Hai câu luận tiếp tục triển khai, gắn với chí làm trai trong hoàn cảnh thực tế của nhưng lại hàm chứa sự nóng bỏng, sôi sục của con người không cam chịu cúi Tất nhiên ông không phủ nhận
Trang 1GIÁO ÁN NGỮ VĂN 11
HỌC KỲ II BAN: CƠ BẢN
Giáo viên: Hoàng Thị Huyền
Tổ: Văn
Trang 2Tiết 73
LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG
(Xuất dương lưu biệt) Phan Bội Châu
B PHƯƠNG PHÁP, PHƯƠNG TIỆN
- Phương pháp: đọc, thuyết trình, đặt câu hỏi…
- Phương tiện: SGK, giáo án, phấn bảng
- Phan Bội Châu sinh ra và lớn lên trong
thời kì đen tối của lịch sử nước nhà.
+ cất tiếng khóc chào đời khi 6 tỉnh Nam
Kì đã mất.
+ lớn lên, đau lòng chứng kiến mảnh đất
quê hương lần lượt rơi vào tay giặc,
phong trào Cần Vương thất bại.
→ một bầu không khí u ám bao trùm
khắp đất nước cuối XIX đầu XX.
- PBC là một trong những người khai
sáng con đường đấu tranh giải phóng dân
tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản.
+ 1904: lập ra Duy Tân hội.
+ 1905: xuất dương sang Nhật.
+ 1912: thành lập Việt Nam Quang phục
hội, bị Nam triều (đứng sau là thực dân
Pháp) kết án tử hình vắng mặt.
+ 1925: bị Pháp bắt cóc ở Thượng Hải,
sau đó về Huế được sử trắng án và bị
giam lỏng.
Sau khi tham gia thành lập Duy tân hội,
đầu năm 1095, theo chủ chương của tổ
chức, PBC nhận nhiệm vụ xuất dương tới
Trung Quốc rồi Nhật Bản, mở đầu phong
I Tiểu dẫn
1 Tác giả
Phan Bội Châu (1867 – 1940), tên là Phan VănSan, biệt hiệu Sào Nam, quê ở làng Đan Nhiễm,nay thuộc Nam Đàn – Nghệ An
- Một trong những nhà nho đầu tiên nuôi ý tưởng
đi tìm một con đường cứu nước mới
- Là nhà thơ lớn, để lại một kho tàng thơ văn đồsộ: những vần thơ sôi sục nhiệt huyết, PBC làngười đầu tiên trong lịch sử VHVN có ý thứcdùng văn chương để vận động và tuyên truyền chocách mạng
- Tác phẩm chính: (SGK)
2 Tác phẩm
Hoàn cảnh sáng tác: Năm 1905, trước lúc lên
đường sang Nhật Bản, PBC làm bài thơ Xuất dương lưu biệt để chia tay bạn bè đồng chí.
Trang 3trào Đông Du, đặt cơ sở đạo tạo cốt cán
cho cán bộ cách mạng trong nước và cầu
Nhật giúp Việt Nam đánh Pháp.
Xuất dương lưu biệt được viết ra trong
bữa cơm ngày Tết PBC tổ chức tại nhà
mình để chi tay các đồng chí trước lúc lên
đường.
Trong hoàn cảnh đất nước mất chủ quyền,
ngọn lửa phong trào Cần Vương đã tắt,
báo hiệu sự bế tắc của con đường cứu
nước theo tư tưởng phong kiến do các sĩ
phu lãnh đạo Khi đó đòi hỏi phong trào
đấu tranh phải có phương hướng, nội
dung hình thức mới PBC là tiêu biểu của
một thế hệ cách mạng mới, quyết tâm
vượt mình, vượt qua giáo lí lỗi thời của
đạo Nho để đón nhận luồng tư tưởng mới,
mong tìm ra hướng đi mới cho sự nghiệp
khôi phục giang san.
2 câu đề đề cập đến chí làm trai nói
chung:
Chí làm trai: là một lí tưởng nhân sinh
trong chế độ phong kiến, thể hiện tư
tưởng nhập thế tích cực của nhà nho Chi
làm trai đó thường gắn với mộng công
danh.
Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.
(Phạm Ngũ Lão).
Làm trai sống ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông.
(Nguyễn Công Trứ).
Với Phan Bội Châu, quan niệm có sự mới
mẻ hơn:
Hi, kì: hiếm lạ, khác thường.
Chuyện lạ: xoay trời chuyển đất (giữa
lúc non sông rơi vào tay giặc, không chịu
ngồi yên mà nhìn đất nước an bài theo ý
muốn bọn thực dân)
II Đọc văn bản
- Giọng thơ: khẩu khí hào hùng đầy nhiệt huyết
- Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật
- Bố cục: 4 phần (đề, thực, luận, kết)
III Tìm hiểu văn bản
1 Quan niệm về chí làm trai (2 câu đề)
- Khẳng định một lẽ sống đẹp: (phải lạ) phải biết
sống cho phi thường, hiển hách, mưu đồ nhữngviệc kinh thiên động địa (không sống tẻ nhạt tầmthường)
- Dám đối mặt với cả trời đất (càn khôn), vũ trụ để
khẳng định bản thân Ôm ấp khát vọng có thể xoaytrời chuyển đất, không để cho nó tự chuyển vần.Nghĩa là không chịu khuất phục trước số phận vàhoàn cảnh
→ Ý tưởng gần gũi với lí tưởng nhân sinh của cácnhà nho thuở trước, nhưng có sự mới mẻ: vượt lên
Trang 4Lý tưởng sống ấy tạo cho con người
một tư thế mới, khỏe khoắn, ngang tàng,
cái tôi trách nhiệm chủ động gánh vác
trọng trách ở đời – nhân sinh quan cao
cả, đẹp đẽ, vượt ra ngoài cái danh lợi
tầm thường, tuy vẫn có ước vọng thật
chính đáng là để lại tiếng thơm muôn
đời.
Đến đây ý tưởng tăng cấp lên, đồng
thời thêm giọng khuyến khích, giục giã
con người.
