1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC - CHI NHÁNH THANH HÓA

100 59 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi tên là Nguyễn Thị Hạnh, học viên lớp cao học TCNH24B, Trường Đại học Ngoại Thương,chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, mã số 83.40.201 với đề tài luận văn thạc sĩ: “Hoàn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC - CHI NHÁNH THANH HÓA

Ngành: Tài chính - Ngân hàng Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Mã số: 83.40.201

Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Hạnh

Người hướng dẫn: PGS, TS Nguyễn Việt Dũng

Hà Nội, năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Nguyễn Thị Hạnh, học viên lớp cao học TCNH24B, Trường Đại học Ngoại Thương,chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, mã số 83.40.201 với đề tài luận văn thạc sĩ: “Hoàn thiện hoạt động quản lý ngoại hối tại Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Thanh Hóa”, xin cam đoan:

- Luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Nguyễn Việt Dũng;

- Các thông tin, số liệu sử dụng trong đề tài được thu thập, tổng hợp từ những nguồn đáng tin cậy, được trích dẫn đầy đủ và đúng quy định

- Nội dung nghiên cứu của luận văn chưa từng được công bố

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đề tài luận văn này là kết quả nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc của tác giả Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập và xử lý số liệu, định hướng và sắp xếp nội dung cũng như những áp lực về thời gian nghiên cứu và giới hạn về chuyên môn Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu để thực hiện để tài này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ vô cùng quý báucủa PGS, TS Nguyễn Việt Dũng

Thông qua luận văn, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đến quý thầy cô của Trường Đại học Ngoại thương đã truyền đạt cho tác giả những kiến thức vô cùng giá trị trong năm học vừa qua, đặc biệt là PGS, TS Nguyễn Việt Dũng đã dành thời gian quý báu, tận tình hướng dẫn và góp ý cho tác giả trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này

Tuy nhiên, do hạn chế về kiến thức và thời gian thực hiện nghiên cứu nên chắc chắn luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tác giả kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn đọc để bài luận văn được hoàn thiện hơn

Học viên cao học

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 5

1.1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 5

1.1.1 Khái niệm quản lý ngoại hối 5

1.1.2 Mục tiêu của quản lý ngoại hối 6

1.1.3 Vai trò quản lý ngoại hối của Ngân hàng trung ương 8

1.1.4 Nội dung quản lý ngoại hối của Ngân hàng trung ương 10

1.1.5 Những đổi mới trong pháp luật về Quản lý ngoại hối những năm qua 13

1.1.5.1 Xóa bỏ độc quyền về kinh doanh ngoại hối 13

1.1.5.2 Tự do hóa các giao dịch vãng lai 13

1.1.5.3 Tự do hóa từng phần các giao dịch vốn 17

1.1.5.4 Cơ chế tỷ giá ngày càng linh hoạt 24

1.1.6 Pháp luật về quản lý ngoại hối của Việt Nam hiện nay 26

1.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA NHNN VIỆT NAM 28

1.2.1 Về cơ chế, chính sách 28

1.2.2.Về cơ sở hạ tầng và hệ thống công nghệ thông tin 29

1.2.3 Về nhân lực 30

1.2.4 Về phía các đối tượng quản lý 30

1.2.5 Về cơ chế phối hợp với các cơ quan có liên quan 30

Trang 6

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC– CHI NHÁNH THANH HÓA 32 2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC – CHI NHÁNH THANH HÓA 32 2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng Nhà nước– Chi

nhánh Thanh Hóa 32

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, bộ máy tổ chức của NHNN – Chi nhánh

Thanh Hóa 33

2.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ 33 2.1.2.2 Cơ cấu bộ máy, tổ chức 35

2.1.3 Tình hình hoạt động của Ngân hàng Nhà nước – Chi nhánh Thanh

Hóa 40

2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC – CHI NHÁNH THANH HÓA 43 2.2.1 Nhiệm vụ quản lý ngoại hối tại Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh

Thanh Hóa 43

2.2.2 Công tác triển khai, chỉ đạo, điều hành hoạt động quản lý ngoại hối

trên địa bàn 45

2.2.3 Thực trạng hoạt động quản lý ngoại hối tại Ngân hàng Nhà nước –

Chi nhánh Thanh Hóa 47

2.2.3.1 Xác nhận đăng ký/đăng ký thay đổi khoản vay nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh 48 2.2.3.2 Xác nhận đăng ký/đăng ký thay đổi giao dịch ngoại hối liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài 50 2.2.3.3 Cấp Giấy chứng nhận đăng ký/đăng ký thay đổi đại lý đổi ngoại

tệ 50 2.2.3.4 Chấp thuận đăng ký đại lý chi, trả ngoại tệ 51 2.2.3.5 Cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất Vàng trang sức mỹ nghệ 53 2.2.3.6 Các hoạt động ngoại hối khác 54

Trang 7

2.3 ĐÁNH GIÁ VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NGOẠI HỐI TẠI NHNN VIỆT

NAM - CHI NHÁNH THANH HÓA 55

2.3.1 Những kết quả đạt được 55

2.3.1.1 Về hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính 55

2.3.1.2 Việc theo dõi, giám sát, triển khai hoạt động thanh tra, kiểm tra các đơn vị có hoạt động ngoại hối 55

2.3.1.3 Việc rà soát, chỉnh sửa, góp ý ban hành văn bản mới phục vụ công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngoại hối 56

2.3.1.4 Công tác tuyên truyền, hướng dẫn, phối hợp triển khai thực hiện các quy định của Nhà nước về quản lý ngoại hối trên địa bàn 57

2.3.2 Hạn chế, vướng mắc 57

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 58

2.3.3.1 Nguyên nhân từ con người 58

2.3.3.2 Nguyên nhân từ công nghệ 59

2.3.3.3 Nguyên nhân từ cơ chế, chính sách 59

2.3.3.4 Nguyên nhân từ các đối tượng quản lý 61

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGOẠI HỐI TẠI NHNN VIỆT NAM – CHI NHÁNH THANH HÓA 62

3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA NHNN VIỆT NAM – CHI NHÁNH THANH HÓA 62

3.1.1 Góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tiết kiệm chi phí, sử dụng vốn an toàn, có hiệu quả 62

3.1.2 Đảm bảo an ninh tiền tệ, công khai, minh bạch, tuân thủ nghiêm minh quy định của Nhà nước về quản lý ngoại hối 63

3.1.3 Hạn chế sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ, hạn chế tình trạng đô la hóa, vàng hóa trên địa bàn, thu hút ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng, góp phần ổn định tỷ giá, ổn định thị trường ngoại hối và tăng dự trữ ngoại hối

Trang 8

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGOẠI HỐI TẠI

NHNN VIỆT NAM – CHI NHÁNH THANH HÓA 64

3.2.1 Thực hiện nghiêm túc quy định về QLNH của NHTW, kịp thời phản ánh, kiến nghị với NHTW về các khó khăn vướng mắc trong thực tiễn quản lý 64

3.2.2 Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghệ nghiệp của cán bộ ngân hàng 64

3.2.3 Tăng cường, đổi mới công tác thanh tra kiểm tra hoạt động về ngoại hối trên địa bàn 65

3.2.4 Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hoạt động ngoại hối 65

3.2.5 Tăng cường trao đổi thông tin, phối hợp có hiệu quả với các sở, ban, ngành trong tỉnh về quản lý ngoại hối nói riêng và tiền tệ ngân hàng nói chung 66

3.2.6 Đổi mới và nâng cao năng lực của hệ thống thông tin trong hệ thống ngân hàng, cùng với các TCTD trên địa bàn từng bước hiện đại hóa hoạt động ngân hàng 66

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 67

3.3.1 Kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ 67

3.3.2 Kiến nghị đối với NHNN Việt Nam 68

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 70

KẾT LUẬN 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

1 Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của NHNN Chi

2 Bảng 2.1: Thống kê hoạt động vay, trả nợ nước ngoài trung dài hạn trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 49

3 Bảng 2.2: Thống kê doanh số chi trả ngoại tệ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 51

4 Bảng 2.3: Kết quả hoạt động sản xuất vàng trang sức mỹ nghệ qua các năm 52

Trang 10

6 NHTM Ngân hàng Thương mại

7 NHTW Ngân hàng Trung ương

8 NHTMCP Ngân hàng Thương mại Cổ phần

9 QLNH Quản lý ngoại hối

Trang 11

TÓM TẮT NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Trong chương 1 tác giả đã đưa ra tổng quan cơ sở lý luận về quản lý ngoại hối, mục tiêu, vai trò, quy định của Nhà nước Việt Nam về quản lý ngoại hối, những đổi mới trong chính sách quản lý ngoại hối của Nhà nước trong những năm qua Đồng thời, chương 1 còn có nêu được những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý ngoại hối của cơ quan quản lý Nhà nước Chính vì vậy, nội dung chương này sẽ là

cơ sở đểnghiên cứu, áp dụng, đánh giá tình hình thực tiễn quản lý ngoại hối của NHNN Chi nhánh và định hướng cho các giải pháp hợp lý nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động hoạt động QLNH tại NHNN Chi nhánh Thanh Hóa, cũng như đưa ra một số kiến nghị đối với việc xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp lý nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế, vướng mắc chung trong hoạt động QLNH của Việt Nam

Trong chương 2 tác giả đã nêu khái quát về NHNN Chi nhánh Thanh Hóa, kết quả hoạt động ngoại hối trên địa bàn qua các năm từ 2014 - 2018 Phân tích và đánh giá hoạt động QLNH tại NHNN Chi nhánh Thanh Hóa, nêu ra những tình huống phát sinh trong quá trình quản lý tại Chi nhánh Đồng thời, cũng chỉ rõ những tồn tại, bất cập cần khắc phục để nâng cao hiệu quả QLNH tại NHNN Chi nhánh

