Phần 2 của giáo trình trình bày từ chương 3 đến chương 5 với các nội dung: đại diện trong pháp luật dân sự, thời hạn trong pháp luật dân sự, thời hiệu trong pháp luật dân sự, tài sản và quyền sở hữu, khái quát chung về sở hữu và quyền sở hữu, quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu, các hình thức sở hữu, những quy định khác về quyền sở hữu, giao dịch dân sự và hợp đồng dân sự.
Trang 1Chương n i
ĐẠI DIỆN - THỜI HẠN - THỜI HIỆU
I ĐẠI DIỆN TRONG PHÁP LUẬT DÂN s ự
l ẻ Khái niệm chung về đại diện
a K hái niệm đại điện trong pháp luật dán sự
Trong giao lưu dân sự, thông thường các chủ thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự từ khi cam kết, thoả thuận đến khi thực hiện những quyền, nghĩa
vụ phát sinh từ giao dịch dân sự Nhưng do tính chất phong phú và đa dạng của giao lưu dân sự, trong những trường hợp nhất định chủ thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải thông qua hành vi của một người khác: Người đại diện Khoản 1 Điều 139 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện”
Về bản chất pháp lý, quan hệ đại diện trong pháp luật dân sự có đặc điểm là: Quan hộ giữa người đại diện và người được đại diện mà khoa học Luật dân sự gọi
là quan hệ bên trong; còn quan hệ giữa người đại diện và người thứ ba khoa học Luật dân sự gọi là quan hệ bên ngoài Chế độ đại diện là một quan hệ pháp luật dân sự Trong quan hê đại diện chủ thể là người đại diện và người được đại diện Người đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự (có thể theo quy định của pháp luật hoặc theo sự uỷ quyến của người được đại diện) là người nhân danh người đuợc đại diện trong việc xác lập, thực hiện những quan hệ dân sự với người thứ ba
* Đ ối với người đại diện
Mọi hành vi của người đại diện được thực hiện theo quy định của pháp luật hoặc theo sự uỷ quyẻn (của người đại diện theo pháp luật) đều nhằm đáp ứng mục đích và vì lợi ích của người được đại diện Nếu là người đại diện theo pháp luật thì người này chỉ được thực hiện những nội dung mà pháp luật có quy định hoặc cho phép Trong trường hợp là người đại diện theo uỷ quyền thì người đại diện chỉ được thực hiện theo những nội dung, phạm vi, thòi hạn uỷ quyền đại diện của người được đại diện
Người đại diện trong các giao dịch dân sự còn có thể là người có thẩm quyền hoặc là người mà pháp luật dân sự cho phép đối với các chủ thể khác của quan hệ dân sự như: Pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác Các “tổ chức” này, do tính chất của chủ thể đều hoạt động thông qua hành vi của những người có thẩm quyền nhất định, là người đại diện cho tổ chức đó Quan hệ đại diện có thể được xác định theo
Trang 2quy định của pháp luật, có thể đuợc xác định theo ý chí của các chủ thể tham gia,
thể hiện bằng một giấy uỷ quyển hoặc m ột hợp đổng uỷ quyền Trong phạm vi thẩm quyền đại diên, người đại diện có quyền xác lập, thực hiện các giao dịch dân
sự, đem lại quyền, lợi ích cũng nhu thực hiộn những nghĩa vụ nhất định cho nguời được đại diện
* Đối với người được đại diện
Là ngưòi đã uỷ quyền hoặc theo quy định của pháp luật dân sự phải có người đại diện để tiếp nhận các hậu quả pháp lý từ quan hộ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện đúng thẩm quyển đại diện Trong thực tế, có không ít tình ưạng những giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện nhưng không phải do người có thẩm quyển dại diện theo quy định của Bộ luật dân sự xác lập v ề hậu quả của giao dịch dân sự
do người không có thẩm quyền đại diện xác lập, thực hiện khoản 1 Điều 145 Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định: “Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diẽn xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người đại diện hoặc người được đại diện đồng ý Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện phải thông báo cho người dược đại diện hoăc người đại diện của người đó để trả lời trong thời hạn ấn định; nếu hết thời hạn này
mà không trả lời thì giao dịch đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện nhưng người không có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch vói mình, trừ truờng hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện”
Vi dụ\ Trong việc mua bán nhà thuộc quyền sờ hữu chung thì các đổng chủ
sở hữu chung phải đổng ý bằng vãn bản (có thể là các đổng chủ sở hữu chung cùng ký vào hợp đổng mua bán nhà hoặc có thể làm giấy uỷ quyền hợp lộ riêng) thì người đại diện mới có thẩm quyền dại diện ký kết hợp đồng Người mua nhà nếu không biết thì pháp luật dân sự cũng không thể bảo vệ khi quyền lợi bị xâm phạm, trừ trường hợp những người được đại diện biết và chấp thuận; nếu không, phần hợp đồng liên quan đến lợi ích của người được đại diện sẽ bị vô hiệu
Vì vậy, pháp luật dân sự còn quy định, người đã giao dịch vối người không
có thẩm quyền dại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự đã xác lập và yêu cầu bồi thường thiệt hại Nếu người đó đã biết hoặc phải biết về việc không có thẩm quyển đại diộn mà vẫn tiến hành xác lập giao dịch thì không được quyển đơn phương đình chỉ thục hiện hoặc huỷ bỏ giao dịch
Người được đại diện theo quy định của pháp luật dân sự có thể là: Cá nhân không có nãng lục hành vi dân sự, không có đẩy đủ năng lực hành vi dân sạ, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Đối với những người này pháp luật dân sự quy định bắt buộc phải có người đại diện trong quan hệ dân sự mới có giá trị pháp lý Nếu không có người dại diện hợp pháp xác lập, thực hiện giao dich dân
Trang 3sự thì giao dịch đó có thể đương nhiên vô hiệu hoặc sẽ bị coi là vô hiệu Cá nhân
có đẩy đủ năng lực hành vi dân sự cũng có thể uỷ quyền cho người khác là đại diện theo uỷ quyển của mình để xác lập, thực hiộn các giao dịch dân sự theo những quy định vé đại diộn uỷ quyền của pháp luật dân sự
Để tránh việc lạm dụng quyền đại diện, khi người đại diện không phải là cha, mẹ đối vói người không có nãng lực hành vi dân sự, không có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, pháp luật dân
sự quy định: Mọi giao dịch của người đại diện với những người trên đây đều bị coi
là vô hiệu
b Ý nghĩa của đại diện trong pháp luật dán s ụ
Đại diện là phương tiện pháp lý cẩn thiết có tính chất truyền thống của pháp luật dân sự nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự có thể xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự một cách thuận lợi nhất, bảo đảm thỏa mãn nhanh chóng các lợi ích vật chất, tinh thần mà chủ thể quan tâm; tạo điều kiện cho giao lưu dân sự phát triển
Chế độ đại diện tạo điều kiện cho những người vì những lý do khách quan và chủ quan khác nhau không thể trực tiếp xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự vì 'ợi ích của chính mình nhang vẫn có thể thực hiện được
Chế độ đại diện còn giúp cho những người không có năng lực hành vi dân
ìự, không có đẩy đủ năng lực hành vi dân sự, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực lành vi dân sự vẫn có thể tham gia các giao dịch dân sụ để thoả mãn lợi ích cho ninh Nếu không có ch ế độ đại diện, những người này sẽ không thể tự mình hoặc
>háp luật dân sự cũng không cho phép họ xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, vì
;iao dịch đó có thổ đương nhiên vô hiệu hoặc sẽ bị coi là vô hiệu
2ẵ Các hình thức đại diện trong pháp luật dân sự
Trong pháp luật dân sự có hai hình thức đại diện truyền thống là: Đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo uỷ quyền Tuỳ thuộc vào mỗi hình thức đại diện
cụ thể mà người đại diện có những thẩm quyền khác nhau khi xác lập, thực hiện giao địch dân sự
a Đ ại diện theo p h á p luật
Điểu 140 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định” Như vậy, đại diện theo pháp luật được xác lập bởi quy định chung của pháp luật hoặc theo quyết dịnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đại diện dược quy định theo pháp luật chung cũng là đại diện đương nhiên, người đại diện và thẩm
Trang 4quyền đại diện được quy định ổn định khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sụ Điểu 39 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy định việc đại diộn cho con:
“Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật”
Điểu 141 Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định những nguời đại diện theo pháp luật là: Cha, mẹ đại diộn cho con chưa thành niên; người giám hộ đối với người được giám hộ; người được Toà án chỉ định đối vói người đã bị Toà án tuyên
bố hạn chế năng lực hành vi; người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lộ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (đại diộn theo quyết định của cơ quan hành chính có thẩm quyền trong những quyết định riêng biệt như: Tiếp nhận hàng hóa, thanh tra, nghiệm thu công trình ); chủ hộ gia đình; tổ trưởng tổ hợp tác và những người khác theo quy định của pháp luật là những người đại diện theo pháp luật Tuỳ thuộc vào hình thức đại diện cụ thể mà người đại diện theo pháp luật có những thẩm quyển nhất định và không giống nhau
Theo nguyên tắc của pháp luật dân sự, những người đại diện theo pháp luật còn dược gọi là nguời đại diện đương nhiên Khi xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự, người đại diện theo pháp luật chỉ cẩn: xuất trình giấy tờ tuỳ thân để chứng minh người đó là người đứng đầu pháp nhân, là chủ hộ gia đình hoặc là tổ trưởng
tổ hợp tác Trong các trường hợp đại diện khác, người đại diện theo pháp luật chi cần chứng minh họ đúng là cha, mẹ của người chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự m à không cần thông qua sự uỷ quyền Đối với người giám hộ không phải là giám hộ đương nhiên thì cần xuất trình giấy tờ được
cử làm giám hộ có xác nhận của u ỷ ban nhân dân cấp cơ sở
b Đ ại diện theo uỷ quyền
Đây là hình thức đại diện tương đối phổ biến trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự Do các quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự phong phú, đa dạng và có thể vì nhiều nguyên nhân, lý do khác nhau m à cá nhân, người đứng đầu pháp nhân, chủ hộ gia đình, tổ trưởng tổ hợp tác không thể trục tiếp tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, pháp luật dân sự cho phép họ có thể
uỷ quyển cho người khác đại diện cho mình tham gia giao lưu dân sự
Điều 142 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Đại diện theo uỷ quyền là đại diện được xác lập theo sự uỷ quyền giữa người dại diện và người được đại diện" Hình thức uỷ quyền do các bền thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định việc
ủy quyền phải được lập thành vãn bản Trong quan hệ vợ chồng, khoản 1 Điều 24
Trang 5Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định: “Vợ chổng có thể uỷ quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của cả vợ chổng; việc uỷ quyển phải đuợc lập thành văn bản” Khác với quy ch ế đại diện theo pháp luật là đại diện đương nhiên, đại diện theo uỷ quyển phải tuân theo những hình thức, thủ tục nhất định theo quy định của pháp luật dân sự Quan hệ đại diện theo uỳ quyén được xác lập trên cơ sở thoả thuận, thống nhất ý chí của người đại diộn và người được dại diện Trong đại diện theo uỷ quyền, về hình thức (trong các trường hợp pháp luật có quy định) nhất thiết phải được lập thành văn bản uỷ quyền hoặc bằng một hợp đồng uỷ quyền, có
ký nhận của hai bên Đại diộn theo uỷ quyền cũng có thể là giấy uỷ quyển riêng có xác nhận của u ỷ ban nhân dân cấp cơ sở
Trong văn bản hoặc hợp đồng uỷ quyền của cá nhân với nhau, phải ghi rõ:
Họ tên của người được uỷ quyển, các điều khoản về nội dung công việc uỷ quyền, phạm vi uỷ quyền và thời hạn uỷ quyền Khi tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, người được uỷ quyền phải thông báo cho người thứ ba biết về việc uỷ quyền và nội dung cụ thể của việc uỷ quyền
Đối với uỷ quyền của pháp nhân, tổ hợp tác, trong giấy uỷ quyển cũng phải ghi rõ: Họ tên, chức vụ của người được uỷ quyền, nội dung công việc uỷ quyền, phạm vi uỷ quyền và thời hạn uỷ quyền Nguời đứng đầu pháp nhân (người đại diện đương nhiên theo pháp luật) phải ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên và chức vụ trong giấy uỷ quyền
Trong quan hệ pháp luật đại diện theo uỷ quyền cũng cố hai mối quan hệ khác nhau cùng tồn tại là: Quan hệ giữa người uỷ quyền với người được uỷ quyền
và quan hệ giữa người đuợc uỷ quyền với người thứ ba v ề nguyên tắc, người uỷ quyển (người đại diện) khi đã uỷ quyển cho người đuợc uỷ quyền (người dược đại diộn) nhân danh mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải tiếp nhận toàn bộ những hậu quả do người được uỳ quyền đã thực hiện trong phạm vi uỷ quyền Vì vậy, đối vói những trường hợp pháp luật dân sự quy định cá nhân phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thì họ không được uỷ quyền cho người khác làm đại diện cho mình
Người được uỷ quyền với tư cách người đại diện thay mặt người uỷ quyền trục tiếp xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với ngưòi thứ ba Vì vậy, theo nguyên tắc của pháp luật dân sự, nguời đại diện phải là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo những quy định của chế dộ đại diện Do đó, khoản 2 Điéu 143 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Người từ đủ mười lãm' tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là nguời đại diện theo uỷ quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện”
169
Trang 63 Phạm vỉ thẩm quyền và hậu quả pháp lý của đại diện
a P hạm vi thẩm quyền đại diện