Với một lẽ sống như thế, tất sẽ làm nên
sự nghiệp, và tên tuổi sẽ lưu truyền mãi
ngàn năm
Đó là hồi chuông thức tỉnh tâm lý
buông xuôi, an phận, cam chịu cảnh
“cá chậu chim lồng” những năm đầu
thế kỉ XX sau những thất bại liên tiếp.
Hai câu luận tiếp tục triển khai, gắn với
chí làm trai trong hoàn cảnh thực tế của
nhưng lại hàm chứa sự nóng bỏng, sôi
sục của con người không cam chịu cúi
Tất nhiên ông không phủ nhận tuyệt
trên mộng công danh để vươn tới lí tưởng cao cả
- Chuyển giọng nghi vấn, nhưng là để khẳng địnhmột cách một cách quyết liệt hơn khát vọng và ýchí
→ cảm hứng lãng mạn bay bổng gắn với hìnhtượng nghệ thuật kì vĩ, trường tồn làm tăng đến vôcùng sức mạnh của khát vọng và niềm tin
3 Thái độ quyết liệt trước hoàn cảnh đất nước
và nền học vấn cũ (2 câu luận).
- Lẽ nhục – vinh được đặt ra, gắn với sự tồn vongcủa dân tộc
- Dám đối mặt với cả nền học vấn cũ để nhận thức
Trang 5đối cả nền học vấn Nho giáo , nó vẫn
có giá trị một thời nhưng đến nay
không phù hợp với thời đại.
PBC là một nhà nho thấm nhuần sách
vở thánh hiền nhưng cùng với cả thế hệ
nhà nho tâm huyết, ông đã từng tận mắt
thấy sự sụp đổ của “thần tượng cũ”
trước làn sóng xâm lược của thực dân,
thấy sự bất lực của tín điều xưa cũ
trước những vấn đề có liên quan đến sự
sống còn của đất nước Đó là cái đã cũ
kĩ lỗi thời không đảm đương được
trách nhiệm lịch sử với dân tộc → vốn
sống, vốn tri thức và bầu nhiệt huyết
sôi trào đã giúp PBC có ý tưởng táo
bạo và dứt khoát.
Lên đường: trách nhiệm đè nặng lên
vai, nhưng tâm hồn đã rứt tung xiềng
xích, thả sức cho khát vọng ước mơ.
Hình ảnh lớn lao: bể Đông, những
ngọn gió dài và muôn trùng sóng bạc
cùng một lúc bay lên đã chắp cánh cho
con người bay lên với khát vọng, ước
mơ đó.
một chân lí: sách vở thánh hiền chẳng giúp gìtrong buổi nước mất nhà tan, nếu cứ khư khư ômgiữ chỉ là ngu mà thôi
→ ý tưởng hết sức táo bạo, mang đầy dũng khí, thểhiện khí phách ngang tàng, quyết liệt của một chí
sĩ cách mạng yêu nước nồng cháy và khát khao tìmcon đường cứu nước mới
4 Khát vọng hành động và tư thế buổi lên đường (2 câu kết).
- Các hình ảnh hết sức lớn lao: bể Đông, cánh gió,muôn trùng sóng bạc Tất cả như được hòa nhậpvới con người trong tư thế “bay lên”
- Hình ảnh kết thúc thật lãng mạn, hào hùng, conngười được nâng lên bởi sóng đại dương vươnngang tầm vũ trụ bao la
→ tư thế lên đường tự tin và đầy quyết tâm – một
hình tượng đẹp và giàu chất sử thi (chính nhà cách mạng – nhà thơ đã hóa thân thành những cánh chim bằng bay vút lên giữa sóng gió, biển khơi, đất trời).
IV Tổng kết
1 Nội dung
Bài thơ có sức lôi cuốn mạnh mẽ :
- khát vọng sống hào hùng, mãnh liệt
- tư thế con người sánh ngang tầm vũ trụ
- lòng yêu nước cháy bỏng
- khí phách ngang tàng
- giọng thơ tâm huyết, sôi sục
2 Nghệ thuật
Trang 6Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, chữ Hán,hình thức cổ thi nhưng tứ thơ, khí thơ, cảm hứngthơ lại rất hiện đại.
Luyện tập:
Câu hỏi 3 – SGK
- ngu → hoài: chỉ nêu được ý phủ nhận mà chưa
thể hiện được khí phách ngang tàng, táo bạo, dứtkhoát
- cùng bay lên → tiễn ra khơi: êm ả như một cuộc
tiễn đưa thông thường, chưa tạo được sự hoànhtráng, khuấy động
- Dặn dò:
Trang 7Tiết 75, 76
BÀI VIẾT SỐ 5: NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Tiết 77 – 78
Hầu trời
Trang 8ca Việt Nam những năm đầu 20 của thế kỉ XX (về thể thơ, cảm hứng và ngôn ngữ).
- Thấy được giá trị của thơ Tản Đà
B PHƯƠNG PHÁP – PHƯƠNG TIỆN
- Phương pháp: đọc, thuyết trình, đặt câu hỏi…
- Phương tiện: SGK, giáo án, phấn bảng ,
Hoạt động GV – HS Nội dung bài học
- Xuất thân trong một gia đình
quan lại phong kiến nhưng lại sống
cách sống tiểu tư sản, học chữ Hán
nhưng lại sáng tác văn chương quốc
ngữ, nhà nho nhưng lại ít chịu khép
mình theo khuân phép nho gia.
- Suốt đời sống trong nghèo khổ cùng
quẫn Cuối đời: mở cửa hàng tướng số
không có khách, mở lớp Hán văn,
Quốc văn không có học trò, chết trong
nghèo đói ở túp lều ở Hồ Tây.
- Sáng tác văn chương theo thể loại cũ
nhưng nguông cảm xúc lại rất mới
mẻ.
Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở
đầu cho một buổi hòa nhạc tân kì
đương sắp sửa.
Đó là một khoảnh khắc trong chuỗi
cảm hứng lãng mạn Tản Đà được lên
trời để thể hiện cá tính của bản thân.
