1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (Quyển 1): Phần 1

165 112 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 25,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 1 của giáo trình trình bày chương 1 và chương 2 với các nội dung: khái niệm chung về luật Dân sự Việt Nam, đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của Luật Dân sự Việt Nam, nguồn của Luật Dân sự Việt Nam, nhiệm vụ và các nguyên tắc của Luật Dân sự Việt Nam, chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, khái niệm chung về quan hệ pháp luật dân sự, cá nhân - chủ thể của Luật Dân sự, pháp nhân - chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự và các loại chủ thể khác của quan hệ pháp luật Dân sự.

Trang 2

PGS TS ĐINH VĂN THANH (Chủ biên)

Trang 3

Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Giáo dục Hà Nội -

Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam giữ quyển công bô' tác phẩm

Trang 4

L Ờ I G IỚ I T H IỆ U

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, pháp luật dân sự là phương tiện pháp lý quan trọng để các chủ thể xác lập, thục hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự nhằm thoả mãn các nhu cẩu vật chất trong sinh hoạt, tiêu dùng hoặc trong sản xuất, kinh doanh Đây là những quan hệ xã hội có tính chất phổ biến trong cuộc sống của mỗi người dân, của mỗi cơ quan, tổ chức trong hoạt động quản lý hoặc trong sản xuất, kinh doanh

Xác định được ý nghĩa quan trọng của pháp luật dân sự trong việc thúc dẩy nền kinh tê' - xã hội phát triển, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá

IX, Quốc hội nuớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua

Bộ luật dân sự ngày 28 tháng 10 năm 1995 (có hiệu lực thi hành từ ngày

1 tháng 7 năm 1996) Sau gần mười năm thực hiện, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá XI, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Bộ luật dân sự mới, ngày 14 tháng 6 năm 2005 (có hiệu lực thi hành

từ ngày 1 tháng 1 năm 2006) Với ý nghĩa đó, Điều 1 Bộ luật dân sự năm

2005 tiếp tục quy định: "Bộ luật dân s ụ có nhiệm vụ bào vệ quyền và lợi

ích hợp pháp cùa cá nhân, tổ chức, lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, bào đàm sự bìnlĩ đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dàn sự, góp phàn tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thán cùa nhân dán, thúc đẩy sự phát triển kinh t ế - x ã h ộ i,ậ.

Bộ luật dân sụ nãm 2005 đã tiếp tục pháp điển hoá một bộ phận quan trọng các quan hệ xã hội trong lĩnh vục tài sản và nhân thân, tạo cơ

sở pháp lý nhằm tiếp tục giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy dân chủ và bảo đảm công bằng, quyền con người vé dân sự; quy định địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân và các chủ thê khác trong giao lưu dãn sự; xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách úng xử cùa các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự Từ kết quả khảo sát tình hình thực thi các quy định trên thực tế, Bộ luật dàn sự năm 2005 đã sửa đổi, bổ sung nhũng quy định không còn phù hợp, sửa đổi nhũng quy định còn mang tính chất chung chung; loại bò các quy định mang tính chất hành chính trong quan hệ dãn sự (tại những phần tircmg úma); sứa đổi những bất cặp

Trang 5

mâu thuẫn liên quan đến các đạo luật khác như quy định về quyẻn sử dụng đất của cá nhân, tổ chức và viộc chuyển quyển sử dụng đất theo Luật đất đai năm 2003; các quy định liên quan đến đối tượng sờ hữu công nghiệp; sửa đổi để bảo đảm tính tương thích với các điéu ước quốc tế, thông lệ, tập quán quốc tế, nhất là các quy định vẻ hợp đổng, sờ hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ.

Là một bộ luật lớn, có tới 777 điều luật và với những đặc trung riêng vẻ đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh, nên nếu chỉ đọc

Bộ luật dân sự thì sẽ khó có thể hiểu toàn bộ các quy định trong Bộ luật

và sẽ khó khăn trong vận dụng cũng như áp dụng Khoa học Luật dân sự không chỉ là những quy định cụ thể trong từng điẻu luật mà còn có sự liên quan, chi phối của ngay chính các điểu luật trong Bộ luật dân sự và trong các vãn bản pháp luật có liên quan được Bộ luật dân sự dẫn chiếu

Nhằm dáp ứng kịp thời nhu cầu học tập của học viên hệ Đào tạo từ

xa và những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy quan tâm, Viện

Đại học Mở Hà Nội tổ chức biên soạn cuốn "Giáo trình Luật dân sự Việt

N a m ’’ theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 và các văn bản pháp

luật có liên quan Tham gia biên soạn giáo trình là những giảng viên có kinh nghiệm và đã giảng dạy nhiẻu năm tại Trường Đại học Luật Hà Nội

Do mục đích ban đẩu, giáo trình được biên soạn cho đối tượng học viên hệ từ xa là chủ yếu Tuy nhiên, cuốn giáo trình này cũng rất bổ ích đối vói sinh viên hộ đào tạo chính quy và các hộ đào tạo tập trung khác

Mặc dù đã có nhiẻu cô' gắng trong quá trình biên soạn, tập thể tác giả không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các dộc giả, học viên, và các đồng nghiộp để chỉnh lý cho lần xuất bản sau được hoàn thiện hơn

NHÓM TÁC GIẢ

Trang 6

Chương I

KHÁI NIỆM CHUNG VỀ LUẬT DÂN SựVIỆT NAM

A ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT DAN s ự v i ệ t n a m

I K H Á I Q U Á T CH U N G VỂ P H Á P LU ẬT DÂN s ự

Bộ luật dân sự dầu tiên của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được

kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá IX thông qua toàn văn ngày 28 tháng 10 năm 1995 với 838 điều luật (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/1996 được công bố theo Lệnh của Chủ tịch nước số 44/L-CTN ngày 9/11/1995) Bộ luật này dã được thay thế, ban hành mới tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XI ngày 14 tháng 6 năm 2005 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006 được công bô' theo Lệnh của Chủ tịch nước

số 06/2005/L-CTN ngày 27/6/2005) vẫn là một đạo luật thành văn lớn nhất trong

hệ thống pháp luật Việt Nam với 777 điều luật Theo một nghĩa rộng, pháp luật dân sự còn bao gồm cả một phần Luật đất đai, Luật thương mại, Luật ngân hàng (phần liên quan đến việc vay và cho vay), Luật lao động Trong quá trình điều chỉnh các quan hộ tài sản với những tính chất đặc trưng riêng thì Luật dân sự có thể được xem là “đạo luật gốc”, quy định các nguyên tắc cơ bản Các vấn đề cơ bản nhất được quy định trong Bộ luật dân sự nhưng Luật dân sự còn bao gồm cả một hệ thống các văn bản pháp luật của nhũng cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Quy định, giải thích, hướng dẫn áp dụng về một vấn đề cụ thể nào đó trong quá trình thực hiện Vì vậy, trong quá trình áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ liên quan nhiều đến các văn bản này Theo sách “Chỉ dẫn

áp dụng các quy định khác của Bộ luật dân sự” của Viộn nghiên cứu khoa học pháp lý-Bộ Tư pháp do Nhà xuất bản Lao động xuất bản năm 2000 thì các văn bản pháp luật có liên quan này được in trong một cuốn sách có độ dày đến 2.280 trang.Khi tìm hiểu khái quát chung về pháp luật dân sự nói riêng, trước hết cần hiểu: Luật dân sự chi điều chỉnh các mối quan hệ của con người với nhau trong cuộc sống hàng ngày, các quan hệ vể đời sống, sinh hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất, kinh doanh Mối quan hộ trao đổi giữa các chủ thể dựa trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, tự do ý chí luôn là trọng tâm và là nền tảng cho sự tồn tại của xã hội Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, Luật dân sự ngày càng có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, nhất là từ khi nước ta gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) ngày càng tăng Theo số

Trang 7

liệu đuợc công bố trên các phương tiộn thổng tin đại chúng tại trang web- tintuconline, vietnamnet/vn/vn/kinhte/182209 ngày 20/1/2008 thì dòng vốn FDI năm 2007 đầu tu trực tiếp vào Việt Nam đạt 20,3 tỷ USD, dự kiến năm 2008 có thể dao động từ 21-25 tỷ USD.

Việc điều chỉnh các quan hệ xã hội có tính chất đặc trưng và sự cần thiết phải có sự điều chỉnh bằng pháp luật dân sự với nhóm quan hệ xã hội là một vấn

đề không thể thiếu trong một nền kinh tế hàng hoá Đây là cơ sở để thực hiện mục đích duy trì, phát triển quan hệ xã hội trong các lĩnh vực tài sản, nhân thân và quan trọng là duy trì một “trật tự pháp lý” trong trao đổi hàng hoá, lưu thông dân sự Nhà nước "với bản chất là một bộ máy chính trị - hành chính, một cơ quan cưỡng chế” 1 cao nhất sử dụng pháp luật để duy trì xã hội trong một trật tự nhất định cũng chỉ là để bảo đảm cho các hoạt động của các chủ thể trong đòi sống xã hội được tiến hành bình thường trong sự bảo đảm ổn định, an toàn pháp lý, trong đó có quan

hệ trao đổi hàng hoá - tiền tệ

Không ai có thể phủ nhận rằng, con người (với tính cách là một thực thể trong đời sống xã hội) muốn tồn tại và phát triển lại không cần đến những điểu kiện sinh hoạt nhất định Đó là những điều kiện vật chất thiết yếu bảo đảm cho sự sinh tồn như: Lương thực, thực phẩm để ãn; nhà để ở; các phương tiện đê’ đi lại; các phương tiện thông tin, liên lạc; các hoạt động giải trí, dịch vụ Các điều kiện vật chất, tinh thẩn ngày càng phong phú và đa dạng cùng vói sự phát trién của xã hội, của nền sản xuất hàng hoá và với nền vẫn minh tiến triển không ngừng, nhằm thoả mãn và đáp ứng các nhu cầu của con người trong suốt quá trình tồn tại Muốn thoả mãn những nhu cầu ngày càng tăng trong một xã hội văn minh, các chủ thể phải thoả thuận, xác lập với nhau những giao dịch dân sự nhất định để đạt đuợc mục đích đó