Đại diộn là một quan hộ pháp luật dân sự trong đó chủ thể là người đại diộn
và người được đại diện Theo quy định của pháp luật dân sự thì người đại diện có quyền thực hiện hành vi nhân danh người được đại diện Với tính chất là một chủ thể đại diện (gián tiếp) nên người đại diện không thể có toàn quyền năng như người được đại diện hoặc người uỷ quyền trực tiếp xác lập, thực hiện giao dịch dân
sự Người đại diện, dù là hình thức đại diện nào cũng phải chịu những giới hạn nhất định trong quá trình thực hiện hành vi đại diện
Để tránh sự lạm quyền và lợi dụng trong dại diện, Điều 144 Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định cụ thể phạm vi thẩm quyền dại diện Việc xác định cụ thể phạm vi thẩm quyền đại diện có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tiễn Vì rằng, giao dịch dân sự do người đại diện nhân danh người được đại diện xác lập, thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện sẽ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự nhất định Nhưng, những quyền, nghĩa vụ dân sự này lại thuộc về người được đại diện và người được đại diện phải chịu trách nhiệm truớc pháp luật về những hậu quả pháp lý do người đại diện thực hiện
Phạm vi thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật dân sự chính là sự giới hạn quyển, nghĩa vụ của người đại diện Khi thực hiện quyền đại diện, người đại diện nhân danh nguời được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với người thứ ba trong phạm vi thẩm quyền đại diện
- Đối với người dại diện theo pháp luật: Người đại diện theo pháp luật có
thẩm quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện Đây là đại diện theo pháp luật của pháp nhân hoặc là đại diện đương nhiên đối với các con chưa thành niên, đã thành niên nhưng bị mất năng lực hành vi dân sự trong gia đình Người đại diện theo pháp luật có toàn quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vì lợi ích của cơ quan, tổ chức trong phạm vi điều lệ hoặc theo quy định của pháp luật; của người được đại diện trong gia dinh, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyết định khác
- Đối với người đại diện theo uỷ quyền: Người đại diện theo uỷ quyền chỉ được thực hiện những hành vi pháp lý trong phạm vi vãn bản uỷ quyền cho phép
Vì vậy, phạm vi đại diện của người đại diện theo uỷ quyền hẹp hơn phạm vi đại diện của người đại diện theo phấp luật
Trong khi thực hiện quyền đại diện, người dại diện (gồm cả đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền) chi dược xác lập, thực hiện những giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền đại diện Nếu là đại diện theo uỷ quyền thì ngoài (hoả thuận về phạm vi thẩm quyền, người đại diện theo uỷ quyền chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dàn sự trong thời hạn đại diện
Trang 7Để bảo vẽ quyền, lợi ích hợp pháp cho người thứ ba, là người xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với người đại diện, pháp luật quy định người đại diộn phải thông báo cho người thứ ba biết vẻ phạm vi thẩm quyền đại diện của mình Khi thông báo, nguời đại diện phải xuất trình giấy uỷ quyền hoặc thông báo cụ thể phạm vi thẩm quyền đại diộn, nội dung đại diện cụ thể, tính chất và mức độ đại
diện, thời hạn đại diện để người thứ ba biết Khi người thứ ba biết hoặc phải biết
người xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình là người không có thẩm quyền đại diện thì người thứ ba không có quyền yêu cầu người được đại diện phải thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền đại diện đã xác lập
Ngoài ra, người đại diện còn không được thục hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là dại diện của người đó Quy định này nhằm ngăn ngừa và loại trừ những giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện có thể đem lại hậu quả bất lợi cho người được dại diện; ngăn ngừa sự lạm quyền hoặc lợi dụng việc đại diện để trục lợi bất chính đối với người được đại diện
b Hậu quả pháp lý của việc đại diện
- Nếu người đại diện đã thực hiện đúng và đầy đủ phạm vi thẩm quyền đại
diện, nội dung và thòi hạn đại diện thì người được đại diện được hưởng mọi lợi ích
do người đại diộn đem lại và phải trả thù lao nếu có thoả thuận Người được đại diện còn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả đại diện như: Hậu quả
do người đại diện thực hiện trái pháp luật, người đại diện đã thực hiện đúng thẩm quyền đại diện nhưng gây thiệt hại cho người khác
- Trong trường hợp do người không có thẩm quyền đại diện xác lập, thực hiện thì về nguyên tắc không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối vói người được đại diện Người không có thẩm quyền đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người
đã xác lập giao dịch vói mình, phải tự chịu trách nhiệm về giao dịch đã xác lập với
tư cách cá nhân Nếu người thứ ba biết hoặc phải biết rằng người xác lập giao dịch dân sự với mình là người không có thẩm quyền đại diện nhưng vẫn xác lập giao dịch dân sự thì không có quyền yêu cầu người dược dại diện tiếp nhận các hậu quả
và thực hiện các nghĩa vụ dân sự do người khổng có thẩm quyền đại diện xác lập Tuy nhiên, hâu quả do người không có thẩm quyền đại diện xác lập, thực hiện vẫn
có thể được chấp thuận, tiếp nhận nếu người được đại diện đồng ý
- Nếu giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm
vi thẩm quyền đại diện thì cũng không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ khi người được đại diện đổng ý, chấp thuận hậu quà đó Trong trường hợp người được đại diện không đồng ý, chấp thuận thì người đại diện
do vượt quá thẩm quyền đại diện phải có trách nhiệm thực hiện mọi nghĩa vụ đối với
171
Trang 8người đã xác lập giao dịch đối với mình, phải tự chịu trách nhiệm về phần giao dịch
dã xác lạp nhung vượt quá thẩm quyẻn đại điện
4Ề Chấm dứt đại diện
Theo nguyên lý chung của pháp luật, quan hẹ đại diện trong pháp luật dân sự cũng như các quan hệ pháp luật khác: Là một phạm trù lịch sử và không tổn tại vĩnh viễn Quan hệ đại diện cũng có quá trình phát sinh, phát triển và chấm dứt như những quan hộ pháp luật dân sự thông thường Theo quy định cùa Bộ luật dân
sự, quan hệ đại diện chấm dứt khi xảy ra những sự kiện pháp lý nhất định (quy
định tại Điều 147 và Điểu 148 Bộ luật dân sự năm 2005) Khi quan hộ đại diộn
chấm dứt, mọi hậu quả pháp lý phát sinh từ các giao dịch dân sự do người đại diộn xác lập, thực hiện sẽ không còn giá trị pháp lý và không có hiệu lực pháp luật đối với người được đại diộn
Tuỳ thuộc vào tính chất của quan hệ đại diện và chủ thể đại diện, việc chấm
dứt đại diện của cá nhân, pháp nhân khi có những căn cứ nhất định được Bộ luật
dân sự quy định
a Chấm dứt đại diện đối với cá nhân
* Chấm dứt đại diện theo pháp luật
Đại diện theo pháp luật của cá nhân chấm dứt khi có m ột trong các trườnghợp sau đây:
- Khi người được đại diên đã thành niên: Người chưa thành niên đã đủ mười tám tuổi tròn và không bị mắc các bệnh làm hạn ch ế khả nàng nhận thức; khổng thể tự làm chủ và điều khién đuợc hành vi của mình Nếu là người bị m ất năng lực hành vi dân sự hoặc bị tuyên bố hạn chế nâng lực hành vi dân sự theo quyết định của Toà án nhưng hiện tại năng lực hành vi của cá nhân đó đã được khôi phục, Toà
án đã huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn ch ế năng lực hành vi dân sự Trong trường hợp này, người được đại diện đã có đẩy đủ năng lực hành vi dân sự, có tu cách chủ thể để tự mình có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự; thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật Vì vậy, quan hệ đại diện không cần thiết nữa và đương nhiên chấm dứt
- Người dại diện hoặc người dược đại diện chết: Trong một quan hệ dân sự nói chung, thông thường có hai chủ thể Đối với quan hệ đại diện - là m ột quan hệ pháp luật dân sự-cũng có hai chủ thể tương tự như vậy Do đó, khi người đại diện hoặc người được đại diện chết sẽ là sự kiện pháp lý đương nhiên làm chấm dứt quan hệ đại diện Ngoài ra, khi người đại diện hoặc người được đại diện theo pháp luật bị Tòa án tuyên bô' mất tích hoặc tuyên bố là đã chết cũng sẽ là sự kiện pháp
lý đương nhiên làm chấm dứt quan hệ đại diện theo pháp luât của cá nhan N^u172
Trang 9người còn lại trong quan hệ đại diện muốn tiếp tục xác lập quan hệ đại diện với người khác thì phải làm các thủ tục xác lập quan hệ đại diện như việc xác lập quan
hệ dại diện đẩu tiên
Ngoài ra, trong các trường hợp người đại diện mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự: Theo nguyên lý chung của pháp luật dân
sự khi một người mất nàng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự muốn xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhất thiết phải có người giám hộ Nếu không có nguời giám hộ thì giao dịch do những người này xác lập, thực hiện
sẽ vô hiệu hoặc có thể bị coi là vô hiệu Khi một người không có tư cách chủ thể của chính mình thì cũng không thể làm đại diện cho người khác Vì vậy, khi một người không có nãng lực hành vi đầy đủ, bị mất hoặc bị hạn chế nãng lực hành vi dân sự theo quyết dinh của Toà án sẽ không có đủ diều kiện để tiếp tục làm đại diện cho người đuợc đại diện (khoản 5 Điều 139 Bộ luật dân sự năm 2005) Quan
hộ đại diện trong trường hợp này cũng đương nhiên chấm dứt
- Ngoài ra, do tính chất phong phú và da dạng của giao lưu dân sự nên có thể có những trường hợp mà Bộ luật dân sự chưa thể dự liệu được toàn bộ những khả nàng làm chấm dứt đại diện của cá nhân trong đòi sống thực tế Để việc đại diện phát huy dược yếu tố tích cực trong giao lưu dân sự, nhất là khi có những phát sinh trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, điểm c khoản 1 Điều 147 Bộ luật dân sự năm 2005 còn quy định các trường hợp khác do pháp luật quy định
* Đ ại diện theo uỷ quyền
Đại diện theo uỷ quyền của cá nhân chấm dứt khi có một trong các trường hợp sau đây:
- Như đã nêu trên, quan hệ uỷ quyền là một hình thức cụ thể của quan hệ đại diện nên nó là một phạm trù lịch sử và chỉ tổn tại trong một thời hạn nhất định
Vì vậy, khi thời hạn uỷ quyền đã hết, mục đích của việc ủy quyền đã đạt được thì quan hệ đại diện theo uỷ quyền cũng đương nhiên chấm dứt Khi thời hạn uỷ quyền đã hết, mọi hậu quả phát sinh từ giao dịch dân sự được coi là của người không có thẩm quyển đại diện xác lập, thực hiện Giao dịch dân sự trong trường hợp này không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự đối với người được đại diện.Quan hệ đại diện theo uỷ quyền của cá nhân cũng đương nhiên chấm dứt, khi người đại diên theo uỷ quyển đã hoàn thành công việc, thực hiện đúng thời hạn, nội dung công việc được uỷ quyền theo đại diện
- Với tính chất là một quan hệ pháp luật dân sự hình thành trên cơ sở thống nhất ý chí chung của các chủ thể, nên quan hệ pháp luật dân sự về đại diện theo uỷ quyền của cá nhân cũng chấm dứt khi có những căn cứ riêng biệt sau đây:
173
Trang 10Người uỷ quyền (người được đại diện) huỳ bỏ việc uỷ quyền khi thấy việc
uỷ quyền không còn cần thiết hoặc không đem lại lợi ích cho người uỷ quyển Khi
huỷ bỏ việc uỷ quyền, người uỷ quyền phải thông báo bằng hình thức văn bản nhu
hình thức uỷ quyền ban đầu để người được uỷ quyến biết Nếu việc uỷ quyền đã được thông báo cho người thứ ba thì ngưòri uỷ quyền cũng phải thông báo cho nguời thứ ba biết về việc huỷ bỏ viộc đại diện theo uỳ quyền
Ngược lại, người được dại diện theo uỷ quyền cũng có thể từ chối việc nhận
uỳ quyền nếu không có đủ điều kiên tiếp tục thực hiện uỷ quyển hoặc không đem
lại lợi ích khi tiếp tục thực hiộn công việc đã nhân uỷ quyền Khi từ chối việc đại diện theo uỷ quyền, người được uỷ quyền cũng phải thông báo bằng hình thức văn bản như hình thức nhận uỷ quyền ban đầu để người uỳ quyền biết việc từ chối làm đại diện theo uỷ quyén
Như vậy, quan hệ đại diện theo uỷ quyền của cá nhân cũng có thể chấm dứt theo ý chí của các chủ thể nếu trong quá trình thực hiện việc uỷ quyền đã phát sinh những sự kiện mà một trong hai bên không muốn hoặc không thể tiếp tục thực hiện việc dược uỷ quyền
— Trong quan hệ đại diện theo uỷ quyền của cá nhân cũng có hai chủ thể Do
dó, khi người uỷ quyền hoặc người được đại diện theo uỷ quyền chết, mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn ch ế năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án tuyên bố mất tích hoặc tuyên bô' là đã chết cũng sẽ là sự kiện pháp lý đương nhiên làm chấm dứt quan hệ đại diện theo uỷ quyền của cá nhân Mỗi một sự kiện pháp lý trong số các
sự kiện trên đây đều làm cho việc đại diện theo uỷ quyền của cá nhân trở nên không thể thực hiện được hoặc không có đủ điều kiện thực hiộn Vì vậy, quan hệ đại diện theo uỷ quyền của cá nhân cũng đương nhiên chấm dứt Nếu người còn lại trong quan hệ đại diện muốn tiếp tục xác lập quan hệ đại diện với người khác thì phải làm các thủ tục xác lập quan hệ đại diện như việc xác lập quan hệ đại diộn đẩu tiên
Do tính chất, đặc diểm của đại diện theo uỷ quyền của cá nhân là người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, đem lại lợi ích và những hậu quả pháp lý cho người được đại diện, nén thông thường hai bên
có thoả thuận về mức lệ phí hoặc thù lao Khi quan hệ đại diện theo uỷ quyền của cá nhân chấm dứt, về nguyên tắc người đại diện (người được uỷ quyền) phải thanh toán xong các nghĩa vụ tài sản vói người được đại diện, sau khi dã trừ mức lệ phí hoặc thù lao theo thoả thuận Nếu người được đại diện (người uỷ quyền) chết thì nguời đại diện phải thanh toán các nghĩa vụ về tài sản với nguời thừa kế của người được đại diện