Thơ Tản Đà thường hay nói về cảnh
trời, tự coi mình là “trích tiên” bị đày
xuống hạ giới vì tội “ngông”.
- muốn làm thằng Cuội cùng chị Hằng
“tựa nhau trông xuống thế gian cười”.
- muốn lạc bước vào chốn thiên thai.
I Tiểu dẫn
1 Tác giảTản Đà (1889 – 1939), tên khai sinh là Nguyễn KhắcHiếu, quê ở làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnhSơn Tây (Ba Vì – Hà Tây)
- Sinh ra và lớn lên trong buổi giao thời – con ngườicủa hai thế kỉ
- Tên tuổi nổi lên như một ngôi sao sáng trên thi đànvào những năm 20 của thế kỉ XX
- Thơ văn được xem như một gạch nối giữa hai thờiđại của văn học dân tộc: trung đại và hiện đại
2 Tác phẩnBài thơ Hầu trời
- Cảm hứng: giấc mơ lên trời để thể hiện tài vănchương, Tản Đà đối diện với trời và các chư tiên
- In trong tập “Còn chơi”, xuất bản lần đầu năm 1921
Trang 9- mơ thấy mình được lên thiên đình
hội ngộ cùng Tây Thi, Dương Quý
Phi, cùng đàm đạo văn chương cùng
Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân
Hương, thậm chí cả Khổng Tử.
- viết thư hỏi giời và bị giời mắng.
Khổ thơ mở đầu gây được một mối
nghi vấn, gợi trí tò mò của người đọc,
làm cho câu chuyện mà tác giả sẽ kể
trở nên có sức hấp dẫn đặc biệt không
thể bỏ qua.
II Đọc văn bản
- Ngôn ngữ: 2 lời: lời thoại và lời kể
- Giọng đọc: lột tả được tinh thần phóng túng, phachút ngông nghênh, dí dỏm
III Tìm hiểu văn bảnCâu chuyện “Hầu trời”
1 Cách vào chuyện (khổ 1)Đêm qua chẳng biết có hay khôngChẳng phải thoảng thốt, không mơ mòng
Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!
Thật được lên tiên – sướng lạ lùng
- Chuyện kể về một giấc mơ (không có thực), chínhtác giả lúc tỉnh mộng hãy còn bàng hoàng, không tin
“chẳng biết có hay không” Đó là cảm xúc thực
- Tác giả muốn gửi gắm đến người đọc “hồn cốt”trong cõi mộng đó Khẳng định “thật…thật…,
“chẳng…không” → mộng mà như tỉnh, hư mà nhưthực
→ cách vào truyện độc đáo và có duyên
2 Buổi đọc thơ “Hầu trời
Trang 10Hs đọc phần tiểu dẫn, cho biết những
nét chính về tác giả Xuân Diêu và bài
- Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, nhà thơ của mùa xuân, của tình yêu và của tuổi trẻ.
- Xuân Diệu để lại sự nghiệp văn học lớn: đặc sắc làthơ, văn xuôi, phê bình
2 Bài thơ Vội vàng
In trong tập Thơ thơ, một trong những bài thơ
tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng
Trang 11+ Đoạn 2 (16 câu tiếp): nỗi băn khoăn về sự ngắn
ngủi của kiếp người, sự trôi qua nhanh chóng củathời gian
+ Đoạn 2 ( 10 câu còn lại): lời giục giã cuống quýt vội vàng để tận hưởng cuộc sống.
GV: Bức tranh thiên nhiên được vẽ
nên bởi những chi tiết nào? Em có
cảm nhận gì? (Mùa của ong bướm, hoa
lá, chim chóc, ánh sáng bình minh).
Tất cả như được bày sẵn, gợi mời như
một bữa tiệc trần gian.
Thiên nhiên tạo vật say sưa trao sắc gửi
hương, lòng người rạo rực đắm say, sung
sướng tận hưởng.
Tuổi trẻ và tình yêu đã tạo nên một vẻ
đẹp riêng trong bức tranh mùa xuân với
Tuần tháng mật, cành tơ, cặp môi gần
Thế giới luôn mới mẻ, đầy bất ngờ như
lần đầu tiên khám phá.
GV: Trở lên bốn câu thơ trên đầu,
con người có ước muốn cháy bỏng
gì? Lí giải tại sao?
III.Tìm hiểu văn bản
1.Tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết
- Bức tranh thiên nhiên:
+ Một bức tranh đầy ánh sáng mới mẻ, tinh khôi; đầy
âm thanh tình tứ, rộn rã; đầy màu sắc, hương thơm và
vị ngọt ngào men say tình ái; đầy niềm vui đón chờmỗi ngưỡng ban mai Và đầy nhựa sống
Điệp từ này đây (này đây, này đây, và này đây)
tạo ra sự hiện lên của mọi cảnh sắc và vẻ đẹp khácnhau
+ Vườn xuân là vườn yêu, vườn tình
+ Cái nhìn trẻ, lấy con người luôn ở giữa mùa xuân
→ Bức tranh quả là một thiên đường đầy mật ngọt,tồn tại ngay trong cuộc sống trần thế, gắn bó với conngười, luôn bám riết lấy cuộc đời
- Ước muốn cháy bỏng: tắt nắng, buộc gió→ muốn
can dự vào quy luật muôn đời của tạo hóa để bất tửhóa cái đẹp, giữ cho cái đẹp luôn khoe sắc tỏa hươngvới cuộc đời
Các nhà thơ trung đại quan niệm: thời
gian là tuần hoàn, lấy sinh mệnh vũ trụ
là thước đo thời gian Vì thế con người
luôn anh nhiên tự tại, người chết chưa
hẳn là hư vô, có thể cùng trời đất tuần
2 Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người,
sự trôi chảy nhanh chóng của thời gian.
Trang 12Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
(Cáo tật thị chúng, Thiền sư Mãn Giác)
Dịch nghĩa:
Xuân đi, chăm hoa rụng,
Xuân đến, chăm hoa nở.
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua, một cành mai trước sân.
