1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN HÀNG HẢI VIỆT NAM

104 47 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn với đề tài: “Nâng cao chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam” đã đặt ra nhiệm vụ là trên cơ sở giới thiệu một số nét cơ bản vềM

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG

QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CỔ PHẦN HÀNG HẢI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng

NGUYỄN QUANG THIẾT

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG

QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CỔ PHẦN HÀNG HẢI VIỆT NAM

Ngành: Kinh doanh Chuyên ngành: Tài Chính - Ngân Hàng

Mã số: 8340201

Họ và tên học viên: Nguyễn Quang Thiết Người hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Thị Mơ

Hà Nội – Năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2019

Người cam đoan

Nguyễn Quang Thiết

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU VÀ

CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7

1.1 Khái niệm và đặc điểm của ngân hàng thương mại 7

1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại 7

1.1.2 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại 7

1.2 Khái niệm, phân loại nợ xấu và các tiêu chí phản ánh nợ xấu tại ngân hàng thương mại 10

1.2.1 Khái niệm về nợ xấu 10

1.2.2 Các tiêu chí phản ánh nợ xấu tại ngân hàng thương mại.” 13

1.3 Khái niệm về quản lý nợ xấu và phân loại hoạt động quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại 14

1.3.1 Khái niệm về quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại 14

1.3.2 Nội dung hoạt động quản lý nợ xấu 14

1.4 Khái niệm và các tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 21

1.4.1 Khái niệm về chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu 21

1.4.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 22

1.4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN HÀNG HẢI 29

2.1 Giới thiệu vài nét về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải 29

2.1.1 Sự hình thành 29

2.1.2 Cơ cấu tổ chức 30

2.1.3 Hoạt động kinh doanh 31

2.2 Thực trạng chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải 32

2.2.1 Thực trạng nợ xấu 32

2.2.2 Thực trạng quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải (theo các nội dung) 41

2.2.3 Phân tích các chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu 54

Trang 5

2.3 Đánh giá thực trạng quản lý nợ xấu tại ngân hàng TMCP Hàng Hải 56

2.3.1 Thực trạng nợ xấu 56

2.3.2 Các nguyên nhân 58

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN HÀNG HẢI TRONG THỜI GIAN TỚI 64

3.1 Phương hướng phát triển và những yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải 64

3.1.1 Phương hướng phát triển của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải trong thời gian tới 64

3.1.2 Những yêu cầu đặt ra 65

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải trong thời gian tới 66

3.2.1 Nhóm giải pháp đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải 66

3.2.2 Kiến nghị với các cơ quan chức năng 77

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

PHỤ LỤC 90

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Maritime Bank Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam

VAMC Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản các tổ chức tín

dụng Việt Nam CIC Trung tâm thông Tin tín dụng Quốc gia

MDB Ngân hàng TMCP Phát triển Mê Kông

TFC Công ty tài chính cổ phần Dệt May Việt Nam

Trang 7

BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ nợ xấu của một số NHTM Việt Nam năm 2017 36 Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành Ngân hàng (2013-2017) 37 Biểu đồ 2.3: Nợ xấu bán cho VAMC theo các ngành nghề 39 Biểu đồ 2.4: Tình hình sử dụng dự phòng rủi ro tại Maritime Bank (2013-2017) 53

SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Maritime Bank 90

Sơ đồ 2.2: Mô hình quản lý nợ xấu của Maritime Bank 42

Trang 8

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ

Hệ thống các NHTM cổ phần tại Việt Nam đang ngày càng phát triển cùng với

sự phát triển chung của đất nước Các ngân hàng đã phát huy vai trò huyết mạch của nền kinh tế, thực thi có hiệu quả chính sách tiền tệ, phát huy vai trò là kênh dẫn vốn cho thị trường, … Tuy nhiên hoạt động của các NHTM vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro Bên cạnh những rủi ro về lãi suất, tỷ giá, … rủi ro về nợ xấu là một rủi ro nghiêm trọng cần được giải quyết một cách triệt để, giảm thiểu tối đa nguy cơ gia tăng trở lại Nợ xấu được ví như cục máu đông của nền kinh tế, gây tắc nghẽn nền kinh tế, cản trở sự lưu chuyển vốn Nợ xấu có tác động và ảnh hưởng đến nhiều chủ thể bao gồm ngân hàng (chủ nợ), khách hàng (con nợ) và cả nền kinh tế của đất nước Nợ xấu làm chậm quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn của hệ thống ngân hàng, hạn chế quyền tiếp cận vốn của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến hiệu quả của việc điều tiết kinh tế vĩ mô thông qua NHTM Nợ xấu làm ảnh hưởng đến mức độ an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng và tăng trưởng GDP của nền kinh tế Vì vậy, chưa bao giờ hoạt động quản lý nợ xấu tại các NHTM nói chung và Maritime Bank nói riêng lại trở nên quan trọng như hiện nay

Luận văn với đề tài: “Nâng cao chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân

hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam” đã đặt ra nhiệm vụ là trên cơ sở giới

thiệu một số nét cơ bản vềMaritime Bank và phân tích những thành công, thất bại trong hoạt động quản lý nợ xấu tại ngân hàng này,Luận văn đề xuất phương hướng

và giải pháp để Maritime Bank nâng cao hơn nữa chất lượng của hoạt động quản lý

nợ xấu trong thời gian tới

Trong chương 1, Luận văn trình bàynhững vấn đề lý luận liên quan đến đề tài

như khái niệm thế nào là nợ xấu, những chỉ tiêu cơ bản phản ánh nợ xấu của NHTM, khái niệm về hoạt động quản lý nợ xấu, trình bày rõ các nội dung của hoạt động quản

lý nợ xấu bao gồm nhận diện, đo lường, ngăn ngừa và xử lý nợ xấu Đặc biệt, Luận văn cũng làm rõ khái niệm về chất lượng quản lý nợ xấu tại NHTM và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng của hoạt động quản lý nợ xấu tại các NHTM

Trang 9

viiCũng tại Chương 1, Luận văn đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu và chỉ ra 2 nhóm nhân tố: Nhóm nhân tố khách quan bao gồm môi trường pháp lý, môi trường kinh tế - chính trị - xã hội, khách hàng vay vốn; Nhóm nhân tố chủ quan bao gồm chính sách, cơ chế trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ, nhân sự của ngân hàng

Trong chương 2,Luận văn giới thiệu những nét chung về Maritime Bank và

phân tích thực trạng chất lượng của hoạt động quản lý nợ xấu tại đây

Khi phân tích thực trạng chất lượng của hoạt động quản lý nợ xấu của Maritime Bank, Luận văn phân tích thực trạng các nội dung của hoạt động quản lý

nợ xấu bao gồm: Thực trạng nhận diện, phân loại và đánh giá nợ xấu; thực trạng ngăn ngừa nợ xấu; thực trạng xử lý nợ xấu Luận văn đã chỉ ra các kết quả và các yêu cầu của Maritime Bank trong hoạt động này Những kết quả Maritime Bank đạt được bao gồm những kết quả Đó là: (1) Hoạt động quản lý nợ xấu được triển khai chặt chẽ, đầy đủ và độc lập giữa các bước Maritime Bank đã ban hành kịp thời các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn quy trình cụ thể chi tiết về việc cảnh báo sớm nợ có vấn

đề, phân loại nợ, xử lý nợ xấu theo chỉ đạo của NHNN và các quy định của Pháp luật; (2) Đổi mới và cải tiến việc nhận diện, phân loại, đánh giá nợ xấu Việc phân loại nợ được chuyển từ phương pháp định lượng dựa trên thời gian quá hạn của khoản vay sang phân loại dựa trên xếp hạng khách hàng đã giúp cho ngân hàng có cái nhìn toàn diện hơn về khách hàng, đánh giá khách quan, chính xác hơn về rủi ro

và nợ xấu; (3) Tích cực triển khai đồng bộ các biện pháp xử lý nợ; (4) Tốc độ gia tăng

nợ xấu có xu hướng giảm Tốc độ gia tăng nợ xấu đã có chiều hướng giảm từ năm 2014-2017 Mặc dù tốc độ gia tăng nợ xấu ở mức rất cao là hơn 300% vào năm

2015, sang năm 2016 tốc độ gia tăng nợ xấu giảm xuống hơn 110% và xuống mức 11,3% vào năm 2017

-Luận văn cũng chỉ ra những hạn chế trong chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu của Maritime Bank Đó là: (1) Tỷ lệ nợ xấu vẫn ở mức cao Từ năm 2014-2017,

tỷ lệ nợ xấu thực tế của ngân hàng không thực hiện được mục tiêu đề ra, đặc biệt trong giai đoạn 2015-2017, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng luôn ở mức 2 con số, cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ nợ xấu mục tiêu của ngân hàng; (2) Số nợ xấu được xử lý

