1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hoạt động quản lí ngoại hối của ngân hàng nhà nước việt nam thời gian qua và những kiến nghị

25 648 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hoạt động quản lý ngoại hối của ngân hàng nhà nước việt nam thời gian qua và những kiến nghị
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý ngoại hối
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 154,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá hoạt động quản lí ngoại hối của ngân hàng nhà nước việt nam thời gian qua và những kiến nghị

Trang 1

Lời nói đầu

Quá trình hội nhập quốc tế của nền kinh tế Việt Nam thông qua cơ chế thị trờng

là nhu cầu khách quan có tính quy luật Với vai trò nh là chiếc cầu nối giữa kinh tế nội

địa với kinh tế thế giới bên ngoài, thì việc hình thành và phát triển thị trờng ngoại hốimột cách toàn diện và hiện đại theo trình độ quốc tế là rất cần thiết Thông qua cácnghiệp vụ trên thị trờng ngoại hối mà hoạt động xuất nhập khẩu, đầu t quốc tế, dự trữquốc tế trở nên linh hoạt và hiệu quả

Trong những năm gần đây, thị trờng ngoại hối Việt Nam đã hình thành và từngbớc phát triển: chính sách quản lý ngoại hối đang dần dần đợc hoàn thiện phù hợp vớihớng phát triển kinh tế thị trờng mở; nhũng nhân tố thị trờng ngày càng trở nên quyết

định hơn trong việc xác định tỉ giá hối đoái, bớc đầu đã đa một số giao dịch kinh doanhvào cuộc sống Mặc dù mới ở những bớc đầu phát triển, nhng thị trờng ngoại hối ViệtNam đã tạo ra môi trờng kinh doanh ngoại hối cho các Ngân hàng Thơng mại, đồngthời cung cấp những công cụ hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro ngoại hối đối với các công

ty Xuất nhập khẩu và những nhà đầu t quốc tế Tuy nhiên, thị trờng ngoại hối Việt Namcòn rất non trẻ và sơ khai xét về trình độ, quy mô thực hiện cũng nh kĩ năng nghiệp vụkinh doanh Đặc biệt xung quanh vấn đề chính sách quản lý ngoại hối còn nhiều vấn đề

phải xem xét và tiếp tục hoàn thiện Xuất phát từ yêu cầu đó , em đã lựa chọn đề tài :

Đánh giá hoạt động quản lý ngoại hối của NHNNVN thời gian qua và những kiến nghị

Trong quá trình nghiên cứu chắc chắn sẽ không tránh khỏi gặp nhiều sai sót , emrát mong đợc sự chỉ bảo và góp ý của các thầy cô Em xin chân thành cảm ơn

Trang 2

ớc chấp nhận là đồng tiền quốc tế, ví dụ: Dollar Mỹ, Bảng Anh, Frăng Pháp

Nền kinh tế này ngày càng phát triển, quan hệ quốc tế ngày càng đợc mở rộngthì không thể có một quốc gia nào phát triển một cách đơn độc, khép kín, mà đòi hỏiphải mở rộng quan hệ kinh tế với nớc ngoài Vì vậy, dự trữ ngoại hối là một trongnhững mục tiêu kinh tế có ý nghĩa chiến lợc quan trọng, có dự trữ ngoại hối cần thiết cónghĩa là Nhà nớc đã nắm đợc trong tay một công cụ quan trọng để phục vụ cho việcthực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô Dự trữ ngoại hối để đảm bảo sự cân bằng khảnăng thanh toán quốc tế, thoả mãn nhu cầu nhập khẩu phục vụ phát triển kinh tế và đờisống trong nớc, mở rộng đầu t, hợp tác kinh tế với nớc ngoài phục vụ mục tiêu chínhsách kinh tế mở Dự trữ ngoại hối là một cơ sở cho việc phát hành tiền đảm bảo cho mốttơng quan giữa tiền – hàng trong nớc Nhà nớc có thể chủ động sử dụng ngoại hối nh

là một lực lợng để can thiệp, điều tiết thị trờng tiền tệ theo những mục tiêu, theo kếhoạch