b Chấm dứt dại diện đối với pháp nhân
Là một tổ chức có tư cách chủ thể trong giao lưu dân sự nhưng các căn cứ làm chấm dứt quan hệ đại diện của pháp nhân có những dặc trung riêng
Trang 11* Chấm dứt đại diện theo pháp luật
Tương tự như đại diện của cá nhân, đại diện theo pháp luật của pháp nhân
cũng chấm dứt khi có những sự kiện pháp lý sau đây:
- Pháp nhân là một đơn vị, tổ chức đuợc thành lập do nhu cầu của sản xuất, kinh doanh hoặc yêu cẩu của công tác quản lý Vì vậy, khi pháp nhân đã thực hiện xong nhiệm vụ, sự tổn tại không còn cần thiết nữa hoặc không thể có điều kiện tồn tại như: BỊ giải thể theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bị tuyên
bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản, sáp nhập, hợp nhất pháp nhân thì pháp nhân cũng chấm dứt sự tổn tại của mình Khi pháp nhân chấm dứt sự tồn tại thì đại diện theo pháp luật của pháp nhân cũng đương nhiên chấm dứt Các quyền và nghĩa vụ về tài sản được giải quyết theo nguyên tấc chung về tài chính của Nhà nước
- Khi pháp nhân có sự thay đổi người đứng đầu pháp nhân thì đại diện theo pháp luật của pháp nhân cũng có sự thay đổi Người đuợc bổ nhiệm làm người kế nhiệm sẽ là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân Người đại diện mới theo pháp luật của pháp nhân phải kế tục các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật trước đó đã xác lập, thực hiện Chấm dứt đại diện theo pháp luật của pháp nhân trong trường hợp này chỉ có ý nghĩa tương đối
* Chấm dứt đại diện theo ủy quyền
Cũng như quan hệ đại diện theo uỷ quyền của cá nhân, đại diện theo uỷ
quyền của pháp nhân cũng là một phạm trù lịch sử và chấm dứt khi có những sự
kiện pháp lý nhất định Khi pháp nhân chấm dứt sự tồn tại của mình thì đổng thời cũng làm chấm dứt tư cách chủ thể của pháp nhân đó Vì vậy, quan hệ đại diện theo uỷ quyền cũng đương nhiên chấm dứt Đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân :òn chấm dứt khi có các sự kiện pháp lý sau đây:
- Như đã phân tích ở phần trên, quan hệ uỷ quyền của pháp nhân cũng là một hình thức cụ thể của quan hệ đại diện trong pháp luật dân sự, nên nó là một phạm trù lịch sử và chỉ tổn tại trong một thời hạn nhất định Vì vậy, khi hết thời hạn uỷ quyền thì quan hệ đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân cũng đương nhiên chấm dứt
Quan hệ đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân cũng đương nhiên chấm dứt, khi người đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân đã hoàn thành công việc được uý quyền theo đại diện
Về nguyên tắc, khi hết thời hạn uỷ quyền hoặc người dại diện theo uỷ quyền của pháp nhân đã hoàn thành công việc được uỷ quyền, mọi hậu quả phát sinh sau thời hạn đó cũng được coi là của người không có thẩm quyền đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân xác lập, thực hiện Giao dịch dân sự trong trường hợp này không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự đối với pháp nhân Đây là những căn
175
Trang 12cứ phổ biến làm chấm dứt quan hệ dại diện theo uỷ quyền của pháp nhân trong
thực tế
- Đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân được hình thành trôn cơ sở thục
hiện nhiệm vụ của pháp nhân, nên quan hộ pháp luật dân sự về đại diộn theo uỷ quyền của pháp nhân cũng chấm dứt khi người đại diên theo pháp luật của pháp nhân huỷ bỏ viộc uỷ quyền, khi thấy việc uỷ quyền không còn cần thiết nữa hoặc người đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân không cổ điều kiộn để tiếp tục thực hiện việc uỷ quyền Khi huỷ bỏ việc uỷ quyền, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân cũng phải thông báo để nguòi đại diện theo uỷ quyén của pháp nhân biết Nếu việc đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân đã được thông báo cho người thứ ba thì người đại diện theo pháp luật của pháp nhân cũng phải thông báo bằng hình thức văn bản như hình thức uỷ quyền ban đầu cho người thứ ba biết về việc huỷ bỏ việc dại diện theo uỷ quyền của pháp nhân
— Đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân đương nhiên chấm dứt khi pháp nhân chấm dứt sự tồn tại của mình Khi pháp nhân chấm dứt thì tư cách chủ thể của pháp nhân cũng mặc nhiên chấm dứt Do đó, mọi quyền và nghĩa vụ của pháp nhân, trong đó có các quan hệ đại diện cũng chấm dứt và không có giá trị pháp lý Điểm c khoản 2 Điều 148 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Pháp nhân chấm dứt hoặc người được uỷ quyền chết, bị Toà án tuyên bô' mất năng lục hành vi dân
sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết Khi chấm dứt dại diện theo uỷ quyền, người đại diộn phải thanh toán xong các nghĩa vụ tài sản vdi pháp nhân uỳ quyển hoặc pháp nhân kế thừa"
Như vậy, tính chất, đặc điểm của đại diện theo uỷ quyển của pháp nhân cũng
tương tự như cá nhân Người đại diộn theo uỷ quyền của pháp nhân xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự vì lợi ích của pháp nhân Nhung khi hết thời hạn uỷ quyền, công việc uỷ quyền được hoàn thành, pháp nhân huỷ bỏ việc uỷ quyền, pháp nhân chấm dứt thì những hậu quả pháp lý phát sinh từ việc uỷ quyền đối với pháp nhân ngoài việc áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự còn có thể được giải quyết theo quy định chung của pháp luật về doanh nghiệp và các văn bản pháp luật có liên quan
II THỜI HẠN TRONG PHÁP LUẬT DÂN s ự
1 Khái niệm chung về thời hạn
a Khái niệm thời hạn trong pháp luật dãn sự
Theo quan niệm của triết học, thời gian là một phạm trù không có sự bắt đẩu
và cũng không có sự kết thúc Thời gian là một yếu tố tự nhiên của vũ trụ tồn tại trong khống gian và nối tiếp nhau vó tận Nhưng, để xác định m ột thời gian cụ thể-
Trang 13là một khoảng thời hạn có ý nghĩa nhất định trong pháp luật dân sự-thì khoảng thời gian với tính chất là m ột thời hạn lại có sự bắt đầu, kết thúc và đuợc xác định
cụ thể Tuy nhiên, sự bắt đầu và kết thúc của một khoảng thời gian với ý nghĩa là một thời hạn, xét theo phương diện rộng nó cũng chi có tính chất tương đối.
Khoản 1 Điều 149 Bộ luật dân sự năm 2005 đã ghi nhận: “Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác”
- Trong giao lưu dân sự, thời hạn có vai ữ ò quan ữọng để xác định việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự; là tiêu chí để xác định quyển, nghĩa vụ, trách nhiệm của chủ thể tham gia giao dịch dân sự cụ thể, khi các chủ thể có thoả thuận
về thời hạn
- Thòi hạn là căn cứ pháp lý để xác định tư cách chủ thể là cá nhân Điểu 18
Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên; người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên
Thời hạn còn có thể là căn cứ pháp lý cùng với những điều kiện khác để công nhận cho một chủ thể được hưởng quyền dân sự Khoản 1 Điều 247 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Nguời chiếm hữu không có cãn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi nỉm đối vói bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đẩu chiếm hữu Tuy nhiên, thời hạn hường quyền dân sự theo quy định trên dây lại không áp dụng nếu tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước
- Ngoài ra, để ổn định các giao dịch dân sự, thời hạn còn là căn cứ pháp lý để miễn trừ thực hiện nghĩa vụ cho một chủ thể có nghĩa vụ nhất định Thời hạn khởi kiộn còn là căn cứ pháp lý quan trọng ữong thcri hiộu Đây là căn cứ pháp lý để một chủ thể nếu trong thời hạn của thời hiệu có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyển bảo vệ khi quyền, lợi ích bị xâm phạm mà không tự bảo vệ được
Ví dụ: Thời hạn yêu cầu Toà án tuyên bô' một giao dịch dân sự vô hiệu theo
quy định tại các điều từ Điều 130 đến Điều 133 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hạn yều cầu của chủ thể chỉ là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự đuợc xác lập (khoản 1 Điều 136 Bộ luật dân sự năm 2005) Nhưng thời hạn để một chủ thể khởi kiện yêu cầu xin chia di sản thừa kế lại là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế (Điểu 645, Bộ luật dân sự năm 2005) Tuy nhiên, khoản 2 Điều 136 Bộ luật dân sự năm 2005 cũng có quy định: “Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều
128 và Điều 129 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế" Như vậy, quy định về thời hạn trong các trường hợp khác nhau sẽ có ý nghĩa khác nhau
Là một chế độ pháp lý truyền thống của pháp luật dân sự, thời hạn là một trong những căn cứ pháp lý cùng với những điểu kiện nhất định khác làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự; là căn cứ quan trọng đê
177
Trang 14xác định quyén, nghĩa vụ dân sự và xác định trách nhiệm pháp lý của các chủ thể
trong những trường hợp các bẽn có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định
b Ý nghĩa của thời hạn
Trong giao lưu dân sự, thời hạn có ý nghĩa quan trọng Cùng với một số căn
cứ khác, thời hạn là căn cứ pháp lý (với tính chất như là điểm mốc) đánh dấu việc phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự; là thời điểm xác định quyển yêu cầu của người có quyên, việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của người có nghĩa vụ và thời điểm xác định trách nhiệm dân sự
Thời hạn còn là yếu tố không thể thiếu khi xác định cho chủ thể được hường quyền dân sự, được miễn trừ việc thực hiện nghĩa vụ dân sự, xác định quyẻn khởi kiện hoặc bị mất quyền khởi kiện của một chủ thể theo quy định của Bộ luật dân
sự vể thời hiệu
2 Các loại thời hạn và thời điểm xác định thời hạn
Trong Luật dân sự có các loại thời hạn khác nhau Theo quy định tại khoản 2 Điều 149 Bộ luật dân sự năm 2005 thời hạn trong giao lưu dân sự có thể dược xác định theo tiêu chí thời gian là phút, giờ, ngày, tháng, năm hoặc bằng m ột sự kiện
có thể sẽ xảy ra trong thực tế
Theo nguồn gốc phát sinh thì thòi hạn trong giao lưu dân sự có nhiểu tiêu chí xác định: xác định theo thoả thuận của các chủ thể tham gia giao dịch hoặc xác định theo quy định của pháp luật; thời hạn có thể được xác định cụ thể hoặc không được xác định cụ thể
- Thời hạn thoả thuận: Là thời hạn đuợc các chủ thể tham gia giao dịch dân
sự có thể thỏa thuận và được thay đổi theo ý chí của mình Trên cơ sỏ quy định của pháp luật dân sự, các chủ thể tham gia giao dịch dân sự có thể thoả thuận cụ thể về thòi hạn thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự trong các giao dịch dân sự cụ thổ Trong nhiều trường hợp pháp luật chỉ xác dinh thời hạn tối đa hoặc xác định thời hạn tối thiểu để chủ thể biết được giới hạn đó
Ví dụ: Điều 492 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Nếu thời hạn thuê nhà từ
6 tháng trở lên thì phải có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực cùa Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; Điều 427 Bộ luật dân sự quy định: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà ấn giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhàn, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm ” Trong quy định này, thời hiệu có ý nghĩa tương tự như thời hạn và các chủ thể không thể thoả thuận thời hiệu khởi kiện
Trang 15- Thời hạn do pháp luật quy định: Là thời hạn pháp luật quy định và có tính chất bắt buộc đối với các chủ thể tham gia giao dịch dân sự v ề nguyên tắc, chủ thể tham gia giao dịch dân sự không được phép thoả thuận thay đổi thời hạn đã được pháp luật quy định.
V í dụ: Khoản 1 Điều 136 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định cụ thể về thời
hạn mà chủ thể tham gia giao dịch dân sự có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao
dịch dân sự vô hiệu theo quy định tại các điều: Từ Điều 130 đến Điều 133, Bộ luật
dân sự nãm 2005 thì thời hạn yêu cầu của chủ thể chỉ là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập
- Thời hạn xác định: Là loại thời hạn được quy định rõ ràng, được xác định chính xác theo những tiêu chí: Thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc đối với từng loại thòi hạn có tính chất phổ biến, cụ thể như quy định tại Điều 151 Bộ luật dân
sự năm 2005
Ví dụ: Thời hạn có thể là phút, giờ, ngày, tuần, nửa tháng, tháng, nửa năm,
năm cụ thể hoặc bàng một sự kiện pháp lý do Bộ luật dân sự quy định Khoản 3 Điều 251 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Quyền sờ hữu đối với tài sản bị xù
lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu chấm dứt tại thời điểm phát sinh quyền sở bịiu cùa nguời nhận tài sản đó” Hoặc Điéu 254 Bộ ỉuật dân sự quy định: “Khi tài sỉn của chủ sỏ hữu do phạm tội, vi phạm hành chính mà bị tịch thu, sung quỹ nhà nước thì quyền sở hữu đối với tài sản đố chấm dút kể từ thời điểm bản án, quyết định của Toà án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác có hiệu lực pháp luật”
- Thời hạn không xác định: Đây là loại thời hạn trong đó chỉ quy định một cách tương đối khoảng thời gian nhưng không xác định được một cách chính xác khoảng thời gian đó
V í dụ: Điều 243 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định rằng trong thời gian nuôi
giữ gia cẩm bị thất lạc, người bắt được gia cẩm được hưởng hoa lợi do gia cầm sinh ra và phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi cố ý làm chết gia cẩm; hoặc khoản 2 Điều 390 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Trong tnrờng hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên đuợc đề nghị trả lòi thì phải bồi thường thiệt
hại cho bên được đẻ nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát
179
Trang 16“bồi thuờng kịp thời” theo Điểu 605 Bộ luật dân sự năm 2005 quy dinh nguyên tắc bổi thường thiệt hại.