Trang 10

viiitrong kỳ, tỷ lệ nợ xấu được xử lý trong kỳ còn thấp Maritime Bank đã không đạt được chỉ tiêu số nợ xấu được xử lý trong năm theo mục tiêu đề ra Tỷ lệ nợ xấu được xử lý trong năm 2017 đạt khoảng 46,5% chưa được một nửa so với 10.323 tỷ đồng dư nợ xấu bình quân trong năm của ngân hàng; (3) Công tác nhận diện, phân loại và đánh giá nợ xấu thiếu chính xác Công tác nhận diện, phân loại nợ xấu vẫn chưa được thực hiện tốt như nhập thiếu thông tin về báo cáo tài chính, sai lệch thông tin kỳ hạn trả nợ trả nợ giữa hồ sơ trên hệ thống và hồ sơ giấy vẫn còn xảy ra phổ biến; (4) công tác xử lý nợ xấu chưa thực sự mang lại hiệu quả, chưa xử lý dứt điểm rủi ro và tổn thất

Luận văn cũng phân tích để làm rõ nguyên nhân dẫn đến những hạn chế nêu trên

Trong chương 3, Trên cơ sở xác định rõ phương hướng phát triển Maritime

Bank trong thời gian tới, Luận văn đưa ra 8 giải pháp cùng một số kiến nghị đến các

Bộ, Ban, Ngành cùng Chính Phủ để nâng cao chất lượng quản lý nợ xấu trong ngành ngân hàng nói chung và Maritime Bank nói riêng

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hệ thống các NHTM cổ phần tại Việt Nam đang ngày càng phát triển cùng với

sự phát triển chung của đất nước Các ngân hàng đã phát huy vai trò huyết mạch của nền kinh tế, thực thi có hiệu quả chính sách tiền tệ, phát huy vai trò là kênh dẫn vốn cho thị trường, … Tuy nhiên hoạt động của các NHTM vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro Bên cạnh những rủi ro về lãi suất, tỷ giá, … rủi ro về nợ xấu là một rủi ro nghiêm trọng cần được giải quyết một cách triệt để, giảm thiểu tối đa nguy cơ gia tăng trở lại Nợ xấu được ví như cục máu đông của nền kinh tế, gây tắc nghẽn nền kinh tế, cản trở sự lưu chuyển vốn Nợ xấu có tác động và ảnh hưởng đến nhiều chủ thể bao gồm ngân hàng (chủ nợ), khách hàng (con nợ) và cả nền kinh tế của đất nước Nợ xấu làm chậm quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn của hệ thống ngân hàng, hạn chế quyền tiếp cận vốn của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến hiệu quả của việc điều tiết kinh tế vĩ mô thông qua NHTM Nợ xấu làm ảnh hưởng đến mức độ an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng và tăng trưởng GDP của nền kinh tế

Thời gian qua, các cơ quan quản lý nhà nước đã có những biện pháp nhằm nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với hệ thống các TCTD nói chung cũng như các NHTM cổ phần nói riêng.Ngày 01/03/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Ðề

án cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) giai đoạn 2011-2015 kèm theo Quyết định 254/QÐ-TTg Quá trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD đã đạt được những kết quả cụ thể: Thanh khoản hệ thống NHTM ngày càng cải thiện, đẩy lùi nguy cơ đổ vỡ; giảm sở hữu chéo trong hệ thống NHTM, số lượng các NHTM cổ phần giảm mạnh giúp các ngân hàng nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, số dư tiền gửi của TCTD tại NHNN luôn giữ mức cao hơn so với yêu cầu dự trữ bắt buộc Ngày 19/7/2017, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký ban hành Quyết định số 1058/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020 Ngày 21/6/2017, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD Đây thể hiện sự quyết tâm của hệ thống chính trị trong quá trình giải quyết dứt điểm nợ xấu tạo điều kiện phát triển nền kinh tế

Trang 12

2Maritime Bank đã hoạt động trong một thời gian dài và liên tục phát triển Những năm qua, Maritime Bank đã triển khai tái cơ cấu một cách mạnh mẽ, tập trung vào việc xây dựng nền tảng quản trị rủi ro hiệu quả, duy trì sự phát triển ổn định hoạt động kinh doanh Đặc biệt, sau thương vụ mua lại Công ty tài chính cổ phần Dệt May Việt Nam (TFC), sáp nhập Ngân hàng TMCP Phát triển Mê Kông (MDB), tiềm lực và vị thế của Maritime Bank được nâng cao một cách rõ rệt Sau khi sáp nhập MDB, Maritime Bank đã trở thành một trong 5 NHTM cổ phần hàng đầu trên thị trường về mạng lưới và quy mô vốn

Tuy nhiên, nợ xấu cũng đang là vấn đề đáng lo ngại tại ngân hàng trong thời gian qua Nợ xấu tại Maritime Bank trong những năm 2015-2017 có xu hướng giảm, tuy nhiên nợ xấu bán cho Công ty Quản lý tài sản (VAMC) bằng hình thức phát hành trái phiếu đặc biệt (TPĐB) lại tăng đột biến Vì vậy có thể thấy thực chất nợ xấu của Maritime Bank vẫn ở mức cao, đáng báo động Ngoài những nguyên nhân khách quan như tình hình kinh tế vĩ mô, hành lang pháp lý trong hoạt động xử lý nợ xấu, … thì có nguyên nhân là chất lượng quản lý nợ xấu còn yếu kém Vì vậy, nâng cao chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu là yêu cầu cấp thiết đối với Maritime Bank

Chính vì lý do đó, tác giả đã chọn vấn đề : “Nâng cao chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn Cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước

Trong vài thập kỷ gần đây, hậu quả của việc nợ xấu tăng cao đối với hoạt động ngân hàng được quan tâm và đã có nhiều công trình nghiên cứu Đa số các nghiên cứu đều cho rằng tác động của nợ xấu tăng cao là nguyên nhân làm phá sản ngân hàng Nguyên nhân nợ xấu, có nhiều lập luận cho rằng trì trệ kinh tế là một trong những nguyên nhân chính nợ của nợ xấu ngân hàng; Mỗi khoản nợ xấu là thể hiện

sự yếu kém của khách hàng và không có lợi nhuận; Khi nợ xấu tăng cao thì nguồn vốn lưu thông trong nền kinh tế bị ngưng trệ Nghiên cứu tác động của nợ xấu đối với hiệu quả hoạt động Ngân hàng thì các nhà kinh tế Berger và Humphery (1992),

Trang 13

3Barr và Siems (1994), Wheelock và Wilson (1994) cho rằng các ngân hàng phá sản

có xu hướng nằm xa so với đường biên hiệu quả Đối với vấn đề về nguyên nhân gây ra nợ xấu thì theo công trình nghiên cứu của Sinley, Joseph F và Greenwalt (1991) thực hiện đối với các NHTM lớn ở Mỹ cho rằng yếu tố bên trong và bên ngoài ngân hàng đều là tác nhân gây ra sự đổ vỡ tín dụng và mối quan hệ thuận

chiều giữa tỷ lệ nợ xấu với các yếu tố chủ quan của ngân hàng như là lãi suất cao,

Để tránh nợ xấu Duesenberry (1964) cho rằng các ngân hàng nên được chuẩn

bị để đáp ứng rút tiền gửi tại bất cứ lúc nào Ngoài ra, họ phải được chuẩn bị để đáp ứng yêu cầu tiền mặt tối thiểu của các khách hàng bất cứ lúc nào Do đó, các tổ chức cần chuẩn bị một số lượng lớn các tài sản có tính thanh khoản cao Ngoài ra, các ngân hàng phải đáp ứng yêu cầu dự trữ bắt buộc và có đủ tiền mặt để đảm bảo

nhu cầu của khách hàng (OLONISAKIN, COMFORT FOLAKE 1992)

Về khái niệm hoạt động quản lý nợ xấu, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2005) cho rằng: “Quản lý nợ xấu là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững; trong đó tăng cường các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế sự phát sinh nợ xấu, đi kèm với các biện pháp xử lý những khoản

nợ xấu đã phát sinh Từ đó nhằm tăng doanh thu, giảm chí phí và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kinh doanh trong cả ngắn hạn và dài hạn của ngân hàng

thương mại”

2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Trong vài năm gần đây, giải quyết nợ xấu là một vấn đề cấp bách của Chính phủ và các ngân hàng thương mại Về vấn đề này đã có nhiều bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành như: Bài viết của Nguyễn Thị Mùi (2012), Thực trạng nợ xấu tại các ngân hàng Việt Nam và giải pháp tháo gỡ; Lê Quốc Phương (2013), Bàn về giải pháp xử lý nợ xấu hiện nay

Các bài viết Nguyễn Thị Mùi (2012), Phí Đăng Minh (2012), Nguyễn Quang Thái (2013), Đặng Thị Minh Nguyệt (2014) đã đề cập đến các nhận dạng của nợ xấu và đưa ra các biện pháp xử lý nợ xấu hiệu quả Các bài viết này chủ yếu tập