Từ cơ sở lý luận chương 1 và phân tích thực trạng chương 2 Ở chương 3 tác giả nêu ra định hướngquản lý ngoại hối trong thời gian tới, trình bày các giải pháp, đưa ra các kiến nghị trên quan điểm cá nhân rút ra trong quá trình trực tiếp thực hiện hoạt động QLNH tại NHNN Chi nhánh Thanh Hóa, nhằm giải quyết mục tiêu nghiên cứu của đề tài là : Hoàn thiện hoạt động QLNH Tại NHNN Chi nhánh ThanhHóa.Khái quát qua sơ đồ khung nghiên cứu, phân tích sau đây:

Trang 12

Thực trạng hoạt động QLNH tại NHNN Chi nhánh Thanh Hóa

Kết quả đạt được trong QLNH tại NHNN Chi nhánh Thanh Hóa

Hạn chế, vướng mắc trong QLNH tại Chi nhánh

Đánh giá kết quả QLNH tại

Trang 13

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quản lý ngoại hối (QLNH) là một nhiệm vụ trọng tâm của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong việc hoạch định và thực hiện chính sách tiền tệ (CSTT) Chính sách QLNH hiệu quả sẽ góp phần đáng kể trong cân bằng cán cân thanh toán, kiểm soát sức mua của đồng tiền,kiềm chế lạm phát, tận dụng nguồn vốn trong nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tạo điều kiện ổn định và phát triển nền kinh tế.Cùng với

sự biến động của nền kinh tế, chính sách QLNH đã được đổi mới triệt để về tư duy lẫn điều hành.Chính sách nới lỏng QLNH đã dần dần thay thế chính sách độc quyền kiểm soát và kinh doanh ngoại hối nhà nước Cơ chế điều hành tỷ giá cũng được thay đổi căn bản từ chế độ tỷ giá cố định sang chế độ tỷ giá thả nổi có kiểm soát, các công cụ QLNH được sử dụng tương đối có hiệu quả Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng bước đầu hình thành và phát triển.Trong quá trình vận hành, chính sách QLNH đã có sự phối hợp với các CSTT khác Hệ thống văn bản pháp quy về QLNH được từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy hiệu quả Những chuyển biến trong kiểm soát ngoại hối đã góp phần đáng kể trong thu hút nguồn vốn nước ngoài, tạo điều kiện phát triển ngoại thương, mở rộng quan hệ hợp tác tế của Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới

Bên cạnh những thành quả đạt được, trong những năm vừa qua, chính sách QLNH vẫn còn những tồn tại nhất định Đó là, tỷ giá chưa thật sự phản ánh đúng cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế, vẫn còn tình trạng tỷ giá phi chính thức, mối đe dọa đối với nghĩa vụ nợ nước ngoài ngày càng cao.Ngoài ra, sự kết hợp giữa chính sách QLNH với các chính sách quản lý vĩ mô đã có nhưng chưa hài hòa đây là một trong những vấn đề còn tồn tại mà NHNN cần nghiên cứu khắc phục trong thời gian tới

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội thì hoạt động tài chính - ngân hàng diễn ra rất sôi động trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Thời gian qua, NHNN chi nhánh Thanh Hóađã triển khai đầy đủ, kịp thời, có hiệu quả hoạt

Trang 14

hoạt động QLNH còn có một số bất cập, chưa hợp lý Bản thân là một chuyên viên

đang làm công tác quản lý vàng bạc, ngoại hối tại chi nhánh, tôi chọn đề tài “Hoàn

thiện công tác quản lý ngoại hối tại Ngân hàng nhà nước – chi nhánh Thanh hóa” làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hoạt động QLNHvà những vấn đề liên quan đến ngoại hối đã có một số tác giả nghiên cứu,phân tích Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu phần lớn về chính sách tỷ giá hối đoái, hoạt động kinh doanh ngoại hối hay quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước, việc nghiên cứu về hoạt động QLNH của NHNN không nhiều, ví dụ như

Luận văn: Quản lý ngoại hối ở Việt Nam – Thực trạng và một số giải pháp”(2001)

của tác giả Trần Thị Thu Hiền Luận văn đã nêu được thực trạng hoạt động ngoại hối và QLNH của NHNN Việt Nam trong giai đoạn 1994- 2001, tuy nhiên các dữ liệu và văn bản hướng dẫn đã hết hiệu lực nên luận văn không đưa ra được các nội dung sát thực tế hiện nay

Do đó, một số tham khảo có ý nghĩa để tác giả kế thừa và tiếp tục nghiên cứu

sâu hơn đó là: Luận văn“Pháp luật về quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước

Việt Nam”(2011) của tác giả Nguyễn Thị Thúy Linh Tác giả tập trung nghiên cứu,

tiếp cận và phân tích trên phương diện pháp luật về QLNH của NHNN Việt Nam, vai trò QLNH của NHNN, từ đó thấy được những yếu tố cần thiết trong việc xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về QLNH của NHNN Việt Nam

Ngoài ra còn một số những công trình nghiên cứu khác tiêu biểu như:“Mối

quan hệ giữa kiều hối và bất ổn kinh tế vĩ mô ở Việt Nam” (Đinh Thị Thanh Long,

Tạp chí Tài chính số tháng 4/2011); “Quản lý dự trữ ngoại hối – kinh nghiệm từ

Trung Quốc” (Lê Hà Trang, Tạp chí Tài chính số tháng 6/2012); “Hoạt động điều hành tỷ giá và quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước” (Nguyễn Thị Hồng

Hải, Tạp chí Khoa học và đào tạo ngân hàng số tháng 2/2013); “Những điểm nhấn

trong quản lý ngoại hối năm 2014 và một số khuyến nghị” (Phạm Mạnh Hùng và

Lê Thị Tuấn Nghĩa, Tạp chí Ngân hàng số tháng 5/2013); “Hạn chế tình trạng đô la

Trang 15

hóa tại Việt Nam” (Luận án Tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiếu năm

2019)

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đều đề cập đến việc cần thiết phải đổi mới, linh hoạt trong QLNH, đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLNH Tuy nhiên, ở phạm vi nghiên cứu rộng, hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề hoàn thiện, đổi mới hoạt động QLNH ở phạm vi chi

nhánh NHNN Chính vì vậy, học viên đã chọn đề tài “Hoàn thiệnhoạt độngquản lý

ngoại hối tại Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Thanh Hóa” làm đề tài nghiên cứu

của mình

3 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu của đề tài là đưa ra những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực tiễn hoạt động QLNH tại cấp Chi nhánh NHNN, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động QLNH tại Chi nhánh NHNN Thanh Hóa Luận văn cũng đề xuất một số kiến nghị với các cơ quan cấp trên trong việc xem xét, điều chỉnh quy định pháp luật về QLNH nói chung, cũng như tổ chức phân công thực hiện QLNH tại hệ thống các Chi nhánh NHNN nói riêng Do vậy, mục đích cụ thể của đề tài nghiên cứu như sau:

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về QLNH của Ngân hàng trung ương (NHTW)

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động QLNH tại NHNN - Chi nhánh Thanh Hóa

- Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động QLNH tại NHNN -Chi nhánh Thanh Hóa, đồng thời, đề xuất một số kiến nghị với cơ quan quản lý cấp trên xem xét và điều chỉnh hoạt động QLNH

4 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi giới hạn nhất định, luận văn không nghiên cứu toàn bộ các vấn

đề liên quan đến QLNH mà chỉ tập trung nghiên cứu các quy định về QLNH ở Việt

Trang 16

trung vào thực trạng của quá trình áp dụng các quy định về hoạt động QLNH của NHNN Việt Nam tại NHNN Chi nhánh Các số liệu, thông tin về hoạt động QLNH tại chi nhánh được sử dụng trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2018

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp định tính dựa trênphân tích nguồn dữ liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp, phương pháp thống

kê, so sánh, tổng hợp số liệu từ các báo cáo để phân tích thực trạng hoạt động QLNH tại chi nhánh, từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt

động QLNH trên địa bàn của NHNN Chi nhánh Thanh Hóa

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nghiên cứu trước đây, các tài liệu về QLNH và các vấn đề liên quan đến ngoại hối Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua các báo cáo kết quả hoạt động ngoại hối, hoạt động tiền tệ ngân hàng của NHNN Chi nhánh Thanh Hóa

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm có 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động QLNH của NHTW

Chương 2: Thực trạng hoạt động QLNH tại NHNN -Chi nhánh Thanh Hóa Chương 3: Giải pháp hoàn thiệnhoạt động QLNH tạiNHNN - Chi nhánh Thanh Hóa

Trang 17

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

1.1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

1.1.1 Khái niệm về ngoại hối và quản lý ngoại hối

Trên giác độ hoạch định chính sách và quản lý, ngoại hối được hiểu là toàn bộ các loại tiền nước ngoài, các phương tiện chi trả có giá trị bằng tiền nước ngoài, các chứng từ, chứng khoán có giá trị ngoại tệ, và toàn bộ các loại kim khí, đá quý đều thuộc phạm vi ngoại hối cần quản lý

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 6, Luật NHNN Việt Nam năm 2010 và Điều

4, Pháp lệnh ngoại hối năm 2005, ngoại hối bao gồm:

a) Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ); b) Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác;

c) Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công

ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác;

d) Vàng thuộc Dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam;