Đối với những nớc mà đồng tiền đợc tự do chuyển đổi, dự trữ ngoại hối là công

cụ để can thiệp, điều chỉnh để thiết lập thế cân bằng giữa các đồng tiền trong trật tự tiền

tệ quốc tế, phục vụ chính sách kinh tế

Đối với những nớc mà đồng tiền không đợc tự do chuyên đổi, dự trữ ngoại hối làlực lọng để can thiệp thị trờng nhằm duy trì sự ổn định tỷ giá hối đoái của đồng bản tệ

Với t cách là cơ quan duy nhất có nhiệm vụ phát hành tiền, xây dựng và thực thichính sách tiền tệ, lập và theo dõi cán cân thanh toán quốc tế, Ngân hàng Trung ơng đã

đợc giao nhiệm vụ quản lý Nhà nớc và kiểm soát ngoại hối trên thị trờng là phù hợp

Điều này thể hiện Ngân hàng Anh Quốc cũng đợc chính phủ Anh giao nhiệm vụ thaymặt Bộ tài chính quản lý dự trữ ngoại hối quốc gia Gồm các nguồn dự trũ vàng chínhthức của nớc Anh, ngoại hối và tiền rút vốn đặc biệt tại quỹ tiền tệ quốc tế, từ quản lý

đó Ngân hàng Anhcan thiệp vào thị trờng hối đoái nhằm ngăn chặn sự dao động quámức giá trị của Bảng Anh cới các loại ngoại tệ khác Tại Việt Nam vấn đề này đã đ ợc

đề cập trong Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nớc năm1990 (điều 30), luật Ngân hàng Nhà

Trang 3

n-ớc năm 1997 (điều 38) quy định: Nhà nn-ớc giao cho Ngân hàng Nhà nn-ớc Việt Nam quản

lý ngoại hối

Quản lý ngoại hối là việc Nhà nớc áp dụng các chính sách, biện pháp tác độngvào quá trình nhập , xuất ngoại hối và việc sử dụng ngoại hối theo những mục tiêu nhất

định

2 Chính sách quản lý ngoại hối:

Chính sách quản lý ngoại hối là một chính sách quan trọng đối với bất kì một quốcgia nào, nó có tác động đến sự thành công hay thất bại của các chính sách kinh tế vĩ môkhác

Quản lý ngoại hối trong các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài là một bộphận của chính sách quản lý ngoại hối của một nớc Vì vậy, để có chính sách quản lýngoại hối có hiệu quả trớc hết ta phải làm rõ những vấn đề liên quan trực tiếp đến lĩnhvực này về mặt lý thuyết

2.1 Ngoại hối

Nhu cầu của sự phát triển và xu hớng thế giới đã dần dần làm cho các giao dịchnày vợt qua biên giới một nớc Một nớc muốn tồn tại và phát triển buộc phải có quan hệtrao đổi với thị trờng thế giới Chính từ những giao dịch này mà phơng thức thanh toánkhông ngừng phát triển, ngời ta không dùng vàng nh trong phơng thức thanh toán cổ

điển mà còn sử dụng các công cụ thanh toán khác gọi là ngoại hối Tuỳ theo những giác

độ khác nhau mà ngời ta quan niệm ngoại hối khác nhau:

+ Trên giác độ kinh doanh ngoại hối, những nhà kinh doanh hiểu ngoại hối lànhững phơng tiện thanh toán thể hiện dới dạng ngoại tệ, nó bao gồm hối phiếu, sécbằng ngoại tệ (phải d có trên tài khoản ngân hàng nớc ngoài)

+ Trên giác độ quản lý và hoạch định chính sách, ngoại hối đợc hiểu là toàn bộcác loại tiền nớc ngoài, các chứng từ, chứng khoán có giá trị bằng tiền nớc ngoài, cáckim khí, đá quý

2.2 Chính sách quản lý ngoại hối

Quản lý ngoại hối là một bộ phận của chính sách tiền tệ quốc gia, là công cụ vĩ

mô của nhà nớc đối với nền kinh tế nhất là kinh tế đối ngoại

Trang 4

Chính sách quản lý ngoại hối là những quy định pháp lý những thể lệ của chính

phủ trong vấn đề quản lý ngoại tệ, quản lý vàng bạc đá quý, quản lý các giấy tờ có giátrị ngoại tệ cũng nh các quan hệ thanh toán tín dụng với nớc ngoài