Thời hạn không xác định cũng được áp dụng để xác định quyền, nghĩa vụ
của các bên ữong những truờng hợp cần thiết, khi các bên không thoả thuận rõ
thời hạn trong các hợp đổng: M ua bán, vay, thuê, mượn hoặc pháp luật dân sự cũng không quy định thời hạn cụ thể đối với quan hệ dân sự đó
V í dụ: Khoản 2 Điều 285 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Trong trường
hợp các bên không thoả thuận và pháp luật không quy định vể thời hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự thì các bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa
vụ vào bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho nhau biết trước trong một thời gian hợp lý”
3 Cách tính thời hạn
Thời hạn là một khoảng thòi gian nối tiếp nhau trong m ột không gian nên được tính như đơn vị thời gian theo thông lệ quốc tế là: Phút, giờ, ngày, tuẩn, tháng, nửa tháng, năm, nửa năm hoặc bằng một sự kiện có thể xảy ra được các bên thoả thuận hoặc Bộ luật dân sự có quy định, v ề nguyên tắc nếu các bén không có thoả thuận khác, pháp luật cũng không có quy định khác vé cách tính thời hạn thì thời hạn đuợc tính theo dương lịch và theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005
a Thời điểm tính thời hạn
Mặc dù trong Bộ luật dân sự hiện hành không quy định các đơn vị nhỏ như:
Giây nhưng trong các trường hợp nhất định, đơn vị thời gian này có thể đuợc tính
khi có trường hợp thục tế rất cần thiết và có ý nghĩa pháp lý
Để tính đúng thời hạn, ngoài việc áp dụng cách tính thời hạn theo quy định tại Điều 150 Bộ luật dân sự năm 2005 còn cần phải xác định thời điểm tính thời hạn theo quy định tại Điều 151 Bộ luật dân sự nãm 2005 Trong các trường hợp thời gian thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự diễn ra liền nhau thì thời điểm của thời hạn được tính kể từ khi bát đầu các bên thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Nếu các bên
có thoả thuận về thời hạn cụ thể là một năm, nửa năm, một tháng, nửa tháng nhưng khoảng thòi gian thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự diễn ra không liền nhau thì thời hạn được tính như sau:
Trang 17Nếu các bên thoả thuận vẻ thời điểm đẩu tháng, giữa tháng, cuối tháng thì thời điểm được tính thời hạn được xác định nhu sau:
- Đầu tháng là ngày đẩu tiên của tháng Ví dụ: Ngày mổng 1 của tháng đó;
- Giữa tháng là ngày thứ 15 của tháng.
- Cuối tháng là ngày cuối cùng của tháng Tuỳ từng tháng mà ngày cuối cùng của tháng có thể là ngày 28 (tháng 2), ngày 30 hoặc là ngày 31 của tháng đó Nếu các bên thoả thuận về thời điểm đầu nãm, giữa năm, cuối năm thì thời điểm được tính thời hạn như sau:
- Đ ẩ u năm là ngày đầu tiên của tháng 1 V í dụ: Ngày mồng 1 tháng 1 của
năm dương lịch đó;
- Giữa năm là ngày cuối cùng của tháng 6 Ngày cuối cùng của tháng 6 có thể là ngày 30 hoặc ngày 31 Nếu ngày cuối cùng của tháng 6 là ngày 30 thì thời điểm được tính thời hạn là ngày 30 tháng 6 năm đó
- C u ố i năm là ngày cuối cùng của tháng 12 Tuỳ từng năm mà ngày cuối cùng của tháng có thể là ngày 30 hoặc là ngày 31 của năm đó Nếu năm có 366 ngày thì ngày cuối cùng của năm là ngày thứ 366
b Thời điểm bắt đầu tính thòi hạn
Theo Điểu 152 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời điểm tính thời hạn được xác
định như sau:
Nếu thời hạn được xác định bằng giờ thì thòi hạn được bắt đầu từ thòi điểm
là giờ đã được các bên xác định cụ thể.
Ví dụ: Nếu thòi hạn được xác định bằng giờ là 8 giờ sáng thì thòi hạn được
bắt đẩu từ thời điểm đã xác định cụ thể là 8 giờ sáng ngày cụ thể đó
Khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày đầu tiên của thời hạn sẽ không được tính vào thời hạn, thời hạn được bắt đầu tính từ ngày tiếp theo của ngày, tuẩn, tháng, năm đó
Ví dụ: Nếu thời hạn được xác định bằng ngày, tuẩn, tháng, nãm thì thời hạn
được bắt đẩu sẽ không tính ngày đẩu tiên Nếu giao dịch dân sự xác lập tính theo tuần và ngày mà hai bên thoả thuận là ngày thứ hai thì thòi hạn bắt đầu được tính
từ ngày thứ ba của tuần đó
Tương tự như vậy, khi thời hạn bắt đầu bằng một sự kiện xảy ra thì ngày xảy
ra sự kiện cũng không dược tính vào thòi hạn, thời hạn bắt đầu tính từ ngày tiếp theo ngày xảy ra sự kiện đó
Ví dụ: Nếu thời hạn được xác định bằng một sự kiện như sự kiện bảo hiểm
quy định tại Điều 571 Bộ luật dân sự nãm 2005 thì ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm
Trang 18(như: Tai nạn giao thông, hoả hoạn, thiên tai, sự cố kỹ thuật ) không được tính vào thời hạn Thời hạn bắt đầu tính từ ngày tiếp theo ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm
và đã xảy ra khách quan trong thực tế Hoặc sự kiện một người chết là thời điểm
mở thừa kê' và thời hạn được tính từ thời điểm xảy ra sự kiện: Người có tài sản chết (quy định tại Điéu 633 Bộ luật dân sự nãm 2005)
Thời điểm tính thời hạn hoặc thời điểm bắt đầu tính thời hạn trong thực tế
còn có thê’ được các bên thoả thuận theo tập quán V í dụ: Bắt đầu tính thời hạn khi:
Vào hè, vào đông, vụ mùa, vụ chiêm, thời gian mùa rẫy
c Thời điểm kết thúc thời hạn
Kết thúc thời hạn là một trong những tiêu chí quan trọng để xem xét giao dịch dán sự có còn thời hạn hay không Đây là vấn để liên quan đến việc xác định quyền, nghĩa vụ dán sự của các chú thê và xác định trách nhiệm dân sự trong nhũng trường hợp cần thiết Việc kết thúc thời hạn trong thoả thuận của các chủ thể rất đa dạng Điều 153 Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định cách xác định thời điểm kết thúc thời hạn như sau:
- Nếu thời hạn được tính bằng ngày thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn Ngày cuối cùng được tính đến 24 giờ cúa ngày (mưòi hai giờ đêm của ngày cuối cùng)
- Nếu thòi hạn được tính bằng tuần thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày tương ứng của tuần cuối cùng của thời hạn
- Nếu thời hạn được tính bằng tháng thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày tương ứng của tháng cuối cùng của thòi hạn Trong trường hợp tháng kết thúc thời hạn không có ngày tương ứng thì thời hạn kết thúc vào ngày cuối cùng của tháng đó
V í dụ: Trong tháng không có ngày tương ứng là ngày 30 mà ngày cuối cùng
của tháng là ngày 28 hoặc ngày 31 thì ngày 28 hoặc ngày 31 là ngày cuối cùng của tháng
- Nếu thời hạn được tính bằng năm thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày, tháng tương ứng của năm cuối cùng của thời hạn Khi thời hạn được xác định là năm thì ngày cuối cùng của tháng cuối cùng năm đó, thời hạn được kết thúc vào ngày cuối cùng của tháng 12 năm đó Ngày cuối cùng có thể là ngày 30 hoặc ngày 31 tháng 12 năm dương lịch
Khoản 5 Điều 153 Bộ luật dân sự năm 2005 còn quy định việc kết thúc thời hạn khi có những sự kiện nhất định theo tập quán và theo thông lệ quốc tế Cụ thể là: Nếu ngày cuối cùng khi kết thúc thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ, nghỉ tết thì thời hạn kết thúc tại thòi điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó
Trang 19Ví dụ: Khi thời hạn kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm 2007 nhưng pháp
luật quy định ngày 1 tháng 1 năm 2008 đuợc nghỉ tết dương lịch một ngày thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc trong ngày 2 tháng 1 năm 2008; hoặc ngày kết thúc là ngày thứ 6 thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc của ngày thứ 2 trong tuần tiếp theo
Việc kết thúc thời hạn còn có thể được xác định theo thông lệ và tập quánkhác
Ví dụ: Khi các tài liệu, công văn, báo cáo, bài dự thi (trong giao dịch dân sự
hứa thưởng và thi có giải) được gửi theo đường bưu điộn thì thời hạn kết thúc được xác định theo dấu bưu cục của ngày gửi tại nơi gửi mà không xác định việc kết thúc thời hạn theo ngày nhận tại nơi nhận
Nếu các bên không có thỏa thuận vể thời hạn cụ thể về ngày, tuần, tháng, nửa tháng, năm, nửa năm thì thời hạn được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 151 Bộ luật dân sự năm 2005 với quy định như sau:
m THỜI HIỆU TRONG PHÁP LUẬT DÂN s ự
1 Khái niệm chung về thời hiệu
a K hái niệm thời hiệu trong pháp luật dán sự
Trong quan hộ dân sự cụ thể, các chủ thể tham gia có quyền tự do thoả thuận những nội dung cơ bản về quyển dân sự và nghĩa vụ dân sự, biện pháp, cách thức thực hiện các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự theo quy định tại Điều 4 Bộ luật dân sự năm 2005 Các quy định trong Bộ luật dân sự dểu dựa trèn nguyên tắc cơ bản và truyền thống của Luật dân sự là: Các chủ thể có quyền tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận Theo nguyên tắc quan trọng này, các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sụ có quyền tự do cam kết, thoả thuận, kể cả những trường hợp Bộ luật dân sự và các vãn bản pháp luật khác không có quy định (bao gồm cả thời hạn) nếu “không trái pháp luật, đạo đức xã hội”; không trái với những nguyên tắc
cơ bản được quy định trong Bộ luật dân sự
Trang 20Nhằm mục đích bảo đảm sự ổn định của các quan hệ dân sự trong đời sống
xã hội-là một trong những mục tiêu của pháp luật dân sự - nên Bộ luật dân sự năm
2005 quy định ch ế định thời hiệu Điẻu 154 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:
“Thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định m à khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự, được miễn trừ thực hiện nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyển khởi kiện vụ án dân sự, quyền yẽu cầu giải quyết việc dân sự”
Thời hiộu là chế định truyền thống của pháp luật dân sự Nội dung của thời hiộu và các loại thời hiệu đều do pháp luật dân sự quy định, các chủ thể không có quyẻn thoả thuận về thời hiộu Thời hiệu trong pháp luật dân sự có đặc điểm là:
- Là một khoảng thòi hạn do pháp luật dân sự quy định trước đối với các loại giao dịch dân sự cụ thể
- Khi thời hiệu kết thúc sẽ phát sinh những quyền dân sự nhất định hoặc bị mất quyển khởi kiện, mất quyển yêu cầu thực hiện nghĩa vụ khi người có nghĩa vụ
đã được miễn trừ thực hiện nghĩa vụ theo thời hiệu
Theo nguyên tắc của Luật dân sự, các chủ thể tham gia quan hộ pháp luật dân sự không có quyền thỏa thuận vẻ thời hiệu nhằm kéo dài hoặc rút ngắn thời hạn để được coi là thòi hiệu Vì vậy, thời hiệu là cãn cứ pháp lý do pháp luật quy định nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định, không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch dân sự đó
Thời hiệu là chế định pháp lý tương đối phổ biến của mỗi hệ thống pháp
luật Từng ngành luật khác nhau có những quy định khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất quan hệ xã hội mà ngành luật đó diẻu chỉnh hoặc do những yêu cẩu và dặc thù riêng Trong Bộ luật hình sự năm 1999, thời hiộu và những vấn đề liên quan đến các loại thời hiệu khác nhau được quy định tại chương VIII (từ Điều 55 đến Điều 62 Bộ luật hình sự) Là một ngành luật truyền thống với ý nghĩa là công cụ sắc bén và hữu hiệu để đấu tranh phòng chống các loại tội phạm nhằm giữ vững độc lập, chủ quyền và an ninh quốc gia; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể và công dân; bảo đảm trật tự trị an và an toàn xã hội nhưng cũng có những trường hợp bản án không được thi hành vì những nguyên nhân khách quan khác nhau Để bảo đảm nguyên tắc của pháp chế xã hội chủ nghĩa, pháp luật hình sự cũng có những quy định vể thòi hiệu chấp hành bản án đã có hiệu lực pháp luật
Theo nguyên tắc chung, Điều 136 Hiến pháp năm 1992 đã khảng định: “Các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các
cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang và mọi công dân tôn trọng, những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chình chấp hành” Trên cơ sở nguyên tắc hiến định và với ý nghĩa quan trọng của pháp luật hình sự, khoản 1 Điểu 55 Bộ luật hình sự đã có quy định về thời hiệu thi hành các bản án hình sự: “Thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi kết thúc thời hạn đó người bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên”
Trang 21Theo quy định của khoản 1 Điêu 55 Bộ luật hình sự năm 1999, khoản 2 của điểu luật trên đây đã quy định thời hiộu cụ thể vẻ việc thi hành bản án hình sự như sau:
- Năm năm đối với các trường hợp xử phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc
Thời hiệu trong pháp Luật tố tụng dân sự (pháp luật hình thức) lại có quy
định dựa trên cơ sở một tiêu chí khác Trước đây, Điẻu 36, Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự (được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 29 tháng 11 năm
1989) quy định những truờng hợp trả lại đơn khởi kiện tại khoản 2 đã quy định:
*TTiời hiệu khởi kiện đã hết” Thời hiệu kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm để xét một bản án có hiệu lực pháp luật nhung có những sai lẩm cũng chỉ trong một thời hạn nhất định Khoản 1 Điều 73 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định vẻ thời hạn kháng nghị như sau: “Việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm chỉ được tiến hành trong thời hạn ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Việc kháng nghị theo hướng không gây thiệt hại cho bất cứ đương sự nào thì không bị hạn ch ế vẻ thời gian”
Do có tầm quan trọng nhu vậy nên Bộ luật tố tụng dân sự (được công bô' theo Lệnh Chủ tịch nước số 17/2004/L/CTN ngày 24 tháng 6 năm 2004) đã dành riêng chương XI (với 4 điều luật từ Điều 157 đến Điểu 160) quy định riêng vể thòi hạn tố tụng Nguyên tắc áp dụng được quy định cụ thể tại Điểu 158 và Điều 160
Bộ luật tô' tụng dân sự nãm 2004: Cách tính thời hạn tố tụng, quy định vê thời hạn
tố tụng, thời điểm bắt đầu kết thúc thời hạn tố tụng và thời hiệu trong Bộ luật tố tụng dân sự được áp dụng theo các quy định tương ứng của Bộ luật dân sự
b Ý nghĩa của thời hiệu
Tuỳ thuộc mỗi ngành luật trong một hệ thống pháp luật mà thời hiệu được quy định và ghi nhận khác nhau nhằm bảo đảm sự ổn định cần thiết các quan hệ
185
Trang 22xã hội dựa trên cơ sở những tiêu chí riêng, tuỳ thuộc vào đặc điểm của những quan
hệ xã hội do ngành luật dó điêu chỉnh Trong pháp luật dân sự, thời hiộu là chế định pháp lý cũng được quy định trên cơ sở tiêu chí riêng và có ý nghĩa quan trọng Thòfi hiệu là căn cứ pháp lý do pháp luật dân sự quy định để xác định một chủ thể được hưởng quyẻn dân sự (hưởng quyền theo thời hiệu), miễn trừ việc thực hiện nghĩa vụ dân sự, dù rằng chủ thé đó chua thực hiện hoặc bị mất quyền khởi kiện khi chủ thể có yêu cầu Toà án, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp, để bảo vệ lợi ích cho chủ thể đó khi bị xâm phạm
Thòi hiệu trong pháp luật dân sự có vai trò quan trọng nhằm ổn định các quan hệ dân sự, nhất là các quan hộ tài sản trong đời sống xã hội Nếu pháp luật dân sự không có các quy định vẻ thời hiệu để ổn định các quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự, mỗi chủ thể tham gia vào giao dịch dân sự sẽ không yên tâm và tin tưởng vào quan hệ dân sự mà họ đã xác lập, thực hiện Trong thực tế cuộc sống
có nhiều nguyên nhân khác nhau như: Khi giá cả tài sản tăng đột biến hoặc một chù thể có tham vọng trục lợi (thường là trong các quan hệ m ua bán bất động sản) muốn huỷ bỏ giao dịch dân sự đã được xác lập, thực hiện để trục lợi thì quan hệ dân sự đã được xác lập, thực hiện luôn tiềm ẩn sự khống ổn định và rủi ro
Do vậy nếu pháp luật dân sự không quy định sự ổn định cần thiết đối với các quan
hệ tài sản bằng các quy định pháp luật vể thời hiệu thì tranh chấp dân sự luôn có thể xảy ra trong thực tế!