Trong một cộng đổng xã hội có sự phân công lao động ngày càng cao, cùng với sự tiến bộ không ngừng trong việc áp dụng các thành tựu khoa học-kỹ thuật, con người đã tạo ra một khối lượng vật chất ngày càng nhiều cho xã hội Song song với việc tạo ra một khối lượng của cải vật chất đó, nhu cầu về cuộc sống của mỗi con người cũng ngày càng đa dạng, phong phú và không ngừng được nâng cao Mỗi cá nhân muốn thoả mãn các nhu cầu mọi mặt về vậl chất, tinh thần văn hoá; thoả mãn các nhu cẩu trong sản xuất, kinh doanh hoặc phục vụ sinh hoạt tiêu dùng phải thông qua các hoạt động trao đổi, giao dịch với những cá nhân, tổ chức khác trong xã hội Nghĩa là, họ phải thiết lập những quan hệ với cá nhân tổ chức khác bằng những quan hệ dân sự Thông qua các quan hệ đó, các cá nhân và các chú thể mới có thê’ thoả mãn các nhu cầu cùa mình

( ] ) X em : G iá o trình L ý luận N h à nước và p h á p luật, T rường Đ ại học L u ật H à N ội N X B C ông an

n hãn dân n ăm 20 0 0 tr 203.

Trang 8

Ví dụ: Để thoả mãn nhu cầu vể chỗ ờ, cá nhân đó phải tham gia vào quan hệ

mua bán nhà hoặc thuê nhà Để thoả mãn nhu cầu tồn tại như: ăn, uống, quần áo mặc cá nhân đó phải tham gia những quan hệ mua bán, trao đổi sản phẩm ở các quầy hàng lương thực, thực phẩm hoặc ở các siêu thị, chợ thị trường tự d o Khi cần vốn để sản xuất, kinh doanh nếu chủ thể là doanh nghiệp phải tham gia các quan hệ vay tại các tổ chức Ngân hàng, tín dụng; trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội phải có những giao dịch cung ứng sức lao động, nguyên liệu, vật liệu, hoá chất v.v

Trong đời sống thực tế hàng ngày, chúng ta đều thấy rằng, đối với những quan hệ trao đổi tài sản giản đơn, giá trị trao đổi không lớn, thông thường được thực hiện theo thói quen và tập quấn Đối với những quan hệ trao đổi này thường được thực hiện trực tiếp bằng lời nói khi thoả thuận, cam kết giữa các chú thể và rất ít khi xảy ra tranh chấp Nhưng đối với tài sản có giá trị lớn, việc trao đổi phức tạp (thường có đối tượng là bất động sản) thì pháp luật phải quy định các trình tự, thú tục nhất định, nhằm hướng dẫn và buộc các bên tham gia quan hệ đó phải tuân theo để bảo đảm sự ổn định và an toàn pháp lý các quan hệ đó

Việc quy định của Luật dân sự Irong các chế định cụ thê đểu nhằm mục đích

"Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xứ của

cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thê' về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)

Bộ luật dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích cùa Nhà nước, lợi ích công cộng; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điểu kiện đáp ứng nhu cẩu vật chất và tinh thần cúa nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” (Điều 1 Bộ luật dân sự năm 2005)

Đẽ’ điều chinh nhũng quan hệ tài sản và một số quan hệ nhân thân, nhằm duy trì chúng theo một trật tự nhất định, Nhà nước ban hành các quy tắc xử sự hoặc thừa nhận những xử sự theo tập quán tiến bộ và được Nhà nước bảo đàm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế Các quy tắc xứ sự được Nhà nước ban hành hay thừa nhận nhằm điểu chính các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân được gọi là quy phạm pháp luật dãn sự Thông qua sự tác động của các quy phạm pháp luật dân sự đối với các quan hệ xã hội, sẽ làm cho các quan hệ xã hội trở thành quan hệ pháp luật dân

sự Đây là căn cứ phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ tài sản và một sô quan hệ nhân thân theo một trình tự và theo một sự dự liệu nhất định

Vì vậy, pháp luật dân sự là tống hợp những nguyên tắc và các quy phạm có nhiệm vụ điều chinh các quan hệ tài sản về sở hữu về nghĩa vụ dân sự và hợp đổng dân sư thừa kế, chuyên quyển sử dụng đất, quvền sở hữu trí tuệ và chuyển

Trang 9

giao công nghệ, một số quan hệ vể nhân thân Pháp luật dân sự còn quy định địa vị pháp lý của từng loại chủ thể, cách thức ứng xử và những giới hạn ứng xử của từng loại chủ thể trong các giao dịch dân sự.

Là một ngành luật độc lập trong một hệ thống pháp luật thống nhất nhưng pháp luật dân sự không mang tính chất “trừng trị”, “răn đe” không bắt buộc các chủ thể nhất thiết phải tuân theo trong mọi điều kiện, hoàn cảnh hoặc là m ột sự cấm đoán tuyệt đối; tính chất “cưỡng chế” trong Luật dân sự cũng có những đặc trưng riêng Sự tuỳ nghi trong cam kết, thoả thuận của các chủ thể nhằm xác lập những quyền, nghĩa vụ dân sự trong các giao dịch dân sự được Nhà nước tôn trọng

và luôn được sự bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế Trong nhiều trường hợp, với tính chất là một quy phạm pháp luật nhưng nó lại có nội dung hướng dẫn, chì dẫn

để các chủ thể khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự biết và làm theo, bao gổm cả việc thỏa thuận chế tài hoặc trách nhiệm trong những trường hợp cần thiết

Do đó, pháp luật dân sự - vói tính chất là một ngành luật độc lập, có đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh với những nét đặc trưng riêng và mang tính chất bao quát phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ để điều chỉnh những nhóm quan hộ xã hội nhất định

I I ễ Đ ỐI TƯ ỢNG Đ IỂU C H ỈN H CỦA LU Ậ T DÂN s ự V IỆ T NAM

Theo truyền thống và theo thông lệ trong khoa học pháp lý, mỗi ngành luật đều có đối tượng nghiên cứu và đối tượng điểu chỉnh riêng Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là những nhóm quan hệ xã hội nhất định Đó là nhóm quan hệ giữa “người với người” có những tính chất và nội dung tương tự Nhóm quan hộ xã hội giữa “người với nguời” đó gọi là đối tượng điều chỉnh của một ngành luật nhất định Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là một trong những tiêu chí cơ bản

để phân định các ngành luật khác nhau trong một hệ thống pháp luật

Đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự-theo khoa học Luật dân sự, là những nhóm quan hệ xã hội giữa “người với người” , phát sinh trong cuộc sống hàng ngày Đó là nhóm quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phát sinh trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông, trao dổi, tiêu dùng nhằm thoả mãn những nhu cầu mọi mặt của các chủ thể trong sản xuất, kinh doanh hoặc trong sinh hoạt, tiêu dùng của đời sông xã hội Đây là những quan hệ rất phức tạp và đa dạng trong cộng đồng xã hội

Khác với những môn khoa học pháp lý khác, khi nghiên cứu về quan hệ giữa

“người với người” trong lĩnh vực tài sản và nhân thân, Luật dân sự nghiên cứu các

Trang 10

quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân tương đối toàn diện và mang tính chất tổng thể; xác định địa vị pháp lý của từng loại chủ thể khác nhau trong các quan hệ đó Đối tượng nghiên cứu của Luật dân sự là những vấn đề có tính chất chung, cơ bản của một ngành luật “gốc”, có cơ chế điéu chinh, nguyên tắc áp dụng và vói những quy luật riêng.

Phạm vi đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự trong đời sống xã hội rất phong phú và đa dạng Tại đoạn 1 Điều 1 Bộ luật dân sự đã xác định phạm vi điều chỉnh của Luật dân sự khá bao quát là quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, gọi chung là quan hệ dân sự

2 C ác nhóm đối tượng điều chinh

Theo truyẻn thống và theo thông lệ nếu xét dưới góc độ quan hệ xã hội giữa

“người vói người", khoa học pháp lý phân chia pháp luật dân sự điểu chỉnh hai nhóm quan hệ cơ bản sau dây:

Chù thê tham gia vào các quan hệ tài sản do Luật dân sự điều chỉnh cũng đa dạng, bao gồm: Cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác Trong một sô trường

Trang 11

hợp, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng có thể là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự nhưng với tư cách là một chủ thể đặc biệt.