Nội dung của chính sách quản lý ngoại hối là quản lý và kiểm soát các luồngvận động về ngoại hối từ nớc ngoài vào và từ trong nớc ra có liên quan đến quan hệngoại thơng cũng nh những quan hệ khác bằng ngoại tệ, góp phần phát triển ngoại th-

ơng tạo sự cân bằng cho cán cân thanh toán quốc tế, ổn định giá trị đồng tiền, xây dựng

đợc quỹ dự trữ ngoại hối hợp lý

Đối tợng quản lý ngoại hối: về phơng diện quản lý đối tợng nằm trong phạm vi

điều chỉnh của chính sách ngoại hối bao gồm: “ngời c trú” và “ngời không thờng trú”

“Ngời c trú” đợc hiểu là toàn bộ các tổ chức, các doanh nghiệp đợc thành lập

theo luật hiện hành của mỗi nớc, hoạt động trên lãnh thổ nớc đó hoặc đặt đại diện ở nớcngoài Ngoài ra, ngời c trú còn bao gồm cả doanh nghiệp nớc ngoài đợc thành lập theoluật doanh nghiệp của nớc ngoài nhng đợc phép hoạt động tại nớc đó

“Ngời không c trú” đợc hiểu là các tổ chức doanh nghiệp đợc thành lập theo

luật hiện hành của một nớc, không kinh doanh trong nớc đó hoặc các tổ chức kinhdoanh thành lập theo luật nớc ngòai không kinh doanh trên lãnh thổ nớc đó hay là cáccơ quan đại diện của các tổ chức quốc tế, của các chính phủ đặt tại nớc đó Dân c là ng-

ời không c trú là những ngời mang quốc tịch nớc ngoài đến nớc đó không nhằm mục

đích định d

Với một chính sách quản lý ngoại hối quản lý đợc nguồn vốn ra vào một quốcgia luôn là vấn đề quan trọng, còn các vấn đề khác nh sử dụng ngoại tệ, buôn bán kinhdoanh ngoại hối thì đợc quy định tuỳ vào đặc điểm tình hình của từng thời kì cụ thể.Chính vì vậy, không phải chính sách ngoại hối của tất cả các nớc đều giống nhau, mỗinớc đều có đặc trng riêng của mình Tuy nhiên, một chính sách quản lý ngoại hối thờngnằm trong bốn giai đoạn sau:

+ Nhà nớc độc quyền quản lý ngoại hối: Với chính sách này, nhà nớc nắm trongtay mình hoạt động kinh tế đối ngoại, việc vay nợ nớc ngoài Nhà nớc áp đặt tỷ giá mộtcách chủ quan cho việc chuyển đổi ngoại tệ ra bản tệ và ngợc lại Ngoài ra nhà nớc cònnghiêm cấm toàn bộ mua bán, kinh doanh và tàng trữ ngoại hối

+ Chính sách thắt chặt ngoại thơng ngoại hối: Với chính sách này, nhà nớckhông nắm độc quyền ngoại thơng ngoại hối nhng toàn bộ việc xuất nhập khẩu hànghoá và t bản vẫn bị kiểm soát chặt chẽ Tất cả các tổ chức cá nhân có ngoại tệ đều phảibán lại cho nhà nớc qua hệ thống ngân hàng Các tổ chức, cá nhân đợc phép mở tàikhoản ngoại tệ phải chịu sự giám sát của ngân hàng Khi họ muốn sử dụng thì phải có

sự cho phép của cấp có thẩm quyền

Trang 5

+ Chính sách nới lỏng ngoại thơng ngoại hối: Chính sách này không quản lýchặt chẽ quan hệ xuất nhập khẩu hàng hoá, cũng nh các luồng vận động ngoại hối Nhànớc tác động vào tỷ giá hối đoái nh là một thành viên của thị trờng Các tổ chức cá nhân

có nguồn thu ngoại tệ dới mọi hình thức đều đợc tự do mở tài khoản ở ngân hàng Nhànớc sẽ mua lại khi cần thiết thông qua các công cụ về tỷ giá và lãi suất