GV: Quan niệm về thời gian của
Xuân Diệu có gì mới?
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuần tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt
Con gió xinh thì thào trong liễu biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng rút tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
→mỗi sự vật trong từng phút từng giây
ngậm ngùi chia li một phần đời của
mình Cả trời đất, sông núi dâng lên âm
thanh duy nhất: âm thanh tiễn biệt.
Đó là do ý thức sâu sắc về cái tôi cá
nhân Cần phải tồn tại có ý nghĩa trên
đời, nâng niu từng phút từng giây, nhất
là những tháng năm tuổi trẻ.
XD đã từng ao ước có đôi hài vạn dặm
để đi khắp không gian trong chốc lát, đi
ngang với tốc độ của gió:
Ta đi theo gió mạnh, gió nhanh
Gió hung dữ, gió sát sanh, gió cuồng.
GV: Ở đây XD chiến thắng thời gian
bằng cách nào?
Em có nhận xét gì về hình thức câu
thơ, cách sử dụng từ ngữ trong những
câu thơ cuối này? Nó có tác dụng gì
trong việc biểu hiện cảm xúc?
- Quan niệm về thời gian của Xuân Diệu: mới mẻ+ Thời gian tuyến tính:
Xuân đương tới→đương qua Xuân còn non→sẽ già.
Thời gian trôi chảy nhanh chóng, một đi không trởlại (xuất phát từ cái nhìn động, biện chứng về thờigian)
+ Lấy quỹ thời gian hữu hạn của đời người, thậm chílấy khoảng thời gian quý giá nhất của mỗi cá nhânlàm thước đo thời gian
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
Không cho dài thời trẻ của nhân gian.
+ Cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu là một cảmnhận đầy tính mất mát, chia lìa
+ Không thể níu giữ được thời gian, chỉ còn cách
sống vội vàng – niềm khao khát sống mãnh liệt của tuổi trẻ.
3 Lời giục giã sống vội vàng, cuống quýt
Cách chiến thắng thời gian bằng cường độ sống,khát vọng sống, tận hưởng cuộc sống bằng tất cả cácgiác quan, sống thật mãnh liệt
- Xưng ta, câu thơ đột ngột ngắn đến bất ngờ:
Ta muốn ôm!
- Tất cả khát khao như tức khắc bật ra: ta muốn riết,
ta muốn say, ta muốn thâu, ta muốn cắn
- Kết cấu ngữ pháp trùng điệp kết hợp với các độngthái và cảm xúc tăng tiến làm hiện ra tính cao trào
mãnh liệt của xúc cảm, liên từ và, tính từ chỉ xuân
sắc, động từ chỉ trạng thái đắm say, hình ảnh tình tứ
Trang 13GV củng cố bài học qua phần ghi nhớ
Vội vàng là lời giục giã hãy sống mãnh liệt,
sống hết mình, hãy quý trọng từng giây, từng phútcủa cuộc đời mình, nhất là những tháng năm tuổi trẻcủa một hồn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt
2 Nghệ thuật
Hình thức nghệ thuật điêu luyện:
- Sự kết hợp nhuần nhị giữa mạch cảm xúc và mạchluân lí
- Giọng điệu say mê, sôi nổi, những sáng tạo độc đáo
về ngôn từ và hình ảnh thơ
- Dặn dò:
Trang 14Tiết 74
NGHĨA CỦA CÂU
A MỤC TIÊU BÀI HỌC
Giúp HS:
- Năm được những nội dung cơ bản về hai thành phần nghĩa của câu
- Nhận ra và biết phân tích hai thành phần nghĩa của câu, diễn đạt được nội dung cầnthiết của câu phù hợp với ngữ cảnh
B PHƯƠNG PHÁP – PHƯƠNG TIỆN
- Phương pháp: thuyết trình, tìm hiểu qua ngữ liệu
- Phương tiện: SGK, giáo án, phấn bảng
C TRỌNG TÂM
Hai thành phần nghĩa của câu
D TIẾN TRÌNH
- Kiểm tra bài cũ:
Câu hỏi: Đọc thuộc bài thơ “Lưu biệt khi xuất dương” Phân tích vẻ đẹp của hai câu thơcuối bài thơ
Trang 15- sự kiện, hiện tượng, hoạt động
có tính động – câu biểu hiện hành
động
- hiện tượng tồn tại ở trạng thái
tĩnh, hay quan hệ giữa các sự vật –
câu biểu hiện trạng thái, tính chất,
đặc điểm, quá trình, tư thế, tồn tại,
quan hệ
Trong câu, những từ ngữ tham gia
biểu hiện nghĩa sự việc đóng vai
Mỗi câu có hai thành phần nghĩa:
- Nghĩa đề cập đến một (hoặc một vài) sự việc là
nghĩa sự việc (nghĩa miêu tả, nghĩa biểu hiện, nghĩa mệnh đề).
- Bày tỏ thái độ, sự đánh giá của người nói đối với sự
việc là nghĩa tình thái.
* Chú ý: nghĩa sự việc và nghĩa tình thái luôn luôn
hòa quyện với nhau:
+ nghĩa tình thái được biểu hiện riêng bằng các từ ngữtình thái
+ câu không có từ ngữ riêng biểu hiện nghĩa tình thái
thì nghĩa tình thái vẫn thể hiện trong câu – tình thái khách quan trung hòa.
+ có trường hợp từ tình thái được tách riêng thành câu
độc lập – câu chỉ có nghĩa tình thái mà không có nghĩa sự việc.
II Nghĩa sự việc
Một số nghĩa sự việc và câu biểu hiện nghĩa sự việc:
- câu biểu hiện hành động
- câu biểu hiện trạng thái, tính chất, đặc điểm
- câu biểu hiện quá trình
- câu biểu hiện tư thế
- câu biểu hiện sự tồn tại
- câu biểu hiện quan hệNhiều loại quan hệ:
+ đồng nhất+ sở hữu+ nguyên nhân+ mục đích
Luyện tập Bài tập 1
C1: 2 sự việc: ao thu lạnh lẽo, nước trong veo – trạng
thái
C2: 1 sự việc – đặc điểm (thuyền – bé).