đ) Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế

Như vậy, từ khái niệm ngoại hối được đề cập ở trên, QLNH là một hệ thống các biện pháp mà NHTW sử dụng để kiểm soát các giao dịch bằngngoại hối (đặc biệt là ngoại tệ và vàng).Hay nói cách khác, QLNH là hệ thống kiểm soát luồng ngoại hối nhập vào hoặc chuyển ra khỏi một đất nước QLNH thể hiện các nguyên

Trang 18

phủ thường ban hành các chính sách nhằm khơi thông hoặc hạn chế luồng ngoại hối nhằm thực hiện chính sách phát triển kinh tế của quốc gia trong từng thời kỳ

Quản lý nói chung gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Khái niệm QLNH được đề cập trong luận văn này là khái niệm quản lý nhà nước về ngoại hối và hoạt động ngoại hối theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản dưới luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và kiểm tra, xử lý các vi phạm QLNH là một quá trình từ việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật

về QLNH; tuyên truyền, phổ biến cơ chế, chính sách pháp luật về QLNH; tổ chức thực hiện chiến lược, cơ chế, chính sách về QLNH đến việc tổ chức bộ máy thực hiện cũng như thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về QLNH

Như vậy, QLNH là việc NHTW áp dụng các chính sách, các biện pháp tác động vào quá trình nhập, xuất ngoại hối (đặc biệt là ngoại tệ) và việc sử dụng ngoại

hối theo những mục tiêu nhất định

1.1.2 Mục tiêu của quản lý ngoại hối

Mục tiêu QLNH được quyết định bởi mục tiêu phát triển kinh tế của quốc gia trong từng thời kỳ nhất định Mục tiêu QLNH tổng thể mà hầu hết các quốc gia đều phấn đấu là đạt được sự cân đối giữa nền kinh tế đối nội và kinh tế đối ngoại

Thứ nhất, điều tiết tỷ giá, thực hiện CSTT quốc gia: Tỷ giá hối đoái là biểu

hiện về mặt giá trị giữa một đơn vị đồng tiền nước này so với một đơn vị đồng tiền nước khác NHTW thực hiệncác biện pháp nhằm thúc đẩy tập trung các nguồn ngoại hối (đặc biệt là ngoại tệ) vào tay mình để thông qua đó Nhà nước sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả cho nhu cầu phát triển kinh tế và hoạt động đối ngoại Mặt khác, NHTW thực hiện các bộng vào lượng tiền cung ứng thông qua mua bán ngoại hối trên thị trường để can thiệp vào tỷ giá khi cần thiết nhằm ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền

Thứ hai, bảo tồn Quỹ dự trữ ngoại hối: NHTW là cơ quan quản lý tài sản quốc

gia nên NHTW phải quản lý dự trữ ngoại hối quốc gia Quản lý quỹ không chỉ là việc bảo quản, cất trữ mà còn phải biết sử dụng phục vụ cho đầu tư phát triển kinh

Trang 19

tế, đảm bảo cho quỹ không chịu rủi ro tỷ giá ngoại tệ trên thị trường quốc tế Do vậy, NHTW phải mua bán để tránh thất thoát, đảm bảo giá trị đồng nội tệ

Thứ ba, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và đảm bảo tính thanh khoản

ngoại hối: Cán cân thanh toán quốc tế là một bản báo cáo thống kê tổng hợp, có hệ thống, ghi chép lại tất cả các giao dịch giữa người cư trú và người không cư trú trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm Cán cân thanh toán quốc tế phản ánh quan hệ thu chi của một nước với nước ngoài, xu hướng cung cầu ngoại tệ trong các giao dịch quốc tế nên nó tác động rất lớn tới tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ Muốn đảm bảo tính thanh khoản yêu cầu NHNN phải tích lũy một lượng dự trữ ngoại hối đủ lớn và đòi hỏi đó phải là những tài sản có tính thanh khoản cao và NHNN có thể sử dụng bất cứ lúc nào Do vậy, trong công tác quản lý dự trữ ngoại hối, NHNN cần phải xác định mức dự trữ quốc tế phù hợp trên cả tiêu chí tính theo thời gian nhập khẩu và các tỷ lệ phù hợp đảm bảo độ thanh khoản của các tài sản.Khi cán cân thanh toán bội thu lượng ngoại tệ chảy vào trong nước dẫn đến cung ngoại tệ tăng làm tỷ giá theo xu hướng giảm và ngược lại Nếu không có sự can thiệp của NHTW, tỷ giá sẽ biến động theo quan hệ cung cầu trên thị trường Vì thế, một số nước trên thế giới, NHTW có nhiệm vụ điều tiết tỷ giá để thực hiện mục tiêu của chính sách kinh tế, nghĩa là NHTW phải mua ngoại tệ khi cung lớn hơn cầu (làm tăng dự trữ) và bán ngoại tệ khi cung nhỏ hơn cầu (làm giảm dự trữ) (Nguyễn Văn Tiến, 2009 và 2012)

Thứ tư, phối hợp với việc điều hành CSTT và quản lý dự trữ ngoại hối để đảm

bảomục tiêu về lạm phát.Trong trường hợp NHNN can thiệp trên thị trường ngoại hối với vai trò là người bán ngoại tệ đồng nghĩa với việc hút tiền về do vậy mục tiêu kiểm soát lạm phát có khả năng đạt được Tuy nhiên, mặc dù việc bán ngoại tệ sẽ góp phần làm đồng tiền Việt Nam lên giá có ảnh hưởng tốt tới việc kiểm soát lạm phát song lại ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu vì VND lên giá thì sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam sẽ yếu đi Do vậy, khi điều hành CSTT theo mục tiêu lạm phát, việc QLNH luôn luôn phải hỗ trợ mục tiêu này và phải đánh đổi với việc đạt

Trang 20

Thứ năm, kiểm soát tình trạng đô la hóa (ĐLH) nền kinh tế.ĐLH là hiện tượng

công dân của một quốc gia (khu vực) sử dụng ngoại tệ mạnh có khả năng chuyển đổi cao- chủ yếu là đô la Mỹ (USD) - làm phương tiện dự trữ, công cụ thanh toán, thậm chí làm thước đo giá trị Hiện tượng này được biểu hiện dưới hai hình thức; một là, số lượng ngoại tệ lưu thông trong nền kinh tế cao; hai là, xu hướng chuyển

từ bản tệ sang ngoại tệ mạnh khi có một biến động bất thường trong nền kinh tế vĩ

mô cao

Trong những điều kiện cụ thể, ĐLH có thể phát huy những mặt tích cực như tăng cung ngoại tệ, giảm áp lực lạm phát hoặc làm chỗ dựa cho nền kinh tế khi đồng bản tệ quá suy yếu.Nếu lạm dụng, để kéo dài với mức độ cao thì ĐLH sẽ gây tác hại

ở thời kỳ sau, đặc biệt khi đồng nội tệ đã phục hồi và nền kinh tế đang phát triển.Cụ thể, ĐLH làm mất chủ quyền về tiền tệ, làm cho thị trường ngoại hối kém phát triển

do các quan hệ vay - trả bằng ngoại tệ lấn át các quan hệ mua bán ngoại tệ.ĐLH làm giảm khả năng chuyển đổi của đồng tiền, tạo điều kiện cho buôn lậu phát triển, ảnh hưởng tiêu cực tới sản xuất trong nước Nhà nước không những thất thu về thuế mà còn mất cả nguồn thu từ việc phát hành đồng nội tệ Về dài hạn, ĐLH có những tác động tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế bền vững do nó làm giảm chất lượng hoạch định và thực thi CSTT, giảm hiệu quả của chính sách tỷ giá, tạo ra nguy cơ mất an toàn hệ thống ngân hàng vì NHTW không thực hiện được vai trò - Người cho vay cuối cùng của mình (Nguyễn Thị Thu Hiếu, 2019)

Mục tiêu của chính sách QLNH hiện hành của NHNN Việt Nam là nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, thực thi các mục tiêu của CSTT quốc gia, nâng cao tính chuyển đổi của đồng Việt Nam (VND), đảm bảo an ninh tiền tệ quốc gia, thực hiện mục tiêu trên lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng đồng Việt Nam, thực hiện các cam kết của Việt Nam trong lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về ngoại hối Trong đó, mục tiêu quan trọng và ưu tiên hàng đầu của QLNH trong giai đoạn hiện nay là tiến tới trên lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng

đồng Việt Nam (Nguyễn Thị Thúy Linh, 2011, Pháp luật về quản lý ngoại hối của

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

1.1.3 Vai trò quản lý ngoại hối của Ngân hàng trung ương

Trang 21

Là bộ máy chuyên quản của hoạt động QLNH, NHTW có nhiệm vụ trọng yếu

là hoạch định, điều hành, quản lý và giám sát chính sách tỷ giá, chính sách QLNH nhằm đạt được các mục tiêu chủ yếu của nền kinh tế như tăng trưởng kinh tế, ổn định tiền tệ, ổn định thị trường, giá cả, tạo việc làm cho người lao động, góp phần

ổn định cuộc sống và trật tự xã hội Thông qua hoạt động QLNH, NHTW cung cấp một cách tốt nhất các điều kiện tiền tệ (mà cụ thể là ngoại hối) cho nền kinh tế, hay nói cách khác là tăng tính hiệu quả trong việc cung cấp các dịch vụ tiền tệ trên cả phương diện vĩ mô và vi mô

NHTW can thiệp vào thị trường ngoại hối để đạt các mục đích vĩ mô như kiềm chế lạm phát và ổn định thị trường đồng thời theo đuổi các mục đích trực tiếp như tác động tỷ giá, giảm thiểu biến động tỷ giá, tạo thanh khoản cho thị trường, và tác động dự trữ ngoại hối