Trang 14

4trung nghiên cứu các giải pháp để xử lý nợ xấu đạt kết quả cao Các giải pháp được nói đến như thành lập Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (viết tắt là VAMC) Nguyễn Thị Minh Thanh (2012) đề cấp đến việc lựa chọn mô hình xử lý nợ xấu ở Việt Nam

Bài viết Lê Quốc Phương (2013), trên tạp chí kinh tế và dự báo chỉ ra các nguyên nhân nợ xấu, kinh nghiệm xử lý nợ xấu theo mô hình Công ty quản lý tài sản và mô hình công ty mua bán nợ ở Việt Nam, những hạn chế Nguyễn Đắc Hưng (2014), Tô Ngọc Hưng (2014) đề cấp đến thực trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay, tỷ lệ nợ và vấn đề xử lý nợ xấu, hiệu quả của Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Namtrong vấn đề xử lý nợ xấu Phân tích các biện pháp xử lý nợ xấu được ngành ngân hàng triển khai

Nguyễn Văn Thọ (2014) đề cập biện pháp xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng

đó là chuyển nợ thành phần góp vốn Bài viết nêu thực trạng hoạt động này ở Việt Nam, những kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế

Đinh Thị Thanh Vân (2012), bài viết giới thiệu những quy định về cách phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro trong các tổ chức tín dụng Việt Nam So sánh với quan điểm về nợ xấu, cách phân loại nợ, trích lập phòng rủi ro của tổ chức quốc tế :

Ủy ban Basel II, IMF và một số quốc gia trên thế giới, từ đó đưa ra những quan điểm cần lưu ý khi đánh giá vấn đề nợ xấu ở các ngân hàng thương mại Việt Nam Nguyễn Văn Phương (2013) nêu ra những khó khăn trong xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ xấu ở Việt Nam như : Ngân hàng và chủ sở hữu phối hợp bán tài sản bảo đảm, ngân hàng tự xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ và xử lý tài sản bảo đảm thông qua khởi kiện, thi hành án

Luận án tiến sỹ Nguyễn Thị Hoài Phương (2012) với đề tài: "Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại Việt Nam" Tác giả đã chứng minh khi nào nợ xấu được nhận biết và đo lường một cách chính xác thì ngân hàng mới có thể quản lý có hiệu quả Quy mô đối tượng nghiên cứu của tác giả ở phạm vi hệ thống ngân hàng chứ không phải một ngân hàng cụ thể

Trang 15

5Luận án tiến sỹ Nguyễn Thị Thu Cúc (2015) với đề tài: "Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam" Tác giả đã đề xuất được các giải pháp nhằm quản lý nợ xấu hiệu quả hơn tại Ngân hàng Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý nợ xấu, chất lượng của hoạt động quản lý nợ xấu tại NHTM và phân tích thực trạng chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu của Maritime Bank trong thời gian qua, đề tài

đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động quản lý nợ xấu của Maritime Bank trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nói trên, Luận văn có nhiệm vụ:

- Làm rõ khái niệm, đặc điểm về nợ xấu và chất lượng quản lý nợ xấu tại NHTM

- Phân tích thực trạng chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu tại Maritime Bank trong thời gian qua và chỉ ra những ưu điểm, những yếu kém và nguyên nhân

- Đề xuất giải pháp để Maritime Bank nâng cao chất lượng hoạt động quản lý

nợ xấu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng của Maritime Bank

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu là vấn đề rất rộng, trong

khuôn khổ của Luận văn thạc sĩ, nội dung của Luận văn chỉ phân tích 3 vấn đề Đó

là: (1) Nhận diện nợ xấu; (2) Xử lý nợ xấu; (3) Các nhân tố ảnh hưởng đến chất

lượng hoạt động quản lý nợ xấu

Trang 16

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện Luận văn, người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Phương pháp hệ thống hoá, phương pháp phân tích nhằm làm rõ khái niệm về

nợ xấu, quản lý nợ xấu và chất lượng của hoạt động quản lý nợ xấu tại các NHTM Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh nhằm thống kê các số liệu để phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng quản lý nợ xấu tại Maritime Bank Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp nhằm luận giải cho các giải pháp

và kinh nghiệm để Maritime Bank nâng cao chất lượng của hoạt động quản lý nợ xấu trong thời gian tới

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục bảng, biểu và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý nợ xấu và chất lượng quản lý nợ

xấu tại ngân hàng thương mại

Chương 2: Đánh giá chung về chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân

hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động quản

lý nợ xấu tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải trong thời gian tới

Trang 17

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Khái niệm và đặc điểm của ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại

Ngân hàng từ lâu đã trở thành một khái niệm quen thuộc với đại bộ phận dân

cư bởi sự tham gia sâu rộng của ngân hàng vào nền kinh tế quốc gia Ngân hàng với lịch sử hình thành và phát triển lâu đời là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế Theo quan điểm của giáo sư Peter S Rose thuộc

Đại học Texas A&M (Hoa Kỳ):“Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp

một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm

và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ

một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế" (Peter S Rose , Quản trị Ngân

hàng thương mại, trang 17)

Ngân hàng thương mại là một bộ phận không thể tách rời khỏi đời sống xã hội, là một sản phẩm đặc biệt của nền kinh tế thị trường Sự ra đời của NHTM đã đánh dấu một bước nhảy vọt trong quá trình phát triển đi lên của nhân loại

Tại Điều 20, Luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam cũng nêu rõ: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm NHTM, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng Hợp tác xã và các loại hình ngân hàng khác”( Luật các Tổ chức tín dụng, NXB Tư pháp trang 24)

Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt với nhiều hoạt động đa dạng, có thể tổng hợp những hoạt động đó theo 3 nhóm hoạt động cơ bản,

đó là: hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và các hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính

1.1.2 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn

Trang 18

8Nguồn vốn tiền gửi không kì hạn: đây là nguồn vốn hình thành dựa trên nhu cầu giao dịch, khi khách hàng muốn sử dụng các dịch vụ tài chính của ngân hàng Nguồn vốn này có quy mô rất lớn, luôn chiếm tỉ trọng lớn nhất trong số nguồn vốn, sự vận động lại phức tạp nên việc sử dụng rất mạo hiểm, cần phải thận trọng mới có phương pháp sử dụng hiệu quả

Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: nhiều khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ được chi trả sau một thời gian xác định sẽ được gửi vào ngân hàng sau một thời gian nhất định để hưởng lãi suất tương ứng với kì hạn đó (luôn cao hơn đối với lãi suất tiền gửi thanh toán)

Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: đây là các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích sinh lời và an toàn

Nguồn vốn chủ sở hữu: để bắt đầu hoạt động ngân hàng, chủ ngân hàng phải

có một lượng vốn nhất định và còn được bổ sung trong quá trình hoạt động Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng

Các nguồn vốn khác: đây thường là các nguồn không phải trả lãi, tuy nhiên chi phí để có và duy trì chúng là rất đáng kể, ví dụ như nguồn uỷ thác

1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn

Các hoạt động về ngân quỹ:

- Dự trữ bắt buộc: đây là khoản dự trữ mà NHNN yêu cầu các NHTM nộp

vào tài khoản tại NHNN nhằm mục đích: hỗ trợ, bảo đảm an toàn cho hoạt động của NHTM, vận hành chính sách tiền tệ quốc gia, quản lý hoạt động NHTM

- Dự trữ vượt quá: là các khoản dự trữ tồn tại dưới dạng tiền mặt tại quỹ,

các khoản tiền gửi tại ngân hàng khác, tiền mặt trong quá trình thu

Nhìn chung, ngân quỹ của NHTM là tài sản không sinh lời (hoặc sinh lời thấp trong trường hợp tiền gửi tại NHNN và các ngân hàng khác được hưởng lãi) song lại

là tài khoản có tính thanh khoản cao nhất, đáp ứng nhu cầu chi trả thường xuyên Do vậy, mỗi ngân hàng đều cố gắng giữ ngân quỹ ở mức thấp nhất có thể được

Trang 19

- Cho vay: Là việc ngân hàng nhường quyền sử dụng vốn cho người khác

trong một thời gian, sau đó được quyền thu cả gốc lẫn lãi Cho vay là khoản mục

có tỷ lệ cao nhất trong các loại tài sản của ngân hàng Có rất nhiều loại hình cho vay khác nhau đáp ứng nhu cầu của dân cư hay các doanh nghiệp

- Các hoạt động đầu tư: Ngân hàng nhường quyền sở hữu cho người khác

dưới hình thức hùn vốn, thu nhập căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận, tỷ lệ vốn góp Có nhiều hình thức đầu tư: đầu tư vào chứng khoán, đầu tư vào các dự án, đầu tư dưới dạng liên doanh với nhau để hình thành các ngân hàng liên doanh

- Các hoạt động sử dụng vốn khác: Quảng cáo, quảng bá, tài trợ cho sự phát triển nguồn nhân lực, các chương trình phát triển