Phạm vi các quan hệ tài sản trong Luật dân sự bao gồm: Các quan hệ vể sờ hữu; các quan hệ vẻ mua bán, trao đổi, cho vay, cho thuê các tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt, tư liệu tiêu dùng; các quan hệ vẻ dịch vụ như: Gửi giữ, vận chuyển hành khách, vận chuyển hàng hoá, gia công; các quan hệ vẻ uỷ quyền, về bảo hiểm; các quan hệ là những giao dịch một bên (còn gọi là hành vi pháp lý đơn phương) như: Thừa kế, hứa thưởng và thi có giải v.v

Trong điều kiện hiện nay, hàng hoá còn có thể được hiểu là: Sức lao động, các giấy tờ có giá trị, các quyền tài sản (bao gồm cả quyên tài sản trong các quan hệ vể sờ hữu, hợp đồng; trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và chuyển giao côngnghệ)

- Quan hệ tài sản trong Luật dân sự luôn gắn với quan hệ sản xuất và bị quan hệ sản xuất chi phối Mặc dù vậy, quan hệ tài sản trong pháp luật dân sự không phải chỉ là quan hệ có tính chất “vật chất thuần tuý” mà còn có tính chất ý chí Mỗi quan hệ tài sản cụ thể trong Luật dân sự luôn phản ánh ý chí, nguyện vọng, mong muốn của chù thể; phản ánh những mục đích và động cơ nhất định cúa chù thể khi tham gia quan hệ dân sự Do dó, các quan hệ tài sản trong Luật dân sự luồn luôn có tính chất ý chí Điểu đó dược thể hiện trong các quan hệ dân

sự là: Trước hết, quan hệ tài sản luôn phản ánh và ghi nhận ý chí của các chủ thể tham gia trong tất cả các quan hệ dân sự cụ thể Trong thực tế, tiển để để hình thành quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự dựa trên cơ sở thống nhất ý chí chung của các bên Các quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự chính là sự ghi nhận và biểu hiện ý chí của các chủ thể ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định

Pháp luật dân sự tôn trọng ý chí của các chủ thể trong quá trình cam kết, thoả thuận để xác lập giao dịch dân sự nhưng trong giao lưu dân sự ý chí đó phải phù hợp với ý chí của Nhà nước Nghĩa là, phải phù hợp với những quy định chung của pháp luật dân sự Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo

cơ chế thị trường có sự quản lý cùa Nhà nước với nhiều hình thức sở hữu và hình Ihức kinh doanh khác nhau thì việc quy định của pháp luật dân sự là “công cụ pháp lý” có hiệu quả để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý, tác động đến các giao dịch dân sự là rất cần thiết Sự bảo đảm của pháp luật là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển và ổn định giao lưu dân sự trong lĩnh vực tài sản Đóng thời,

vì lý do an ninh, quốc phòng trong một số trường hợp nhất định Nhà nước quy định giới hạn cẩn thiết đê các chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự cần phải biết những hạn chế dó và phái tuân theo

- Do tính chài trao đổi cùa các quan hệ dân sự, nên quan hệ tài sản do Luật dãn sự điểu chinh luôn có tính chất “hàng hoá-tiẻn tệ” với đặc trung cơ bán là tính chất giá trị và phải tính được bầng tiền Không thê được coi là tài sán nêu tư bản

Trang 12

thân “nó” không có tính giá trị, không xác định được bằng tiền Mục đích và mong muốn của các chủ thể trong giao luu dân sự chính là lợi ích, được thể hiện qua giá trị sử dụng của hàng hoá; nhưng muốn có được giá trị sử dụng thì phải thực hiện

sự trao đổi bằng giá trị của hàng hoá; chịu sự chi phối của quy luật giá trị Với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phẩn theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước như hiện nay thì các tài sản (bao gồm cả quyẻn tài sản) phần lớn được thể hiện dưới dạng hàng hoá và có giá trị trong trao đổi

Tuy nhiên, những tài sản thuộc sở hữu toàn dân theo quy định tại Điều 17 Hiến pháp năm 1992 và Điều 200 Bộ luật dân sự nãm 2005 thì không thể trở thành hàng hoá Việc chuyển quyền sử dụng đất (là loại quyền tài sản đặc biệt) sẽ được thực hiện theo một trình tự, thủ tục riêng, được quy định tại Phần thứ năm, Bộ luật dân sự và pháp luật vể đất đai

- Quan hệ tài sản bị quy luật giá trị chi phối, nên dặc trưng của các quan hệ tài sản mà pháp luật dân sự điều chỉnh còn được thể hiện ờ tính chất đền bù tương đương trong trao đổi Các chủ thể tham gia trong các giao dịch dân sự cụ thể có thê’ có những dộng cơ, mục đích khác nhau nhung đẻu thống nhất ý chí với nhau trong việc thực hiện giá trị trao đổi trong quan hệ dân sự Một trong những nguyên tắc cơ bản khi thực hiện trao đổi giá trị chính là sự đền bù ngang giá trị Một chủ thể của quan hệ dân sự cụ thể muốn hưởng, muốn nhận một giá trị tài sản thì phải đổi bằng một giá trị tương đương và ngược lại Đó là nguyên tắc cơ bản trong trao đổi hàng hoá của giao lưu dân sự Nguyên tắc này là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy giao lưu dân sự và nền sản xuất phát triển

Tuỳ thuộc vào tính chất của từng giao dịch dân sự cụ thể và sự cam kết, thoả thuận của các chủ thể trong giao lưu dân sự mà tính chất đền bù tương dương có thê’ là: Việc trao đổi giá trị là một khoản tiền phải trả cho bên kia, là tài sản (trong hợp đổng trao đổi) hoặc các vật có giá trị khác giữa các bên khi tham gia giao dịch dân sự Điểu này hoàn toàn tuỳ thuộc vào ý chí, nội dung cụ thể mà các chủ thể cam kết, thoả thuận với nhau trong quá trình xác lập giao dịch dân sự

Trong lĩnh vực dân sự còn có một sô' quan hệ tài sản không có tính chất đền

bù tương đương hoặc có tính chất trao đổi ngang giá trị theo quy luật giá trị Đó là các quan hệ: Cho mượn, tặng cho, cho vay không lấy lãi, thừa kế, sử dụng tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật không mang tính chất kinh doanh đê kiếm lợi nhuận v.v Các quan hệ này cũng là đối tượng điểu chính của pháp luật dân sự Tuy nhiên, nhóm các quan hệ dân sự trẽn đây không phải là cơ bản và phổ biến trong pháp luật dân sự

Ngoài ra, cũng cần thấy rằng, không phải toàn bộ các quan hệ tài sản trong đời sống xã hội đều do Luật dân sự điều chinh Việc xác định quan hệ đó có phái là đối tượng điều chính cúa pháp luật dân sự hay không còn tuỳ thuôc vào các yếu tố:

Trang 13

Tính chất của giao dịch đó, đặc trưng của chủ thể khi tham gia giao dịch, quyền bình dẳng và vấn đé tự do cam kết, thoả thuận giữa các chủ thể trong giao dịch

V í dụ: Cũng là quan hộ tài sản nhưng việc mua bán hàng hoá với nuớe ngoài

sẽ do Luật đầu tư hoặc Luật thương mại điều chỉnh Những quan hệ m ua bán nhưng với mục đích kinh doanh thu lợi nhuận của các thương gia, các doanh nghiệp thương nghiệp sẽ do Luật thương mại điếu chỉnh Việc cấp đất, cho thuê đất có thời hạn liên quan đến các thủ tục hành chính và sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền lại do Luật đất đai quy định

b Nhóm quan hệ nhân thân

* Khái niệm

Ngoài việc điều chỉnh các quan hệ tài sản, pháp luật dân sự còn điều chỉnh một số các quan hệ nhân thân trong đời sống xã hội Quan hệ nhân thân chính là những quan hệ được hình thành từ một giá trị tinh thần của một cá nhân hoặc một

tổ chức và luôn gắn liền với cá nhân hoặc tổ chức đó Quan hệ nhân thân trong Luật dân sự có thể gắn liền với tài sản hoặc không gắn liền với tài sản

Các quan hệ nhân thân trong đời sống xã hội, tùy theo tính chất cũng được nhiều ngành luật khác nhau trong m ột hộ thống pháp luật điều chỉnh Tuỳ thuộc vào tính chất của ngành luật đó mà viộc điều chỉnh các quan hệ nhân thân sẽ được thực hiện bằng những phương pháp, cách thức khác nhau

V í dụ: Ngành luật hành chính quy định về viộc xác định các quyền nhân thân

trong lĩnh vực phong tặng các danh hiệu cao quý của Nhà nuớc cho m ột cá nhân hoặc tổ chức như: Tặng thường các loại huân chương, huy chưcmg; phong tặng các chức danh hoặc danh hiệu trong các lĩnh vực khoa học, văn hoá, nghệ thuật Ngành luật hình sự quy định là tội phạm và áp dụng trách nhiệm pháp lý hình sự bằng một hình phạt đối với những người có hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, vu khống, làm nhục hoặc xúc phạm người khác

- Đa số các quan hệ nhân thân là đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự không có tính chất “giá trị kinh tế” và không có nội dung tài sản

Trang 14

Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ nhân thân bằng các biện pháp truyền thống như: Buộc chấm dứt hành vi vi phạm, cổng khai xin lỗi, cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm phục hổi tình trạng ban đầu như trước khi

bị vi phạm Trong một số trường hợp khi người có quyền nhân thân bị xâm phạm ngoài quyền tự mình cải chính, còn có quyền yêu cầu được bảo vệ Toà án có thể buộc người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm phải bổi thường thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần (khoản 3 Điều

25 Bộ luật dân sự năm 2005)

* Các loại quan hệ nhân thân trong Luật dân sự

Các quan hệ nhân thân do pháp luật dân sự điều chỉnh có thể chia thành hai nhóm cơ bản sau đây:

- Một là: Nhóm các quan hệ nhân thân có mối liên hệ trực tiếp (hoặc gián tiếp) với các quan hệ tài sản

Trong nhóm quan hệ này, tính chất nhân thân là tiền dề dể làm phát sinh các quan hệ tài sản (hoặc các quan hệ tài sản dược xác định trên cơ sở đã xác định cụ thể các quan hệ nhân thân)