Trang 162 nghĩa sự việc và nghĩa tình thái
tương ứng
C3: 1 sự việc – quá trình (sóng – gợn).
C4: 1 sự việc – quá trình (lá – đưa vèo).
C5: 2 sự việc:
- Trạng thái (mây – lơ lửng).
- Đặc điểm (trời – xanh ngắt).
- nghĩa sự việc 1: họ phân vân như mình
- nghĩa tình thái1: phỏn đoán chưa chắc chắn (dễ).
- nghĩa sự việc 2: mình không biết rõ con gái mình có
hư hay không
- nghĩa tình thái 2: nhấn mạnh (đến chính ngay).
Bài tập 3
“Hẳn”: tình thái khẳng định mạnh mẽ nhiều phẩm
chất tốt
- Dặn dò:
Trang 17Tiết 75,76
BÀI VIẾT SỐ 5: NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Trang 18Thái độ đối với sự việc được nói
đến trong câu: có thể là sự tin
tưởng chắc chắn, hoài nghi,
phỏng đoán, đánh giá cao hay
thấp, tốt hay xấu, sự nhấn mạnh
hoặc coi nhẹ…
GV cho HS tìm hiểu qua ví dụ
SGK
Người nói thể hiện thái độ, tình
cảm của người nói đối với người
nghe thông qua từ xưng hô, từ
GV chữa bài, cho điểm
III – NGHĨA TÌNH THÁI
1 Sự nhìn nhận, đánh giá và thái độ của người nói đối với sự việc được nói đến trong câu.
- Đánh giá về mức độ hay số lượng đối với một phương
diện nào đó của sự việc: có đến, là cùng, chỉ, những…
- Đánh giá về sự việc có thực hay không có thực, đã
xảy ra hay chưa xảy ra: giá thử, sắp, toan…
- Khẳng định tính tất yếu, sự cần thiết hay khả năng của
sự việc: phải, không thể, nhất định…
2 Thái độ, tình cảm của người nói đối với người nghe
Ví dụ:
- Tình cảm thân mật, gần gũi: nhé, nhỉ…
- Thái độ bực tức, hách dịch: mày, kệ mày…
- Thái độ kính cẩn: thưa, bẩm, dạ, vâng…
Luyện tập Bài tập 1
Nghĩa sự việc và nghĩa tình thái trong các câu:
a Ngoài này nắng đỏ cành cam Chắc trong ấy nắng xanh lam ngọn dừa (Tố Hữu, Tiếng hát sang xuân)
- Nghĩa sự việc: hiện tượng thời tiết (nắng) ở hai miền
(Nam/ Bắc) có sắc thái khác nhau
- Nghĩa tình thái: phỏng đoán với độ tin cậy cao (chắc).
Trang 19b Tấm ảnh chụp hai mẹ con kia rõ ràng là mợ Du và thằng Dũng.
(Nguyên Hồng, Mợ Du)
- Nghĩa sự việc: ảnh là của mợ Du và thằng Dũng
- Nghĩa tình thái: khẳng định sự việc ở mức độ cao (rõ ràng là).
c Thật là một cái gông xứng đáng với tội án sáu người
tử tù.
(Nguyễn Tuân, Chữ người tử tù)
- Nghĩa sự việc: cái gông (to nặng) tương ứng với tội
(Nam Cao, Chí Phèo)
- Nghĩa sự việc: ở câu thứ nhất nói về nghề cướp giật
của hắn Tình thái nhấn mạnh bằng từ chỉ.
- Ở câu thứ ba: Đã đành là từ tình thái hàm ý miễn cưỡng công nhận một sự thực rằng hắn mạnh vì liều (nghĩa sự việc), nhưng cái mạnh vì liều ấy cũng không
thể giúp hắn sống khi không còn sức cướp giật, dọanạt
Bài tập 2
Các từ ngữ thể hiện nghĩa tình thái trong câu:
a nói của đáng tội (thừa nhận sự việc khen này là
không nên làm với một đứa bé)
Trang 20- Nghe nói hàng hóa này sẽ giảm giá nay mai (nói lại
lời người khác mà không tỏ thái độ riêng)
- Chả lẽ nó làm việc này (chưa tin vào việc đã có một
Trang 21- Phương pháp: đọc, thuyết trình, đặt câu hỏi…
- Phương tiện: SGK, giáo án, phấn bảng
C TRỌNG TÂM
- Bức tranh thiên nhiên và tâm trạng nhà thơ
- Chỉ ra được đôi nét về phong cách Huy Cận trong bài thơ
thơ mới Và bài thơ Tràng giang tiêu biểu cho phong cách thơ cổ điển của Huy Cận.
HS chuẩn bị phần tiểu dẫn ở nhà và
trình bày trước lớp
GV chốt lại
Nỗi sầu vạn kỉ: là sự hòa hợp của nỗi
sầu vũ trụ và thế nhân từng chan chứa
trong thơ Đường với nỗi cô đơn của cái
tôi cá thể trong thơ mới.
Tập Lửa thiêng: tác phẩm đáng chú ý
nhất của Huy Cận thời kì trước Cách
mạng Ở đó là cái tôi lữ thứ bơ vơ trong
- Thơ Huy Cận thấm đượm một nỗi buồn: nỗi sầu vạn kỉ.
- Tác phẩm tiêu biểu: SGK
2 Tác phẩm
Trang 22không gian vô cùng vô tận, trôi dạt
trong thời gian vô thủy, vô trung.
HS đọc văn bản
Em hiểu gì về câu thơ đề từ?
Đề từ nằm ngoài văn bản của tác phẩm,
nhưng tập trung thể hiện nội dung và ý
đồ nghệ thuật của tác giả.
Tuy chỉ bằng một câu thơ bảy chữ,
nhưng đề từ này đã thể hiện được một
phần quan trọng hồn cốt của toàn bộ tác
phẩm, nói cụ thể hơn, đây chính là nỗi
buồn (bâng khuâng) trước cảnh vũ trụ
bao la bát ngát (trời rộng, sông dài) Và
bài thơ đã triển khai một cách tập trung
cảm hứng nêu ở câu đề từ.