Ngoài ra, quan hệ dân sự còn liên quan đến yếu tố thời gian (thời hạn) Nếủ một giao dịch dân sự đã xác lập, thực hiện trong một khoảng thời hạn đã quá lâu
mà có tranh chấp thì quá trình chứng minh của đương sự sẽ rất khó khăn, phức tạp Khi giải quyết tranh chấp dân sự, Tòa án hoặc những cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng gặp khó khăn khi phải tiến hành điéu tra, xác minh, thu thập chúng cứ cẩn thiết để xác định sự thật khách quan của vụ việc Vì vậy nếu thời hạn đã quá lâu thì quá trình điều tra của Tòa án hoặc những cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thu thập chứng cứ cũng khó có cơ sở để bảo đảm tính chính xác và tin cậy Đối với các chủ thể là tổ chức, quy định vé thời hiệu là biộn pháp hữu hiộu nhằm buộc các đơn vị này phải có kế hoạch kiểm soát thường xuyền về tài sản theo định kỳ nửa năm, hàng nãm để bảo đảm quyền và lợi ích của chủ thể đó Quy định về thời hiệu còn là biện pháp buộc các tổ chức có trách nhiệm trong mọi hoạt động, trong sản xuất, kinh doanh, bảo đảm quyển, lợi ích của chủ thể đó và lợi ích của Nhà nước
2 Các loại thời hiệu
Trên cơ sở quy định về thời hiệu của Điẻu 154 tại Điều 155 Bộ luật dân sự năm 2005 đã phân chia thời hiệu trong pháp luật dân sự làm bốn loại: Thời hiệu hưởng quyền dân sự thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự, thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sư
Trang 23a Thời hiệu hưởng quyền dán sự
Là thời hạn mà khi kết thúc thòi hạn đó, chủ thể sẽ được hưởng những quyền dân sự nhất định Theo quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu hưởng quyền dân sự là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền dân sự cho một chủ thể Sự kiện pháp lý theo quy định tại Điều 155 Bộ luật dân sự dựa trên cơ sở thời hạn do pháp luật dân sự quy định, không phụ thuộc vào ý chí và sự mong muốn của chủ thể Các chủ thể không có quyền thoả thuận việc hưởng quyền dân sự theo thời hiệu Điều này khác vói viộc xác lập quyền dân sự do các chủ thể thoả thuận khi xác lập giao dịch dân sự Tính chất và bản chất pháp lý của việc hưởng quyền dân sự theo thời hiệu hoàn toàn khác Việc hưởng quyền dân sự theo thời hiệu chỉ được thực hiện trong thời hạn và trong những trường hợp do pháp luật dân sự quy định
Thông thường, một chủ thê được hưởng quyển dàn sự theo thời hiệu phải có những diều kiện nhất định như thời hạn hoặc (và) các diều kiện khác theo quy định của pháp luật dân sự
Vi dụ: Khoản 1 Điều 247 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định thời hiệu làm
phát sinh quyền sở hữu tài sản dối với người chiếm hữu không có cãn cứ pháp luật nhung ngay tình, truớc hết phải thỏa mãn điều kiện về thời hạn là mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản Ngoài ra, còn phải có các điều kiện khác như: Việc chiếm hữu đố phải ngay tình, liên tục, cổng khai như chiếm hữu tài sản của chính mình
Tương tự như trên là các trường hợp đuợc hưởng quyền dân sự theo thời hiệu được quy đĩnh tại các điều từ Điểu 239 đến Điều 244 Bộ luật dân sự năm 2005 Những chủ thể hưởng quyền dân sự theo thời hiệu trong các trường hợp này phải
có đủ những điều kiện nhất định được quy định đối với từng quan hệ dân sự tương úng dó
Trong những trường hợp cá biột, viộc hưởng quyền dân sự còn có thể là thời hạn được hưởng quyền dân sự theo thoả thuận của các bên Đây được xem là trường hợp ngoại lệ, xuất phát từ những đặc thù của quan hệ dân sự trong đời sống
xã hội Trên cơ sở thoả thuận của các chủ thể, pháp luật dân sự công nhận và có quy định trước
Ví dụ: Theo quy định về đặt cọc tại Điều 358 Bộ luật dân sự năm 2005 khi
hợp đồng dân sự đã được giao kết mà bên giao tài sản đặt cọc từ chối việc thực hiện nghĩa vụ thì tài sản đặt cọc sẽ thuộc về bên nhận đặt cọc nếu bên đưa tiền đặt cọc không thực hiện nghĩa vụ; ngược lại nếu bên nhận tiền đật cọc không thực hiện nghĩa vụ thì phải ư ả lại cho bên giao tài sản đặt cọc số tài sản dã đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ truờng hợp có thoả thuận khác Đặt cọc là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của pháp luật dân sự Biện pháp bảo đảm này thường được áp dụng trong các hợp đổng mua
187
Trang 24bán tài sản cố đối tượng là bất động sản, nhà ỏ Khi hết thời hạn thoả thuận mì
một bên không thực hiện các nghía vụ do mình đã tự nguyện cam kết, thoả thuận
thì bên kia được hưởng quyền dân sự nhất định từ sự cam kết, thoả thuận đó.
b Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự
Là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó, chủ thể có nghĩa vụ dãn sự được miễn việc thực hiện nghĩa vụ dân sự Theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật dân sự nãm 2005 thì thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự cũng là m ột sự kiộn pháp
lý cho phép một chủ thể được miễn trừ nghĩa vụ dân sự Dù rằng trong thực tế chủ thể đó chưa thực hiện nghĩa vụ đã cam kết hoặc chưa thực hiện nghĩa vụ do pháp luật quy định
Theo nguyên tắc của pháp luật dân sự, các chủ thể cũng không có quyền thoả thuận việc miễn trừ thực hiện nghĩa vụ dân sự theo thòi hiệu Trong thực tế có những khả năng: Nghĩa vụ dân sự được xác lập do các chủ thể cam kết, thoả thuận trong quá trình xác lập giao dịch dân sự nhưng sau đó lại có thoả thuận đổng ý cho hoãn thực hiện nghĩa vụ (Điều 287 Bộ luật dân sự năm 2005) hoặc miễn cho một trong sô' những người thực hiện nghĩa vụ liên đới (khoản 4 Điều 298 Bộ luật dân
sự năm 2005) Việc hoãn thực hiện nghĩa vụ dân sự hoặc miễn cho một trong số những nguời thực hiện nghĩa vụ liên đối có tính chất và bản chất pháp lý hoàn toàn khác việc miễn trừ nghĩa vụ dân sự theo thời hiệu Việc miễn trừ nghĩa vụ dân sự theo thời hiệu được thực hiện chì trong những trường hợp do pháp luật quy định.Nếu thời hiệu hưởng quyền dân sự cho phép chủ thể hưởng quyển khi kết thúc thời hạn cùng với những điều kiện khác thì thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự
là người có nghĩa vụ phải thực hiện nghiã vụ nhung được miễn trừ không phải thực hiện nghĩa vụ, tương ứng với thời điểm kết thúc thòi hạn do pháp luật dân sự quy định Khi một chủ thể tham gia quan hệ dân sự (theo ý chí của chủ thé khi giao kết hợp đồng hoặc do có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật ngoài hợp đồng) mà pháp luật dân sự quy định phải thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ dân sự đó thì họ
có trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ trong một thời hạn do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định Nếu trong thời hạn đó, người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ và những người có quyền cũng không yèu cầu người này phải thực hiện nghĩa vụ thì sau một thời hạn nhất định do pháp luật dân sự quy định, người
có nghĩa vụ không phải thực hiện nghĩa vụ nữa dù rằng người đó chưa thực hiện nghĩa vụ Miễn trừ thực hiện nghĩa vụ có thể được áp dụng khi có các sự kiện khách quan hoặc đương nhiên được miền trừ khi pháp luật dân sự có quy định
Ví dụ: Người bán hàng không phải thực hiện nghĩa vụ bảo hành hàng hoá khi
thời hạn bảo hành đã kết thúc mà không có yêu cầu của người m ua hàng hoá, do trong thời hạn hàng hoá đã mua không có những sự cô' kỹ thuật Nguời được cấp dưỡng khi đã thành niên (đủ mười tám tuổi) thì người phải cấp dưỡng được chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng (điểm a khoản 2 Điều 612 Bộ luật dân sự năm 2005)
Trang 25Trong một phạm vi nhất định, thời hiệu hưởng quyển dân sự và thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự có tính chất tương tự nhu quy định về thời hiệu khởi kiện Theo nguyên tắc của Luật dân sự, Khi pháp luật dân sự quy định cho các chủ thể được hưởng quyẻn dân sự hoặc được miễn trừ nghĩa vụ dân sự theo thời hiệu thì chi sau khi thời hạn đó kết thúc, việc hưởng quyền dân sự hoặc được miễn trừ nghĩa vụ dân sự theo thời hiệu mới có hiệu lực.