1.1.2.3 Cung cấp dịch vụ tài chính trung gian

- Chuyển tiền: Ngân hàng làm theo lệnh của khách hàng chuyển trả tiền cho

một người nào đó

- Thanh toán không dùng tiền mặt: Khi khách hàng gửi tiền vào ngân

hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng Người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách, khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền Các hình thức thanh toán ngày càng đa dạng: thanh toán bù trừ, sec, L/C, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, hối phiếu, thanh toán bằng thẻ

- Cung cấp các dịch vụ tài chính:

+ Dịch vụ ủy thác và tư vấn: Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về quản lý tài chính Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý tài chính hộ Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính

+ Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: Ngân hàng cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác Trong một vài trường hợp các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán để cung cấp dịch vụ môi giới

Trang 20

10+ Bảo lãnh: Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho 1 khách hàng là rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác

1.2 Khái niệm, phân loại nợ xấu và các tiêu chí phản ánh nợ xấu tại ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm về nợ xấu

Nợ xấu phát sinh từ hoạt động cho vay của NHTM Khái niệm về nợ xấu ở các quốc gia khác nhau trên thế giới là không đồng nhất

Theo“quan điểm của Ngân hàng trung ương châu Âu (2005), nợ xấu bao gồm (i) Những khoản cho vay không có khả năng thu hồi và (ii) Những khoản cho vay

có thể không được thu hồi đầy đủ cho ngân hàng Như vậy NHTW Châu âu không đưa ra khái niệm về nợ xấu mà chỉ phân loại nợ xấu Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (2004) thì nợ xấu là: “Một khoản vay được coi là nợ xấu khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến

90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ” (Đặng Đức Thành 2015-trang 21)

Tại Việt Nam, NHNN đã ban hành Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013“Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập DPRR và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”(được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 09/2014/TT-NHNN ngày 18/3/2014) theo đó nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 Đó là: -Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: (i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; (ii) Nợ gia hạn nợ lần đầu; (iii) Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; (iv) Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây: (1) Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp

Trang 21

11tín dụng theo quy định của pháp luật; (2) Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính TCTD hoặc công ty con của TCTD hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một TCTD khác trên cơ sở TCTD cho vay nhận TSBĐ bằng cổ phiếu của chính TCTD nhận vốn góp; (3) Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự có của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật; (4) Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của TCTD hoặc doanh nghiệp

mà TCTD nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật; (5) Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật; (6) Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; (7) Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách DPRR của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; (8) Nợ thuộc một trong các trường hợp chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi (như khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 3, 4, 5, 6 Điều 126 Luật các TCTD; Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 127 Luật các TCTD; Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 5 Điều 128 Luật các TCTD); (v) Nợ trong thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra; (vi) Nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 10, Thông tư 02/2013/NHNN; (vii) Nợ phải phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 11, Điều 9,”Thông tư 02/2013/NHNN

-Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: (i) Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; (iv) Khoản nợ quy định tại điểm c (iv) Khoản 1 Điều 10, Thông tư 02/2013/NHNN chưa thu hồi được trong thời gian từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; (v) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; (vi) Nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 10, Thông tư 02/2013/NHNN; (vii) Nợ phải phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 11 Điều 9”Thông tư 02/2013/NHNN

Trang 22

- Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: “(i) Nợ quá hạn trên 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; (iv) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả

nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; (v) Khoản nợ quy định tại điểm c (iv) khoản 1 Điều 10, Thông tư 02/2013/NHNN chưa thu hồi được trong thời gian trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; (vi) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra trên 60 ngày

mà vẫn chưa thu hồi được; (vii) Nợ của khách hàng là TCTD được NHNN công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản; (viii) Nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 3 Điều

10, Thông tư 02/2013/NHNN; (ix) Nợ phải phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 11 Điều 9”Thông tư 02/2013/NHNN

Trong 3 nhóm nợ xấu nói trên, nợ xấu lại được tiếp tục phân loại thành:

-Nợ Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn)“bao gồm: Các khoản nợ được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất Các cam kết ngoại bảng được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa

vụ theo cam kết.”

-Nợ Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ)“bao gồm: Các khoản nợ được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao Các cam kết ngoại bảng

mà khả năng khách hàng không thực hiện cam kết là rất cao.”

-Nợ Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)“bao gồm: Các khoản nợ được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn Các cam kết ngoại bảng mà khách hàng không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết.”

Từ cách phân loại trên, có thể thấy nợ xấu được được hiểu là các khoản nợ khách hàng vay vủa NHTM nhưng đã quá thời hạn trả nợ và khách hàng cũng

Trang 23

13không có khả năng trả nợ Tóm lại, để xác định một khoản nợ là nợ xấu cần căn cứ vào hai yếu tố chính là thời gian quá hạn và khả năng trả nợ của khách hàng

1.2.2 Các tiêu chí phản ánh nợ xấu tại ngân hàng thương mại ”

Để phản ánh nợ xấu của các NHTM, người ta sử dụng các tiêu chí cơ bản sau đây:

- Tổng số nợ xấu:“Đây là chỉ tiêu phản ánh giá trị tuyệt đối của toàn bộ các khoản nợ xấu của ngân hàng Tiêu chí này là con số nợ xấu mà ngân hàng đang có

mà chưa so sánh với tổng thể dư nợ của ngân hàng cũng như chưa biết được nợ có khả năng thu hồi và nợ không có khả năng thu hồi

- Tỷ lệ nợ xấu của một NHTM được xác định theo công thức:

Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng Nhìn chung tỷ lệ nợ xấu càng cao thì chất lượng hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng càng kém và ngược lại (trong mối tương quan so sánh với khẩu vị rủi ro của ngân hàng) Theo thông lệ nếu tỷ lệ nợ xấu < hoặc =5% thì chất lượng hoạt động cho vay xem như bình thường, càng nhỏ hơn 5% càng tốt Ngược lại, nếu tỷ lệ nợ xấu >5% thì chất lượng hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đang có vấn đề

Theo Quyết định 06/2008/QĐ-NHNN ngày 12/3/2008 của NHNN quy định về chấm điểm chất lượng tài sản của NHTM NHTM đạt điểm tối đa về chỉ tiêu chất lượng các khoản cho vay khi tỷ lệ nợ xấu nhỏ hơn hoặc bằng 3% và NHTM tuân thủ quy định của NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD.”

- Tỷ lệ nợ khó đòi/ Tổng dư nợ và Nợ khó đòi/ Nợ xấu: Các tỷ lệ này cho

biết chỉtiêu tượng đối của nợ khó đòi - một cấu phần quan trọng của nợ xấu Đây là những chỉ tiêu phản ánh một cách khá trung thực về thực tế và nguy cơ mất vốn của ngân hàng Tỷ lệ này càng lớn thì khả năng rủi ro mất vốn của ngân hàng càng cao

Trang 24

- Tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro/ nợ xấu: Tỷ lệ này phản ánh quỹ dự phòng rủi ro

có khả năng bù đắp bao nhiêu cho các khoản nợ xấu khi chúng chuyển thành các khoản nợ mất vốn Nếu tỷ lệ này mà càng cao thì khả năng quỹ dự phòng rủi ro đủ

bù đắp các thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng; và ngược lại

Ngoài ra cũng tùy theo tình hình cụ thể của mỗi ngân hàng hoặc quốc gia trong từng thời kỳ mà có thể có thêm các chỉ tiêu khác để đánh giá, so sánh thực trạng nợ xấu nhằm xây dựng các biện pháp xử lý hợp lý

1.3 Khái niệm về quản lý nợ xấu và phân loại hoạt động quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại

1.3.1 Khái niệm về quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại

Theo Ủy ban Basel (2005), quản lý nợ xấu NHTM được hiểu là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững; trong đó tăng cường các biện pháp nhằm phòng ngừa nợ xấu, đi kèm với các biện pháp xử lý

nợ xấu đã phát sinh, từ đó nhằm tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn của NHTM Quản lý nợ xấu là một bộ phận của quản lý RRTD, là một trong những hoạt động quan trọng của NHTM Quản lý nợ xấu nhằm đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động tín dụng và không ngừng nâng cao chất lượng đối với hoạt động tín dụng của NHTM Quản lý nợ xấu hướng vào mục tiêu xử lý hiệu quả ở mức cao nhất và tổn thất ở mức thấp nhất cho NHTM Nói cách khác, quản lý nợ xấu luôn phải nhằm vào việc hạ thấp tổn thất, nâng cao mức độ an toàn kinh doanh của NHTM bằng các chính sách, biện pháp quản lý, giám sát hoạt động tín dụng có hiệu quả

1.3.2 Nội dung hoạt động quản lý nợ xấu

Với khái niệm nêu trên, hoạt động quản lý nợ xấu bao gồm 3 hoạt động nhận diện nợ xấu, hoạt động đo lường nợ xấu, ngăn ngừa nợ xấu và xử lý nợ xấu