QLNH là yếu tố hết sức quan trọng và không thể thiếu trong việc thực thi chính sách tiền tệ quốc gia Một đất nước trên thị trường lưu thông nhiều loại ngoại

tệ, nhất là các ngoại tệ mạnh sẽ làm suy yếu, giảm sức mua của tiền tệ trong nước, nguy hại hơn là giảm lòng tin của công chúng, gây tâm lý không thích đồng nội tệ

và cất trữ ngoại tệ Một nền kinh tế lưu thông tiền tệ mất tính độc lập, tự chủ, lệ thuộc vào tiền của nước ngoài sẽ dẫn đến lưu thông tiền tệ trong nước rối loạn, lạm phát, sức mua đồng tiền sụt giảm, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, lưu thông hàng hóa và đời sống xã hội

NHNN là chủ thể quản lý, là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý, điều hành, giám sát hoạt động ngoại hối, thực hiện chức năng QLNH với vai trò là NHTW của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam NHNN được độc lập tương đối trong việc đưa ra các quyết định quản lý và điều hành hoạt động ngoại hối.Chính phủ và Quốc hội chỉ đưa ra những định hướng, mục tiêu lớn, tạo ra một khuôn khổ pháp lý đầy đủ cho hoạt động QLNH của NHNN

Để thực hiện nhiệm vụ, chức năng của mình, NHNN sử dụng một hệ thống các công cụ quản lý vĩ mô đối với ngoại hối bao gồm hệ thống các văn bản quy

Trang 22

trong mỗi giai đoạn cụ thể với vai trò là những biện pháp điều tiết được tiến hành thông qua các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô, trong đó NHNN vận dụng kết hợp các nhóm phương pháp quản lý như: nhóm phương pháp kinh tế, nhóm phương pháp hành chính – tổ chức và nhóm phương pháp vận động, giáo dục, tuyên truyền, phổ biến một cách nhịp nhàng và linh hoạt nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt

động quản lý nhà nước về ngoại hối (Nguyễn Thị Thúy Linh, 2011, Pháp luật về

quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.)

1.1.4 Nội dung quản lý ngoại hối của Ngân hàng trung ương

Theo quy định của pháp luật về QLNH, vai trò QLNH của NHNN Việt Nam thể hiện ở nhiệm vụ và quyền hạn của NHNN: “Quản lý nhà nước về ngoại hối, hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng” (Khoản 17, Điều 4 Luật NHNN Việt Nam năm 2010)

Cụ thể là (Điều 31 Luật NHNN Việt Nam năm 2010):

“1 Quản lý ngoại hối và sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam theo quy

định của pháp luật

2 Tổ chức và phát triển thị trường ngoại tệ

3 Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối cho tổ chức tín dụng, các tổ chức khác có hoạt động ngoại hối

4 trình Thủ tướng Chính phủ quyết định biện pháp hạn chế giao dịch ngoại hối để bảo đảm an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia

5.tổ chức, quản lý, tham gia thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

6 nhiệm vụ, quyền hạn khác về quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối theo quy định của pháp luật.”

- Đối với các giao dịch vãng lai: QLNH về thanh toán chuyển tiền trong hoạt

động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, hoạt động chuyển tiền cá nhân vào trong nước và chuyển tiền cá nhân từ trong nước ra nước ngoài;

- Đối với các giao dịch vốn: Công tác quản lý nhà nước về ngoại hối đối với

giao dịch vốn bao gồm, quản lý hoạt động vay, trả nợ nước ngoài của các tổ chức

Trang 23

tín dụng (TCTD) và tổ chức kinh tế, hoạt động cho vay và thu hồi nợ nước ngoài, QLNH đối với đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và của Việt Nam ra nước ngoài

Một là, quản lý vay, trả nợ nước ngoài

Thực hiện quản lý hoạt động vay, trả nợ nước ngoài của người cư trú là doanh nghiệp, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các đối tượng khác được thực hiện vay, trả nợ nước ngoài theo quy định của pháp luật:

+ Thực hiện quản lý nhà nước đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp, tổ chức khác thuộc khu vực công; giám sát, theo dõi việc vay, trả nợ nước ngoài của khu vực tư nhân; hướng dẫn và kiểm tra việc bảo lãnh vay nước ngoài của các NHTM và của các tổ chức khác được phép cấp bảo lãnh vay nước ngoài theo quy định của pháp luật;

+ Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng hạn mức vay thương mại nước ngoài hàng năm của doanh nghiệp, tổ chức khác của khu vực công

và dự báo mức vay nước ngoài hàng năm của khu vực tư nhân trong cả nước gửi Bộ Tài chính tổng hợp để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

+ Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính điều hành hạn mức vay thương mại nước ngoài hàng năm của doanh nghiệp, tổ chức khác đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

+ Tổng hợp tình hình vay, trả nợ nước ngoài hàng năm của các doanh nghiệp,

tổ chức khác thuộc khu vực công và khu vực tư nhân; báo cáo Thủ tướng chính phủ, đồng gửi Bộ Tài chính để tổng hợp chung tình hình về vay, trả nợ nước ngoài hàng năm của cả nước;

+ Hướng dẫn và tổ chức việc đăng ký các khoản vay nước ngoài của các doanh nghiệp, tổ chức khác thuộc khu vực công và khu vực tư nhân (kể cả các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh);

+ Giám sát các luồng tiền tệ liên quan đến hoạt động vay, trả nợ nước ngoài phục vụ cho việc tổng hợp cán cân thanh toán quốc tế, điều hành chính sách tiền tệ

Trang 24

Hai là, Về quản lý cho vay và thu hồi nợ nước ngoài của Chính phủ, tổ chức

kinh tế, TCTD:

Thực hiện quản lý và hướng dẫn thực hiện về QLNH đối với hoạt động cho vay, thu hồi nợ nước ngoài và hoạt động bảo lãnh cho người không cư trú của TCTD và tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật

+ Phối hợp với Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quyết định mức, nguồn vốn, hình thức, đối tượng, cơ chế quản lý cho vay và thu hồi nợ nước ngoài của Chính phủ;

+ Quy định điều kiện, đối tượng, hình thức và cơ chế quản lý cho vay, thu hồi

nợ nước ngoài đối với người cư trú là TCTD;

+ Quy định điều kiện, thủ tục, quy trình cấp phép và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định cho phép người cư trú là tổ chức kinh tế cho vay, thu hồi nợ nước ngoài;

- Hoạt động đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam hoặc của Việt Nam ra

nước ngoài

Hướng dẫn về ngoại hối đối với hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và

đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài theo quy định của pháp luật

+ Phối hợp và tham gia với các Bộ, Ngành liên quan trong việc xây dựng các

cơ chế, chính sách và thẩm định các dự án đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài

+ Xây dựng cơ chế theo dõi, giám sát việc chuyển tiền và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài

+ Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục và việc sử dụng ngoại hối đề đầu tư ra nước ngoài

+ Phối hợp và tham gia với các Bộ, Ngành trong việc xây dựng cơ chế, chính sách quản lý hoạt động phát hành chứng khoán ra nước ngoài của người cư trú và người không cư trú phát hành chứng khoán tại Việt Nam (Quản lý ngoại hối và vàng, https://www.sbv.gov.vn)

Trang 25

1.1.5 Những đổi mới trong pháp luật về Quản lý ngoại hối những năm qua

1.1.5.1 Xóa bỏ độc quyền về kinh doanh ngoại hối

Từ năm 1989, thương mại được tự do hoá Hoạt động ngoại hối được phát triển vượt bậc, Nhà nước cho phép các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế đủ điều kiện để xuất nhập khẩu trực tiếp Hệ thống ngân hàng được cải tổ thành hai cấp

đã phản ánh đúng chức năng và nhiệm vụ của ngân hàng, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển.Bên cạnh đó Chính phủ cũng có nhiều nỗ lực trong việc thay đổi căn bản QLNH Sự ra đời của thông tư số 33/KH-TT hướng dẫn thi hành Nghị định 161/HĐBT vào tháng 3/1989 và Quyết định 337 của Chính Phủ vào năm 1991 đã đánh dấu thời điểm chuyển đổi cơ chế QLNH ở Việt Nam Nội dung chính của các văn bản này là xoá bỏ chế độ độc quyền quản lý và kinh doanh ngoại hối Kể từ đó chính sách QLNH luôn đổi mới theo hướng:

1.1.5.2 Tự do hóa các giao dịch vãng lai

Chính sách kiều hối

Từ năm 1988, theo Quyết định số 161/HĐBT ngày 18/10/1988 người nhập cảnh được mang ngoại tệ vào không hạn chế sau khi khai báo hải quan Sau khi Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Mỹ năm 1995, NHNN ban hành quyết định 48/QĐ-NHNN7 ngày 23/2/1995 khuyến khích kiều hối chuyển về nước.Theo quy định này, kiều hối chuyển về không hạn chế về khối lượng, số lần gửi và loại ngoại

tệ Người thụ hưởng chính thức được nhận ngoại tệ thôngqua tài khoản ngoại tệ cá nhân hoặc tài khoản tiết kiệm bằng ngoại tệ, hoặc có thể chuyển đổi ra VND theo tỷ giá của ngân hàng, nhưng phải chịu thuế thu nhập không thường xuyên Các đại lý kiều hối được chi trả kiều hối khi ký hợp đồng với ngân hàng Việc không cho phép nhận kiều hối bằng ngoại tệ tiền mặt hạn chế việc phát triển thị trường tự do và mức