Để bảo vộ triệt để tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nưóc-là cơ sở vật chất quan trọng của chế độ xã hội, khoản 2 Điêu 157 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Thời hiệu hưởng quyền dân sự không được áp dụng đối với trường hợp chiếm hữu tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước không có căn cứ pháp luật Thời hiệu hưởng quyền dân sự cũng không được áp dụng trong các trường hợp việc hưởng các quyẻn nhân thân của một chủ thể không gắn hoặc không liên quan với tài sản
Đối vói thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự khoản 3 Điều 157 Bộ luật dân sự năm 2005 còn có quy định: Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự không được áp dụng trong việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của các chủ thể đối với Nhà nuớc, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Thời hiệu hưởng quyền dân sự hoặc miễn trừ thực hiện nghĩa vụ dân sự có tính
Bên tục từ khi bát đầu cho đến khi kết thúc Nếu có những sự kiện làm gián đoạn, như cố sự giải quyết CỊÙa cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc quyẻn, nghĩa vụ dân
sự đang dược áp dụng thời hiệu mà bị người có quyển, nghĩa vụ liên quan tranh chấp thì thòi hiệu hưởng quyển dãn sự hoặc miễn tiừ thực hiện nghĩa vụ dân sự phải được tính lại từ đẩu, sau khi sự kiện làm gián đoạn thời hiệu châm dứt
V í dụ: Một chủ thể đang được hưởng quyền dân sự nếu bình thường thì đến
ngày 30 tháng 12 năm 2007 sẽ được công nhận quyẻn sở hữu đối với tài sản Nhưng đến ngày 15 tháng 11 năm 2007 lại có những sự kiện làm gián đoạn theo quy định tại khoản 2 Điều 158 Bộ luật dân sự năm 2005 Sau khi cơ quan nhà nước
có thẩm quyền giải quyết xong hoặc các tranh chấp đã được giải quyết xong thì thời hiệu hưởng quyẻn dân sự hoặc miễn trừ thực hiện nghĩa vụ dân sự bắt đầu được tính lại từ thời điểm đã được giải quyết xong Trong trường hợp này, thời hiệu phải tính lại từ đẩu Nếu tranh chấp là động sản thì thời hạn để được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu bắt đầu được tính lại là mười năm
c Thời hiệu kh ở i kiệrt vụ án dân sự
Là thời hạn mà chủ thể có quyền, lợi ích bị xâm phạm được quyền khởi kiện
vụ án dân sự để yêu cẩu Tòa án bảo vệ khi chủ thể đó không thể tự bảo vệ được Theo quy định tại khoản 3 Điểu 155 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiộn vụ án dân sự cũng là một sự kiện pháp lý trên cơ sở thời hạn do pháp luật dân
sự quy định Đây là thời hạn nhất định mà pháp luật dân sự cho phép một chủ thể
189
Trang 26có quyển, lợi ích bị xâm phạm được quyển khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa
án bảo vệ Theo nguyên tắc chung, khi chủ thể có quyền, lợi ích bị xâm phạm được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ khi còn thời hiệu khởi kiện Khi thời hạn khởi kiện kết thúc thì chủ thể có quyền, lợi ích bị xâm phạm bị mất quyền khởi kiện vụ án dân sự theo thời hiệu
Trong quan hệ dân sự, người có nghĩa vụ phải tự nguyện thực hiộn nghĩa vụ trèn cơ sở nguyên tắc thiện chí, trung thực (Điều 6 Bộ luật dân sự năm 2005) đổi với người có quyền Người có quyền có thể yêu cầu Tòa án buộc người có nghĩa
vụ thực hiện đúng nghĩa vụ của họ, thông qua các biện pháp cưỡng chế phù hợp với quy định của pháp Luật tô' tụng dân sự Quyền yêu cẩu Tòa án bảo vệ quyển, lợi ích hợp pháp của mình chỉ được thực hiện trong m ột thòi hạn xác định khi các quyền dân sự cụ thể bị xâm phạm Khi kết thúc thời hạn đó mà chủ thể không thực hiện quyền khởi kiện thì bị mất quyển khởi kiện
Bộ luật dân sự không quy định thời hiệu khởi kiện chung cho các quan hệ dân sự mà chỉ xác định các nguyên tắc chung nhất về thời hiệu khời kiện và chỉ quy định thời hiệu khởi kiện trong một số trường họp cụ thể, đó là: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự là hai năm đối với các giao dịch dân sự được quy định tại các điều từ Điều 130 đến Điều 133 Bộ luật dân sự năm 2005; thời
hiệu mười năm đối với quan hệ dãn sự về thừa kế, quy định tại Điẻu 645 Bộ 1ÚỊ
dân sự năm 2005
Trước đây, Bộ luật dân sự năm 1995 không có quy định về thời hiệu khỏi kiện dối với các vi phạm hợp đổng dân sự Do đó, theo nguyên lý chung, các hợp đổng dân sự được xác lập từ ngày Bộ luật dân sự có hiệu lực thi hành m à có vi phạm thì bên bị vi phạm không bị hạn chế thời gian khởi kiện trước Toà án nếu pháp luật không có quy định khác (Thông tư Liên ngành số 03/TTLN ngày 10 tháng 8 năm 1996 của Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao) Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án nhân dân năm 1999 số 40/BC-VP ngày
11/3/2000 của Toà án nhân dân tối cao (tại trang 54) vẫn ghi nhận: “Do Bộ luật
dân sự không quy định vể thời hiệu khởi kiện nôn các giao dịch dân sự được xác lập từ ngày 1/7/1996 (ngày Bộ luật dân sự có hiộu lực pháp luật) không bị hạn chế
về thời hiệu khởi kiện” Với quy định thời hiệu khởi kiện chỉ là quy đinh chung nôn đã gây ra những khó khăn nhất định cho Toà án khi áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp dân sự trong thực tế
Ví dụ: Trước đây, thời hiệu khởi kiện về thừa k ế là mười năm được quy định
tại Điều 648 Bộ luật dân sự; về giao dịch dân sự vô hiệu là m ột năm theo quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật dân sự Nhưng trong pháp luật dân sự cũng có quy định những trường hợp thòi hiệu khởi kiện không bị hạn ch ế như: Các loại giao dịch quy định tại khoản 2 Điều 145 và Điều 169 Bộ luật dân sự
Trang 27Xét trong một phương diện tổng thể thì các loại thời hiệu trong pháp luật dân
sự có mối liên quan với nhau Vì rằng, bản chất của quan hệ dân sự là quyền của một chủ thể bao giờ cũng tương ứng với nghĩa vụ của chủ thể khác Do đó, khi một chủ thể có quyền yêu cẩu thực hiện nghĩa vụ dân sự thì chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiộn nghĩa vụ mà họ đã cam kết Theo nguyên lý chung, nếu một chủ thể không được hưởng quyển dân sự hoặc mất quyền khởi kiện khi đã hết thời hạn thì cũng có nghĩa là chủ thể có nghĩa vụ đương nhiên được miẻn trừ nghĩa vụ
Để khắc phục hạn chế trên, Điểu 159 Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định chi tiết hơn: “Bắt đẩu thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
1 Thời hiộu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
2 Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được tính từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác"
d Thòi hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
Đây là quy định mới được bổ sung vào Điều 155 Bộ luật dân sự năm 2005 Khoản 4 Điểu 155 Bộ luật dân sụ năm 2005 quy định: “Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là thời hạn m à chủ thể được quyền yêu cẩu Toà án giải quyết việc dãn sự
để bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước; nếu thời hạn đố kết thúc thì mất quyén yêu cẩu"
Theo quy định trên đây, viộc dân sự là không có tranh chấp giữa các chủ thể, nên thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được tính từ ngày phát sinh quyển yêu cầu Thời điểm phát sinh quyẻn yêu cầu xuất phát từ lợi ích thực tế của chủ thể
3 Cách tính thời hiệu
Mỗi ngành luật có sự phân loại thời hiệu, quy định cách tính thời hiệu theo những tiêu chí chung của pháp luật và những tiêu chí riêng của ngành luật đó Trong pháp luật hình sự: Trên cơ sở quy định tại Điểu 55 Bộ luật hình sự năm
1999 ngoài các loại thời hiệu theo thời hạn như đã nêu ở trên thì khoản 3 Điểu 55 quy định cách tính thời hiệu như sau: “Thời hiệu thi hành bản án hình sự được tính
từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật” Điều 288 Bộ luật tố tụng dân sụ quy định thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm: “Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm chỉ được tiến hành việc kháng nghị trong thời hạn ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật" Ngày bản
án có hiệu lực pháp luật được xác định là thời điểm tính thời hiệu tương tự như pháp luật hình sự
191
Trang 28Trong pháp luật dân sự, do tính chất đạc thù của các giao dịch dân sự nên
cách tính thời hiệu theo quy định tại Điéu 156 Bộ luật dân sự năm 2005 ngoài việc
căn cứ theo tiêu chí chung của pháp luật trên đây, còn được quy định dựa trên ca
sở một số tiêu chí riêng khác: “Thời hiệu được tính từ thòi điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thòi hiệu” Trên cơ sở tính chất đặc trưng của đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh trong Luật dân sự, nên cách tính thời hiệu trong pháp luật dân sự được quy định cụ thể như sau:
- Thời hiệu hưởng quyền dân sự và miễn trừ nghĩa vụ dân sự được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu Như vậy, thời hiệu được xác định theo tiêu chí là ngày một chủ thể bắt đầu chiếm hữu tài sản hoặc là ngày chủ thể bắt đầu thực hiện nghĩa vụ Theo nguyên tắc chung, hai loại thời hiệu trên đây không gián đoạn mà phải có tính liên tục từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc thời hiệu Nếu có sự kiện làm gián đoạn thì thời hiệu được tính lại từ đầu, sau khi sự kiện làm gián đoạn chấm dứt (khoản 2 Điều 158 Bộ luật dân sự năm 2005)
Căn cứ theo các quy định của Bộ luật dân sự tại các điều luật cụ thê thì ngày đầu tiên có thể được xác định theo các tiêu chí khác nhau
V í dụ- Ngày đẩu tiên được xác định là ngày giao nộp tài sản cho Uỷ ban
nhân dân xã, phường, thị trấn (quy định tại Điều 239 và Điều 241 Bộ luật dãn sự năm 2005) hoặc là ngày thông báo công khai (quy đinh tại Điều 242, 243 Bộ luật dân sự năm 2005) Để bảo đảm tính khái quát chung, nên Điều 156 Bộ luật dân sự nãm 2005 chỉ quy định là ngày đầu tiên khi xảy ra các sự kiện nhất định, để
từ đó tính thời hiệu Căn cú vào đặc điểm của pháp luật về thời hiệu và tính chất đặc trưng của đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh trong Luật dân sự, nên hiệu lực của thòi hiệu hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự được khoản 1 Điều 157 Bộ luật dân sự năm 2005 xác định như sau: “Trong truờng hợp pháp luật quy định cho các chủ thể được hưởng quyền dân sự hoặc miễn trừ nghĩa
vụ dân sự theo thời hiệu thì chỉ sau khi thòi hiệu đó kết thúc, việc hưởng quyền dân sự hoặc miễn trừ nghĩa vụ mói có hiệu lực”
- Thời hiệu khởi kiện trong pháp luật dân sự được xác định theo tiêu chí sau:
Đó là thời điểm quyền, lợi ích hợp pháp của một chủ thể bị xâm phạm Nghĩa là, thời điểm người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ nhưng họ đã không thực hiện các nghĩa vụ đó theo cam kết, thoả thuận hay theo quy định của pháp luật
V í dụ: Các bên thỏa thuận về ngày trả nợ trong hợp đồng vay hoặc ngày giao
tài sản trong hợp đồng mua bán nhưng đến ngày đó bên vay không trả, bện bán không giao tài sản Từ thời điểm này (ngày tiếp theo của ngày kết thúc thời hạn)192
Trang 29bên cho vay, bôn mua tài sản có quyển khởi kiện trước Tòa án sở tại yêu cầu bên vay phải trả nợ, bên bán phải giao tài sản Hoặc trong các trường hợp bồi thường thiệt hại trong các vụ án tai nạn giao thông, cố ý gây thương tích, cố ý huỷ hoại tài sản công dân mà các cơ quan nhà nuớc có thẩm quyển (thuờng là trong các bản
ấn của Toà án) đã ấn định thời điểm bên có hành vi vi phạm pháp luật phải thục hiện nghĩa vụ nhưng đến thời điểm đó bên có nghĩa vụ không thực hiộn nghĩa vụ bổi thưòng thiệt hại thì bên có quyền bị xâm phạm có quyển khởi kiện trước Tòa
án sở tại yêu cầu bên có hành vi vi phạm pháp luật phải thực hiện nghĩa vụ.Tuy nhiên, Điều 159 Bộ luật dân sự năm 2005 còn có quy định: Trừ trường hợp pháp luật quy định khác Do sự phong phú của các quan hệ tài sản và tính chất đậc thù của các giao dịch dân sự nên trong những truờng hợp cá biệt, pháp luật có quy định riêng về thời hiệu
Ví dụ: Trong các quan hệ dân sự liên quan đến nhà ờ, Nghị quyết về việc thi
hành Bộ luật dân sự của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá
IX, kỳ họp thứ 8 đã quyết nghị: “Đối với giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập tnróc ngày 01/7/1991 thì sẽ được thực hiện theo quy định của Quốc hội” Cụ thể hoá quy định này, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã có Nghị quyết số 58/1998/NQ- UBTVQH10 ngày 20/8/1998 hướng dẫn đường lối giải quyết đối với giao dịch dân
sự vể nhà ở được xác lập trước ngày 01 /7/1991 Theo hướng dẫn này, các giao dịch liên quan đến nhà ở truớc ngày 01/7/1991 không áp dụng thời hiệu
Trường hợp các bên không quy định thời hạn thực hiện nghĩa vụ, bên có quyển có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên này biết trước trong một thời gian hợp lý Chỉ sau khi kết thúc thời hạn đó mới coi là thời điểm vi phạm và bắt đầu tính thòi hiệu Trong một
số trường hợp, thời điểm vi phạm là thời điểm xác lập quan hệ (tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định tại Điểu 136 Bộ luật dân sự năm 2005) hoặc là thời điểm xảy ra một sự kiện nào đó (sự kiện một người chết là thòi điểm m ở thừa kế theo quy định tại Điểu 633 Bộ luật dân sự nãm 2005)
- Thời hiệu khởi kiện không được áp dụng khi yêu cầu hoàn trả tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nuớc Các yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân khi bị xâm phạm cũng không áp dụng thời hiệu khỏi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Việc không áp dụng thòi hiệu khởi kiện đối với các quan hệ nhân thân thuần tuý, không có sự liên hệ với tài sản được Luật dân sự coi là quyền tuyệt đối Đối với quyền nhân thân có liên hệ đến tài sản lại là vấn đề phức tạp có thể phải có những quy định về thời hiệu khởi kiện Thực tế này có thể sẽ xảy ra đối với các quyển nhân thân có liên quan đến tài sản nếu pháp luật có quy định
— Hiệu lực của thời hiệu hưởng quyén dân sự, miễn trừ thực hiện nghĩa vụ:
193
Trang 30Việc hưởng quyền dân sự hoặc miẽn trừ thực hiện nghĩa vụ chỉ có hiệu lực khi pháp luật quy định cho các chủ thể được hưởng quyền dân sự hoặc miên trừ thực hiện nghĩa vụ theo thời hiộu Chỉ sau khi thời hiệu đó kết thúc, việc hưởng quyền dân sự hoặc miễn trừ thực hiện nghĩa vụ mới có hiệu lực.