Em có nhận xét gì về sự độc đáo của
từ tràng giang? (tại sao tác giả
không dùng trường giang hay sông
dài?)
Hình ảnh những vòng sóng liên tiếp xô
đuổi nhau, điệp điệp loang xa… đến
chân trời Con thuyền thả mình buông
Tràng giang là một trong những bài thơ hay
nhất và tiêu biểu nhất của Huy Cận Bài thơ được
viết vào mùa thu năm 1939 in trong tập Lửa thiêng.
Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài.
Có sự giao thoa của hai nghĩa:
- Thứ nhất: chủ thể là con người, với động tháibâng khuâng và nhớ→ con người bâng khuângtrước trời rộng mà thấy nhớ sông dài
- Thứ hai: chủ thể là tạo vật, bâng khuâng và nhớ
là động thái của tạo vật → trời rộng bâng khuângnhớ sông dài
→ sự giao thoa của hai nghĩa khiến cho không chỉcon người mà cả sông núi đất trời cũng tràn ngậpbâng khuâng nhung nhớ
᷉ từ Hán Việt tạo sắc thái cổ kính
᷉ cách điệp vần ang góp phần tạo dư âm vang xa,
trầm buồn, tạo nên âm hưởng chung cho giọngđiệu của cả bài thơ
᷉ gợi lên hình ảnh một con sông không những dài
mà còn rộng
- Không gian mênh mông rộng lớn của con sông:
sử dụng từ láy điệp điệp, song song nên không
Trang 23xuôi theo những luồng nước song song
rong ruổi mãi về cuối trời.
Thơ xưa vẫn dùng hình ảnh cánh bèo
trôi dạt trên sông để nói về thân phận
nhỏ bé, cô đơn lạc lõng giữa dòng đời.
Tại sao tác giả không dùng hình ảnh
cánh bèo?
Nếu dùng hình ảnh cánh bèo: vẫn diễn
tả được sự lạc lõng bơ vơ, trôi nổi
những không có sự vùi dập đến khô
héo, tàn khốc.
Không gian ở đây có thêm những
hình ảnh nào? Nó gợi lên điều gì?
GV liên hệ: Đìu hiu trong bản dịch
Chinh phụ ngâm:
Non Kì quạnh quẽ trăng treo
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò?
Em hiểu gì về từ “đâu” trong câu
“Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”?
- ở đâu đó nơi làng xa có tiếng chợ
chiều đã vãn.
- ngay cả tiếng chợ chiều đã vãn cũng
không có nữa → được hiểu nhiều hơn.
Bởi lẽ trong toàn bộ bài thơ, dường như
Huy Cận muốn phủ nhận tất cả những
gì thuộc về con người, chỉ còn cảnh vật,
đất trời mênh mông xa vắng Tiếng chợ
chiều đã buồn, đã vắng lại vãn nên càng
vắng, càng buồn hơn Vậy mà cũng
+ nghệ thuật đối lập: hình ảnh Củi một cành khô
bơ vơ giữa dòng nước: đây là một thi liệu mới mẻ,hiện đại Nó gợi lên cái tầm thường, nhỏ nhoi, vônghĩa trôi nổi lênh đênh trên sông nước, nỗi buồn
về kiếp người nhỏ bé vô định
→ âm hưởng cổ kính kết hợp với thi liệu, hình ảnhmới mẻ tạo nên tính chất vừa cổ điển vừa hiện đạicho khổ thơ Tất cả để toát lên nỗi buồn, cô đơnlạc lõng giữa không gian vừa mênh mông, rộnglớn vừa hoang sơ, hiu quạnh
Nỗi buồn như càng thấm sâu vào cảnh vật
- Cồn nhỏ lơ thơ với gió đìu hiu, lạnh lẽo: từ láy
lơ thơ, đìu hiu gợi sự buồn bã, quạnh vắng, lạnh
lẽo…
- Ngay cả tiếng chợ chiều đã vãn cũng không cónữa, tất cả đều vắng lặng, cô tịch
Trang 24Không gian càng rộng, càng sâu càng
cao, cảnh vật càng thêm vắng lặng, chỉ
có sông dài với bờ bến lẻ loi Nỗi buồn
như thấm vào không gian ba chiều.
Thiên nhiên được khắc hạo như thế
nào? Nó nói lên điều gì?
Thực ra điều này có thể nhận thấy ở
khổ hai (Đâu tiếng làng xa vãn chợ
chiều) và khổ bốn (Không khói hoàng
hôn cũng nhớ nhà), những rõ nhất vẫn
là khổ thứ ba này Có thể nói, thái độ
phủ nhận thực tại nằm ngay trong kết
cấu bài thơ.
Những hình ảnh nào được dùng để
miêu tả thiên nhiên? Nó gợi nên tâm
trạng gì?
Mùa thu, những đám mây trắng đùn lên
trùng điệp ở phí chân trời Ánh dương
- Những câu thơ có giá trị tạo hình đặc sắc, gợikhông gian ba chiều:
+ chiều sâu: thăm thẳm, hun hút không cùng.+ chiều cao: chót vót dương như vô tận
+ chiều rộng: trời đất bao la với dòng sông tuônchảy
Đặc biệt lạ sâu chót vót: chiều cao được chuyển
hóa thành chiều sâu
→ cảnh vật vắng lặng, con người trở nên bé nhỏ,
bị rợn ngợp trước vũ trụ rộng lớn, vĩnh hằng vàcảm thấy lạc loài
c Khổ thơ thứ ba
Bèo dạt về đâu hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Nỗi buồn được khắc họa sâu hơn
- Hình ảnh cánh bèo trôi dạt lênh đênh: ấn tượng
về sự chia li tan tác được láy lại một lần nữa
- Toàn cảnh sông dài, trời rộng mênh mông vắnlặng, tuyệt nhiên không có bóng dáng con người:+ không có lấy một chuyến đò, một cây cầu để tạonên sự gần gũi giữa con người với con người.+ chỉ có thiên nhiên với thiên nhiên xa vắng,hoang vu
→ Vì thế nỗi buồn ở đâykhông chỉ là nỗi buồnmênh mông trước trời rộng sông dài mà còn là nỗibuồn nhân thế, nỗi buồn trước cuộc đời
Sự cô quạnh được đặc tả bằng cái không tồn tạinói lên thái độ phủ nhận thực tại
d Khổ thơ thứ tư
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều xa Lòng quê rợn rợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Nhà thơ mượn một số cách diễn đạt của thơ cổnhững có được nét riêng của thơ mới
- Thiên nhiên buồn nhưng thật tráng lệ:
+ lớp mây cao đùn núi bạc
Trang 25phản chiếu vào những đám mây đó,
phản chiếu lấp lánh như những núi bạc.