+ Chính sách tự do ngoại thơng ngoại hối: Nội dung của chính sách này là thựchiện tự do hoá ngoại thơng ngoại hối Nhà nớc không quản lý gắt gao hay hạn chế giaodịch ngoại hối Các hàng rào thơng mại bị bãi bỏ, sự dịch chuyển của các luồng hànghoá dịch vụ là hoàn toàn do cung cầu ngoại tệ trên thị trờng quyết định

Trên đây là bốn loại hình của các chính sách quản lý ngoại hối Tuỳ theo tìnhhình kinh tế xã hội trong và ngoài nớc và xu hớng chung của nền kinh tế thế giới màmỗi quốc gia nên chọn một mô hình thích hợp Sự cần thiết của chính sách quản lýngoại hối đợc thể hiện ở sự tồn tại hiện nay trong nền kinh tế nớc ta một khối lợngngoại tệ khổng lồ Nợ nớc ngoài tính đến cuối năm 1997 của nớc ta đã đạt đến con sốbáo động 10.159 triệu USD Tổng số đầu t trực tiếp của nớc ngoài vào nớc ta tính đếnhết năm 1997 đã thực hiện là 11.799 triệu USD trong tổng số 31.438 triệu USD vốn

đăng kí gần 3 tỷ vốn ODA đã đợc giải ngân trong tổng số gần 11 tỷ USD vốn cam kết

Trang 6

Ch ơng II

Thực trạng chính sách quản lý ngoại hối trong cácdoanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và diễn biến thị trờngngoại tệ trong năm 2002

1 Thực trạng chính sách quản lý ngoại hối trong các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài:

Quản lý ngoại hối đã có từ lâu nên nó gắn với chính sách tiền tệ của quốc gianhng quản lý ngoại hối trong các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài thì chỉ thực sựtồn tại trong những năm gần đây Là vấn đề quá mới nên những phát sinh, tồn tại đòihỏi chúng ta phải nắm bắt và giải quyết là vấn đề bức bách và thờng xuyên xảy ra Sau

đây là nghiên cứu thực trạng của việc quản lý ngoại hối trong các doanh nghiệp có vốn

đầu t nớc ngoài

1.1 Vấn đề mở tài khoản:

1.1.1 Mở tài khoản tại ngân hàng trong nớc:

Nh quy định của ngân hàng nhà nớc đã nêu ở trên các doanh nghiệp có vốn đầu

t nớc ngoài chủ đợc mở một tài khoản đồng Việt Nam và ngoại tệ tại một ngân hàng

th-ơng mại ở Việt Nam, còn trong trờng hợp doanh nghiệp có các chi nhánh ở địa phth-ơngkhác doanh nghiệp có thể mở các tài khoản phụ tại các địa phơng này để tiện cho hoạt

động

Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý của ngân hàng nhà nớc

đối với các hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài Bởi vì thay bởi việctheo dõi nhiều tài khoản thanh toán khác nhau ngân hàng nhà nớc chỉ phải theo dõi hoạt

động tài khoản tại một ngân hàng duy nhất mà doanh nghiệp mở tài khoản

Tuy nhiên hiện nay quy định này đang gây sự phản ứng mạnh mẽ của các ngânhàng thơng mại và các doanh nghiệp này Đặc biệt là sau công văn 67/CV-NH cho ngânhàng nhà nớc gửi tới các ngân hàng thơng mại yêu cầu phải chấp hành nghiêm chỉnhcác quy định của ngân hàng nhà nớc về quản lý ngoại hối trong các doanh nghiệp cóvốn đầu t nớc ngoài theo nh thông t số 06/TT-NH ban hành ngày 18.9.1993 Các doanhnghiệp và các ngân hàng thơng mại cho rằng những khó khăn đó thể hiện nh sau:

- Các công ty 100% vốn nớc ngoài và các liên doanh hớng dẫn chỉ đợc giao dịchvới một ngân hàng, điều này giúp đơn giản hoá việc kiểm soát nhng đồng thời cũngmang những hiệu quả bất lợi cho các doanh nghiệp liên doanh và các công ty 100% vốnnớc ngoài

Trang 7

- Các công ty 100% vốn nớc ngoài, công ty liên doanh cho rằng bằng việc ápdụng quy định một ngân hàng, ngân hàng vô hình chung đã hạn chế lợng tiền mà cáccông ty này đợc phép hoặc mong muốn đi vay từ thị trờng.

