp trên lâm sàng và/hoặc kết quả
khí máu Điều trị cần dùng corticoid đường tĩnh mạch, có thể có hoặc
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 2113
không có kháng sinh
Không toan máu PaO2< 60mmHg và PaCO2< 45mmHg
PaO2 < 60mmHg, PaCO2 > 45 mmHg, pH > 7,35
máu, PO2 < 60mmHg, PaCO2 > 45 mmHg, pH < 7,35 Trên lâm sàng thường sử dụng phân loại của Anthonisen 1987 để phân loại mức độ nặng nhanh chóng
Bệnh nhân được chẩn đoán BPTNMT khi xuất hiện một trong 3 triệu chứng sau[38]
Lao phổi chủ yếu do vi khuẩn M.tuberculosis hominis gây bệnh, có các
đặc điểm:
- Có thể tồn tại ở môi trường ngoài trời 3-4 tháng
- Là vi khuẩn hiếu khí vì vậy lao phổi là thể bệnh gặp nhiều nhất, và số lượng vi khuẩn nhiều nhất tập trung trong các thương tổn hang lao thông với phế quản
- Vi khuẩn lao sinh sản chậm, có thể “nằm vùng” ở tổn thương rất lâu, khi điều kiện thuận lợi có khả năng tái phát
- Có khả năng kháng thuốc do sự đột biến gen[26]
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 2214
1.2.2 Dịch tễ
Bệnh lao là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai trong các bệnh nhiễm trùng với khoảng 1,2 đến 1,5 triệu người tử vong mỗi năm[26] Trong Báo cáo kiểm soát bệnh lao toàn cầu năm 2012, Tổ chức Y tế Thế giới thông báo hiện có khoảng 1/3 dân số thế giới đã nhiễm lao[63]
Năm 2015, trên toàn cầu có 10,4 triệu người mắc bệnh lao trong đó có 6,1 triệu ca mắc mới; 1,8 triệu người chết vì bệnh (trong đó có 0,4 triệu người nhiễm HIV) Đến năm 2016 con số này tăng lên 6,4 triệu mắc mới, tuy nhiên
số tử vong đã giảm còn 1,3 triệu người( HIV âm tính) Phần lớn số ca tử vong( 95%) do bệnh lao xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Đứng đầu về số người tử vong là Ấn Độ tiếp theo là Indonesia, Trung Quốc, Nigeria, Pakistan và Nam Phi
TB là một nguyên nhân gây tử vong hàng đầu của những người nhiễm HIV Năm 2015, 35% số ca tử vong ở người mắc HIV là do bệnh lao, ước tính có khoảng 1 triệu trẻ em bị bệnh lao và 170.000 trẻ em chết vì bệnh lao (trừ trẻ em có HIV) Trong đó, có khoảng 480 000 người đã phát triển bệnh lao đa kháng[58]
Bệnh lao là bệnh có thể điều trị được nếu được chẩn đoán và điều trị kịp thời, trung bình mỗi năm tỷ lệ tử vong giảm từ 2-3%, ước tính có khoảng
49 triệu người mắc bệnh lao được cứu sống từ năm 2000 đến năm 2015[58]
Trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng 130.000 người mắc lao( năm
2015 có 128.000 người mắc mới), khoảng 17.000 người tử vong do lao, tỷ lệ
tử vong liên quan nhiều đến HIV và kháng thuốc Theo Báo cáo WHO 2013, Việt Nam đứng thứ 12 trong số 22 nước có tình hình dịch tễ lao cao nhất toàn cầu, đứng thứ 14 trong số 27 nước có lao đa kháng cao nhất thế giới, tỷ lệ lao
đa kháng là 7,8% trên 100.000 dân[63,58]
Lao phổi là thể bệnh gặp nhiều nhất, chiếm tới 80% trong bệnh học lao Trung bình hàng năm ở Việt Nam có 85 trường hợp lao phổi AFB(+) trên 100.000 dân, năm 2015 là 82% [58,26]
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 2315
1.2.3 Đặc điểm tổn thương lao phổi và hình ảnh di chứng lao phổi trên Xquang và CLVT
Tổn thương lao phổi thường bắt đầu từ vùng đỉnh phổi, phân thùy đỉnh
và phân thùy sau do tính hiếu khí của vi khuẩn và do đặc điểm giải phẫu hệ mạch máu làm dòng máu chảy chậm, vi khuẩn dễ dừng lại gây bệnh[26]
• Tổn thương lao phổi cũ trên Xquang ngực:
- Lao nốt: đường kính các nốt từ 3 đến 15mm, hợp thành những đám không đều, có giới hạn, tạo thành hình thâm nhiểm hoặc hình hang
Nếu được điểu trị tốt, các tổn thương sẽ thu hẹp dần và biến mất thành các nốt vôi hoá, nếu tổn thương tiến triển kéo dài thì có thể thấy xuất hiện kèm theo những dải xơ co kéo các bộ phận xung quanh như khí quản, rốn phổi và làm hẹp vùng đỉnh phổi Các hình này thường khu trú ờ vùng đỉnh và thường có ờ cả hai bên