Thứ nhất, hoạt động nhận diện nợ xấu

Trang 25

15Nhận diện nợ xấu là nội dung đầu tiên của hoạt động quản lý nợ xấu Nhận diện

nợ xấu là việc phát hiện, xác định nợ xấu trên cơ sở các tiêu chí để nhận diện nợ xấu, từ

đó có những cảnh báo sớm cho ngân hàng Hoạt động nhận diện nợ xấu chủ yếu thông qua việc đánh giá lại các khoản tín dụng và phụ thuộc vào tiêu chí xác định nợ xấu do từng quốc gia và hệ thống tiêu chí nội bộ do ngân hàng xây dựng

Theo BIS, hoạt động nhận diện nợ xấu có thể được thực hiện dựa trên một trong hai dấu hiệu sau: (i).Khoản nợ đó quá hạn ít nhất 90 ngày; (ii) Có dấu hiệu rõ rệt cho thấy khả năng tài chính của khách hàng đang bị giảm sút gây nguy hại đến việc trả nợ ngân hàng (Đặng Đức Thành 2015 - trang 76)

Theo Công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC), để có thể nhận diện nợ xấu hoạt động quản lý nợ xấu phải dựa vào những dấu hiệu sau:

- Nhóm các dấu hiệu liên quan đến nghĩa vụ với ngân hàng gồm: (i) Khách hàng xuất hiện nợ quá hạn do không có khả năng hoàn trả hoặc khách hàng không muốn trả nợ hoặc do việc tiêu thụ hàng, thu hồi công nợ chậm hơn dự tính; (ii) Thanh toán tiền không đúng kế hoạch; (iii) Những kế hoạch trả nợ mà người vay đã cam kết liên tục bị phá vỡ Kì hạn của khoản cho vay bị thay đổi liên tục và khách hàng luôn yêu cầu được gia hạn nợ

Các thông tin và tài liệu cần thiết không được cung cấp chính xác và nộp theo đúng kế hoạch

Các tài liệu quan trọng được yêu cầu nộp cho ngân hàng như báo cáo tài chính luôn bị trì hoãn một cách bất thường hay không có sự giải thích của người vay Ngân hàng có sự nghi ngờ về số liệu kê khai, hay số liệu về doanh thu và dòng tiền thực tế

có sự chênh lệch khá lớn so với mức dự kiến khi khách hàng xin vay

TSBĐ không đủ tiêu chuẩn, giá trị TSBĐ bị giảm sút so với định giá khi cho vay Có dấu hiệu tài sản đã cho người khác thuê, bán hay trao đổi hoặc đã biến mất không còn tồn tại.(Đặng Đức Thành 2015- trang 46)

- Nhóm các dấu hiệu liên quan đến hoạt động kinh doanh của khách hàng:(i) Những thay đổi bất thường trong phương pháp mà người vay sử dụng như phương pháp để tính khấu hao TSCĐ, trả tiền lương, tính giá trị hàng tồn kho, tính

Trang 26

16thuế…;(ii) Giá trị thị trường cổ phiếu có những thay đổi bất thường, có thể rõ nguyên nhân hoặc chưa rõ nguyên nhân nhưng những thay đổi này theo chiều hướng không có lợi cho doanh nghiệp vay vốn;(iii) Những thay đổi không“bình thường ngoài dự kiến và không có cơ sở trong số dư tiền gửi của khách hàng; (iii).Khách hàng “hoạt động thua lỗ trong một hoặc nhiều năm được thể hiện thông qua chỉ số lợi nhuận ròng trên tài sản của người vay (ROA), lợi nhuận ròng trên vốn

cổ phần (ROE) hay thu nhập trước trả lãi và thuế (EBIT); (iv) Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn của người vay như tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ

nợ phải trả trên tổng tài sản, khả năng thanh khoản hay mức độ hoạt động.”Sự thay đổi về tổ chức ban lãnh đạo doanh nghiệp; có mâu thuẫn trong ban lãnh đạo, tranh chấp trong quá trình quản lý

Hiện nay, các NHTM nhận diện nợ xấu thông qua các tiêu chí định tính (dựa vào mức độ nghi ngờ về khả năng trả nợ), định lượng (chủ yếu dựa vào thời gian quá hạn của khoản nợ) hoặc kết hợp định tính và định lượng

Thứ hai, hoạt động đo lường nợ xấu

Thực hiện hoạt động nhận diện nợ xấu, các NHTM sẽ tiến hành đo lường, đánh giá nợ xấu để xác định mức độ rủi ro, khả năng không trả được nợ của khách hàng, đánh giá mức độ tác động của nợ xấu đến hoạt động, kết quả kinh doanh của ngân hàng từ đó xác định các biện pháp để xử lý phù hợp Có thể thấy hoạt động đo lường nợ xấu là nội dung không thể thiếu trong hoạt động quản lý nợ xấu của NHTM

Kết quả đo lường, đánh giá nợ xấu thường được thể hiện thông qua kết quả phân loại nợ Các khoản nợ tương đồng về mức độ rủi ro và khả năng không trả được nợ được phân vào cùng 1 nhóm Việc phân loại thành bao nhiêu nhóm nợ và các nhóm được tính là nợ xấu tùy thuộc vào quy định của từng quốc gia và nội bộ của từng ngân hàng Ví dụ ở Brazil là 9 nhóm nợ, ở Mexico là 7 nhóm nợ, ở Việt Nam là 5 nhóm nợ (Đặng Đức Thành (2015) trang 34) Trên cơ sở đó quy định các nhóm thuộc nợ xấu (ở Việt Nam nợ xấu là nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5) Một số nước không quy định cụ thể về số nhóm nợ mà cho phép các ngân hàng tự xác định

Trang 27

và phân loại nợ theo hệ thống phân loại nợ nội bộ Các ngân hàng phân loại nợ theo

hệ thống phân loại nội bộ, cơ quan quản lý ngân hàng định kỳ sẽ xem xét, đánh giá tính phù hợp của hệ thống phân loại nợ

Hoạt động này cho phép các NTHM đánh giá được mức độ rủi ro của các loại

nợ xấu và từ đó có chiến lược quản lý hoạt động nợ xấu phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động quản lý nợ xấu

Thứ ba, hoạt động ngăn ngừa nợ xấu

Để ngăn ngừa nợ xấu, các NHTM thực hiện các nội dung trong quá trình hoạt động của mình Đó là:

- Xây dựng mô hình quản lý RRTD: Xây dựng mô hình quản lý RRTD là xây

dựng cách thức quản lý RRTD tổng thể của một ngân hàng Trong đó thể hiện được cách thức tổ chức quản lý, thực hiện quy trình tín dụng, nhận biết, đo lường, kiểm soát RRTD nhằm khống chế rủi ro trong một giới hạn cho phép theo nguyên tắc tối

đa hóa lợi nhuận Xây dựng mô hình quản lý RRTD cho phép các NHTM có sự nhìn nhận chính xác hơn về triển vọng kinh doanh của ngân hàng trong tương lai, từ

đó hoạch định chính sách phù hợp Khi nói đến rủi ro là nói đến những biến cố xảy

ra không chắc chắn So với các chỉ tiêu phản ánh thực tế kinh doanh như doanh thu, mức sinh lời, các khoản lãi và phí… thì rủi ro lại mang tính dự đoán Thực tế người

ta có thể xem nhẹ kết quả trong tương lai để chú trọng hơn vào những mục tiêu ngắn hạn trước mắt Việc xem nhẹ rủi ro như vậy nghĩa là NHTM có thể sẽ phải chịu những tổn thất nặng nề xảy ra sau này Vì vậy, quan tâm xây dựng mô hình quản trị rủi ro có nghĩa là các NHTM đã đưa rủi ro thành một vấn đề cấp thiết trong hoạt động kinh doanh bên cạnh mục tiêu lợi nhuận ngay cả khi rủi ro chưa xảy ra.”

- Xây dựng chiến lược QLRR: Chiến lược QLRR cần phù hợp với chiến lược

kinh doanh của ngân hàng trong từng thời kỳ và tùy theo diễn biến của thị trường có thể được điều chỉnh một cách linh hoạt Chiến lược QLRR nói chung nhằm xử lý nợ xấu phát sinh phải chỉ rõ điểm mạnh, điểm yếu của ngân hàng, các cơ hội cũng như các mối đe dọa từ môi trường kinh doanh Chiến lược phải được hoạch định một cách nhất quán về các thứ tự ưu tiên cho đến các mục tiêu có sự xung đột trong hoạt

Trang 28

18động kinh doanh Chiến lược phòng ngừa, xử lý rủi ro phải đặc biệt chú trọng đến việc đa dạng hóa danh mục tín dụng trên cơ sở phân bổ hợp lý các nguồn vốn cũng như chi phí QLRR sẽ được hình thành trên cơ sở là một bộ phận phù hợp và gắn chặt với chiến lược kinh doanh tổng thể của ngân hàng Các nguyên tắc theo Ủy ban Basel gồm:

- Mỗi ngân hàng cần phát triển một chiến lược hay kế hoạch QLRR tín dụng trong đó chấp nhận một tỷ lệ nợ xấu phù hợp, xây dựng các mục tiêu hướng dẫn cho các hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng và thực hiện các chính sách và thủ tục cần thiết để tiến hành các hoạt động này HĐQT có trách nhiệm phê duyệt và định

kỳ xem xét chiến lược QLRR tín dụng của ngân hàng.”