Lấy lại ý thơ của người xưa (Thôi
Hiệu);
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
(Hạc vàng bay mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay).
Hình ảnh mây cao đùn núi bạc tạo ấn
tượng về sự hùng vĩ của thiên nhiên.
Đùn: học từ bài Thu hứng của Đỗ Phủ:
Mặt đất mây đùn cửa ải xa.
Trước cảnh sông nước, mây trời bao la
hùng vĩ ấy, bỗng hiện liên một cánh
chim bé bỏng, nó chỉ cần nghiêng cánh
là cả bóng chiều sa xuống.
Cánh chim trong buổi chiều tà thường
dễ gợi nỗi buồn xa vắng.
- Chim hôm thoi thót về rứng
Đóa trà mi đã ngậm gương nửa vành.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
- Ngàn mai gió cuốn chim bay
Đến đây, Huy Cận trực tiếp nói lên
nỗi lòng gì mà ngay từ đâu bài thơ
chỉ được nói lên một cách gián tiếp?
Rợn rợn: hình ảnh sóng nước nhấp nhô
liên tiếp mở ra dòng tràng giang, sóng
nước sóng lòng hòa vào nhau.
Vời: lấy trong Truyện Kiều để nói về
tâm trạng Kiều khi xa nhà:
Bốn phương mây trắng một màu
Trông vời cố quốc biết đâu là nhà.
Mượn ý thơ của Thôi Hiệu đem đến cho
bài thơ phong vị cổ điển.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai)
Nhưng có sự khác biệt: Thôi Hiệu nhìn
khói sóng trên sông mà thấy nhớ quê
hương, tín hiệu ở ngoại cảnh gợi nỗi
nhớ trong tâm cảnh Còn Huy Cận thì
không, không có tín hiệu ở ngoại cảnh
nhưng nỗi nhớ quê hương vẫn hiện lên
+ chim nghiêng cánh bóng chiều sa xuống
→ nghệ thuật đối lập: giữa cánh chim đơn độc nhỏ
bé với vũ trụ bao la, rộng lớn, hùng vĩ Điều nàylàm cho ảnh rộng hơn, hùng vĩ hơn và cũng buồnhơn
- Tâm trạng buồn nhớ quê hương của tác giả:+ nỗi nhớ mênh mông như sóng nước
+ nỗi nhớ da diết, thường trực hơn cháy bỏng: sửdụng nghệ thuật phủ định để khẳng định
IV Tổng kết
Trang 27Tiết 83
THAO TÁC LẬP LUẬN BÁC BỎ
A MỤC TIÊU BÀI HỌC
Giúp HS:
- Hiểu được mục đích, yêu cầu và cách bác bỏ
- Biết cách bác bỏ một ý kiến, quan điểm sai lầm
B PHƯƠNG PHÁP – PHƯƠNG TIỆN
- Phương pháp: thảo luận nhóm, đặt câu hỏi…
- Phương tiện: SGK, giáo án, phấn bảng…
C TRỌNG TÂM
Cách thức lập luận bác bỏ
D TIẾN TRÌNH
- Kiểm tra bài cũ:
+ Đọc thuộc bài thơ Tràng giang
+ Tâm trạng của nhà thơ thể hiện qua hai câu thơ cuối bài
- Bài mới:
Hoạt động GV – HS Nội dung bài học
Trang 28- Nhận biết được sự vận động của tứ thơ, của tâm trạng chủ thể trữ tình và bút phápđộc đáo, tài hoa của một nhà thơ mới.
B PHƯƠNG PHÁP, PHƯƠNG TIỆN
- Phương pháp: thuyết trình, đặt câu hỏi,…
- Phương tiện: SGK, giáo án, phấn bảng,…
C TRỌNG TÂM
- Khắc sâu vẻ đẹp đượm buồn của xứ Huế
- Làm rõ nguồn sáng tâm hồn chiếu rọi sau bức tranh tâm cảnh
HS trình bày phần chuẩn bị trước ở nhà
- Cuộc đời nhiều bi thương
- Một trong những nhà thơ có sức sáng tạo dồidào nhất trong phong trào Thơ mới
- Thơ Hàn Mạc Tử thể hiện một tình yêu đếnđau đớn hướng về cuộc đời trần thế
2 Tác phẩm
Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ.
- Lúc đầu có tên Ở đây thôn Vĩ Dạ, sáng tác năm 1938, in trong tập Thơ Điên (về sau đổi
thành Đau thương)
Trang 29GV thuyết trình về hoàn cảnh ra đời bài
thơ: Hồi còn làm ở sở đạc điền Bình Định,
Hàn Mạc Tử có mối tình đơn phương với
Hoàng Thị Kim Cúc Khi vào Sài Gòn làm
báo, Hàn Mạc Tử mắc bệnh phong rồi về
Quy Nhơn chữa bệnh Lúc trở về thì Hoàng
Cúc đã theo cha về hẳn ngoài Huế Hàn Mạc
Tử rất buồn và đau đớn Về sau, khi biết Hàn
Mạc Tử mắc bệnh, Hoàng Cúc gửi vào một
tấm thiệp kèm mấy lời động viên an ủi Tấm
thiệp là bức phong cảnh in hình dòng sông
với cô gái chèo thuyền bên những cành trúc
lòa xòa, phía xa xa là ráng trời Nhận được,
Hàn Mạc Tử rất nghẹn ngào, những ấn tượng
về xứ Huế trỗi dậy cùng niềm yêu đời vô bờ
bến, thi sĩ đã cầm bút viết ngay bài thơ này.