độ ĐLH trong thời kỳ này Tuy nhiên, trên thực tế người thụ hưởng đã rút tiền gửi trước thời hạn từ các tài khoản tiền gửi ngoại tệ Tỷ giá chuyển đổi thấp hơn tỷ giá thị trường tự do Các NHTM chưa cải tiến dịch vụ ngân hàng và phí còn cao và phải chịu thuế thu nhập nên lượng kiều hối chuyển về tuy cao hơn giai đoạn trước nhưng

Trang 26

còn thấp so với tiềm năng Hoạt động chuyển tiền lậu vẫn còn xảy ra với quy mô lớn

Năm 1999, để phù hợp với Nghị định 63 về QLNH và khắc phục các yếu điểm của chính sách kiều hối nêu trên, Quyết định 170/1999/QĐ-TTg ngày 18/9/1999 của chính phủ và Thông tư số 02/2000/TT-NHNN7 ngày 24/02/2000 Hướng dẫn thị hành Quyết định 170 trên của NHNN được ban hành

Đặc biệt, từ tháng 8/2003, NHNN đã cho phép các NHTM cổ phần được thành lập các công ty kiều hối trực thuộc, có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập bằng vốn tự có; điều kiện thành lập các văn phòng đại diện ở nước ngoài để xúc tiến các kênh kiều hối cũng thuận lợi hơn

Cuối tháng 9/2005, Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định nâng tỷ lệ sở hữu

cổ phiếu của các nhà đầu tư nước ngoài trong các công ty cổ phần (trong đó có Việt Kiều) lên 49%, thay mức 30% như trước Điều này được các nhà đầu tư Việt kiều đánh giá cao sau nhiều năm kiến nghị

Ngoài ra, theo Nghị định 81/2001/NĐ-CP ngày 5/11/2001 về việc cho phép Việt Kiều trở về nước mua nhà, đất cũng đã được triển khai, tạo thêm kênh vốn chính thống với khối lượng lớn

Hiện nay, thực hiện chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước về việc tạo mọi điều kiện thuận lợi thu hút nguồn lực kiều hối xây dựng đất nước, các chính sách QLNH đối với nguồn kiều hối luôn được thực hiện theo hướng thông thoáng

và phù hợp với xu thế hội nhập, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người thụ hưởng trong nước cũng như các tổ chức tham gia hoạt động cung ứng dịch vụ kiều hối, qua

đó khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài chuyển tiền về nước Với việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị định 89/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định điều kiện đối với hoạt động đại lý đổi ngoại tệ, hoạt động cung ứng dịch vụ nhận và chi, trả ngoại tệ của tổ chức kinh tế; Thông tư 34/2015/TT-NHNN ngày 31/12/2015 hướng dẫn hoạt động cung ứng dịch vụ nhận và chi, trả ngoại tệ và Thông tư 11/2016/TT-NHNN ngày 29/6/2016 sửa đổi, bổ sung một số văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động cung ứng dịch vụ nhận và chi, trả ngoại

Trang 27

tệ, hoạt động đại lý đổi ngoại tệ, bàn đổi ngoại tệ của cá nhân Có thể nói Chính phủ

đã xây dựng hành lang thông thoáng thu hút dòng tiền về Việt Nam thông qua chính sách tối ưu hoá lợi ích của người thụ hưởng, đa dạng hoá hình thức nhận kiều hối,

tự do hoá và phát triển các kênh cung cấp dịch vụ chuyển tiền kiều hối Điều này đã góp phần quan trọng giúp Việt Nam thường xuyên lọt vào danh sách 10 quốc gia nhận lượng kiều hối lớn nhất thế giới

Chính sách kết hối

Năm 1994, nhằm hướng đến trên lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng đồng Việt Nam, Chính phủ đã ban hành quyết định 396-TTg ngày 4/8/1994 ―Về việcbổ sung, sửa đổi một số điểm về QLNH trong tình hình mới Tiếp theo, NHNN ban hành Quyết định số 37/1998/QĐ-TTg ngày 14/2/1998 về một số biện quản lý ngoại tệ và Công văn số 157/1998/CV-NHNN7 ngày 23/2/1998 về việc thực hiện điều 5 Quyết định số 37/1998/QĐ-TTg Nội dung chính của các văn bản này là các tổ chức kinh

tế (không bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nằm ngoài danh mục: sản xuất thay thế hàng nhập khẩu thiết yếu, xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình quan trọng và doanh nghiệp trong khu chế xuất) được giữ lại một phần ngoại tệ có trên tài khoản để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh theo kế hoạch thu chi ngoại tệ được lập theo hàng quý, số còn lại phải bán cho hệ thống ngân hàng Riêng

số ngoại tệ từ vốn pháp định (của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI), nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay và tài trợ của nước ngoài chưa sử dụng không phải bán.Đối với các tổ chức phi kinh tế chỉ được giữ lại ngoại

-tệ đủ để duy trì tài khoản ngoại -tệ, số còn lại phải bán cho ngân hàng Các chính sách kết hối này đã góp phần tập trung ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng, giảm tình trạng đầu cơ, găm giữ ngoại tệ, song vẫn còn mang nặng tính chất kế hoạch hoá tập trung , hạn chế sự linh hoạt của các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh Quyết định số 37 của Chính phủ chỉ cho phép mỗi tổ chức mở một tài khoản ngoại tệ tại một ngân hàng, vì vậy doanh nghiệp không có sự so sánh chất lượng dịch vụ giữa các ngân hàng, không tạo ra cơ chế cạnh tranh cho hệ thống ngân

Trang 28

Giai đoạn từ năm 1998 đến nay: Ngày 12/9/1998 Chính phủ đã ban hành Quyết định 173/1998/QĐ-TTg và NHNN ban hành Thông tư số 08/1998/TT-NHNN7 Hướng dẫn thi hành quyết định trên quy định chế độ kết hối đố với người

cư trú là tổ chức kinh tế trừ các doanh nghiệp FDI không được Chính phủ cân đối ngoại tệ phải bán 80% nguồn thu vãng lai cho Ngân hàng, các tổ chức phi kinh tế phải bán 100% ngoại tệ từ nguồn thu vãng lai cho Ngân hàng trong vòng 15 ngày Các nguồn thu ngoại tệ không phải nguồn thu vãng lai thì không phải bán Đến cuối năm 1998, để tránh tình trạng các doanh nghiệp tìm cách lách biến nguồn thu vãng lai thành nguồn thu khác để tránh chế độ kết hối, Thủtướng chính phủ ra Quyết định 232/1998/QĐ-TTg sửa đổi Quyết định 173 giảm thời gian kết hối từ 15 ngày xuống

3 ngày Chính sách này đã làm giảm đáng kể việc găm giữ ngoại tệ của các tổ chức trên tài khoản, làm giảm sức ép lên tỷ giá và cung cầu ngoại tệ trên thị trường đã bớt căng thẳng vào đầu năm 1999

Để thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế, với xu hướng tự do cán cân vãng lai, chính sách kết hối- một công cụ hành chính bắt buộc chỉ nên áp dụng tạm thời

đã có nhiều thay đổi kể từ năm 1999 Cụ thể tỷ lệ kết hối giảm dần từ mức 80% đối với các tổ chức kinh tế xuống còn 50% năm 1999 theo Quyết định số 314/1999/QĐ-NHNN7 của Ngân hàng nhà nước ban hành ngày 9/9/1999 , 40% năm 2001 trong Quyết định số 61/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/4/2001, 30% năm 2002 theo Quyết định số 61/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 15/5/2002 và 0% năm 2003 trong Quyết định số 46/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ban hành ngày 2/4/2003 Sự thay đổi trong chính sách kết hối năm 2001 thể hiện nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp Quy định này áp dụng đối với tất cả các doanh nghiệp FDI khi các doanh nghiệp này được quyền mua bán ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng khi có nhu cầu mà trước đây họ phải tự cân đối ngoại tệ Chính sách kết hối 0% năm 2003 đánh dấu bước đi tiến tới hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam thông qua việc tự do hoá cán cân vãng lai của Việt Nam theo tiêu chuẩn của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)

Ngoài ra, các giao dịch chuyển tiền một chiều từ Việt Nam ra nước ngoài trong các giao dịch vãng lai đã được nới lỏng Cụ thể, NHNN đã trình Chính phủ

Trang 29

ban hành Nghị định số 131/2005/NĐ-CP ban hành ngày 18/04/2005 sửa đổi, bổ xung Nghị định 63/1998/NĐ-CP ngày 17/8/1998 về QLNH, trong đó đơn giản hoá các thủ tục chuyển tiền một chiều từ Việt Nam ra nước ngoài, theo đó người không

cư trú và cư trú được mua, bán, chuyển ngoại tệ ra nước ngoài cho các nhu cầu thanh toán vãng lai hợp pháp không phải xuất trình các các chứng từ liên quan đến việc xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước Việt Nam như trước đây; NHNN cũng đã sửa đổi, bổ sung quy đinh vềmang ngoại tệ tiền mặt khi xuất cảnh (Quyết định số 921/2005/QĐ-NHNN ngày 26/5/2005) Quyết định mới này nâng mức ngoại tệ phải khai báo Hải quan lên 7.000 USD (trước 3.000 USD), tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân có nhu cầu mua, chuyển, mang ngoại tệ cho các mục đích được phép như du lịch, học tập, khám chữa bệnh…giảm bớt các thủ tục cấp phép của NHNN