Ví dụ: Các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền sở hữu

công nghiệp và chuyển giao công nghệ Tác giả có thể đặt tên gọi cho công trình khoa học, đặt tên cho tác phẩm văn học, nghệ thuật; tác giả cố thể ghi tên thạt của tác giả hay chỉ ghi bút danh, bí danh để đứng tên trong tác phẩm vãn học, nghộ thuật, công trình khoa học của mình Các quyển này chính là các quyền về nhân thân của chủ thể

Cùng với những quyền nhân thân trên đây, tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, công trình khoa học còn được hưởng một khoản tiền nhuận bút, tiền thưởng hoặc tiền thù lao nhất định từ các công trình, tác phẩm đó theo quy định chung của pháp luật

- Hai là: Nhóm các quan hệ nhân thân không có liên quan đến các tài sản

Đó là quan hệ nhân thân thuần tuý không có mối liên hệ với quan hệ tài sản nhưng có tính chất khá phổ biến trong đời sống xã hội, như: Tên gọi và quyền thay đổi tên gọi; hình ảnh và quyền của cá nhân đối với hình ảnh; nhân phẩm; uy tín; danh dự và các quyền được bảo đảm; bí mật đời tư; quyền được bảo đảm an toàn

về tính mạng, sức khỏe, thân thể; quyền được hiến và nhận bộ phận cơ thể; quyền xác định lại giới tính; quyền tự do cư trú, quyền lao động, quyền tự do kinh doanh,

tự do sáng tạo v v và một số quyền nhân thân khác lần đầu được quy định cụ thể tại mục 2 Chương III Phần thứ nhất Bộ luật dân sự năm 2005

Trước đây, để bảo vệ nhóm quan hệ nhân thân này Luật dân sự quy định chỉ

áp dụng các biện pháp: Tự mình cải chính hoặc yêu cầu người vi phạm phải xin lỗi; cải chính công khai Bởi vì danh đự, uy tín, nhân phẩm của một cá nhân hoặc

Trang 15

một tổ chức không thể xác định được bằng tién và sự cưỡng chế của Nhà nước cũng không mang tính chất tài sản Luật chì quy định nếu một người có hành vị xâm phạm đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác mà gây thiột hại vể tài sản thì phải bổi thường thiệt hại đó.

Ngày nay, để bảo vệ quyển nhân thân, ngoài viộc ghi nhận các biện pháp đặc trưng và truyền thống của pháp luật dân sự như trước đây, Bộ luật dân sự còn quy định, người có quyền nhân thân bị xâm phạm có quyển: “Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu Toà án buộc người vi phạm phải bổi thường thiệt hại vật chất và thiệt hại ve tinh thần” (khoản 3 Điều 25 Bộ luật dân sự năm 2005)

Như vậy, người xâm phạm đến quyền nhân thân của người khác ngoài việc phải khắc phục những hậu quả về tinh thần, còn có thể phải bổi thuờng những thiệt hại vể vật chất Đây là một trong những quy định mới mà trước khi ban hành hai

Bộ luật dân sự chưa có văn bản pháp luật nào quy định

Tương tự như các quan hệ tài sản, pháp luật dân sự không điều chỉnh toàn bộ các quan hệ nhân thân của đời sống xã hội Chẳng hạn, điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái sẽ do Luật hôn nhân và gia đình điểu chỉnh Luật dân sự chỉ quy định những vấn đề cơ bàn, có tính chất nguyên tắc chung vể hôn nhân và gia đình

III PHƯ ƠNG P H Á P Đ IỂU C H ỈN H CỦA LU Ậ T DÂN s ự

l ẳ K hái niệm

Mỗi một ngành luật trong một hệ thống pháp luật không những có đối tượng điều chỉnh riêng biệt mà còn có cả phương pháp điều chỉnh với những đặc trưng riêng Phương pháp điều chình của một ngành luật cũng là một trong những tiêu chí quan trọng để phân biệt ngành luật này với ngành luật khác

Phương pháp điều chình của một ngành luật trong một chừng mực nhất định

có tính chất chủ quan và phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước Tuy nhiên, trong các quan hệ dân sự, Nhà nước không thể tuỳ tiộn đặt ra phương pháp, cách thức tác động lẽn các quan hệ dân sự thế nào cũng được

Vì vậy, phương pháp điều chỉnh của một ngành luật phụ thuộc khách quan vào tính chất và đặc điểm các quan hệ xã hội do ngành luật đó điều chỉnh Với sự

đa dạng về các quan hệ trong đối tuợng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh cùa pháp luật dân sự cũng có những đặc trưng riêng và rất phong phú Phương pháp điểu chỉnh của Luật dân sự được lựa chọn trên cơ sờ bản chất và đặc điểm cùa các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân trong pháp luật dân sự

Cơ sờ đê xác lặp các quan hệ dân sự là: Tự nguyện, bình đẳng giữa các chù thể và quyền tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận cùa các chú thể trong giao lưu

Trang 16

dân sự Ngoài ra, các chủ thể của Luật dân sự còn có quyền thoả thuận với nhau cả

vẻ những nội dung chưa (hoặc không) được quy định trực tiếp trong Bộ luật dân

sự, bao gổm cả chế tài và cả trách nhiệm dân sự

Theo nguyên tắc chung của pháp luật, phương pháp điều chỉnh của pháp luật dân sự là những biện pháp, cách thức phù hợp để thông qua đó pháp luật tác động đến xử sự của các chủ thể trong các quan hệ xã hội (trong pháp luật dân sự là các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân) Nhờ có sự tác động này, các quan hệ tài sản

và quan hệ nhân thân đã phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt theo ý chí của chủ thể trẽn cơ sở ý chí của Nhà nước được ghi nhận trong các quy phạm pháp luật dân sự

cụ thể hoặc theo một trật tự nhất định; quyén và nghĩa vụ của các chủ thể luôn được bảo đảm thực hiện

2 Đ ăc điểm

Do tính chất đặc thù vể đối tượng điều chình, phương pháp điểu chỉnh của pháp luật dân sự có những đặc điểm sau đây:

- Trước hết, trong mọi giao lưu dân sự, yếu tố bình đẳng giữa các chủ thể về

phương diện pháp lý là một đặc điểm có tính chất đặc trưng Trong giao lưu dân sự không có sự phân biệt địa vị xã hội, tình trạng tài sản, dân tộc, giới tính, tôn giáo ; không bẻn nào có quyén ra lệnh cho bên nào; chủ thể trong các giao dịch dân sự cụ thể luôn độc lập với nhau và không phụ thuộc vào chủ thể khác

Đây là một trong những nguyên tắc quar trọng trong phương pháp điều chỉnh của Luật dân sự Điểu 5 Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định: “Trong quan

hộ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt vể dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ vãn hoá, nghẻ nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau"

Tính chất độc lập và bình đẳng giữa các chủ thể về tài sản và quyền tự định đoạt của các chủ thể là yếu tô' quyết định có ý nghĩa quan trọng; bời lẽ, các quan

hệ tài sản do Luật dân sự điều chỉnh luôn có tính chất hàng hoá-tiền tệ Muốn thực hiện được việc “trao đổi ngang giá” và “đển bù luơng đương” trong các giao dịch

có tính chất hàng hoá-tiền tộ thì mỗi chủ thể phải thực sự bình đẳng; có quyền tự định đoạt theo ý chí của mình trên cơ sở độc lập về tài sản Không có sự bình đậng, độc lập vể tài sản và chủ thể không có quyền tự định đoạt thì cũng khõng thê thực hiện được tính chất dền bù tương đương-ngang giá trị trong giao dịch dân sự.Ngoài ra, sự bình đảng và độc lập vể tài sản cùa các chú thể trong giao lưu dân sự còn được thể hiện ngay cả trong trường hợp mà giữa các chủ thể còn có các mối liên hệ không có tính chất bình đảng (như trong quan hệ hành chính, lao động ) Dù rằng chù thể đó có sự “phụ thuộc” nhất định trong các quan hệ khác

Trang 17

nhimg đã thoả thuận xác lập với nhau một giao dịch dân sự thì các chủ thể vẫn có quyền bình đẳng và độc lập.

Điểu đó chứng tỏ rằng, yếu tố bình đẳng và độc lập của các chủ thể trong giao lưu dân sự có tính chất tuyột đối Nếu không bảo đảm tính chất bình đảng và độc lập giữa các chủ thể thì đó không phải là quan hệ dân sự; hoặc nếu giao dịch dân sự đó được xác lập thì cũng có thể bị coi là vô hiệu

- T h ứ h a i là, quyền tự định đoạt của các chủ thể khi tham gia giao lưu dân

sự luôn được bảo đảm Có thể thấy rằng đây là sự thể hiện tiếp theo của tính chất bình đẳng giữa các chủ thể trong giao lưu dân sự Các quan hệ pháp luật dân sự suy cho cùng là việc thực hiện những mục đích, động cơ theo ý chí và mong muốn của mỗi một chủ thể trong giao dịch dân sự Vì vậy, việc tham gia vào các giao dịch cụ thể nhất định là do chủ thể tự quyết định căn cứ vào khả năng, mục đích và nhu cầu của chủ thể đó Nghĩa là, các chủ thể có quyền tự mình lựa chọn sự cần thiết hay không cần thiết khi tham gia các giao dịch dân sự

Quyền tự định đoạt của chủ thể còn được thể hiện: Các chủ thể có toàn quyền thoả thuận và quyết định việc lựa chọn biện pháp, cách thức thực hiện quyén và nghĩa vụ dân sự trong các giao dịch dân sự cụ thé Pháp luật dân sụ còn cho phép các chủ thể tự mình đặt ra (trong trường hợp pháp luật chưa có quy định) biện pháp, cách thức thực hiện quyẻn và nghĩa vụ dân sự; thoả thuận với chủ thể khác vẻ các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (theo các quy định chung tại mục 5 chương XVII Phần thứ ba Bộ luật dân sự); hình thức trách nhiêm pháp lý khi có sự vi phạm; cách thức áp dụng trách nhiệm dân sự khi có một bên đã không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nội dung các điểu khoản mà chủ thể đó đã tự nguyện cam kết, thoả thuận