- Lao xơ hang: Nếu lao nốt tiến triển xấu, tổn thương lao có thể biến thành những hang lao do quá trình bã đậu hoá Các tổ chức xơ phát triển nhiều hơn phối hợp với các tổn thương lao và hang lao tạo thành lao xơ hang
- Lao xơ: Tổn thương chủ yếu là các dải xơ phát triển mạnh gây nên: + Hình co kéo vào các tổ chức bên cạnh tổn thương: khí, phế quản, cơ hoành
+ Hình lồng ngực bên tổn thương co hẹp lại và diện tích phổi bị thu nhỏ + Hình quá sáng của phần phổi lành do thở bù
+ Tổn thương xơ ít thay đổi qua những lần chụp khác nhau[16]
Theo nghiên cứu của Baun Rekha những bệnh nhân lao phổi sau điều trị có tỷ lệ bất thường trên Xquang phổi chiếm tỷ lệ 86%, chủ yếu là tổn thương xơ phổi và mật độ tổn thương thường trên 3 vùng[39] Còn ở Việt Nam, theo Tống Thị Hiếu Tâm(2007), tỷ lệ có tổn thương trên phim Xquang sau điều trị khỏi là 80%, lao phổi tái phát là 92,5%[28]
Chụp cắt lớp vi tính để phát hiện hoặc xác định các u hoặc hang mà phim chuẩn thẳng và nghiêng không thấy rõ; nhất là để kiểm tra lần cuối sau đợt điều trị lao phổi, mà nghi ngờ vẫn còn hang[32]
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 2416
1.3 Mối quan hệ giữa BPTNMT và lao phổi
BPTNMT và lao phổi có chung các yêu tố nguy cơ như hút thuốc lá, phơi nhiễm với khói bụi, bệnh đáo tháo đường và sự thiếu dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin D
Những người có tiền sử lao trước đây có nhiều khả năng bị BPTNMT sau đó, có thể là do các thương tổn của cấu trúc phổi dẫn tới tắc nghẽn đường thở mạn tính và khối lượng phổi giảm[57] Tiền sử lao phổi có thể gây tắc nghẽn đường dẫn khí ở cả những đối tượng không hút thuốc lá nhưng chưa đủ
để chỉ ra lao phổi là một yếu tố nguy cơ của BPTNMT[52]
Nhiều nghiên cứu được thực hiện để so sánh giữa các nhóm đối tượng
có tiền sử lao phổi và không có tiền sử lao phổi Người có tiền sử lao trước đây có giá trị FEV1 thấp hơn và giảm nhanh hơn, giá trị PaCO2 trung bình
BPTNMT trung bình trong số những người có tiền sử lao là 2,46, trong khi đó bệnh nhân không có TB là 1.56 (P <0,001), tuổi thọ của những người có tiền
sử lao phổi ngắn hơn trung bình 5 năm so với những người không có tiền sử lao phổi (68,3 ± 11,4 tuổi so với 73,4 ± 9,8 tuổi, P = 0,001)[62]
Theo nghiên cứu của Allwood trên 31 đối tượng chưa từng mắc lao phổi và 73 đối tượng có thể từng mắc hoặc đã được xác nhận đã mắc lao phổi, điểm số xơ hóa trên HRCT lớn hơn đáng kể, cao hơn 0,36% ( p = 0,017) so với phân tích đa biến và khả năng hô hấp (IC) thấp hơn đáng kể ở những bệnh nhân có tiền sử lao phổi so với những bệnh nhân không có tiền sử lao phổi[37]
Ở Việt Nam, theo Tống Thị Hiếu Tâm(2007) tỷ lệ bệnh nhân có rối loạn thông khí ngay sau điều trị khỏi lao phổi mới là 25,5% và ở nhóm lao phổi tái phát là 53,7%, các chỉ tiêu thông khí phổi giảm dần theo mức độ rộng của tổn thương và di chứng xơ hóa[28] Các nghiên cứu khác cũng cho các chỉ tiêu thông khí phổi ở nhóm có di chứng lao phổi giảm hơn ở nhóm chưa từng mắc lao phổi, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê[6,7,24]
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 2517
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên bệnh án của bệnh nhân BPTNMT có tiền sử lao phổi, được điều trị tại khoa Bệnh phổi mạn tính- Bệnh viện Phổi Trung ương từ tháng 9/2012 đến tháng 12/2016 đang được lưu trữ, thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ như sau:
• Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Bệnh án của bệnh nhân được chẩn đoán BPTNMT đợt cấp có tiền sử lao phổi ( bệnh nhân được chẩn đoán BPTNMT: được quản lý tại khoa Bệnh phổi mạn tính – bệnh viện Phổi Trung ương hoặc được quản lý tại bệnh viện tỉnh hoặc đo chức năng hô hấp có RLTKTN)
- Xét nghiệm đờm âm tính bằng phương pháp soi kính hoặc nuôi cấy
- Hồ sơ bệnh án đầy đủ thông tin
• Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng:
- Bệnh án của bệnh nhân đang điều trị lao
- Bệnh án của bệnh nhân được chẩn đoán mắc BPTNMT trước khi mắc lao phổi
- Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân không đủ thông tin nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên hồ sơ bệnh án của bệnh nhân BPTNMT đợt cấp có tiền sử lao phổi trong thời điểm từ tháng 9/2012 đến tháng 12/2016
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Toàn bộ bệnh án của bệnh nhân được chẩn đoán đợt cấp BPTNMT có tiền sử lao phổi điều trị trong thời gian nghiên cứu có đủ thông tin
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 2618
2.2.3 Các bước tiến hành nghiên cứu
Hình 2 Sơ đồ nghiên cứu 2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng
- Các đặc điểm: Tuổi, giới, tiền sử hút thuốc lá, tiền sử hen phế quản hoặc viêm phế quản mạn tính, tiền sử mắc các bệnh mạn tính, tim mạch khác…
- Chẩn đoán hình ảnh:
Xquang ngực, CLVT lồng ngực
- Điện tim
- Chức năng thông khí
Một số yếu tố lâm sàng liên quan đến mức độ nặng của đợt cấp
- Tuổi, giới
- Tiền sử lao phổi
- Các bệnh phối hợp
Kết luận
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 2719
- Các đặc điểm liên quan đến tiền sử mắc lao phổi: số lần mắc lao phổi, thời gian tính từ lần cuối cùng mắc lao phổi đến khi được chẩn đoán BPTNMT (tính theo năm)
- Triệu chứng cơ năng: Ho khan, ho khạc đờm, ho ra máu, khó thở, đau tức ngực
- Triệu chứng thực thể: phát hiện rì rào phế nang giảm, các ran ẩm, nổ, ran rít, ran ngáy ở phổi
2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm cận lâm sàng
2.3.2.1 Khí máu khác
Các chỉ số pH, PCO2, PO2
2.3.2.2 Bạch cầu, CRP và vi khuẩn gây bệnh
Các giá trị số lượng bạch cầu, bạch cầu đa nhanh trung tính (%), bạch cầu lympho (%), CRP, vi khuẩn gây bệnh
2.3.2.4 Điện tim, siêu âm tim
Mô tả tần số nhịp tim nhanh, tần suất xuất hiện trục phải, dày hoặc tăng gánh nhĩ phải, dày hoặc tăng gánh thất phải, Block nhánh phải, các tổn thương khác
2.3.2.5 Chức năng hô hấp
Đánh giá mức độ và kiểu rối loạn thông khí tắc nghẽn hay hỗn hợp, các chỉ số FVC, FEV1, FEV1/FVC
2.3.3 Đánh giá mức độ nặng của đợt cấp BPTNMT Anthonisen(1987)
- Type I (nặng): có cả 3 triệu chứng trên
- Type II (trung bình): có 2 trong 3 triệu chứng
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 282.3.4 Đánh giá các chỉ tiêu cận lâm sàng
- pH < 7,35: giảm( toan máu)
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 29• Những dấu hiệu tổn thương sau đây gợi ý lao phổi:
- Tốn thương nốt: hạt kê (đường kính < 2mm), nốt nhỏ (2-5 mm), nốt lớn (5 - 10 mm) Trong trường hợp lao phổi điều trị tố, các nốt này thu hẹp, thâm nhiễm vôi với hình ảnh nốt thâm nhiễm với đậm độ vôi
- Tổn thương hang: trong lao phổi thường gặp tổn thương hang: hang nhỏ (đường kính < 2 cm) , hang lớn ( 4 cm) , hang khổng lồ ( 6 cm)
- Tổn thương xơ: trong tổn thương lao thường có xơ hoá Hình ảnh hình
mờ thành dải, có thể có dấu hiệu co kéo rốn phổi, co kéo rãnh liên thuỳ bé, cơ hoành, khí quản, các khoảng gian sườn hoặc dầy dính màng phổi
• Tràn khí màng phổi:
- Dải sáng dọc theo màng phổi ở phía bị tràn khí, rất rõ ở đỉnh
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 3022
- Lá tạng bao lấy nhu mô phổi đã bị co lại
- Không thất hình vân mạch phổi, ngoài giới hạn của lá tạng