Chính sách vay và trả nợ nước ngoài

Trước năm 1990 với chính sách đóng cửa nền kinh tế, nợ nước ngoài hình thành chủ yếu từ khu vực công.Hiệu quả sử dụng vốn chưa được coi trọng và tính toán trên cơ sở hiệu quả.Thời kỳ này, Việt Nam mới chỉ chú trọng vay càng nhiều càng tốt, chưa có chiến lược và chính sách quản lý nợ nước ngoài phù hợp, và chưa tính đến khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế Do vậy vào cuối những năm 80 Việt Nam không có khả năng trả nợ IMF khi xuất khẩu giảm mạnh do bất ổn chính trị ở các nước XHCN

Từ năm 1991, cùng với công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế, Chính phủ đã

Trang 30

nợ, lấy mới trả cũ cũng như bố trí một phần ngân sách để trả Dư luận quốc tế đánh giá cao kết quả xử lý nợ của Việt Nam và coi đây là bước đi quan trọng của Việt Nam khi hội nhập thị trường tài chính quốc tế

Nghị định số 58/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/8/1993 đã tạo cơ sở pháp lý ban đầu cho phép các doanh nghịêp được ký kết vay nợ nước ngoài theo phương thức tự vay tự trả Theo nghị định này, các doanh nghiệp trước khi vay vốn nước ngoài phải xin phép NHNN và các doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ từ nguồn vay vốn phải chuyển về nước vào tài khoản ngoại tệ mở tại NH được phép Sau khi

có văn bản chấp thuận của NHNN về việc vay vốn nước ngoài, các doanh nghiệp mới được ký hợp đồng vay vốn nước ngoài và thực hiện rút vốn khoản vay và trả nợ khoản vay khi đến hạn

Để từng bước nới lỏng chính sách vay và trả nợ nước ngoài, đáp ứng yêu cầu hội nhập nền kinh tế, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/1998/NĐ-CP thay thế Nghị định 58 nói trên phân tích rõ trách nhiệm quản lý của các bộ ngành Theo đó, trừ các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp được quyền ký kết khoản vay nước ngoài phù hợp với các điều kiện vay vốn quy định cho từng thời kỳ và chỉ cần đăng ký khoản vay nước ngoài với NHNN trước khi rút vốn Tuy nhiên, khi vay vốn nước ngoài, các doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện về lãi suất do NHNN quy định trong từng thời kỳ (năm 1999 các khoản vay ngắn hạn phải có lãi suất< 7.5%

và lãi suất của khoản vay trung dài hạn < 2.5%) và các doanh nghiệp chỉ được mở một tài khoản ngoại tệ khác để tiếp nhận vốn vay và trả nợ nước ngoài Các trường hợp mở tài khoản ở nước ngoài để tiếp nhận và chi trả vốn vay phải được NHNN cho phép trong trường hợp đặc biệt

Hiện nay hoạt động vay và trả nợ nước ngoài được quản lý theo NĐ 219/2012/NĐ- CP do NHNN ban hành Nghị định này ra đời khắc phục hạn chế lớn nhất của NĐ 90 đó là quy định rõ trách nhiệm của các quản lý, đồng thời tạo cơ chế thông thoáng hơn đối với hoạt động vay vốn nước ngoài của doanh nghiệp (Lãi suất trần được bỏ, các doanh nghiệp được quyền mở tài khoản ngoại tệ khác để tiếp nhận vay vốn) Đồng thời nhằm đánh giá đúng hiện trạng nợ của quốc gia từ đó có những giải pháp quản lý và trả nợ một cách toàn diện, tránh gây gánh nặng nợ cho thế hệ

Trang 31

tương lai, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyếtđịnh số 231/2006/QĐ-TTg ban hành Quy chế Xây dựng và quản lý hệ thống chỉ tiêu đánh giá, giám sát tình trạng nợ nước ngoài của quốc gia Trong đó quy định rõ các căn cứ mức độ nợ của quốc gia, tình trạng nợ của khu vực công và phù hợp với thông lệ quốc tế, các ngưỡng an toàn đối với các chỉ tiêu nợ nước ngoài trong từng thời kỳ, đảm bảo bền vững nợ nước ngoài của quốc gia Theo quy định của Quy chế này, hàng năm Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổng hợp và xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ thông qua Tổng hạn mức vay thương mại nước ngoài của quốc gia như một bộ phận của kế hoạch hàng năm về vay và trả

nợ nước ngoài

Về các chính sách quản lý nợ nước ngoài ngắn hạn: Năm 1997, Thống đốc NHNN ban hành QĐ số 207/QĐ-NH7 kèm theo quy chế mở L/C trả chậm, trong đó đưa ra các quy định chặt chẽ đối với các NH mở L/C và các doanh nghiệp khi thực hiện nghiệp vụ này khi cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực trong khu vực bùng nổ để hạn chế sự gia tăng quy mô nợ nước ngoài dưới hình thức mở L/C trả chậm Tiếp đó, năm 2001, NHNN đã ban hành quyết định số 711/2001/QĐ-NHNN thay thế Quyết định 207 nói trên, trong đó tạo điều kiện cho NHTM chủ động xác định hạn mức mở L/C trong giới hạn an toàn, thả lỏng cho doanh nghiệp tính toán, lựa chọn phương án vay vốn

Chính sách quản lý ngoại hối trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài:

Trước đây, các doanh nghiệp FDI phải tự cân đối ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng trừ một số doanh nghiệp FDI hoạt động trong lĩnh vực ưu tiên Cuối những năm 1990, quy định này đã được bãi bỏ, cho phép mọi doanh nghiệp được quyền mua ngoại tệ tại các NHTM khi có nhu cầu thanh toán với nước ngoài Bên cạnh đó quy định về mọi nguồn thu ngoại tệ của cán cân vốn (kể cả ngắn, trung và dài hạn) của doanh nghiệp phải được thực hịên qua tài khoản vốn chuyên dùng đã được nới lỏng Cụ thể, hiện nay chỉ có các nguồn thu ngoại tệ của doanh nghiệp FDI thuộc cán cân vốn là trung, dài hạn mới phải thực hiện qua tài khoản này Khi vay vốn

Trang 32

lỏng, NHNN đã có văn bản hướng dẫn vốn vay trong tổng vốn đầu tư là vốn vay trong nước và nước ngoài nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể vay mới, để lựa chọn phương án vay vốn với chi phí rẻ nhất Khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, thay vì phải chịu mức thuế từ 3% đến 7% như trước đây, hiện nay theo Quyết định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003, mức thuế này bằng 0%

Chính sách đầu tư gián tiếp của nước ngoàivào Việt Nam

Theo Quyết định số 36/2003/QĐ-TTg ngày 11/3/2003 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam: Các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần trong doanh nghiệp Việt Nam tối đa bằng 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp Việt Nam Đây được coi là một động thái tích cực đối với các nhà đầu tư nước ngoài nhằm phát triển thị trường vốn Song trong giai đoạn này, Chính phủ đang đẩy mạnh việc

cổ phần hóa DNNN, trong đó có cả các tổng công ty, các doanh nghiệp lớn và Nghị định 187/2004/NĐ-CP phép rộng rãi nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài tham gia đấu giá mua cổ phần của các DNNN cổ phần hóa, thì việc giới hạn tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài tối đa là 30% sẽ không tạo điều kiện cho nhà đầu tư có nguồn lực tài chính, công nghệ tiên tiến tham gia vào quá trình cổ phần hóa Hơn nữa, tại thời điểm đó rất nhiều nhà đầu tư đã mua tới giới hạn được phép đầu tư, muốn đầu tư thêm nữa nhưng không được phép Nhận thấy được sự bất cập

đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 238/2005/QĐ-TTg ngày 29/9/2005 và Thông tư số 90/2005/TT-BTC (17/10/2005) Hướng dẫn thi hành Quyết định số 238/2005/QĐ-TTg ngày 29/9/2005 về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào thị trường chứng khoán Theo đó, Tổ chức, cá nhân nước ngoài mua, bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam được nắm giữ tối đa 49% tổng

số cổ phiếu niêm yết,đăng ký giao dịch của một tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch trên Trung tâm giao dịch chứng khoán (Tỷ lệ này trong các NHTM cổ phần vẫn là 30%)

Với định hướng hội nhập kinh tế quốc tế, Quyết định số NHNN ban hành ngày 16/12/2004 của NHNN đối với việc mua, bán chứng khoán của nhà đầu tư nước ngoài tại Trung tâm giao dịch chứng khoán, thay thế cho Quyết

Trang 33

1550/2004/QĐ-định số 998/2002/QĐ-NHNN ngày 13/9/2002, theo đó quy 1550/2004/QĐ-định nhà đầu tư nước ngoài phải nắm giữ khoản tiền vốn đầu tư trong 1 năm được bãi bỏ và đưa ra các điều kiện chuyển các khoản thu nhập từ đầu tư chứng khoán về nước một cách thuận lợi hơn