Theo nguyên tắc chung vể thời hiệu, thời hiệu hường quyền dân sự hoặc miễn trừ thực hiện nghĩa vụ có tính liên tục từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc Tuy nhiên, thòi hiệu sẽ đuợc tính liên tục trong các trường hợp việc hưởng quyền dân sự hoặc miễn trừ thực hiện nghĩa vụ hoặc quyền khởi kiện đã được chuyển giao hợp pháp cho nguời khác
Ví dụ: Một người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay
tình, liên tục, công khai một tài sản là động sản mà trong thời hạn để đuợc xác lập quyền sờ hữu theo thời hiệu thì người này lại bán tài sản đó cho người khác Trong trường hợp này thời hiệu cũng sẽ được tính liên tục đối với người đã được chuyển giao mới này Khi hết thời hạn (được xác định theo thời điểm của chủ thể đã chuyển giao), người đang chiếm hữu tài sản sẽ được công nhận quyền sở hữu tài sản theo thời hiệu mà không bị coi là có sự gián đoạn
Vì vậy, nếu có những sự kiện làm gián đoạn (phải do pháp luật dân sự quy định) thì thời hiệu phải được tính lại từ dầu, sau khi sự kiện làm gián đoạn đó chấm dứt Theo quy định tại khoản 2 Điều 158 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu hưởng quyền dân sự hoặc miễn trừ thực hiện nghĩa vụ bị gián đoạn khi có một trong những sự kiện pháp lý sau đây:
- Có sự giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với quyền, nghĩa vụ dân sự đang được áp dụng thời hiệu;
- Quyền, nghĩa vụ dân sự đang được áp dụng thời hiệu mà bị người có quyền, nghĩa vụ liên quan tranh chấp
Ví dụ: Một người đang chiếm hữu bất hợp pháp nhưng ngay tình, liên tục,
công khai một tài sản là bất động sản nhưng trong thời hạn để được xác lập quyền
sở hữu theo thời hiệu thì có sự việc liên quan đến tài sản đó hiộn đang được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết; việc xem xét, giải quyết cùa cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể theo trình tự hành chính, trình tự Toà án hay một trình tự pháp luật khác Hoặc quyền, nghĩa vụ dân sự của người đó đang trong thời hạn áp dụng thời hiệu để được công nhận quyền sở hữu tài sản theo thời hiệu
mà bị người có quyền, nghĩa vụ liên quan tranh chấp, khiếu nại
Căn cứ thực tế trên, khoản 1 Điều 158 Bộ luật dán sự năm 2005 đã quy định: Nếu có sự kiện làm gián đoạn thì thời hiệu phải được tính lại từ đẩu sau khi sự kiện làm gián đoạn chấm dứt Nghĩa là, thời điểm kết thúc việc giải quyết cùa các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền nói trên được xác định là thời điểm bắt đầu tính thời hiệu
194
Trang 314 Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện và bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện
a Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện
Theo nguyên tắc chung của pháp luật vẻ thời hiệu thì thời hiệu phải được tính liên tục, trừ trường hợp có sự kiện gián đoạn thời hạn Trong thực tế, thời hiộu khởi kiện có thể bị gián đoạn nếu phát sinh những sự kiện pháp lý nhất định được pháp luật dự liệu trưóc Theo nguyên tắc về thời hiệu khởi kiện thì những sự kiện thực tế nhất định này có tính chất khách quan và không phụ thuộc vào ý chí hoặc mong muốn của chủ thể Trong trường hợp này thời hiệu bị tạm dừng và khoảng thời gian diễn ra các sự kiện thực tế dó không tính vào thời hiệu khởi kiện Điều
161 Bộ luật dân sụ năm 2005 đã quy định thời gian có những sự kiện xảy ra sau đây sẽ không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự hoặc thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm người có quyền khởi kiện, có quyển yêu cầu khổng thê khởi kiện hoặc không thể yêu cầu giải quyết trong phạm vi thời hiệu Sự kiện bất khả kháng có thể là: Bị tai nạn, ốm đau phải đi chữa trị tại các cơ sở y tế, đi công tác đột xuất ở trong nước hay nước ngoài, người có nghĩa vụ bỏ trốn mà chưa tìm ra nơi cư trú Khi người có quyển, lợi ích bị xâm phạm khởi kiện vụ án dân sự hoặc yêu cầu giải quyết việc dân sự mà đã quá thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì phải xuất trình những bằng chứng cần thiết để chứng minh các sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan Toà án và những cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xem xét, đánh giá nhũng bằng chứng này Nếu có sự kiện thực tế làm gián đoạn thời hiệu mà đương sự xuất trình có cơ sở tin cậy thì phải trừ đi khoảng thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện
- Người có quyển khởi kiện hoặc quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự chưa thành niên, đang bị mất nâng lực hành vi dân sự, đang bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nhưng chưa có người đại diện Theo quy định của pháp Luật tố tụng dàn sự thì những người này không thể tự mình yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của họ
mà phải có người đại diện hợp pháp mới có thể thực hiện được quyền khởi kiện Khoản 3 Điểu 57 Bộ luật tố tụng dân sự đã quy định năng lực pháp Luật tố tụng dân sự và nãng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự như sau: “ 3 Đương sự là nguời từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ nãng lực hành vi tố tụng dân sự trừ người mất nãng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy dịnh khác 4 Đương sự là người chưa đủ sáu tuổi hoặc người mất nãng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp
195
Trang 32pháp của họ thực hiện" Người chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi đến chua đủ mưòi tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đổng lao động hoâc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng vể những việc có liín
quan đến quan hộ lao động hoặc quan hẹ dân sự đó Trong trường hợp này, khi cần
thiết, Toà án có thể triệu tập người đại diện của họ tham gia tố tụng Đối với những việc khác, người chua thành niên từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đù muời tám tuổi phải có người đại diện tham gia tố tụng nhung khi cẩn thiết Toà án hỏi thêm ý kiến của người chưa thành niên Theo quy định trên đây của pháp Luật tố tụng dân sự thì những nguời dưới mười tám tuổi chỉ được tham gia tố tụng khi có điều kiện nhất định và trong những quan hộ nhất định Do vậy, về nguyên tắc chung khi người có quyền, lợi ích bị xâm phạm (là người có quyển khởi kiện hoặc
có quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự) nhưng chưa thành niên, đang bị mất nàng lực hành vi dân sự, đang bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nhưng chưa có nguời đại diện hợp pháp thì phải tạm ngừng thời hiệu khởi kiện
- Người đại diện của ngưòi chưa thành niên, nguời mất nãng lực hành vi dân
sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết nhưng chưa có người đại diộn khác thay thế; hoặc người đại diện vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện được Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện trong trường hợp này cũng tương tự như các quy định ở mục trên Khi người đại diện chết hoặc vì các lý
do chính đáng khác như người đại diện cũng bị mất hoặc bị hạn c h ế năng lực hành
vi mà họ cũng không thể tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự của chính mình thì cũng không thể làm dại diện được Vì vậy, khi người đại diện chết nhưng chua
có người khác thay thế hoặc vì các lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục làm đại diện được thì cũng phải tạm ngừng thời hiộu khởi kiện
Ví dụ: Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định tại Điều 645 Bộ luật dân
sự năm 2005 là mười năm nhung có sự kiện như quy định tại khoản 2 Điều 161 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện được kéo dài bằng khoảng thời gian tương ứng kể từ ngày xảy ra sự kiện Nghĩa là, thời hiệu khởi kiên được kéo dài vì
có thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện Việc đại diện không chỉ đơn thuần
để khởi kiện giải quyết vụ án hoặc yêu cầu giải việc dân sự đúng thời hạn trước Tòa án mà người đại diện còn phải thực hiện những hành vi khác nhằm bảo vệ quyền, lợi ích cho người được đại diện
Quy định thời gian không tính vào thòi hiệu khởi kiện không áp dụng khi có
sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người có quyền không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu khởi kiện Tuy nhiên, người có quyền khởi kiện phải xuất trình những bằng chúng cần thiết để chứng minh các sự kiên bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan
Trang 33b Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện
Khác với việc tạm ngừng thời hiệu khởi kiện, trong đó khoảng thời gian xảy
ra trước khi có sự kiện tạm ngùng thời hiệu nhưng vẫn được tính vào thời hiệu chung thì bắt đẩu lại thời hiệu khởi kiện lại có một ý nghĩa pháp lý hoàn toàn khác Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện là viộc pháp luật dự liệu những sự kiện mà nếu sự kiện đó xảy ra thì thời hiộu khởi kiện sẽ được tính lại từ đầu Khoảng thòi gian trước khi xảy ra những sự kiện được Bộ luật dân sự dự liệu không tính vào thời hiệu chung
Các quy định vể bắt đẩu lại thời hiệu khởi kiện của Điều 162 Bộ luật dân sự năm 2005 được áp dụng chủ yếu trong các quan hệ nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự Tiêu chí để quy định bắt đầu lại thòi hiệu khởi kiên là hành vi thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với nguời có quyền Vì vậy, các quy định về thời hạn yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là hai năm sẽ không được áp đụng trong việc bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện
Về phương diện khoa học, các quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện chỉ được áp dụng khi Bộ luật dân sự có quy định thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thục thời hiệu khcri kiện Trước dây, Điều 168 Bộ luật dân sự năm 1995 và hiện
Ịềy Điều 159 Bộ luật dân sự năm 2005 chỉ quy định thời điểm bắt đẩu thời hiệu i&ãi kiện m à chua có quy định chung về thòi hạn của thời hiệu khcñ kiện đối với
[cỉc hành vi vi phạm hợp đổng dân sự Theo nguyên lý chung của thòi hiệu thì các hop đổng dân sự được xác lập từ ngày Bộ luật dân sự cố hiệu lực thi hành m à có vi phạm, bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không bị hạn chế thời gian khởi kiện nếu pháp luật không có quy định khác (quy định tại Thông tu Liên ngành số 03/TTLN ngày 10 tháng 8 năm 1996 của Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dãn tối cao đã nêu ở phần trên)
Chỉ khi nào Bộ luật dân sự quy định như quy định tại Điều 54 Pháp lệnh hợp đổng dân sự năm 1991 về thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự như truớc đây được quy định là ba năm thì các quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiên mới
có giá trị pháp lý khi áp dụng trong thực tiễn Vì vậy, hiện tại những căn cứ dự liệu tại Điều 162 Bộ luật dân sự năm 2005 chua thể áp dụng Điều 162 Bộ luật dân sự chỉ quy định các sự kiện theo nguyên lý chung của pháp luật dân sự, nên phần viết này cũng chỉ có tính chất nguyên lý chung của khoa học Luật dân sự
Điều 162 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định thòi hiệu khởi kiện bắt đầu lại trong những trường hợp sau đây:
- Bên có nghĩa vụ thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ Theo tiêu chí
VỂ thòi gian, việc thừa nhận nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ phải xảy ra trước thời điểm kết thúc thời hiệu mới có giá trị pháp lý
197
Trang 34Vi dụ: Nếu Bộ luật dân sự bổ sung quy định thời hiệu khời kiện chung là ba
nãm (hoặc có sự phân chia thời hiệu khởi kiện riêng cho từng loại quan hệ dân sự như Bộ luật dân sự một sô' nước quy định các loại thời hiệu hai nãm, bốn năm, năm năm ) thì bắt đầu lại thời kiện được xác định theo nguyên lý sau: Thời hạn thực hiện nghĩa vụ cuối cùng của bèn có nghĩa vụ là ngày 30/12/2007 nhưng bên
có nghĩa vụ đã không thực hiện nghĩa vụ Đây là thời điểm bắt đẩu tính thời hiệu khởi kiện: Khi quyẻn, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm Theo nguyên lý vẻ thời hiệu, nguời có quyẻn bị xâm phạm được quyẽn khởi kiện trong ba nãm Thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là ba năm tính từ ngày 01/01/2008 Nếu đến hết ngày 01/01/2011 mà người có quyền bị xâm phạm đã không khởi kiện thì bị mất quyền khởi kiện và người có nghĩa vụ đuợc miễn trừ việc thực hiện nghĩa vụ như quy đinh chung Nhưng nếu đến ngày 28/12/2011, bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ đối với người có quyền bằng một vãn bản cam kết tiếp tục thực hiện việc trả nợ thì ngày 29/12/2011 được coi là thời điểm bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện theo quy định chung là ba nãm tiếp theo sau khi có sự kiện thừa nhận kể trên Trong trường hợp này, người có quyền khởi kiện được khởi kiện trong thời hạn ba năm tiếp theo tính từ ngày 29/12/2011
Nếu quá thời hạn ngày 01/01/2012 người có nghĩa vụ mối có văn bản thoả thuận như trên thì đó chỉ là sự thể hiện mong muốn của ngưòi có nghĩa vụ trước người có quyền Nguời có nghĩa vụ có thể thực hiện hoặc không thực hiện nhưng người có quyền trong trường hợp này đã mất quyển khởi kiện theo thời hiệu nếu người có nghĩa vụ vẫn không thực hiện nghĩa vụ
- Bên có nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ Cũng tuơng tự như quy định tại điểm a khoản 1 Điều 162 Bộ luật dân sự năm 2005: Thời điểm bát đẩu lại thời hiệu khởi kiện đirợc tính từ ngày tiếp theo sau khi có sự kiện bên có nghĩa
vụ đã thực hiện xong một phẩn nghĩa vụ Pháp luật dân sự không có giới hạn thực hiện xong một phần nghĩa vụ cụ thể là bao nhiêu nhưng nếu dù là rất ít mả có bằng chúng thì cũng dược coi là thực hiện xong một phần nghĩa vụ
Ví dụ: A cho B vay 10 triệu đổng, khi gần hết thời hiệu khởi kiện của A và
do A đòi nợ gắt gao B chỉ trả được cho A 100 nghìn đồng (thậm chí ít hơn) Số tiền mà B đã trả trong trường hợp này được coi là đã thực hiện xong một phần nghĩa vụ Thời hiệu khởi kiện của A bắt đầu được tính lại là ba năm, kể từ ngày tiếp theo sau ngày B đã trả A một số tiền 100 nghìn đồng đó
- Các bén đã tự hòa giải với nhau theo quy dịnh tại điếm c khoản 1 Điều 162
Bộ luật dân sự năm 2005 Quy định này tương tự như các sự kiện tại điếm a điểm b khoán 1 Điều 162: Thời điểm bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện dược tính từ ngày tiếp theo sau khi có sự kiện các bên đã tự hoà giải với nhau Trong trườne hợp này, thời
Trang 35hiệu khởi kiện được bắt đẩu lại, kể từ ngày tiếp theo ngày xảy ra sự kiện các bẽn hoà giải Thông thường đó là sự nhận nợ của ngưòi có nghĩa vụ và sự dồng ý gia hạn thực hiện nghĩa vụ của người có quyền.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các quy định về thời hiệu nói chung và quy định
về bát dầu lại thời hiệu khởi kiện nói riêng không được áp dụng đối với trường hợp
có đối taợng là tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước không có căn cứ pháp luật; trong các trường hợp việc hưởng các quyền nhân thân của một chủ thể không gắn hoặc không liên quan với tài sản hoặc trong các trường hợp khác mà pháp luật có quy định