- Nhu cầu đi vay của các doanh nghiệp là tất yêu và nó có ảnh hởng lớn đến hoạt

động của doanh nghiệp, nó làm giảm bớt các dự án đầu t của một số công ty và có thể

ảnh hởng xấu đến dự án Theo thông báo của ngân hàng ngoại thơng Pháp BFCE tạingân hàng đã có tới 4 dự án đình hoãn vô thời hạn

- Các ngân hàng cho rằng: Việc áp dụng quy định một ngân hàng dẫn đến rủi rolớn trong việc cho vay của các ngân hàng do khó đáp ứng đợc tốt các khoản vay của cácdoanh nghiệp nhất là các khoản vay lớn Thực tế là ở Việt Nam hiện nay các ngân hàngkhó đáp ứng đợc nhu cầu vay lớn của các doanh nghiệp

Hơn nữa việc này làm giảm hiệu quả của các dịch vụ khách hàng của ngân hàngthơng mại, các ngân hàng đều muốn các doanh nghiệp vay vốn phải mở tài khoản thanhtoán tại ngân hàng của họ Những kiến nghị này là phù hợp với yêu cầu của các doanhnghiệp và nền kinh tế thị trờng nhng nhìn chung họ đã cha hiểu kĩ quan điểm của cơquan quản lý Trên thực tế, ngân hàng nhà nớc chỉ hạn chế việc mở tài khoản thanh toán

để dễ dàng hơn trong việc quản lý ngoại hối của các doanh nghiệp này ma không hạnchế việc mở tài khoản trong nớc nhằm mục đích vay vốn Các doanh nghiệp chỉ đợc mởmột tài khoản thanh toán nhng có thể nhiều tài khoản tiền vay

1.1.2 Vấn đề mở tài khoản ngân hàng nớc ngoài

Ngân hàng nhà nớc đã quy định các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đợcquyền mở tài khoản tại ngân hàng với mục đích:

- Tiếp nhận vốn vay của nớc ngoài

- Gửi một phần doanh thu của doanh nghiệp trong phạm vi số tiền gốc và lãi củakhoản vay đến hạn phải trả

- Thanh toán các khoản chi phù hợp với hợp đồng vay vốn

mở ở nớc ngoài thì nếu không quản lý chặt chẽ sẽ rất dễ gây ra các tiêu cực hoặc ảnh h ởng bất lợi cho phía Việt Nam

-1.2 Vấn đề chuyển vốn vào:

Trang 8

Nhìn lại sau 11 năm thực hiện luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam với 6 tỷ USDvốn thực hiện đó là điều đáng mừng Tuy 6 tỷ USD vốn thực hiện cha là gì đối với cácnớc khác nhng đối với Việt Nam nó đã nói lên nhiều điều.

Với 6 tỷ USD mà 16,5 vạn ngời đã có việc làm Nhiều dây chuyền công nghệmới đã đợc đa vào Việt Nam tạo điều kiện sản xuất đợc những hàng hóa có chất lợngcao có khả năng cạnh tranh trên thị trờng thế giới Vốn chuyển vào cũng làm cải thiệnphần nào cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam vốn đã thờng xuyên thâm hụt

Vốn chuyển vào có tác động quan trọng nh vậy nhng nếu vốn chuyển vào không

đợc kiểm soát chặt chẽ thì nó có thể gây ra những hậu quả xấu về sau này đòi hỏi ngânhàng phải quản lý đợc

Nhng vốn ngoại tệ đa vào nhiều có thể dẫn đến sự hợp lý của chính sách tiền tệhiện tại, ngoài ra nó cũng có thể dẫn đến tăng lợng đôla trong điều kiện đồng Việt Namcha phải là đồng tiền tự do chuyển đổi