Mặc dù đã khá thông thoáng trong chính sách đầu tư gián tiếp, song có thể thấy một trong những trở ngại lớn đối với các nhà đầu tư gián tiếp trong thời gian qua là việc chuyển đổi USD sang VND để đầu tư (theo Nghị định 160/2006/NĐ-CP

về chi tiết thi hành Pháp lệnh ngoại hối mới được ban hành quy định các nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư gián tiếp vào Việt Nam phải sử dụng tiền Việt Nam đồng) vào cuối năm 2007 và đầu năm 2008 Sau khi gia nhập WTO, lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng đột biến (chỉ tính riêng năm 2007 đã tới 20 tỉ USD) Về nguyên tắc khi luồng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam tăng, Việt Nam Đồng (VND) sẽ lên giá để tạo ra điểm cân bằng Tuy nhiên, với chiến lược phát triển dựa vào xuất khẩu, NHNN Việt Nam phát hành VND mua lại lượng ngoại tệ này với mục đích kìm tỉ giá của VND với đồng Đô la Mỹ (USD) thấp hơn điểm cân bằng nhằm nâng cao tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu về giá cả Song, lại làm nảy sinh

sự bất ổn về giá cả tiêu dùng, lạm phát cuối năm 2007 lên đến 2 con số Đứng trước nguy cơ lạm phát tăng cao, NHNN lại quyết định hạn chế việc phát hành VND vào cuối năm 2007, trùng với thời điểm các nhà đầu tư nước ngoài tăng cường đầu tư vào Việt Nam Nền kinh tế dư thừa USD, đồng USD giảm giá Các NHTM do phải tính toán đến lợi nhuận, nên đã hạn chế mua USD Các nhà đầu tư chứng khoán không thểbán ngoại tệ để đầu tư Điều này đã tác động một phần không nhỏ đến sự chững lại trên thị trường chứng khoán

Chính sách đầu tư ra nước ngoài

Hiện nay, Theo Nghị định số 83/2015/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 25/9/2015, quy định về đầu tư ra nước ngoài, hoạt động đầu tư ra nước ngoài được

mở rộng cho mọi thành phần kinh tế Trên cơ sở quyết định này, các doanh nghiệp Việt Nam được mở rộng nguồn ngoại tệ để chuyển ra nước ngoài góp vốn đầu tư,

Trang 34

của Nghị định 78/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Thủ tưởng Chính phủ Khi tiến hành thủ tục xin cấp phép, ngoài nộp hồ sơ giấy cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Bộ KHĐT) như quy định trước đây, nhà đầu tư còn phải tiến hành kê khai trực tuyến các thông tin về dự án đầu tư tại Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài và nhận mã khai hồ sơ trực tuyến Sau khi tiếp nhận hồ sơ dự án đầu tư, cơ quan đăng ký đầu tư cấp tài khoản tạm thời cho nhà đầu tư để truy cập, theo dõi tình hình xử lý hồ sơ cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.Chính sách đầu tư ra nước ngoài đã được điều chỉnh theo hướng mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn vốn ngoại tệ của các doanh nghiệp Việt Nam được phép đầu tư ra nước ngoài, quy định cụ thể thời gian giải quyết các thủ tục đăng ký đầu tư, tỷ lệ chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài trước khi được cấp phép, đồng thời áp dụng quản lý trên Hệ thống thông tin quốc gia để chủ động, dễ dàng quản lý

Đối với các dòng vốn đầu tư gián tiếp ra nước ngoài, do tính chất linh hoạt và rủi ro cao nên Việt Nam vẫn chưa thực hiện mở cửa đối với dòng vốn này Trước thời điểm Luật Đầu tư 2014 được ban hành, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể về hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài cũng như chức năng, trách nhiệm quản lý của các bộ, ngành trong việc quản lý hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài

Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, nền kinh tế và thị trường tài chính chưa thực sự phát triển, quy mô dự trữ ngoại hối Nhà nước còn mỏng, Việt Nam đang trong giai đoạn ưu tiên sử dụng vốn để phục vụ mục tiêu đầu tư phát triển kinh

tế trong nước, hệ thống tài chính của Việt Nam đang trong quá trình cơ cấu lại mạnh mẽ, do vậy, chính sách quản lý hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài của Việt Nam cần được xây dựng theo hướng chặt chẽ, thận trọng, phù hợp với điều kiện và năng lực của các chủ thể tham gia Trên cơ sở đó, ngày 31/12/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 135/2015/NĐ-CP quy định về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài Nghị định được xây dựng dựa trên các quan điểm và nguyên tắc: Xây dựng cơ chế chính sách quản lý chặt chẽ, thận trọng nhằm một mặt tạo cơ sở pháp

Trang 35

lý, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho nhà đầu tư là tổ chức và cá nhân trong việc tham gia hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài, mặt khác nhằm thực hiện mục tiêu quản lý nhà nước; Đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, tránh tác động tiêu cực đến cán cân thanh toán quốc tế và thị trường ngoại hối

Về phương diện quản lý vi mô, Nghị định 135 quy định chính sách quản lý, rào cản kỹ thuật, điều kiện áp dụng đối với từng đối tượng nhà đầu tư thông qua các

cơ chế như quy định về phương thức đầu tư, phân loại đối tượng nhà đầu tư và điều kiện để được cấp phép thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài Nghị định quy định rõ, hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài chỉ được thực hiện dưới

2 phương thức gồm tự doanh đầu tư và ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài Theo quy định, chỉ có một số tổ chức kinh tế có đủ năng lực, điều kiện, khả năng quản lý

và kinh nghiệm trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh chứng (như công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, doanh

Đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước) mới được thực hiện tự doanh đầu tư gián tiếp

ra nước ngoài.Trong các đối tượng trên, chỉ có NHTM và công ty quản lý quỹ được phép nhận ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài Các tổ chức kinh tế khác chỉ được thực hiện đầu tư gián tiếp ra nước ngoài thông qua hình thác ủy thác đầu tư cho các

tổ chức được phép nhận ủy thác là công ty quản lý quỹ và NHTM

Về phương diện quản lý vĩ mô, đầu tư gián tiếp ra nước ngoài là một bộ phận trong tổng thể cán cân thanh toán quốc tế, về bản chất đây là dòng vốn nóng, rất nhạy cảm có thể gây ảnh hưởng đến thị trường ngoại hối, cung - cầu ngoại tệ, gây sức ép lên tỷ giá và các cân đối vĩ mô của nền kinh tế

Về công cụ đầu tư: Thực tế, các công cụ tài chính, sản phẩm đầu tư chứng khoán, giấy tờ có giá trên thị trường tài chính quốc tế rất đa dạng, phong phú, biến đổi liên tục về chủng loại, kết cấu, xếp hạng tín nhiệm; nhiều loại công cụ/sản phẩm

có cấu trúc, đặc điểm phức tạp.Do vậy, trong giai đoạn đầu, Nghị định quy định giao Ngân hàng Nhà nước quy định cụ thể về loại, tiêu chí lựa chọn công cụ được

Trang 36

bản, thông dụng, có tính an toàn cao như cổ phiếu phổ thông, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng chỉ tiền gửi Những loại chứng khoán này phải đạt mức xếp hạng tín nhiệm tối thiểu theo quy định Trong giai đoạn tiếp theo, tùy điều kiện cụ thể, có thể xem xét mở rộng thành phần, chủng loại các công cụ/sản phẩm tài chính được phép đầu tư ra nước ngoài

Tóm lại, khuôn khổ pháp lý về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài tại Luật Đầu tư

và Nghị định 135/2015 là bước tiến phù hợp với trình độ phát triển của kinh tế - tài chính Việt Nam và cam kết mở cửa hội nhập quốc tế; góp phần tạo môi trường pháp

lý đồng bộ, minh bạch, thuận lợi cho các nhà đầu tư Việt Nam trên thị trường tài chính quốc tế, đồng thời đảm bảo quản lý thận trọng, chặt chẽ và kiểm soát hữu hiệu đối với dòng vốn đầu tư gián tiếp ra nước ngoài

1.1.5.4 Cơ chế tỷ giá ngày càng linh hoạt

- Cơ chế tỷ giá trước 25/2/1999: Về cơ bản, trong thời kỳ đổi mới đến 1999,

cơ chế tỷ giá hối đoái của Việt Nam là rất cứng nhắc, NHNN công bố tỷ giá hối đoái hoặc lấy tỷ giá đóng cửa trên trung tâm giao dịch ngoại tệ, sau đó là tỷ giá đóng của trên thị trường liên ngân hàng của phiên gần nhất là tỷ giá trung tâm; các NHTM được phép công bố tỷ giá mua bán trong biên độ cho phép Tỷ giá thị trường trong thời kỳ này liên tục kịch trần và có sự khác biệt rất lớn giữa tỷ giá chính thức và thị trường bên ngoài Tình trạng đầu cơ găm giữ ngoại tệ liên miên

và NHNN đã có nhiều lần thay đổi tỷ giá trung tâm hay biên độ đã tạo nên các cú sốc cho thị trường

- Cơ chế tỷ giá từ 26/2/1999 đến 31/12/2015: từ 26/2/1999, NHNN đã thực hiện điều hành tỷ giá linh hoạt hơn và phù hợp với cơ chế thị trường Theo Quyết định số 65/QĐ-NHNN ngày 26/2/1999 (và Quyết định 64) của Thống đốc NHNN, NHNN lấy tỷ giá bình quân giao dịch của phiên giao dịch gần nhất trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng làm tỷ giá trung tâm và công bố, các NHTM được phép yết giá mua bán USD trong phạm vi biên độ cho phép (+, - % so với tỷ giá) Lúc đầu biên độ khá hẹp “+- 1%” và đã có thời kỳ biên độ này lên “+- 7%” và sau đó, giảm xuống mức khá thấp (từ 18/8 đến nay là “+- 3%”)…Theo cơ chế tỷ giá hối đoái giai