3 Thời hiệu trong Luật dân sự là gì và có những loại thời hiệu nào? Hãy phân tích các loại thời hiệu ấy
4 Thời hiệu có ý nghĩa như thế nào trong các giao dịch dân sự và trong trường hợp nào thì không áp dụng thời hiệu?
Trang 36Chương IV TÀI SẢN VÀ QUYỀN SỞ HŨU
A KHÁI QUÁT CHUNG VỂ s ở HỮU VÀ QUYỀN SỞ HỮU
I KHÁI NIỆM SỞ HỮU VÀ QUYỀN SỞ HỮU
1Ệ Sở hữu và quan hệ sở hữu"1
Con người - vói tính cách là một thực thể xã hội - chỉ có thể tổn tại và phát triển khi có những cơ sở vật chất nhất định Ngay từ thời kỳ sơ khai của xã hội loài người, ý thức về xã hội, về cộng đổng còn hạn chế nhưng người nguyên thủy theo thói quen cũng đã biết chiếm giữ hoa quả tự nhiên, chim thú săn bắt đuợc trong quá trình sinh sống Biết chiếm giữ và sử dụng những công cụ lao động giản đơn
để phục vụ cho nhu cầu của mình trong sinh hoạt thường ngày
Thời kỳ này sở hữu được hiểu chính là việc chiếm giữ những sản vật tự nhiên, những thành quả lao động (ngày nay còn bao gồm cả những tu liệu sản xuất) của xã hội loài người Nhiểu công trình khoa học nghiên cứu lịch sử, xã hội, triết học đều đã thống nhất rằng, sở hữu - một phạm trù kinh tế mang yếu tố khách quan - xuất hiện và phát triển song song cùng với sự xuất hiên và phát triển của xã hội loài người Tuy nhiên, ở thời kỳ bình minh của lịch sử xã hội loài nguời
“chưa có sự phân biệt rõ rệt về khái niệm “sở hữu” đối với tu liệu sản xuất và sức lao động” <2)
Mặt khác, con người muốn tồn tại phải thông qua các quan hệ xã hội, tức là
họ phải sống trong sự liên hệ với xã hội và cộng đồng Mối quan hệ giữa người với người trong quá trình chiếm hữu và sản xuất ra của cải vật chất trong xã hội là quan hệ sở hữu Quan hệ sở hữu phản ánh sự chiếm giữ các tư liệu sản xuất, các
(1) G hi chú: T ro n g phần tài sản và sờ hữu này chi đ ể c ậ p đ ế n nhữ n g tài sản hữu h ìn h , c ó tính chấl vật chất th eo tru y ền th ô n g cù a p h áp luật d ân sự, c ò n n h ững tài sản là q u y ề n sờ hữu trí tuệ có tính
c h ất, đặc đ iể m và với nhữ n g q u y chê riên g sẽ được đé c ậ p tại c h ư ơ n g X cù a g iá o trìn h vé quyẻn sờ hữu trí tuệ và c h u y ển g ia o cô n g nghệ D o c ó n h ững d ặc thù riê n g - là tài sản vô h ìn h trong nền
cô n g n g h iệp b ản q u y ển - nên Irong p h áp luật d ân sự, tín h c h át và qu y c h ế p h áp lý cù a hai loại sỏ hữu này kh ô n g thể viết c h u n g tro n g m ột chương.
(2 ) X em : L ịc h s ù triết học, T ậ p I , N X B T ư tường - V ăn h ó a, H à N ô i, 1992 tr 19
Trang 37vật phẩm tiêu dùng giữa người này với người khác, giữa tập đoàn này với tập đoàn khác, giữa giai cấp này với giai cấp khác trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Trên cơ sở phân tích các hình thái kinh tế - xã hội, c Mác đã chi ra rằng, bất cứ nển sản xuất nào cũng là việc con người chiếm hữu những đối tượng của tự nhiên trong phạm vi một hình thái xã hội nhất định Vì vậy, sở hữu là một phạm trù kinh tế.
Tùy thuộc vào bản chất của mỗi chế độ xã hội sẽ có một chế độ sở hữu cùng với những quan hệ sở hữu thích hợp, tuơng ứng với chế độ xã hội đó
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, do tính chất cộng đổng xã hội cao nên cuộc sống của mỗi cá nhân hẩu nhu hoàn toàn “hoà tan” vào cuộc trong cuộc sống cộng đổng Vì vậy, trong lịch sử phát triển của xã hội loài người đã từng tồn tại chế độ sở hữu công cộng vể tư liệu sản xuất Trong xã hội cổ sơ này, con người đã bắt đầu chiếm giữ và làm chủ các đối tượng của tự nhiên, hoa quả hái lượm, thú rừng săn bắt được, các sản phẩm thu được từ trồng trọt
Với một nền sản xuất và một tổ chức xã hội giản đơn, nên sở hữu trong thời
kỳ nguyên thủy chỉ là một khái niệm để phản ánh mối quan hệ giữa con người với nhau trong việc chiếm giữ những vật phẩm của tự nhiên mà họ thu giữ được trong quá trình sinh sống
Qua quá trình lao động, sản xuất cùng với những kinh nghiệm đã tích luỹ được, trình độ lao động của con người dần dần được nâng cao Cùng với sự phân công lao động xã hội, chãn nuôi và trồng trọt ngày càng phát triển, năng suất lao động theo đó cũng được nâng dẩn lên Do có năng xuất lao động nên xã hội không tiêu dùng hết sản phẩm làm ra và xuất hiện sự dư thừa sản phẩm Cũng do năng suất lao động ngày càng cao, vật phẩm trao đổi ngày càng rộng rãi dã làm cho số lượng của cải trong xã hội không ngừng tăng trưởng Trong xã hội và trong nhiều gia đình thời kỳ xã hội nguyên thuỷ đã bắt đầu có nhiều sản phẩm dư thừa và có sự tích lũy những sản phẩm dư thừa ấy
Quá trình phân hóa tài sản đã hình thành và trong xã hội bắt đẩu xuất hiện
kẻ giàu, nguời nghèo Những người có quyển hành trong các thị tộc, bộ lạc tìm mọi thủ đoạn, biện pháp để chiếm doạt số của cải dư thừa dó làm của riêng Tính chất cộng đồng của xã hội nguyên thuỷ dần dần bị phá vỡ Cùng với sự phân hoá
kẻ giàu, người nghèo quan hệ bóc lột xuất hiện và trong xã hội đã có sự phân chia đẳng cấp Sản xuất phát triển làm cho xã hội tiến bộ, sản phẩm dư thừa tăng nhanh nhung lại cũng là một trong những nguyên nhân làm cho xã hội cộng sản nguyên thủy bị tan rã Mô hình tổ chức xã hội theo kiểu “cộng đồng” đã không còn phù hợp khi lực lượng sản xuất và nền sản xuất phát triển
201
Trang 38Mâu thuẫn giữa những người bị áp bức, bóc lột và những kẻ áp bức bóc lột ngày càng quyết liệt và “không thể điẻu hoà được” Sự phân chia giai cấp nhằm chiếm hưởng các thành quả lao động diễn ra trong đời sống xã hội ngày càng sâu sắc Để bảo vệ lợi ích của mình và để duy trì xã hội trong một “trật tự” có lợi cho mình, giai cấp áp bức bóc lột có quyền thế nhưng với một tỷ lệ rất ít trong xã hội thấy cần phải có một bộ máy bạo lực để đàn áp sự phản kháng cùa giai cấp bị áp bức bóc lột Từ đây, xã hội phân chia thành các giai cấp đối lập nhau, xung đột vể quyền lợi và bắt đầu xuất hiện Nhà nước.
Khi xã hội đã có sự phân chia thành giai cấp thì vấn đẻ sở hữu có một vai trò rất quan trọng trong việc khảng định địa vị của mỗi giai cấp trong xã hội Giai cấp nào sớ hữu nhũng tư liệu sản xuất sẽ chiếm dịa vị dặc biệt trong xã hội và trờ thành nhũng người có quyển quyết định vận mệnh của số đông người lao động; tiến hành tổ chức sản xuất và phân phối các lợi ích vật chất trong xã hội theo ý chí cúa mình; làm cho các giai cấp khác phải lệ thuộc vào giai cấp mình Vì vậy, giai cấp có quyền sở hữu những tư liệu sán xuất trong xã hội sẽ là giai cấp quyết định chế độ xã hội, là giai cấp nắm quyền thống trị vể chính trị và tư tưởng đối với toàn
Mỗi chế độ sờ hữu của một thể chế xã hội có thể tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau Các hình thức sở hữu này có vai trò và vị trí khác nhau, có sự chi phối khác nhau đối với đời sống xã hội như thế nào trong đời sống xã hội còn tùy thuộc vào ý chí của giai cấp thống trị và bản chất cúa từng chế độ xã hội đó
2Ế K hái niệm quyén sở hữu
Khi các quan hệ sở hữu tồn tại như một yếu tố khách quan trong xã hội và xuất hiện chế độ tư hữu thì nhũng người giàu có và quyền thế thấy ràng, nếu chỉ điều hành xã hội bằng phong tục, tập quán sẽ không có lợi cho họ Muốn bảo vệ quyển lợi cho mình, cho giai cấp mình, nhất là việc bảo đảm quyển trong các quan
hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất chủ yếu thì giai cấp thống trị phải “đặt ra một cái
gì đó” khác với phong tục, tập quán và chi giữ lại những cái gì cùa phong tục, tập quán có lợi cho mình Mặt khác, trong quá trình phát triển, những quan hệ mới
phát sinh trong xã hội có giai cấp ngày càng phức tap, đòi hói siai cấn thnno trị
Trang 39phải có những phương tiện, công cụ đăc biệt, đổ Nhà nước thực hiện sự thống trị giai cấp.
Các quan hệ sở hữu có lợi cho giai cấp thống trị trong xã hội đã có sự phân chia giai cấp chính là cơ sở kinh tế để bảo đảm cho sự thống trị về chính trị và tư tường của một giai cấp đối với toàn xã hội Giai cấp thống trị phải sử dụng một bộ phận của pháp luật để thể hiện ý chí giai cấp của mình về sở hữu và trong việc tổ chức sản xuất, phân phối sản phẩm Là một hình thái của thượng tầng kiến trúc, pháp luật về sở hữu ghi nhận lợi ích và cúng cố địa vị của giai cấp thống trị đối với việc chiếm giữ các của cải vật chất trước các giai cấp khác trong quá trình sán xuất, phân phối, lưu thông Do đó, trong bất kỳ một Nhà nước nào, luật pháp về sớ hữu cũng được sử dụng với ý nghĩa là một còng cụ pháp lý có hiệu quả của giai cấp nắm chính quyền đế bảo vệ cơ sở kinh tế cùa giai cấp đó
Như vậy, quyền sở hữu được hiểu là một phạm trù pháp lý phản ánh các quan hệ sớ hữu trong một c h ế độ sở hữu nhất định, bao gồm tổnq /ỉỌp các quy phạm pháp luật nhằm điêu chình những quan hệ về sở hữu trong một c h ế độ xã hội Các quy phạm pháp luật vê sớ hữu có chức nănẹ xác nhận, quy định và báo
vệ quyển lợi cùa các chủ sớ hữu trong việc chiếm hữu, sứ dụng và đinh đoạt tài sàn.
Với tư cách là một ch ế định pháp luật, quyền sở hữu chỉ ra đời khi xã hội có
sự phân chia giai cấp và có Nhà nước Pháp luật vể sở hữu và Nhà nước có cùng một nguồn gốc và không thể tồn tại tách rời nhau Do đó, trong tương lai nó sẽ bị tiêu vong khi không còn Nhà nước
Pháp luật về sở hữu luổn luôn thể hiện tính chất giai cấp rõ rệt Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, c Mác đã chỉ ra rằng: “Nhung thừ hỏi lao động làm thuê, lao động của người vô sản có tạo ra sở hữu cho người vô sản không? Tuyệt đối không? Nó tạo ra tư bản, tức là cái sớ hữu bóc lột lao động làm thuê, và sở hữu này chi có thể tăng thêm với điểu kiện là sản xuất (hêm ra mãi mãi lao động làm thuê để lại bóc lột lao động đó thêm nữa” Vì vậy, pháp luật về sở hữu bao giờ cũng nhầm mục đích:
- Xác nhận và bảo vệ bằng pháp luật với một phương thức đặc biệt nhằm bảo đảm việc chiếm giữ những tư liệu sán xuất chú yếu của giai cấp thống trị trong đời sống xã hội
- Ưu tiên bảo vệ những quan hệ sở hữu phù hợp với lợi ích cúa giai cấp thống trị trong mội thế chế kinh tế và trong việc chi phối đời sống xã hội; đồng thời công nhận và báo vệ một số quan hệ sở hữu không cơ bán nhưng tồn tại khách quan trong mọi chế độ xã hội
203
Trang 40- Pháp luật về sở hữu tạo điều kiện pháp lý cẩn thiết bảo đảm cho giai cẩp
thống trị khai thác được lợi ích nhiểu nhất những tu liệu sản xuất đang chiếm hữu
để phục vụ cho sự thống trị
Pháp luật vể sở hữu xác định mức độ xử sự và các ranh giới hạn chế cho các chủ sở hữu trong phạm vi các quyền năng: Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với những tài sản thuộc sở hữu của mình
Với ý nghĩa trên đây, khái niệm quyển sở hữu trong khoa học Luật dân sự có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau từ những góc độ khác nhau
- Quyền sở hữu theo nghĩa rộng: Đó chính là pháp luật về sở hữu trong hệ thống pháp luật của một chế độ xã hội nhất định Do đó, quyền sở hữu là tổng hợp một hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành theo một trình tự, thủ tục nhất định để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, những tài sản khác trong dời sống xã hội theo quy định tại Điểu 163 Bộ luật dân sự
- Quyền sở hữu theo nghĩa hẹp: Được hiểu là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong những điều kiện, phạm vi nhất định Theo nghĩa này, có thể hiểu quyền
sở hữu chính là những quyẻn năng dân sự chủ quan của từng loại chủ sở hữu nhít định đối vối một tài sản cụ thể trong một quan hệ sở hữu Các quyền năng chủ quan này xuất hiện trên cơ sở nội dung của quy phạm pháp luật về sỏ hữu trong điều kiện cụ thể
- Ngoài ra, theo phương diện khoa học Luật dân sự quyền sở hữu còn được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự: Quan hệ pháp luật dân sự vể sở hữu Vì rằng, quyền sở hữu chính là kết quả của sự tác động của một bộ phận pháp luật về
sở hữu vào các quan hệ xã hội (các quan hệ sở hữu trong một chế độ sờ hữu) Vì vậy, theo nghĩa này quyền sở hữu bao gồm đẩy đủ ba yếu tố của quan hộ pháp luật dân sự là chủ thể, khách thể, nội dung như một quan hệ pháp luật nói chung
Do nhận thức được vai trò, ý nghĩa của pháp luật nói chung trong đời sốne xã hỏi