Chiến lược hoạt động ngân hàng phản ánh mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng với mức sinh lời nhất định mà ngân hàng kỳ vọng.Cụ thể, chiến lược QLRR cần thể hiện tuyên bố của ngân hàng trong việc sẵn sàng cấp tín dụng dựa trên loại hình rủi ro tiềm năng, ngành kinh tế, vị trí địa lý, đồng tiền, kỳ hạn và mức sinh lời

dự kiến Chiến lược cũng có thể xác định thị trường mục tiêu và các đặc tính tổng quát mà ngân hàng muốn đạt được trong danh mục tín dụng.”

- Chiến lược chấp nhận một tỷ lệ nợ xấu cần được phổ biến hiệu quả trong toàn ngân hàng Mọi nhân viên ngân hàng cần hiểu rõ và có trách nhiệm tuân thủ các thủ tục và chính sách đã đề ra HĐQT giao Ban điều hành quản lý các hoạt động tín dụng do ngân hàng tiến hành và các hoạt động này được thực hiện trong phạm vi chiến lược, chính sách và mức độ chấp nhận rủi ro đã được HĐQT phê duyệt

-Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản nợ xấu phát sinh Nợ

xấu phát sinh từ nhiều nguyên nhân trong đó có các nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan Khi những khoản nợ có nguy cơ chuyển thành nợ xấu thì các ngân hàng cần xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm đối với những khoản nợ này Ngay từ những khoản nợ nhóm 2 đã cần phải sớm phân tích nguyên nhân và có biện pháp tín dụng kịp thời, phù hợp, không để kéo dài thời gian quá hạn dễ dẫn đến nguy cơ nợ xấu Khách hàng chỉ cần quá hạn nợ gốc/lãi vay một ngày cũng để toàn

bộ dư nợ gốc của hợp đồng tín dụng bị chuyển sang nợ quá hạn, phân loại vào trạng

Trang 29

19thái nợ nhóm 2 Đó là chưa kể việc phân tích định tính về khả năng trả nợ suy giảm, ước lượng mức tổn thất giá trị nợ gốc để phân vào nợ nhóm 2 Vì vậy việc phân loại

nợ phải được thực hiện tự động hóa một cách minh bạch trên hệ thống phần mềm quản lý nợ toàn hệ thống khiến cho nợ quá hạn các nhóm tự động phát sinh trên hồ

sơ quản lý món vay và cân đối kế toán

- Thực hiện tốt quy trình quản lý tín dụng: Quy trình quản lý tín dụng từ các

khâu“thẩm định, giải ngân, kiểm tra sau khi cho vay Việc thực hiện tốt quy trình quản lý tín dụng sẽ giúp cho NHTM tránh được rủi ro các khoản nợ xấu phát sinh, phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm và các thiếu sót trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng.”Vì vậy, việc xây dựng quy trình quản lý tín dụng sao cho hiệu quả luôn là đòi hỏi cấp thiết Sổ tay tín dụng cần xây dựng cụ thể, chi tiết, rõ ràng thủ tục, quy trình, trình tự mọi công việc có liên quan đến hoạt động tín dụng,

kể từ khi nhận đề nghị vay vốn đến khi thu hồi được toàn bộ gốc và lãi của khoản vay đó.”Việc xây dựng sổ tay tín dụng nhằm mục đích làm cho hoạt động tín dụng được thực hiện một cách quy củ, thống nhất

- Thực hiện công tác kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng: Công tác kiểm

tra, giám sát hoạt động tín dụng nhằm phát hiện và ngăn ngừa kịp thời những rủi ro phát sinh từ những khoản tiền cho vay của ngân hàng NHTM thực hiện kiểm tra sử dụng vốn vay sau khi giải ngân, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng theo định kỳ, kiểm tra hồ sơ tín dụng Một nội dung khác của hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng là hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ Hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ được thực hiện bởi một bộ phận độc lập với hoạt động tín dụng đó là phòng kiểm tra nội bộ Chức năng của phòng kiểm tra nội bộ là đưa ra các đánh giá mang tính khách quan đối với hoạt động tín dụng Trên cơ sở đó bộ phận kiểm tra nội bộ thực hiện chức năng tư vấn cho bộ phận nghiệp vụ và là công cụ quản

lý của ban lãnh đạo ngân hàng.”

Thứ tư, hoạt động xử lý nợ xấu

Xử lý nợ xấu là bước cuối cùng trong hoạt động quản lý nợ xấu của NHTM Xử

lý nợ xấu bao gồm nhiều biện pháp khác nhau, NHTM phải căn cứ vào từng khoản nợ,

Trang 30

20từng thời điểm để lựa chọn cách xử lý thích hợp nhằm đảm bảo việc xử lý nợ xấu đạt hiệu quả tối cao Các biện pháp xử lý nợ, NHTM sử dụng bao gồm:

- Cơ cấu lại khoản nợ: Cơ cấu lại nợ áp dụng khi một khoản nợ đến kỳ hạn trả nợ

nhưng ngân hàng đánh giá khách hàng khó có khả năng trả nợ cho ngân hàng theo lịch trả nợ đã ký trước đó Cơ cấu lại nợ có 2 hình thức là điều chỉnh kỳ hạn trả nợ

và gia hạn nợ Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ là việc NHTM chấp thuận kéo dài thêm một khoảng thời gian trả nợ một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay của kỳ hạn trả nợ đã thỏa thuận (bao gồm cả trường hợp không thay đổi về số kỳ hạn trả nợ

đã thỏa thuận), thời hạn cho vay không thay đổi Gia hạn nợ là việc NHTM chấp thuận kéo dài thêm một khoảng thời gian trả nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay, vượt quá thời hạn cho vay đã thoả thuận.”

- Bảo lãnh vay vốn hoặc cho khách hàng vay tiếp: Biện pháp này giúp khách

hàng gặp khó khăn tạm thời, thiếu vốn để hoạt động Ngân hàng xét thấy việc cho vay

bổ sung vốn có thể giải quyết khó khăn, giúp khách hàng khôi phục năng lực sản xuất kinh doanh, từ đó có thể hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cũ và nợ mới, ngân hàng có thể đứng ra bảo lãnh cho khách hàng vay vốn tại một tổ chức khác hoặc trực tiếp giải ngân

cho khách hàng

- Xử lý TSBĐ: Đối với những khoản vay có TSBĐ, ngân hàng có thể áp dụng

biện pháp xử lý TSBĐ cho khoản vay để thu hồi nợ Việc xử lý TSBĐ thường xử lý

theo hình thức bán tài sản để thu hồi nợ hoặc NHTM nhận tài sản để cấn trừ nợ

- Bán nợ: Là việc NHTM chuyển giao quyền chủ nợ đối với các khoản nợ của

ngân hàng cho tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài nước có nhu cầu mua nợ Việc chuyển giao khoản nợ được tiến hành đồng thời với việc chuyển giao các nghĩa vụ của bên nợ và các bên có liên quan Một khoản nợ có thể được bán một phần hoặc toàn bộ, bán cho nhiều bên mua nợ và có thể được mua, bán nhiều lần Phương thức bán nợ có thể được thực hiện thông qua đấu giá, chào giá cạnh tranh, thông qua đàm phán trực tiếp giữa bên bán hoặc bên mua hoặc thông qua môi giới Giá bán khoản nợ xấu theo giá trị thị trường, có thể cao hơn, bằng hoặc thấp hơn dư nợ gốc của khoản nợ Để thực hiện có hiệu quả biện pháp này cần sự phát triển hơn nữa thị trường mua, bán nợ.”

Trang 31

- Xử lý DPRR: “Ngân hàng sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp các khoản nợ xấu Biện pháp này làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Thực chất đây là việc dùng nội lực của ngân hàng để khắc phục gánh nặng nợ xấu nên sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng.”