Trang 37

đoạn này, NHNN cũng đã điều hành tỷ giá có lên, có xuống theo cơ chế thị trường

và qua đó đã phần nào khắc phục được phần nào đầu cơ giá lên như thời trước đó Việc khống chế biên độ và các cam kết về biên độ biến động thường bị giới kinh doanh cho là gây bóp méo thị trường và vẫn có thể dẫn đến các hoạt động đầu cơ Ngày 31/12/2015, NHNN đã ban hành Quyết định số 2730/QĐ-NHNN về việc công bố tỷ giá trung tâm của VND với USD, tỷ giá tính chéo của VND với một số loại ngoại tệ khác Theo đó, thay vì công bố một mức tỷ giá cố định trong thời gian dài như trước đây, từ đầu năm 2016, hàng ngày, NHNN công bố tỷ giá trung tâm làm cơ sở để các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép thực hiện hoạt động kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối xác định tỷ giá mua, tỷ giá bán của VND với USD trong biên độ quy định Tỷ giá trung tâm có thể biến động hàng ngày theo cả hai chiều lên xuống, được xác định trên cơ sở tham chiếu diễn biến tỷ giá bình quân gia quyền trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng; diễn biến tỷ giá trên thị trường quốc tế của một số đồng tiền của các nước có quan hệ thương mại, vay, trả nợ, đầu tư lớn với Việt Nam, các cân đối kinh tế vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu chính sách tiền tệ Bên cạnh việc công bố tỷ giá trung tâm hàng ngày, vào thứ năm hàng tuần (hoặc ngày làm việc liền kề trước ngày thứ năm trong trường hợp ngày thứ năm là ngày lễ, ngày nghỉ), NHNN công bố tỷ giá tính chéo của VND với một số ngoại tệ khác để xác định trị giá tính thuế trên trang thông tin điện tử của NHNN

Việc thay đổi cách thức điều hành tỷ giá cũng là bước đi tiếp theo trong lộ trình chống đô la hóa, nâng cao vị thế của Đồng Việt Nam, ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối Đây là bước đi tiếp sau các biện pháp đồng bộ đã được thực hiện trong thời gian qua như thu hẹp đối tượng được vay vốn bằng ngoại tệ, chuyển dần quan hệ huy-cho vay bằng ngoại tệ sang quan hệ mua-bán ngoại tệ, ban hành Thông

tư 15/2015/TT-NHNN khuyến khích các NHTM sử dụng công cụ phái sinh kỳ hạn trong giao dịch với khách hàng, giảm lãi suất tiền gửi ngoại tệ xuống mức 0% với

cả tổ chức kinh tế và khu vực dân cư Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng cách

Trang 38

hành tỷ giá mới đã thể hiện được tính linh hoạt có lên, có xuống phản ánh diễn biến trên thị trường ngoại tệ trong nước và đặc biệt là thị trường quốc tế, vốn tác động khá lớn đến tâm lý dẫn đến những biến động tỷ giá VND/USD trong thời gian gần đây Cách thức điều hành tỷ giá mới cũng sẽ tạo điều kiện hỗ trợ tích cực cho sự phát triển thị trường phái sinh ngoại tệ, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa rủi ro tỷ giá của các tổ chức tín dụng cũng như các doanh nghiệp, tăng tính thanh khoản và phát triển thị trường tài chính (Nguyễn Thị Thu Hiếu, 2019)

Năm 2018 là một năm thành công trong điều hành kinh tế vĩ mô, cũng như điều hành các chỉ số lãi suất, tỷ giá hối đoái cho thấy sự điều hành hết sức chủ động

và linh hoạt của NHNN Việt Nam

1.1.6 Pháp luật về quản lý ngoại hối của Việt Nam hiện nay

Văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước ta trong lĩnh vực QLNH từ năm 2005 đến nay là Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 ngày 13 tháng 12 năm

2005, có hiệu lực kể từ ngày 01/6/2006, ra đời trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập

và là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và đang nỗ lực thực hiện các cuộc đàm phán song phương để gia nhập WTO Pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung tại Pháp lệnh Ngoại hối số 06/2013/UBTVQH13 ngày 18 tháng 3 năm 2013

Pháp lệnh Ngoại hối được đánh giá là một bước tiến mới trong cải cách cơ chế QLNH trong bối cảnh mới, đặc biệt là sự mở cửa và hội nhập ngày càng lớn của nền kinh tế Pháp lệnh Ngoại hối được ban hành để giải quyết những bất cập trong hệ thống các quy định về QLNH, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, nhất thể hóa các quy định trong QLNH và tăng cường hiệu lực trong các quy định về QLNH Pháp lệnh Ngoại hối đã xây dựng một cơ chế QLNH đổi mới đáng kể theo hướng tự do hoá các giao dịch vãng lai, từng bước mở cửa và có sự quản lý chặt chẽ đối với các giao dịch vốn; trong đó có các nội dung quan trọng như: mở rộng đối tượng được vay vốn nước ngoài bao gồm cá nhân, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (gồm có nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài và chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài), phát hành chứng khoán trong và ngoài nước Pháp lệnh Ngoại hối cũng quy định về sử dụng ngoại

Trang 39

hốitrên lãnh thổ Việt Nam theo hướng từng bước tiến tới xoá bỏ hoàn toàn tình trạng Đô la hóa, tiến tới trên lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng đồng Việt Nam; quy định người cư trú được mang ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam bằng tiền mặt và vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh

Ngoài ra, Pháp lệnh Ngoại hối còn quy định về thị trường ngoại tệ và cơ chế tỷ giá hối đoái, quản lý xuất - nhập khẩu vàng, về quản lý Dự trữ ngoại hối Nhà nước,

về hoạt động cung cấp dịch vụ ngoại hối của các TCTD và các biện pháp bảo đảm

an toàn Cơ chế tỷ giá đồng Việt Nam được xác định trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.NHNN thực hiện mua bán ngoại tệ trong nước để thực hiện các mục tiêu của CSTT quốc gia

Chính sách thông thoáng về QLNH đã tạo thêm bước phát triển về dịch vụ chuyển tiền của các ngân hàng trong nước.Pháp lệnh Ngoại hối đã quy định cụ thể cho phép TCTD là các ngân hàng và các TCTD phi ngân hàng được hoạt động ngoại hối và cung ứng dịch vụ ngoại hối Người cư trú được phép đầu tư ra nước ngoài được sử dụng các nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài bằng ngoại tệ trên tài khoản ngoại tệ tại TCTD được phép, ngoại tệ mua tại TCTD được phép, ngoại tệ từ nguồn vốn vay Các TCTD, các tổ chức kinh tế, cá nhân và các đối tượng khác được phép đầu tư ra nước ngoài được chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài theo quy định của NHNN Việt Nam

Chính phủ cũng đã ban hành nhiều văn bản dưới luật liên quan đến lĩnh vực QLNH như:

- Nghị định 70/2014/NĐ-CP, ngày 17/7/2014 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối Nghị định này thay thế Nghị định 160/2006/NĐ-CP, ngày 28/12/2006 nhằm đảm bảo sự thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về ngoại hối Về cơ bản, Nghị định 70/2014/NĐ-CP thể hiện việc

tự do hóa các giao dịch vãng lai theo quy định tại Pháp lệnh Ngoại hối; nới lỏng từng bước đối với giao dịch vốn, tuy nhiên, so với Nghị định 160/2006/NĐ-CP thì

Trang 40

Nam tiền mặt và vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh; (ii) đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam, (iii) đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, (iv) đầu tư gián tiếp ra nước ngoài, (v) vay và trả nợ nước ngoài của người cư trú không có bảo lãnh của Chính phủ; (vi) người cư trú là tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế cho vay, thu hồi nợ nước ngoài

và bảo lãnh cho người không cư trú; (vii) quy định về hạn chế sử dụng ngoại hối; (viii) mở và sử dụng tài khoản của người cư trú, người không cư trú tại tổ chức tín dụng, (ix) sử dụng tiền của nước có chung biên giới; (x) quản lý vàng; (xi) quản lý

dự trữ ngoại hối nhà nước; (xi) cung ứng dịch vụ ngoại hối của tổ chức tín dụng Các nội dung này đã và đang được quy định riêng tại các Nghị định của Chính phủ

và quy định tại các thông tư của NHNN do Pháp lệnh ngoại hối đã giao cho NHNN trực tiếp hướng dẫn Một điểm khác biệt khác nữa đó là Nghị định 70/2014/NĐ-CP

bỏ quy định về thị trường ngoại tệ liên ngân hàng tập trung do NHNN tổ chức Điều này xuất phát từ thực tế là sau khi Nghị định 160 ban hành cho tới nay, việc thành lập thị trường ngoại tệ liên ngân hàng tập trung được đánh giá là không còn phù hợp với xu thế phát triển của thị trường ngoại tệ hiện nay Hiện nay giao dịch hối đoái giữa NHNN với các tổ chức tín dụng và giữa các tổ chức tín dụng với nhau được thực hiện theo các văn bản quy phạm pháp luật riêng của NHNN như Thông tư số 02/2012/TT-NHNN, Quyết định 1452

Chính phủ cũng ban hành các Nghị định, Quyết định quy định hoạt động trong từng lĩnh vực về ngoại hối và QLNH NHNN Việt Nam đã cụ thể hóa các quy định

ấy bằng các Thông tư, Quyết định, văn bản hướng dẫn chi tiết việc thi hành, tạo nên một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về QLNH tương đối hoàn chỉnh 1.2.CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA NHNN VIỆT NAM

1.2.1 Về cơ chế, chính sách

Những năm qua, cơ chế QLNH thường xuyên được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý tương đối đầy đủ, nhất quán cho các hoạt động ngoại hối Hệ thống pháp luật hình thành trong thời kỳ quản lý theo cơ chế cũ từng bước được xóa bỏ, hệ thống pháp luật mới từng bước hình thành, hoàn thiện và trở thành động lực mạnh

mẽ cho những thay đổi tích cực của hoạt động ngoại hối Đặc biệt, Pháp lệnh Ngoại

Ngày đăng: 24/02/2020, 21:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w