HS đọc, chia bố cục bài thơ
Về cảnh, không tuân theo tính liên tục của
thời gian và tính duy nhất của không gian.
Nhưng về cảm xúc lại nhất quan trong cùng
một dòng tâm tư Cụ thể là dòng chảy đầy
những đứt nối của niềm tha thiết với đời,
thiết tha sống đến khắc khoải.
Em hiểu gì về câu thơ đầu?
Chính là tâm trạng của Hàn Mạc Tử, chủ thể
trữ tình đang tự phân thân ra Lời mời mọc
hiện ra từ bên ngoài lại là niềm khao khát, sự
thôi thúc mãnh liệt từ bên trong.
Bằng lời hỏi han, mời mọc, Hàn Mạc Tử vào
bài rất tự nhiên, hé mở sự gắn bó của nhà thơ
với cảnh và người thôn Vĩ.
- Hoàn cảnh ra đời: mối tình đơn phương của Hàn Mạc Tử với người con gái thôn Vĩ là Hoàng Thị Kim Cúc và tấm bưu ảnh mà Hoàng Cúc gửi cho Hàn Mạc Tử khi biết nhà thơ mắc bệnh hiểm nghèo
II Đọc – chia bố cục
Bố cục: 3 phần
- Khổ 1: Cảnh vườn thôn Vĩ tươi sáng trongnắng mai, bình dị mà tinh khôi, nghiêng về cõithực Cảm xúc ẩn trong cảnh là nỗi ước ao vàniềm say đắm mãnh liệt
- Khổ 2: Cảnh sông nước đêm trăng huyền ảo.Nét thực ảo chập chờn chuyển hóa Cảm xúcnghiêng về mong ngóng, phấp phỏng, lo âu
- Khổ 3: Hình bóng khách đường xa và chốn
sương khói mông lung Cảnh chìm trong mộng
ảo Cảm xúc nghiêng về mơ tưởng, hoài nghi
→ Bố cục có vẻ đứt đoạn nhưng lại liền mạch,liền khối
III Tìm hiểu văn bản
1 Khổ thơ đầu
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc!
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
- Mở đầu bằng câu hỏi: Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
+ có nhiều sắc thái: vừa hỏi han, vừa mời mọc,vừa nhắc nhở, vừa hờn trách
+ chủ thể: tác giả đang tự phân thân ra để hỏichính mình
Trang 30Nhà thơ hổi tưởng về xứ Huế qua những
hình ảnh nào? Nó gợi lên điều gì?
Nắng hàng cau: hình ảnh ấn tượng hàng đầu
của xứ Huế, in đầm trong kí ức người đi xa.
Đây là vẻ đẹp riêng của thôn Vĩ, sự hài hòa
độc đáo của nắng và hàng cau.
Tinh khôi: hàng cau thẳng tắp, cao vút, đón
nhận tia nắng đầu tiên của một ngày, tinh
khôi, trong trẻo.
Thanh khiết: tàu cau đẫm sương đêm, giờ
đây được ánh nắng ban mai chiếu vào, như
được tắm gội, sắc xanh được hồi sinh, những
giọt sương vẫn còn óng ánh Vì thế, nắng ở
đây là nắng ướt, nắng tươi, nắng long lanh.
Thanh thoát: thân cau là nét mảnh mai vươn
vào không gian, nắng in lên thân cau, bóng
cau in xuống vườn đều là những nét vẽ thật
mảnh mai
Liên hệ: bài Mùa xuân chín
Trong làn nắng ửng khói mơ tan
…
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang.
→ tả về nắng, đập ngay vào giác quan, lập
tức gây ấn tượng.
Phản ánh đúng tính chất của không gian
miền Trung: nhiều nắng, ngay sớm ban mai
đã tràn ngập nắng.
Cái nhìn từ bao quát đến thật gần, như người
đang đi trong khu vườn tười đẹp để thấy
vườn cây mướt xanh như ngọc Đó là cái
thần thái của thôn Vĩ.
Tiếng reo thầm thể hiện sự ngỡ ngàng trước
vẻ đẹp bất chợt bắt gặp mà trước nay chưa
từng thấy.
Xanh như ngọc: chiếc lá cây xanh mướt
được nắng mới lên xuyên qua, trở nên xanh
trong suốt và ánh lên như ngọc Màu xanh
của ánh sáng ban mai chiếu vào từ bên ngoài
+ từ ngữ: không dùng về thăm mà dùng về chơi,
mang sắc thái thân mật, tự nhiên, chân tình
→ sự phân thân và những sắc thái phức tạptrong cùng một câu hỏi đã cho thấy nỗi ước aotrở về thôn Vĩ vừa mãnh liệt, vừa uổn khúc
- Hồi tưởng về xứ Huế:
+ Cảnh:
᷉ nắng hàng cau – hàng cau trong nắng sớm:
∙ gợi lên vẻ đẹp tinh khôi, thanh khiết và thanh
thoát
∙ điệp từ nắng: nắng nhiều, đã nhiều lại càng
nhiều thêm
∙ chỉ gợi chứ không tả.
→ hình ảnh giản gị nhưng giàu sức gợi Nó thi
vị không phải những gì chứa sẵn, mà gợi ratrong kí ức người đọc
᷉ vườn cây mướt xanh như ngọc.
∙ từ mướt: gợi vẻ đẹp non tơ, mượt mà, đầy
xuân sắc, được chăm sóc cẩn thận, sạch sẽ củatừng chiếc lá cây dưới ánh mặt trời
Mướt quá: gợi âm hưởng một tiếng reo
∙ màu sắc xanh như ngọc: màu xanh mát dịu,
ánh lên khi ánh mặt trời chiếu qua