- Chuyển nợ thành vốn góp: Bản chất của biện pháp này là chuyển vị trí của

NHTM từ chủ nợ sang chủ sở hữu doanh nghiệp Áp dụng biện pháp này ngân hàng sẽ trực tiếp tham gia vào quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp, tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh

- Khởi kiện: NHTM tiến hành khởi kiện khách hàng ở tòa án, trọng tài thương

mại hoặc tại các cơ quan tư pháp buộc khách hàng phải có biện pháp thanh toán tiền cho ngân hàng

Ngoài ra còn nhiều biện pháp khác NHTM cũng sử dụng trong quá trình xử lý nợ xấu như tư vấn cho khách hàng phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh, hỗ trợ khách hàng thu hồi các khoản phải thu, chứng khoán hóa các khoản nợ, quy trách nhiệm đòi

nợ đối với nhân viên ngân hàng hoặc cũng có thể nhờ sự trợ giúp của Chính phủ

1.4 Khái niệm và các tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại

1.4.1 Khái niệm về chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu

Khái niệm về chất lượng dưới các góc độ khác nhau của mỗi cách tiếp cận, mỗi cách nhìn nhận riêng biệt đều có sự khác nhau Theo các chuyên gia về chất lượng như giáo sư Joseph Moses Juran (1964), chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu; theo giáo sư Philip Bayard Crosby (1979), chất lượng là sự phù hợp với các yêu cầu hay đặc tính nhất định; còn theo giáo sư Kaoru Ishikawa (1980) thì chất lượng là sự thoả mãn nhu cầu thị trường

Chất lượng dù được hiểu theo nhiều cách khác nhau dựa trên những cách tiếp cận khác nhau đều có một điểm chung nhất Đó là sự phù hợp với yêu cầu Vì vậy, một hoạt động có chất lượng là hoạt động phù hợp với mục đích hay nói cách khác hoạt động đó đạt được các mục tiêu đề ra, có thể hiểu chất lượng hoạt động quản lý

nợ xấu là việc đạt được các mục tiêu đề ra của ngân hàng đối với hoạt động quản lý

nợ xấu.”

Trang 32

- Số nợ xấu được xử lý trong kỳ

Đầu kỳ (có thể là tháng/quý/năm), NHTM thường xây dựng tiêu chí về số nợ xấu được xử lý Vì vậy tiêu chí số nợ xấu được xử lý trong kỳ phản ánh những nỗ lực và cố gắng của ngân hàng trong việc giải quyết và xử lý nợ xấu Nếu tiêu chí này lớn hơn hoặc bằng tiêu chí đề ra ban đầu chứng tỏ ngân hàng đã thực hiện tốt việc xử lý nợ xấu

Đối với tiêu chí số nợ xấu được xử lý trong kỳ, các ngân hàng còn có thể chia theo tiêu chí số nợ xấu được xử lý theo từng biện pháp Đây là chỉ tiêu phản ánh những nỗ lực và cố gắng của ngân hàng trong việc giải quyết và xử lý nợ xấu theo các biện pháp khác nhau

- Tỷ lệ nợ xấu được xử lý trong kỳ

Tỷ lệ nợ xấu được xử lý trong kỳ =

Số nợ xấu được xử lý trong kỳ

x 100%

Dư nợ xấu bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng xử lý nợ xấu của ngân hàng càng tốt

- Tốc độ gia tăng nợ xấu

Trang 33

23Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ gia tăng nợ xấu của ngân hàng Nếu tỷ lệ này tăng cao là một chỉ báo xấu, cho thấy ngân hàng đang gặp nguy cơ RRTD lớn, ngân hàng cần xem lại công tác tín dụng và QLRR cũng như các hoạt động quản lý nợ xấu Ngược lại nếu tỷ lệ này thấp, thậm chí là âm cho thấy công tác QLRR của ngân hàng đạt hiệu quả

- Đảm bảo tính chính xác và kịp thời của công tác nhận diện, ngăn ngừa nợ xấu

Công tác nhận diện, ngăn ngừa nợ xấu có hiệu quả sẽ góp phần giảm khối lượng gánh nặng cho các bước tiếp theo Tính chính xác, kịp thời là yếu tố hàng đầu của công tác này Những khoản nợ có dấu hiệu bất thường cần được theo dõi và được xếp vào nhóm nợ phù hợp và có các giải pháp ngăn ngừa kịp thời Nguồn thông tin phong phú, tin cậy, nhanh chóng là cơ sở đảm bảo thực hiện chỉ tiêu này

- Lựa chọn biện pháp xử lý nợ xấu hiệu quả, linh hoạt

Việc lựa chọn biện pháp thu hồi, xử lý sẽ được đưa ra trên cơ sở nghiên cứu tình hình khách hàng hiện tại nhằm đạt hiệu quả cao nhất và hạn chế thấp nhất tổn thất cho ngân hàng Mỗi khoản nợ xấu sẽ được tìm hiểu, phân tích để tìm ra cách thức xử lý phù hợp nhất Tuy nhiên mỗi khoản nợ xấu không chỉ có một biện pháp mà có thể áp dụng nhiều biện pháp xử lý Cán bộ xử lý nợ cần linh hoạt chọn các biện pháp xử lý nợ phù hợp để đạt hiệu quả trong công tác thu hồi nợ đối với khách hàng

1.4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu

1.4.3.1 Các nhân tố khách quan

Trang 34

- Môi trường pháp lý

Hệ thống pháp luật có vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động của xã hội và

có tác động lớn đến các thành phần kinh tế Hành lang pháp lý cũng như hệ thống pháp luật phải hoàn chỉnh, rõ ràng, thuận lợi và đủ mạnh thì sẽ góp phần làm minh bạch quy trình tín dụng, lành mạnh hoạt động của doanh nghiệp và ngân hàng, hạn chế RRTD phát sinh Khi cơ sở pháp lý hiện hành liên quan đến các hoạt động của NHTM đồng bộ, toàn diện và có các quy định pháp luật cụ thể sẽ tạo thuận lợi rất lớn cho ngân hàng trung ương cũng như các NHTM trong việc thực hiện các quyền lợi chính đáng của mình Các văn bản pháp luật cần rõ ràng, việc một văn bản có nhiều cách hiểu sẽ gây ra tình trạng áp dụng luật không thống nhất đồng thời kéo dài thêm thời gian xử lý công việc Hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện gây khó khăn và rủi ro pháp lý cho các NHTM nói chung và cán bộ xử lý trực tiếp nói chung Ảnh hưởng đến tâm lý cán bộ cũng như sự chỉ đạo của NHTM khi pháp luật chưa có quy định về những vấn đề liên quan Sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật cũng là vấn đề rất lớn ảnh hưởng đến quá trình thực hiện công việc Một nội dung nhưng tại các văn bản khác nhau lại có quy định khác nhau gây khó khăn cho người thực hiện

Đối với hoạt động quản lý nợ xấu, một trong những vấn đề đáng quan tâm là các văn bản quy phạm pháp luật về thu hồi nợ xấu cho ngân hàng Việc thu hồi nợ xấu cần được giải quyết nhanh chóng và dứt điểm Các khó khăn, vướng mắc, bất cập, xung đột pháp lý giữa các văn bản quy phạm pháp luật ngành ngân hàng với các văn bản quy phạm pháp luật khác, nhất là liên quan đến xử lý TSBĐ không được kịp thời tháo gỡ sẽ ảnh hưởng lớn đến tiến trình cơ cấu lại và xử lý nợ xấu của

hệ thống các NHTM

Ngoài ra, hiệu quả của hoạt động của các cơ quan thực thi pháp luật cũng ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nợ xấu tại ngân hàng Mặc dù đã có văn bản hướng dẫn cụ thể hoặc có chỉ đạo từ cấp trên nhưng cán bộ thực hiện vẫn cố tình kéo dài thời gian, gây khó dễ cho ngân hàng Sự phối hợp không thống nhất giữa các cơ quan hoặc áp dụng cứng nhắc các quy trình, thủ tục cũng gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động của ngân hàng

Trang 35

- Môi trường kinh tế - chính trị - xã hội

“Ngoài môi trường pháp lý thì môi trường kinh tế lành mạnh, minh bạch, với

sự phát triển của các thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản cũng là nhân tố ảnh hưởng rất mạnh đến hoạt động quản lý nợ xấu ngân hàng Một đất nước ổn định về chính trị, có quan hệ tốt đẹp với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước cũng như xuất nhập khẩu Ngược lại, một đất nước bất ổn, biểu tình, đình công, khủng hoảng, bị cấm vận… thì nền kinh tế chắc chắn sẽ kiệt quệ, ảnh hưởng nghiêm trọng tới các thành phần kinh tế và làm nợ xấu của Ngân hàng cũng gia tăng lên rất nhiều.”

- Khách hàng vay vốn

Nợ xấu phát sinh do khách hàng xuất phát từ việc không có ý thức trả nợ hoặc khách hàng không có khả năng trả nợ ngân hàng Các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh, phương án trả nợ cụ thể, khả thi Một

số đối tượng khách hàng chủ động lừa đảo ngân hàng làm giả hồ sơ vay vốn nhằm chiếm đoạt tiền vay Khách hàng cung cấp số liệu tài chính không chính xác gây sai lệch trong việc thẩm định và cấp tín dụng của ngân hàng, một số khách hàng cố tình

sử dụng vốn sai mục đích hoặc cố tình chây ỳ không trả nợ ngân hàng khi đến hạn, gây khó dễ cho ngân hàng trong quá trình thu hồi nợ Một số đối tượng khách hàng lại gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh do nguyên nhân năng lực điều hành, kinh doanh của chủ doanh nghiệp hoặc do biến động của thị trường, thay đổi chính sách dẫn đến không có hoặc không đủ nguồn thu trả nợ ngân hàng.”