Theo quy định của luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam thì bên nớc ngoài phảichuyển vốn pháp định vào Việt Nam theo đúng tiến độ góp vốn đã ghi trong hợp đồng

Quy định rất cụ thể nhng trên thực tế các doanh nghiệp không thực hiện cam kếtcủa mình trớc đây Họ chuyển vốn vào không theo lệnh góp vốn còn về phía ngân hàngnhà nớc cũng không có điều kiện nắm đợc chắc chắn dòng vốn ngoại tệ chuyển vào cóvai trò hết sức quan trọng trong việc xác lập cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam

và toàn bộ chính sách tiền tệ nói chung

Hơn nữa việc buộc các doanh nghiệp phải thực hiện đúng cam kết về tiến độchuyển vốn sẽ có lợi cho bên Việt Nam bởi một số nguyên nhân:

-Vốn ngoại tệ chuyển vào là rất quý trong tình trạng thiếu ngoại tệ của ta hiệnnay và trong điều kiện đồng Việt Nam cha thể thành đồng tiền tự do chuyển đổi

-Số ngoại tệ chuyển vào lớn nên bên nớc ngoài có xu hớng chậm chuyển bởi chỉcần chậm một ngày họ đã có lợi khá nhiều chứ cha nói gì đến cả tháng, cả năm Trongkhi có những doanh nghiệp cần những khoản chi trong ngày hoặc thậm chí một vàingày để thực hiện những công vụ cấp bách thì buộc bên nớc ngoài thực hiện cam kết làcần thiết

Ví dụ, sau đây là một phơng thức mà bên nớc ngoài thờng sử dụng do những sơ

hở về phía Việt Nam Khi thực hiện dự án A, hai bên cam kết bên Việt Nam đóng góp30% vốn pháp định, bên nớc ngoài đóng góp 70% vốn pháp định Lịch đóng góp củaphía nớc ngoài đợc quy định nh sau: 1 tháng sau khi nhận đợc giấy phép kinh doanhcủa SCCI, bên nớc ngoài phải chuyển vào 25% vốn pháp định, 50% sẽ đóng góp saumột năm và 25% còn lại sẽ đóng góp sau 1 năm tiếp theo Nh vậy, phải sau 2 năm bên

Trang 9

nớc ngoài mới đóng góp đủ số vốn pháp định trong khi lợi nhuận họ đ ợc chia theo tỷ lệ7/3 ngay từ năm đầu tiên, đó còn cha kể đến tình trạng hiện nay đa số các doanh nghiệplại không thực hiện việc góp vốn pháp định theo nh cam kết.

Chính vì vậy, ngân hàng nhà nớc phải tìm biện pháp để kiểm soát đợc việcchuyển vốn của bên nớc ngoài bảo đảm quyền lợi của các doanh nghiệp Việt Nam vànhà nớc Việt Nam

Ngoài việc quản lý nguồn ngoại tệ chuyển vào một yêu cầu cấp thiết khác đó làquản lý vốn góp bằng máy móc thiết bị

Nó không phải là ngoại tệ nhng liên quan đến lợng ngoại tệ mà bên nớc ngoài

đ-ợc chuyển ra Bởi vì theo nh quy định của nhà nớc các doanh nghiệp đđ-ợc chuyển ra nớcngoài số vốn góp khi kết thúc dự án mà vốn góp lại bao gồm vốn góp bằng tiền, b àngmáy móc thiết bị hay bằng phát minh

Tuy hiện nay việc chuyển vốn góp này cha phát sinh do các dự án đều mới đợcthực hiện nhng sau này khi các dự án hoàn thành bên nớc ngoài sẽ chuyển số ngoại tệcủa mình về nớc thì nếu không nắm đợc số vốn chuyển ra làm sao chúng ta chuẩn bị đ-

ợc ngoại tệ cho tơng lai Một sự thiếu tính toán, chuẩn bị thiếu chu đáo sẽ gây ra nhữnghậu quả rất khó lờng trớc đợc