Quyền tự định đoạt của các chủ thể dược pháp luật dân sự tôn trọng và bảo vệ Các chú thể được thực hiện quyền này theo sự tuỳ nghi và theo ý chí của mình nhưng phái chú ý tới các yêu cầu của pháp luật về giới hạn các quyền đối vói từng loại chủ thế khác nhau trong những giao dịch dân sự khác nhau

Về nguyên tắc, các chủ thể của Luật dân sự được quyền tự định đoạt, tự do lựa chọn cách thức, biện pháp thực hiện quyển dân sự và nghĩa vụ dân sự nhưng quyển tự định đoạt dó không phải là hoàn toàn không bị một giới hạn nào Giới hạn quyển của chù thể trong giao lưu dân sự chính là: “Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” (Điều 10, Bộ luật dân sự năm 2005) Trong giao lưu dân sự, các chủ thể có quyền

tự do cam kết, thoả thuận nhưng “mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội” (điểm b khoản 1 Điều

122 Bộ luật dân sự năm 2005)

Trang 18

Quyền tự định đoạt của chủ thể trong giao lưu dân sự cũng được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng ch ế của Nhà nước đã đuợc quy định tại Điều 4 Bộ luật dân sự: “Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối vói các bên

và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng"

Ngoài ra, khi xác lập quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự các chủ thể còn phải tuân theo các căn cứ, cách thức, trình tự, thủ tục do Bộ luật dân sự và các vãn bản pháp luật khác quy định Giao dịch dân sự khi xác lập không dược trái với các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật (Điểu 11

Bọ luật dân sự năm 2005)

- T h ứ ba là, trách nhiệm tài sản cũng là đặc điểm đặc trimg về trách nhiệm

pháp lý trong phương pháp điều chỉnh của Luật dân sự Đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự chủ yếu là các quan hệ tài sản có tính chất hàng hoá-tiền tệ và những quan hệ nhân thân, nên sự vi phạm của một bên có thể dẫn đến sự thiệt hại về tài sản hoặc tinh thẩn cho phía bên kia Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu người gây thiệt hại phải bù đắp những tổn thất về vật chất Trong việc bảo vệ quyền nhân thân, luật cũng quy định: Khi người có quyền nhân thân bị vi phạm họ cũng có quyền yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm phải bồi thường thiệt hại về vật chất (khoản 3 Điều 25 Bộ luật dàn

sự năm 2005) Điều 302 Bộ luật dân sự năm 2005 còn quy định: “Bên có nghĩa vụ

mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền" Đây là những tiền đề pháp lý để các bên phải có trách nhiệm với nhau trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự Nghĩa vụ trong Luật dân sự thông thường là các nghĩa vụ tài sản, vì vậy trách nhiệm dân sự cũng thường là trách nhiệm tài sản

Trong Luật dân sự, trách nhiệm pháp lý có thể do Luật dán sự quy định hoặc

do các chủ thể tự cam kết, thoả thuận với nhau khi xác lập giao dịch dân sự Nhưng dù được hình thành từ cơ sỏ nào, chúng cũng đều có giá trị pháp lý ngang nhau trong quá trình áp dụng Đây là đặc trung chỉ có trong pháp luật dân sự Trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định trước hoặc do các chú thể cam kết, thoả thuận trong các giao dịch dân sự cụ thê khi được áp dụng bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước đều có nội dung tài sản với mục đích nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu (tình trạng trước khi có sự vi phạm) hoặc nhằm khắc phục những hậu quả xấu về tài sản và tinh thần cho bẽn chù thể bị vi phạm

Trách nhiệm tài sản chính là trách nhiệm cùa các chủ thê trong các quan hệ pháp luật dân sự khi hành vi của họ đã gây ra thiệt hại (gồm cả những thiệt hại về vật chất và tinh thần) và có đú các điều kiện theo yêu cầu cùa pháp luật dân sự.Trách nhiệm tài sản trong pháp luật dân sự thể hiện ờ việc: Bồi thường bằng tiền hoặc khắc phục những hậu quà xấu về mặt vật chất như sửa chữa, đổi vật khác, thay thế bằng các tài sản cùng loại khác

Trang 19

- Thứ tư, trong giao luu dân sự các chủ thể có quyẻn bình đẳng, quyền tự

định đoạt khi cam kết, thoả thuận xác lập giao dịch dân sự, nên đặc trưng của phương pháp giải quyết các tranh chấp dân sự là tự thoả thuận và hoà giải Khi có tranh chấp nếu các bên không tự hoà giải và thoả thuận với nhau được thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền và Tòa án vẫn tiếp tục hoà giải để các bẽn tự nguyện chấp hành nghĩa vụ Khi không thể hoà giải được nữa thì các cơ quan nhà nưóc có thẩm quyền và Tòa án mới áp dụng đến biện pháp cưỡng chế Pháp luật dân

sự nghiêm cấm không đuợc dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực trong việc giải quyết các tranh chấp hoặc khi tham gia quan hệ dân sự (Đ iều 12 Bộ luật dân sự nãm 2005) Việc áp dụng các biện pháp cưỡng ch ế nhất thiết phải thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyẻn và thực hiện theo những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định

Thứ năm, khi các bên không thể thoả thuận hoặc hoà giải với nhau được thì

bên có quyền bị xâm hại (bao gồm quyền tài sản và các quyẻn nhân thân) có quyển khởi kiện bằng đơn kiện theo quy định của pháp Luật tố tụng dân sự để yêu cẩu Toà án bảo vệ Trong đơn khởi kiện để yẽu cầu Toà án bảo vệ, người có quyển

bị xâm phạm phải nèu rõ sự vi phạm của phía bên kia và các yêu cầu của mình; người khởi kiện có trách nhiệm cung cấp những chứng cứ cần thiết liên quan đến việc khới kiện nhầm tạo thuận lợi cho quá trình chứng minh khi giải quyết tranh chấp Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 thì chứng minh là nghĩa vụ của các đương sự Theo quy định của pháp Luật tố tụng dân sự nếu quan hệ đó đúng thẩm quyền giải quyết, Toà án sẽ thụ lý và giải quyết để khôi phục lại các quyển đã bị xâm phạm, khắc phục những hậu quả xấu về tài sản

Quyền khởi kiện theo trình tự tố tụng dân sự tại Toà án là quyền tố tụng có ý nghĩa thực tế của mỗi công dân, tổ chức; là phương tiện pháp lý quan trọng nhàm bảo đảm cho các chủ thể của pháp luật dân sự sử dụng trong những trường hợp cẩn thiết để bảo vệ kịp thời các quyển, lợi ích của mình khi bị xâm phạm

IV LUẬT DÂN S ự VÀ K HOA H Ọ C LU ẬT DÂN s ự

Trang 20

trở thành quan hệ pháp luật dân sự: Đuợc phát sinh, thay đổi và chấm dứt theo một trình tự nhất định do Bộ luật dân sự quy định.

Với tính chất là một ngành luật thực định, trong Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan được kết cấu theo truyền thống: Gồm nhiều chế định riêng biệt, mỗi chế định có tính chất và nội dung tương tự; trong mỗi chế định lại

có nhũng nguyên tắc riêng biệt và có nhiẽu quy phạm pháp luật khác nhau điểu chỉnh các hành vi dân sự cụ thể của các chủ thể

Để tránh sự trùng lặp của kỹ thuật lập pháp, trong Bộ luật dân sự dã dành toàn bộ Phần thứ nhất với tên gọi: “Những quy định chung”, dể quy định những vấn đề bao quát, có tính chất chì đạo và áp dụng cho tất cả các chế định trong pháp luật dân sự Ngoài ra, các chế định cụ thể trong Bộ luật dân sự như: Chế định tài sản và quyền sở hữu, chế dịnh nghTa vụ dân sự và hợp đổng dân sự, chế định thừa

kế, chế định quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ đều là một nhóm các điểu luật cụ thê’ (các quy phạm pháp luật) quy định về những nội dung riêng biệt

có tính chất tương tự trong sự liên kết có tính chất tổng thể theo một căn cứ và cơ

sớ khoa học

Ví dụ: Trong hợp đổng mua bán tài sản, hợp đồng thuê tài sản, vay tài sản và

các hợp đồng dân sự thông dụng khác tại chương XVIII, Phần thứ ba, Bộ luật dân sự không có quy định cụ thể nào trong các quy định vể quyẻn và nghĩa vụ của các chủ thể khi có sự kiện giám hộ Nhưng khoản 3 Điều 69 Bộ luật dân sự năm

2005 quy định: “Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ

có liên quan đến tài sản cúa người dược giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người đuợc giám hộ và có sự đồng ý cùa người giám sát việc giám hộ” Điều đó có nghĩa là: Trong tất cả các hợp đồng dân sự thông dụng nếu vi phạm quy định trên đây sẽ đương nhiên vô hiệu, không được pháp luật dân sự thừa nhận và không có giá trị pháp lý

Trong mỗi chế định cùa Bộ luật dân sự (hoặc trong văn bản pháp luật có liên quan) mỗi điểu luật là một quy phạm pháp luật có giá trị bắt buộc thực hiện như các ngành luật thực định khác Tuy nhién, tính chất bắt buộc cùng các chế tài Irong Luật dân sự có đặc irưng riêng nhung đó vẫn là nhũng quy phạm pháp luật của một ngành luật thực định