1.4.3.2 Nhân tố chủ quan

- Chính sách hoạt động tín dụng của ngân hàng

Hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn đi kèm với rủi ro có thể xảy ra Nếu các ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận lên quá cao, gia tăng dư nợ tín dụng trong khi chưa hoàn thiện được các chính sách tín dụng hoặc chính sách tín dụng không phù hợp, thiếu sự kiểm soát chặt chẽ thì sẽ làm nợ xấu gia tăng Quy trình nghiệp vụ tín dụng ngân hàng là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ khi tiếp nhận hồ

Trang 36

sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ

và thanh lý hợp đồng tín dụng Việc xác lập một quy trình tín dụng và không ngừng hoàn thiện nó đặc biệt quan trọng đối với một NHTM, một quy trình tín dụng hợp lý

sẽ giúp cho ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu RRTD.”

Ngân hàng cũng cần chú ý đến cơ cấu cho vay hay tỷ trọng cho vay Đó là tỷ trọng cho vay trong từng lĩnh vực, từng ngành, từng loại hình doanh nghiệp và cả theo thời gian Tỷ trọng cho vay nếu hợp lý, phù hợp với thực tế nền kinh tế, với chính sách của Nhà nước sẽ mang lại hiệu quả kinh tế và cả hiệu quả xã hội cho đất nước Ngược lại, cơ cấu cho vay bất hợp lý sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, của vùng kinh tế, của ngành kinh tế và của cả nền kinh tế, không đáp ứng được nhu cầu phát triển năng động của đất nước.”

- Trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ

Các trang thiết bị hiện đại đã hỗ trợ nhiều trong công tác quản lý nợ xấu Sự phát triển của các máy tính hiện đại và việc ứng dụng các phần mềm chuyên dụng giúp các ngân hàng lưu trữ được cơ sở dữ liệu lịch sử lớn, nhất quán của khách hàng, từ đó tính toán các chỉ tiêu nhanh chóng, chính xác hơn, rút ngắn được thời gian quản lý nợ xấu Với sự trợ giúp của các trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại, ngân hàng có thể giải quyết được một khối lượng lớn thông tin xung quanh các

dự án, phương án, có khả năng truy cập nhanh chóng vào các cơ sở dữ liệu, khai thác các thông tin cần thiết cho quản lý, áp dụng các phương pháp quản lý tài chính hiện đại, sử dụng những mô hình, hàm số phức tạp nhưng vẫn có thể tính toán, phân tích và dự đoán một cách nhanh chóng, chính xác Do đó, chất lượng quản lý nợ xấu ngày một nâng cao

- Nguồn nhân lực của ngân hàng

Quản lý nợ xấu không phải công việc đơn giản, đòi hỏi đội ngũ nguồn nhân lực của ngân hàng không những phải có kiến thức chuyên sâu về nghiệp vụ, am hiểu các lĩnh vực cho vay, đầu tư của ngân hàng mà còn phải nắm vững các kiến thức về kinh tế, pháp luật, tâm lý học và phải nhanh nhạy trong thực tế Bên cạnh

đó, tính kỷ luật cao và phẩm chất đạo đức tốt của người quản lý cũng đảm bảo chất

Trang 37

27lượng quản lý nợ xấu, sự an toàn trong hoạt động cho vay, mối quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng.” Các NHTM hoạt động có hiệu quả cao bao giờ cũng rất quan tâm đến việc tuyển chọn cán bộ cótrình độ, năng lực và tâm huyết Các ngân hàng thường phải có kế hoạch tuyển chọn, đào tạo và đào tạo lại để cán bộ ngân hàng thích ứng với yêu cầu thực tế “Vì vậy, việc tuyển chọn và xây dựng đội ngũ nhân

sự nhanh nhạy, có phẩm chất tốt, đáp ứng đòi hỏi của thị trường, phát hiện xử lý kịp thời các vướng mắc trong quá trình quản lý nợ xấu hết sức quan trọng

Như vậy, ở Việt Nam, theo quy định tại Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN, các khoản nợ của khách hàng tại các NHTM được chia thành 5 nhóm, trong đó nợ nhóm 3 ( nợ dưới tiêu chuẩn), nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ),

nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) được coi là các khoản nợ xấu Hoạt động quản

lý nợ xấu tại NHTM gồm 4 bước chủ yếu: Nhận diện nợ xấu, đo lường nợ xấu, ngăn ngừa nợ xấu và xử lý nợ xấu Để đánh giá hoạt động quản lý nợ xấu có đạt hiệu quả hay không, các NHTM thường sử dụng các chỉ tiêu định lượng và định tính Trong

đó, chỉ tiêu định lượng bao gồm: Tỷ lệ nợ xấu thực tế, số nợ xấu được xử lý trong

kỳ, tỷ lệ nợ xấu được xử lý trong kỳ , và tốc độ gia tăng nợ xấu Các chỉ tiêu định tính bao gồm: (i).Đảm bảo sự chặt chẽ, đầy đủ và độc lập của các bước trong hoạt động quản lý nợ xấu, (ii) Đảm bảo tính chính xác và kịp thời của công tác nhận diện, ngăn ngừa nợ xấu, (iii) Lựa chọn biện pháp xử lý nợ xấu hiệu quả, linh hoạt Tuy nhiên, chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu bị tác động bởi nhiều yếu tố khách

Trang 38

28quan và chủ quan như môi trường pháp lý, kinh tế- xã hội – chính trị, chính sách và nhân sự của ngân hàng Những phân tích ở trên là cơ sở để luận văn tiếp tục nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng xử lí nợ xấu của Maritime Banktrong Chương 2 Trên cơ sở đó chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân đồng thời đề xuất các giải pháp trong Chương 3 của Luận văn

Trang 39

24 cổ đông với vốn điều lệ là 40 tỷ đồng và một vài chi nhánh tại các tỉnh thành bao gồm Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh Năm 2005, Maritime Bank chính thức chuyển hội sở lên thủ đô Hà Nội, mở ra một giai đoạn phát triển mới với phạm vi hoạt động ngày càng được mở rộng

Năm 2009, Maritime Bank chính thức ký hợp đồng tư vấn với McKinsey để xây dựng chiến lược phát triển đồng thời cũng trong năm ngân hàng đã chính thức tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng và đạt 109 điểm giao dịch trên toàn quốc

Năm 2010, Maritime Bank tiếp tục tăng vốn điều lệ lên 5.000 tỷ đồng, ra mắt

bộ nhận diện thương hiệu mới, logo mới với sự kết hợp 2 màu ấn tượng là đỏ và đen như chúng ta đang thấy ngày nay Ngân hàng một lần nữa chuyến trụ sở chính về tòa nhà Sky city, 88 Láng Hạ, TP Hà Nội và trong năm này số điểm giao dịch trên toàn quốc tăng lên 144 điểm

Năm 2014, Maritime Bank đã hoàn thiện và mở rộng mô hình kinh doanh của ngân hàng cộng đồng, triển khai thành công mô hình tài chính kinh doanh và tín dụng tiêu dùng NHNN chính thức lựa chọn Maritime Bank là 01 trong 10 ngân hàng đầu tiên triển khai áp dụng chuẩn Basel 2

Ngày 12/8/2015, trong quá trình tái cơ cấu hệ thống các TCTD, Maritime Bank chính thức nhận sáp nhập Ngân hàng TMCP Phát triển Mê Kông Trải qua 24 năm không ngừng phát triển, Maritime Bank hiện là một trong 05 ngân hàng TMCP lớn nhất tại Việt Nam với giá trị tổng tài sản hơn 104 nghìn tỷ đồng, vốn điều lệ gần

Trang 40

để triển khai các chiến lược kinh doanh của các ngân hàng chuyên doanh theo chiều dọc, tối ưu hóa hoạt động hỗ trợ của các Khối/Ban hỗ trợ tại địa bàn theo chiều ngang dưới sự quản lý của ban lãnh đạo điểm giao dịch trên từng địa bàn Tùy theo tiềm năng thị trường tương ứng với từng phân khúc khách hàng mục tiêu và tối ưu hóa hoạt động quản lý kinh doanh theo vùng, miền, khu vực mà mỗi điểm giao dịch

sẽ có sự hiện diện của các ngân hàng chuyên doanh nhằm khai thác tốt nhất tiềm năng thị trường và cung cấp dịch vụ phù hợp nhất cho khách hàng Thiết kế mạng lưới theo mô hình quản lý đan xen chiều dọc và chiều ngang như vậy đảm bảo việc triển khai kinh doanh được đồng nhất và tập trung đối với từng phân khúc khách hàng, đảm bảo được sự tối ưu hóa sự hiện diện của điểm giao dịch tại địa bàn cũng như đảm bảo được chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng

tổ chức hoạt động, chính sách QLRR, quy chế tài chính và các văn bản quy định về chính sách chế độ khác.”

Ngày đăng: 24/02/2020, 21:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w