Vấn đề vốn góp bằng máy móc thiết bị hiện vẫn gây nhiều tranh cãi, các bênkhông thống nhất đợc với nhau và giá trị của máy móc thiết bị góp vào Bên Việt Namcho rằng bên nớc ngoài đánh giá máy móc thiết bị đa vào cao hơn giá trị thực của nó

1.3 Vấn đề chuyển vốn ra nớc ngoài

Quản lý việc vốn vào đã rất quan trọng nhng quản lý việc chuyển vốn ra cònquan trọng hơn do nguồn ngoại tệ khan hiếm của ta hiện nay Thắt chặt việc chuyểnngoại tệ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam là quan điểm của những nhà lãnh đạo nhng thắt chặt

ở đây cũng chỉ ở trong chừng mực nào đó phù hợp với chủ trơng “mở cửa” của đất nớc

Thực tế hiện nay khi các doanh nghiệp có đủ các điều kiện quy định đã đóng đủvốn pháp định và làm đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nớc Việt Nam đều có thể chuyển vốn

ra nớc ngoài qua con đờng các ngân hàng thơng mại mà không cần phải báo cáo vớingân hàng nhà nớc, đó là một tồn tại mà cần phải khắc phục trong thời gian tới Bởi vìnếu ngân hàng không nắm đợc lợng ngoại tệ chuyển ra khỏi quốc gia thì rất có thể dẫn

đến một sự sai lệch nào đó trong việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia

Hãy chỉ nhìn ra một nớc ngay gần ta là Thái Lan, ngân hàng nhà nớc Thái Lannắm đợc số liệu vốn chuyển ra, chuyển vào quốc gia trong từng ngày nhờ vào hệ thống

số liệu do các ngân hàng thơng mại cung cấp

Trang 10

Phải chăng ngân hàng nhà nớc Việt Nam không có khả năng thực hiện điều này:Thật ra ngân hàng nhà nớc Việt Nam hoàn toàn có khả năng nắm đợc số liệu đó nếu cácngân hàng thơng mại kết hợp tốt với ngân hàng nhà nớc, họ có trách nhiệm đối với lĩnhvực này Hiện nay tình trạng trên vẫn còn tồn tại do ta cha có một chế độ báo cáo thôngtin của các ngân hàng thơng mại.

1.4 Vấn đề về tỷ giá

Một thực tế không thể phủ nhận là sự nỗ lực và thành công của ngân hàng nhà

n-ớc trong việc giữ tỷ giá ổn định trong thời gian qua, sự ổn định ở đây không phải là sựcứng nhắc mà là tỷ giá có tác động thúc đẩy phát triển sản xuất, trợ giúp sự tăng tr ởngkinh tế

Từ chế độ nhiều tỷ giá trớc đây này Việt Nam đã thực hiện chế độ một tỷ giáhình thành theo quan hệ cung cầu thị trờng và có sự điều chỉnh của nhà nớc.Với chế độ

tỷ giá nh vậy, phía đối tác nớc ngoài nói riêng và các nhà kinh doanh nói chung đã yêntâm hơn trong việc bỏ vốn vào kinh doanh mà không lo sợ về biến động của tỷ giá

Tuy nhiên cũng còn nhiều tiếng kêu từ phía nhà sản xuất, họ cho rằng tỷ giá củaViệt Nam hiện nay là cha hợp lý, ngân hàng nhà nớc đã xác định tỷ giá cao hơn giá trịthực của nó và theo họ cần phải phá giá đồng Việt Nam, đa đồng Việt Nam về với giátrị thực của nó nhằm đẩy mạnh xuất khẩu tạo điều kiện cho hàng Việt Nam có sức cạnhtranh hơn trên thị trờng thế giới

Đây là phản ánh của các doanh nghiệp nhng đó cũng chỉ là những phản ánh,ngân hàng nhà nớc có trách nhiệm xem xét đánh giá nhng chấp nhận hay không đó lại

là một vấn đề khác Họ nói phải phá giá nhng cha nhận thức đợc tác hại ghê gớm củaviệc phá giá không đúng đối với nền kinh tế nh thế nào Chỉ cần một sự biến động của

tỷ giá thôi có thể phá tan thành quả của bao năm cải cách, phá tan những cái đã có, mà