• Co kéo khí quản khỏi vị trí bình thường: Bình thường khí quản nằm thẳng chính giữa lồng ngực, có thể hơi lệch sang phải, có dấu ấn của quai động mạch chủ ở bờ bên trái, nằm ngang mức đốt sống lưng thứ 5 và phân chia thành hai phế quản gốc, góc giữa hai phế quản gốc 45 ° - 75", phế quản gốc phải dốc hơn bên trái
Tùy hướng chạy của phế quản với mặt cắt ngang tạo ra các hình ảnh: + Hình ảnh đường ray: giãn phế quản hình ống, chạy song song với mặt cắt, các phế quản song song, không giảm đường kính khi ra ngoại biên
+ Vòng nhẫn: phế quản lớn hơn mạch máu đi kèm, vuông góc với mặt cắt
+ Tràng hạt
+ Chùm nho: Giãn phế quản hình nang, có thể chứa dịch, chứa khí, hoặc chứa khí- dịch, nhiều nang tụ tập tạo thành hình chùm nho
Các hình ảnh gián tiếp: thành phế quản dày, nút nhày trong phế quản
2.3.4.4 Điện tim, siêu âm tim
• Tần số tim
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 3123
Bình thường tần số tim từ 50-90, tần số tim<50 là nhịp tim chậm, tần số tim> 90 là tần số nhanh
• Trục phải
Trục điện tim lệch phải khi góc α từ 90o cho tới -150o, góc α = +75o gọi
là trục xu hướng phải, chưa gây trục phải thực sự
+ Ở chuyển đạo ngoại biên: tim ở tư thế đứng, với trục phải (≥ 110o) và D1, aVL sẽ âm, D2, aVF sẽ dương với dạng S1Q3 Nếu dày thất phải rất mạnh tim ở tư thế nằm hay vô định và mỏm tim ra sau, ta có: trục phải rất
S2, S3 Riêng aVF, bất kỳ là tư thế nào, cũng có một sóng dương kết thúc phức bộ QRS, sóng dương này vượt quá 5mm
• Dày thất phải:
Ở V1: sóng R’ (của dạng rsR’) cao lên có thể vượt quá 15mm, thậm chí dạng rR’ Và hậu quả là ST âm rất sâu Ở D1, V5, V6: sóng S sâu và nhọn hơn Trục phải rất mạnh
• Bloc nhánh phải:
+ Bloc nhánh phải hoàn toàn: QRS giãn rộng ≥ 0,11s + Bloc nhánh phải không hoàn toàn: QRS giãn rộng ít hơn từ 0,08s đến 0,10s[34]
2.3.4.5 Chức năng hô hấp
- RLTKTN: FEV1< 80%, tỷ lệ FEV1/FVC < 70%
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 3224
- RLTKHH: FEV1 < 80%, FVC < 80%, tỷ lệ FEV1/FVC < 70%
• Phân độ giai đoạn BPTNMT GOLD 2017: 4 giai đoạn
- GOLD I (nhẹ): FEV1 ≥ 80%
- GOLD II( trung bình): 50% ≤ FEV1≤ 79%
- GOLD III (nặng): 30% ≤ FEV1≤ 49%
- GOLD IV (rất nặng): FEV1<30%
2.4 Đạo đức trong nghiên cứu
- Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được giữ kín Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác
- Không gây nên các nguy cơ có hại cho đối tượng nghiên cứu và cộng đồng
- Nghiên cứu được thông qua Hội đồng đạo đức của nhà trường và cho phép của Bệnh viện Phổi Trung ương
2.5 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được từ bệnh án của bệnh nhân được điền vào mẫu phiếu thu thập thông tin (phụ lục 1), sau đó được nhập vào phần mềm Microsoft Excel 2013 và cuối cùng được chuyển sang phần mềm SPSS version 20.0 để xử lý
Các biến số phân hạng được đo bằng tần số và tỉ lệ %
Các biến số liên tục được đo bằng trung bình cộng, độ lệch chuẩn đối với các biến phân phối chuẩn
Các kiểm định thống kê như Chi – square có mức ý nghĩa được xác định là p <0,05
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 3325
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ
3.1 Đặc điểm chung về nhóm bệnh nhân nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm về tuổi, giới
Bảng 4 Phân bố đối tượng theo giới tính, nhóm tuổi
Nhận xét: Tỷ lệ nam/nữ sấp sỉ 7,5/1, gặp nhiều nhất ở độ tuổi từ 56 đến
70 tuổi (43,5%), thấp nhất từ 40-55 tuổi (22,4%) Ttỷ lệ cao nhất ở 56-70 tuổi ( ở nữ là 50%, nam giới là 42,7%) và thấp nhất ở 40-55 tuổi ( nữ là 0%, nam
là 25,3%) Độ tuổi trung bình ở cả 2 giới là 65,3410,74, giới nữ cao hơn giới nam (70,00 10,06 và 64,7210,74)