Tính chất thực định thể hiện là: Khi có tranh chấp dân sự, Toà án và các cơ quan nhà nước có thám quyền sẽ áp dụng những quy định cụ thê của pháp luật dân

sự đê giải quyết tranh chấp nếu trong hợp đồng các bên không có thoả thuận Các quy định trong các điéu luật luôn có giá trị điều chính trực tiếp các quan hệ dân sự bàng những phương pháp riêng; hoặc các chủ thể trên cơ sở hướng dẫn, chỉ dẫn của các điều luật phái tuân theo, trừ khi pháp luật có những quy định khác

Trang 21

b So sánh Luật dân sự với các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Vối những đặc điểm, đặc trưng vé đối tượng và phương pháp điểu chình của mỗi một ngành luật, khoa học Luật dân sự phân biệt ngành luật này với ngành luật khác trong một hệ thống pháp luật Việc phân biệt này có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, nhất là trong việc áp dụng pháp luật tại các cơ quan nhà nước có thâm quyền

Tuy nhiên, cần thấy rằng việc so sánh trong nhiều trường hợp nó chỉ có ý nghĩa tương đối Bởi lẽ, pháp luật của Nhà nước là một hệ thống thống nhất, thê hiện ý chí của Nhà nước và giữa chúng thuờng có mối liên hệ mật thiết với nhau, nhằm điều chỉnh các quan hộ xã hội tồn tại trong một chế độ xã hội, phù hợp với những điều kiện kinh tế, xã hội, lịch sử nhất định Việc so sánh Luật dân sự với một số ngành luật khác chỉ có ý nghĩa tương đối về lý luận và trong học thuật

* Luật dân sự và Luật tố tụng dân sự

Luật dân sự và Luật tố tụng dân sự là hai ngành luật có liên quan mật thiết với nhau Luật tố tụng dân sự quy định trình tự, thủ tục giải quyết các tranh chấp dân sự; hôn nhân và gia đình Luật tố tụng dân sự điều chỉnh các quan hệ tô' tụng phát sinh giữa cơ quan tiến hành tô' tụng, người tiến hành tố tụng (bao gồm Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân ) với những người tham gia tô' tụng (đưcmg sự, những người có quyền và lợi ích liên quan, cơ quan giám định ) trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự

Trong Luật tố tụng dân sự quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng với những đương sự và người tham gia tố tụng khác là quan hệ quyền uy-phụ thuộc “Quyền tự định đoạt của đương sự” trong pháp Luật tố tụng dân sự cũng được bảo đảm nhưng tính chất hoàn toàn khác so với quyền tự định đoạt và bình đẳng pháp lý của chủ thể trong pháp luật dân sự Nói cách khác, các chủ thể khi tham gia tô' tụng dân sự không có sự bình đẳng

Theo thông lệ, pháp Luật tố tụng dân sự được coi là pháp luật về “hình thức", còn pháp luật dân sự được coi là pháp luật về “nội dung"

* Luật dân sự và Luật kinh t ế (còn gọi là Luật thương mại)

Đây là hai ngành luật đều có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ tài sản trong đời sống xã hội Nhưng tính chất tài sản được phân biệt ở một góc độ khác nhau và trong một chừng mực nhất định có những tính chất, nội dung khác nhau Luật kinh tế, thương mại còn bao gồm một phần nội dung quản lý nhà nước về kinh tế, thương mại

Ngày nay, sự phân biệt giữa Luật dân sự và Luật kinh tế, thương mại chỉ có

ý nghĩa tương đối trone lĩnh vực học thuật; tiêu chí để phân biệt chúng vẫn đang

Trang 22

còn là để tài tranh luận sôi nổi trong giói nghiên cứu khoa học pháp lý từ nhiéu thập kỷ nay.

Trước đây, một trong những cơ sở để phân biệt chúng là: Luật kinh tế chỉ điều chỉnh các quan hộ tài sản giữa các chủ thể là pháp nhân, trên cơ sở thực hiện các nhiệm vụ và chì tiêu kế hoạch chung theo sự quản lý, chỉ đạo của Nhà nuớc Quan hệ tài sản trong Luật kinh tế nhằm mục đích “sản xuất, kinh doanh", còn quan hệ tài sản trong Luật dân sự nhằm chỉ nhằm mục đích thuần túy là “sinh hoạt, tiêu dùng"

Hiện nay, trong điều kiện của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì tiêu chí để phân biệt chúng như trước dây không còn phù hợp và rất khó giải thích về phương diện lý luận Khái niệm “sinh hoạt, tiêu dùng” truyền thống trước đây của Luật dân sự ngày càng được mở rộng Vì rằng, Luật dân sự đã điều chỉnh một số quan hệ tài sản trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại

Vi dự Cho phép mua nhà để sử dụng vào mục đích khác (Điều 455 Bộ luật

dân sự năm 2005) Thuê nhà để sử dụng vào mục đích khác (Điều 500, Bộ luật dân

sự năm 2005) Các quy dịnh vẻ quyền sở hữu công nghiêp và chuyển giao công nghệ (quy định tại Phẩn thú sáu, Bộ luật dân sự năm 2005)

Trước đây, theo quy định của Pháp lệnh hợp đổng kinh tế ngày 29/9/1989 (nhưng hiộn nay Pháp lệnh đã hết hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006 theo quy định tại Nghị quyết của Quốc hội sô' 45/2005/QH11 kỳ họp thứ 7, Khóa XI) thì một hợp đồng được coi là hợp đồng kinh tế phải có hai điều kiện sau đây:

- Hai bên ký kết đẻu có mục đích kinh doanh nhằm thu lợi nhuận và vấn đề này còn được quy định trong luật thương mại Vì vậy, trong hộ thống pháp luật thời kỳ đó điểu chỉnh các quan hệ về hợp đồng ở Việt Nam có tới ba loại: Hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế và hợp đồng thương mại

- ít nhất một bên chủ thể trong hợp dồng là doanh nghiệp có đãng ký kinh doanh hợp pháp

Nghị định số 66/HĐBT ngày 02/3/1992 của Hội dồng Bộ trưởng (nay là Hội đồng Chính phủ) đã giải thích rõ: Nếu một bên không kinh doanh sẽ là hợp dồng dân sự Vì vậy, chỉ được coi là hợp dồng kinh tế và do Luật kinh tế điều chỉnh khi hai bẽn chủ thể giao kết đều có mục đích kinh doanh nhằm thu lợi nhuận và có ít nhất một bén trong hợp đổng là doanh nghiệp

* Luật dân sự với Luật hôn nhân và gia đình

Các quan hệ do Luật dân sự điều chỉnh mang tính chất tài sản và một sô' quan hệ nhân thân nhưng các quan hệ do Luật hôn nhân và gia đình điều chinh lại

Trang 23

chủ yếu mang tính chất nhân thân Đó là quan hệ tình cảm giữa vợ và chổng; giữa cha mẹ và con; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; vé việc giám hộ giữa các thành viên trong gia đình Thời kỳ Pháp thuộc, hôn nhân và gia đình là một chế định của Luật dân sự, được quy định trong các bộ dân luật thời kỳ này.

Các quan hộ tài sản do Luật hôn nhân và gia đình điẻu chỉnh là quan hệ có đặc điểm “không có sự độc lập vẻ tài sản” giữa các chủ thể Khối lượng quan hê tài sản trong hôn nhân và gia đình nói chung không lớn, không có sự đa dạng và phức tạp như các quan hệ tài sản trong Luật dân sự Tài sản của vợ chổng trong thời kỳ hôn nhân thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chổng (trừ những tài sản riêng mà họ có thoả thuận và theo những căn cứ do pháp luật quy định)

Những tranh chấp vể tài sản phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình như: Quan hệ tài sản riêng giữa vợ và chồng; giữa cha mẹ và các con; những tranh chấp

vẻ tài sản trong thời kỳ hôn nhân còn tổn tại và khi ly hôn mà các quy phạm pháp luật cùa Luật hổn nhân và gia đình năm 2000 không đủ để Toà án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng thì sỗ áp dụng các quy phạm tương ứng của pháp luật dân sự dể giải quyết tranh chấp

* Luật dân sự và Luật đất đai

Những quan hệ do Luật đất đai điều chỉnh là quan hệ phát sinh trong viộc quản lý và sử dụng đất dai theo quy định của Nhà nước Khách thể của quan hộ pháp luật về đất dai được giới hạn trong diện tích đất thuộc khối điền thổ (lãnh thổ) chung của Nhà nước

Phương pháp diều chỉnh của Luật đất dai tương tự như cùa Luật hành chính Bên nhận đất đê sử dụng phải tuân theo những chế độ, quy định cụ thể của từng loại đất, hạng đất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Chủ thể nhận đất

sử dụng không có quyền tự do cam kết, thoả thuận như trong Luật dân sự mà phải tuân thú những quy định chung, bao gồm cả việc kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Việc chuyển quyền sử dụng đất với tính chất là một quyền tài sản lại được coi là một quan hệ pháp luật dân sự Trình tự và thù tục khi chuyển quyền sử dụng đất phải thực hiện theo quy định tại Phần thứ năm, Bộ luật dân sự năm 2005 và pháp luật về đất đai

* Luật dân sự và Luật hành chinh

Cơ sở đẽ’ phân biệt hai ngành luật này chú yếu dựa vào đặc tnmg của phương pháp diều chinh Đặc trưng trong phương pháp điều chính cùa Luật hành chính là tính chất mệnh lệnh: Quyền uy-phục tùng Trong Luật hành chính khỏnc có sư bình đáng pháp lý giữa các chù thể tham gia quan hệ hành chính Cụ thế là không

có sự bình đẳng vé quyền và nghĩa vụ giữa các chù thê Trong quan hệ pháp luât

Trang 24

hành chính, một bên chủ thể luôn là cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền ra mộnh lệnh, còn bên kia phải phục tùng và chấp hành mệnh lệnh đó.