để đạt đợc chúng ta phải lao tâm khổ tứ rất nhiều

Thực tế là các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài mới chỉ tồn tại tại ở ViệtNam trong 12 năm qua nhng ảnh hởng của sự biến động tỷ giá tới hoạt động của nhữngdoanh nghiệp này không phải là không có Theo uỷ ban nhà nớc về hợp tác và đầu t đẻ

có một số dự án không thực hiện đợc do sự biến động của tỷ giá đã làm đảo lộn đếnnhững tính toán ban đầu của họ

Năm 1988 là năm có dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài đầu tiên đến thời điểm

1998 tỷ giá trên thị trờng tự do đã tăng lên 2,2 lần và tỷ giá do ngân hàng nhà nớccông bố đã tăng lên gần 4 lần Chỉ trong vòng 10 năm mà tỷ giá biến động lớn nhvậy thì việc dự kiến quả là khó khăn

Tuy nhiên trên thực tế các doanh nghiệp đổ vỡ do sự biến động này không nhiều

và chủ yếu tập trung vào những năm đầu vì đây là giai đoạn hết sức khó khăn và đầy

Trang 11

biến động trên thị trờng Việt Nam, còn thời gian từ 1991 đến nay có thể nói ngân hàngnhà nớc đã kiểm soát đợc tình hình nhng để đạt đợc một tỷ giá chuẩn xác hơn chúng tacòn phải cố gắng nhiều Vấn đề chuyển đổi tiền tệ của các doanh nghiệp có vốn đầu t n-

ớc ngoài Nếu nh với các nớc khác vấn đề ngoại tệ là thứ yếu thì với Việt Nam, việc bảo

đảm ngoại tệ cho các doanh nghiệp lại trở nên hết sức khẩn thiết mà ai trực tiếp làm vấn

đề này mới thấy đợc

Tiếng kêu than của các nhà đầu t đã làm đau đầu các nhà chức trách Hàng ngàyngân hàng nhà nớc liên tục phải tiếp, giải thích những chất vấn của các nhà đầu t về vấn

đề này

Vấn đề này thực sự phát sinh từ khi nghị định 396/Ttg và đặc biệt sau công văn67/CV-NH của ngân hàng nhà nớc gửi tới toàn bộ các ngân hàng thơng mại yêu cầu cácngân hàng thơng mại chỉ đợc bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoàikhi có giấy phép của ngân hàng nhà nớc

Sau công văn 67/CV-NH các ngân hàng thơng mại đã không bán ngoại tệ chocác doanh nghiệp nếu doanh nghiệp cha có giấy phép của ngân hàng nhà nớc và kết quả

là các doanh nghiệp này bị khủng hoảng về nguồn ngoại tệ Nhu cầu ngoại tệ của họquá lớn trong khi nguồn thu ít không đủ đáp hngs mà đặc biệt là các doanh nghiệp sửdụng nguyên liệu nhập ngoại Trong khi lợng ngoại tệ dùng để bán cho các doanhnghiệp này chỉ khoảng 130 triệu USD/năm Trớc khó khăn đó buộc ngân hàng nhà nớcphải tìm biện pháp khắc phục vì mặc dù nó là vấn đề không chỉ ảnh hởng đến các dự án

đang hoạt động mà còn ảnh hởng đến việc thu hút vốn đầu t trực tiếp sau này

Trang 12

Tỷ giá giữa USD và đồng Việt Nam năm 1999

(tính trung bình trong tháng) Đơn vị: đồng/USD

Nguồn: Vụ quản lý ngoại hối, Ngân hàng Việt Nam

Nguyên nhân của tình trạng này có thể nói trớc hết là ở phía các nhà doanhnghiệp Vì theo giấy phép của SCCI cấp các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài phải

tự cân đối nhu cầu thu chi ngoại tệ của họ và coi đây nh một điều kiện khi thẩm định dự

án Các doanh nghiệp đã chấp nhận yêu cầu này, nhng trên thực tế qua nhiều năm hoạt

13800 13850 13900 13950 14000 14050

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

Mua vào Bán ra

Ngày đăng: 28/03/2013, 15:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w