Ví d ụ : Quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền trong việc quản

lý trật tự xây dựng đô thị: Cho phép tổn tại hay phá bỏ công trình xây dựng vi phạm các quy định vể xây dựng, xây dựng không phép

Những quan hệ xã hội do Luật hành chính điểu chỉnh giới hạn trong lĩnh vực chấp hành, điều hành và quản lý nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước Trong việc điều hành và quản lý nhà nước có thể có những vấn đề liên quan đến tài sản, nhân thân nhưng việc điều chinh sẽ được thực hiện bằng phương pháp với đặc diểm như đã trình bày ở trên

Trong thực tế, có một số quan hệ tài sản do hai ngành luật này cùng điều chình nhưng ở góc độ khác nhau và có tính chất hoàn toàn khác nhau Đối với các quan hệ tài sản, Luật hành chính chi quy định những thể lệ về hành chính nhằm quản lý, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của các tổ chức và của công dân Luật hành chính quy định các vấn để liên quan đến tài sản như: Thủ tục cấp phát và thu hồi vật tư, tiền vốn; thẩm quyển của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc quản

lý nhà vắng chủ, vô chú, tài sản không có ai là chú sở hữu; quy định thế lệ vể trưng thu, trưng mua, trưng dụng tài sản v.v trong những trường hợp cần thiết do pháp luật quy định

* Luật dân sự và Luật hợp tác xã

Luật hợp tác xã điều chỉnh mối quan hệ thuộc nội bộ hợp tác xã trong các lình vực: Tổ chức hợp tác xã (về đại hội xã viên, bầu ban quản trị, chủ nhiệm được quy định trong điểu lệ), các quan hệ vẻ lao động, về thuê khoán tài sản, vể phân phối sán phẩm hoặc phân chia lợi nhuận trong quá trình sản xuất, kinh doanh của nội bộ hợp tác xã Điểu này phụ thuộc vào tính chất khác nhau của các loại hình hợp tác xã được quy định cụ thể trong điều lệ

Luật dân sự chỉ điều chình những quan hệ tài sản của hợp tác xã trong quá trình lưu thông, trao đổi có tính chất dân sự giữa các bên Trong quan hệ dân sự này hợp tác xã với tư cách là chủ thế trong các giao dịch với những chú thể khác

dể xác lập thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự như: Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong các quan hệ mua bán, trao đổi nông sán, lâm sản, hải sản; các hợp đổng gia công, đặt hàng, dịch vụ, làm đất gieo trồng theo các lĩnh vực khác nhau

* Luật dán sự và Luật hình sự

Luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ và duy trì các quan hệ xã hội bằng việc quy dịnh những hành vi nào dược coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội có tính chất tội phạm và quy định những hình phạt tương ứng với mức độ nguy hiểm của tội phạm

dó Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong luật hình sự là hình phạt do các

Trang 25

Toà án nhân dân quyết định khi xét xử nhằm mục đích buộc những người phạm tội phải trực tiếp chịu trách nhiệm pháp lý đối với xã hội, với cộng đồng và với Nhà nước để duy trì một trật tự xã hội nhất định.

Chức năng cơ bản của hình phạt trong trách nhiộm hình sự chủ yếu nhằm mục đích: Trừng trị, giáo dục nguời phạm tội và răn đe, phòng ngừa tội phạm, được quy định trước trong Bộ luật hình sự Trong pháp luật hình sự không có sự “thoả thuận”

về trách nhiệm pháp lý như trong trách nhiệm dân sự Tính chất bình đẳng ưong pháp luật hình sự hoàn toàn khác tính chất bình đẳng trong pháp luật dân sự: Các bị cáo chỉ bình đẳng trước pháp luật tại Tòa án và được xét xử công bằng

Trong pháp luật dân sự thì trách nhiệm tài sản là trách nhiệm của chủ thể này trước chủ thể khác khi có hành vi vi phạm nhằm khôi phục lại tình trạng ban đẩu hoặc khắc phục những hậu quả xấu do hành vi vi phạm gây ra Đặc trưng của trách nhiệm pháp lý trong Luật dân sự tuy cũng là biện pháp cưỡng ch ế của Nhà nước nhưng bản chất pháp lý hoàn toàn khác và chỉ mang tính chất tài sản Trách nhiệm dân sự có thể được quy định trong pháp luật dân sự nhưng cũng có thể do các chủ thể thoả thuận trong quá trình cam kết, thoả thuận xác lập các giao dịch dân sự (chủ yếu là dối với các quan hệ về hợp đổng)

Một điểm khác biệt quan trọng nữa là, trong Luật hình sự ưách nhiệm pháp lý chỉ có thể áp dụng cho cá nhân (theo nguyên tắc cá thể hoá hình phạt), còn trong Luật dân sự trách nhiệm pháp lý có thể áp dụng không những cho cá nhân mà còn

áp dụng cho cả pháp nhân, tổ chức và các chủ thể khác khi có hành vi vi phạm

2 Khoa học Luật dân sự - một ngành khoa học pháp lý

Với tính chất là khoa học Luật dân sự, việc nghiên cứu phân tích, tổng hợp theo một phương pháp luận dặc thù riêng để hiểu những vấn để bao quát, có tính chất chi đạo và áp dụng cho tất cả các chế định là của công việc nghiên cứu khoa học Luật dân sự Vì rằng:

- Các quy định về nội dung riêng biệt tại các điều luật trong Luật dân sư luôn có tính liên kết tổng thê nhằm tránh sự trùng lặp của kỹ thuật lập pháp Khoa

Trang 26

học Luật dân sự ngoài việc phân tích pháp luật thực định, các văn bản pháp luật có liên quan còn nghiên cứu các cơ sở lý luận, thực tiễn và tìm ra phương pháp, cách thức để tiếp cận, giải quyết hợp lý một vấn đề trong thực tiễn.

- Khoa học Luật dân sự còn là việc nghiên cứu các quan điểm, quan niệm khác nhau về một sự vật, hiện tượng dưới góc độ khoa học Các quy định của pháp luật dân sự được quy định trên những căn cứ khoa học và thực tiễn, cần được áp dụng thống nhất những nghiên cứu để thấy được sự chính xác, tin cậy và cơ sở khoa học là việc làm có ý nghĩa rất cần thiết Chính việc làm này sẽ nâng cao sự nhận thức về một ngành khoa học và có những tìm tòi, bổ sung, nhằm tiếp tục hoàn thiện

hệ thống lý luận và hoàn thiện pháp luật thực định Với ý nghĩa này, Giáo trình Luật dân sự cũng có thê xem là công trình khoa học Luật dân sự, được kết cấu và phân tích các nội dung theo tiêu chí của một ngành khoa học pháp lý mà không hoàn toàn theo trật tự nhũng quy định của pháp luật thực định

b Đối tượng nghiên cứu

Cũng như bất kỳ một ngành khoa học cụ thể nào khác, khoa học Luật dân sự

có đối tượng nghiên cứu riêng và cụ thể, có tính chất đặc trưng Đối tượng nghiên cứu của khoa học Luật dân sự không chỉ là những quy định cụ thể chỉ trong Bộ luật dân sự mà còn là các quan điểm, trường phái khác nhau trong lý luận về những vấn đề đó; các cơ sở lý luận và thực tiễn của từng chế định, từng điều luật;

là sự phân tích mối liên hệ và chi phối giữa các điều luật trong Bộ luật dân sự và các ngành luật có liên quan để làm rõ sự hợp lý cũng như những điểm bất hợp lý trong pháp luật thực định

Ngoài ra, để thực hiện các quy định trong Bộ luật dân sự còn có cả một hệ thống các văn bản dưới luật đê’ cụ thể hoá một chế định hay một điều luật cụ thể nào

đó như: Nghị quyết hoặc Pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thú tướng, các loại Thông tư hướng dẫn thực hiện của

bộ, ngành, liên ngành v.v

Vì vậy, có thể thấy rằng, đối tượng nghiên cứu của khoa học Luật dân sự rất rộng và đa dạng hơn việc nghiên cứu đôi tượng điều chỉnh cúa Luật dân sự với tính chất là quy định của pháp luật thực định, v ề phương pháp điều chinh cũng tương tự như vậy Nếu chỉ bó hẹp trong phạm vi phản ánh sự chi phối có tính chất chú quan ý chí cùa Nhà nước thì sẽ không thấy được tính khách quan trong phương pháp điểu chinh: không thấy được những đặc thù riêng chỉ áp dụng trong pháp luật dân sự

c Phương pháp nghiên cứu

Ngoài sự khác biệt về đối lượng nghiên cứu, khoa học Luật dân sự còn có phương pháp nghiên cứu có tính chất đặc trưng riêng Các phương pháp nghiên

Trang 27

cứu khoa học thông thường như: Phân tích, so sánh luật, tổng hợp, diẽn giải, bình luận thì các phương pháp khác nhu logic, lịch sử, thực tiễn ưên cơ sở các đặc thù của quan hệ dân sự cũng dược sử dụng.

Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu khoa học Luật dân sự không chỉ là những quy định cụ thể chỉ trong Bộ luật dân sự mà còn phải nghiên cứu có tính chât tông hợp, toàn diện các văn bản pháp luật cùa các cơ quan nhà nước có thẩm quyên liên quan đến pháp luật dân sự hoặc quy định, giải thích, cụ thể hoá từng điêu luật trong Bộ luật dân sự Nghiên cứu các trường phái, quan điểm, quan niệm vê phương diện lý luận dối với các quan hệ xã hội là đối tượng điểu chỉnh của Luật dân sự; tính chất của các quan hệ xã hội này trong sự đối chiếu với các quy định

cụ thể của từng điều luật

Vì vậy có thể thấy rằng, phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học Luật dân sự rộng và da dạng hơn việc nghiên cứu thuần tuý đối tượng điểu chinh và phương pháp điẻu chỉnh của Luật dân sự

V QUÁ T R ÌN H H ÌN H TH À N H VÀ PHÁ T T R IỂ N CỦA

PH Á P LUẬT DÂN S ự V IỆ T NAM

Sau Lễ Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ờ Đông Nam Á - được thành lập Công việc điều hành và quản lý đất nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền phải được thực hiện bằng các quy định của pháp luật Trong khi chính quyên mới dược thành lập, để ổn định xã hội ngày 10/10/1945, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh sô' 90/SL cho phép tạm thời sử dụng một sô' luật lệ hiện hành ờ Bắc-Trung-Nam cho đến khi ban hành những bộ luật cho toàn quốc với tinh thần “những luật lộ ấy không trái với nguyên tắc độc lập của nuớc Viột Nam và chính thể dân chủ cộng hoà” Theo quy định của Sắc lệnh 90/SL các Bộ dân luật Nam kỳ giản yếu 1883; Bộ dân luật Bắc kỳ 1931 và Bộ dân luật Trung kỳ

1936 (Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật) được tiếp tục thi hành và bị hùy bò việc áp dụng vào năm 1959 Như vậy, thời kỳ này tại ba miền Bắc-Trung-Nam tồn tại ba

bộ dàn luật: 1883, 1931, 1936 Ba bộ dân luật thời kỳ Pháp thuộc vẫn dược áp dụng trong giai đoạn đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chú cộng hoà

- Khi Đàng và toàn dàn tộc tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp Nhà nước chưa có điểu kiện đê ban hành pháp luật mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 “Sửa đổi một sô' quy lệ và chế định trong dàn luật” đê tạm Ihời điều chinh các quan hệ dân sự bằng các bộ dân luật cũ nhưna với một tinh thần mới Việc ban hành sắc lệnh 97/SL có ý nghĩa quan trọng trong suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, đã động viên được sức người, sức của cho cuộc

Trang 28

kháng chiến, kiến quốc; góp phần bình ổn các quan hệ dân sự Nội dung và tinh thần cơ bản cùa sắc lệnh là giữ những quy định của các bộ dân luật cũ nhung bổ sung, thay đổi một sô' nội dung, nguyên tắc làm cho các bộ luật được ban hành trong thời kỳ Pháp thuộc có một tinh thần mới Chính nhũng quy định này đã đem đến những sinh khí mới trong tư tuởng và nhận thức của người dân Việt Nam Mặc dù còn gián đơn và chưa đầy đú nhưng nội dung cùa sắc lệnh 97/SL

đã đặt cơ sở, những nguyên tắc cơ bản cho sự hình thành và phát triển cùa pháp luật dân sự sau này

Nhũng nguyên tắc dân chủ, tiến bộ mang bản sắc dân tộc sâu sắc và cho đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị trong quá trình hình thành pháp luật dân sự của nước Việt Nam độc lập, có chù quyền Các quy định trong Sắc lệnh như: “Những quyển dân sự đều được báo vệ khi người ta hành xử nó đúng với quyền lợi cúa nhân dân” ; “Người ta chi được hướng dụng và sứ dụng các vật thuộc quyền sờ hữu cùa mình một cách hợp pháp và không gây thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân";

“Khi lập ước mà có sự tổn thiệt do sự bóc lột cùa một bẽn vì điều kiện kinh tế của hai bên chênh lệch thì khế ước có thế bị coi là vô hiệu” dã làm thay đổi bán chất những quy định cùa các bộ dân luật trước đó Dù rằng Nhà nước chưa có điều kiện ban hành các vãn bán pháp luật mới nhưng với những nguyên tắc cơ bản trên đây

đã làm cho các bộ dân luật cũ mang một tinh thần mới Việc tạm thời áp dụng các

bộ dân luật cũ phù hợp với bản chất của chế độ dân chủ cộng hoà đã tạo ra những điều kiện thuận tiện cho các chủ thê trong quan hệ dân sự Những tư tướng tiến bộ

và tinh thán của sắc lệnh 97/SL vẫn còn là tư tường chủ đạo có tính thời sự khi Nhà nước tiến hành soạn thảo các Bộ luật dân sự khi chuyến đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Để thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ớ miển Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, Ihống nhất đất nước, Hiến pháp năm 1959 được ban hành

đê thay thế Hiến pháp năm 1946 Việc ban hành Hiến pháp năm 1959 dã đánh dâu một giai đoạn phát triển mới của quá trình lặp pháp Việt Nam Trẽn cơ sớ quy dịnh cùa Hiến pháp năm 1959, Luật hôn nhân và gia đình được ban hành năm

1959 đã tách một nhóm quan hệ xã hội quan trọng trong đời sống dân sự (là một chế định truyền thông cúa Luật dán sự) thành một ngành luật độc lập Từ đây, Luật hôn nhàn và gia đình chính thức trờ thành một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, có đối tượng điều chinh riêng biệt

- Trên cơ sớ Hiến pháp nám 1959 - là đạo luật cơ bàn của Nhà nước - các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành nhiều vãn bản pháp luật đê điều chinh các quan hệ dân sự đối với các vấn đề có tính thời sự, cấp thiết Dù ràng sự quan tâm còn trong giới hạn nhất định nhưng so với giai doạn trước khi ban hành Hiến pháp năm 1959 Nhà nước ta đã có những vãn bản pháp luật chính thức quy định riêng đói với mộ! sô quan hệ xã hội có tính chất dân sự

Trang 29

Đặc trưng của các quy định pháp luật điểu chinh các quan hệ dân sự trong giai đoạn này là chịu ảnh hưởng sâu sắc của ván đẻ cải tạo xã hội chủ nghía, cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp cao độ Trong các vãn bản dân sự, phương pháp hành chính mệnh lệnh được sử dụng khá rộng rãi đã làm biến dạng các quan

hệ dân sụ với những dặc điểm truyền thống là: Bình đẳng và tự do cam kết, thoả thuận giữa các chủ thể Trong quá trình xem xét, giải quyết các tranh chấp dân sự, phương pháp quyền uy - phục tùng của Luật hành chính vẫn được áp dụng trong các quan hệ dân sự Các vãn bản pháp luật dân sự được ban hành trong giai đoạn này thường có hiệu lực pháp lý không cao Chủ yếu là: Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng chính phủ, Thông tư của các bộ, của Tòa án nhân dân tối cao với tính chất là những vãn bản pháp quy để quy định những mảng quan

hệ xã hội riêng biệt

Một trong những đặc điểm của các vãn bản pháp quy ban hành trong giai đoạn này là: Thiếu tính thống nhất, đồng bộ và chồng chéo; nhiểu lĩnh vực dân sự không dược pháp luật quy định Các văn bản pháp quy chỉ quy định chủ yếu về vấn đề tư liệu sản xuất, nhà ở nhằm mục tiêu thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa Các quy định trong các vãn bản còn giản đơn và không đầy dủ, nên đã gây không ít khó khăn cho ngành Toà án nhân dân và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi giải quyết tranh chấp

Để khắc phục những hạn chế này và để điều chỉnh có hiộu quả bước đầu các quan hệ dân sự trong đời sống xã hội (nhưng không được ghi nhận bằng các văn bản pháp luật dù chỉ là dưới dạng Nghị định), Toà án nhân dân tối cao đã phải ban hành những thông tu, chi thị để hướng dẫn các cấp Toà án địa phương Thậm chí, các Toà án địa phương còn phải vân dụng Báo cáo tổng kết hàng năm của Toà án nhân dân tối cao làm cơ sỏ và căn pháp lý để giải quyết các tranh chấp dân sự trong giai đoạn lịch sử này (dù rằng đó không phải là văn bản pháp quy) Những Thông tư, Chỉ thị, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán, Uỷ ban Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao có giá trị như pháp luật đối với Tòa án cấp dưới trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự Vì vậy, hiệu quả và tính thống nhất trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự rất thấp và có những vi phạm Đây là điều không đúng với yêu cầu của pháp chế xã hội chủ nghĩa

Ngày nay, nhìn nhận lại những vấn dề trẽn đây dưới góc độ lịch sù chúng ta thấy rằng, điểu kiện và hoàn cảnh của đất nước trong giai đoạn đó, chúng ta cũng không thê có cách làm nào khác Đất nước vừa trải qua chiến tranh, mục tiêu chiến lược của Việt Nam lúc đó là thực hiện cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thống nhất đất nước Do vậy, sự quan tâm đến pháp luật nói chung và pháp luật dân sự nói riêng không thể không có những hạn chế nhất định Việc sử dụng biện pháp hành chính để điều chỉnh các quan hệ dân

sự và giải quyết các tranh chấp dân sự trong giai đoạn lịch sù này có tính chất khách quan và do nhu cầu của hoàn cảnh lịch sử Tuy không bảo đảm tính chất

Trang 30

khoa học của Luật dân sự nhung cũng đã góp phần ổn định các giao lưu dân sự và

có tác dụng tích cực trong việc giải quyết tranh chấp dân sự

- Từ giữa thập kỷ 80, khi đất nưốc bước vào thời kỳ đổi mới theo tinh thẩn Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI với phương châm: Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo vệ các quyẻn, lợi ích hợp pháp của cá nhân Để quản lý xã hội

và điẻu tiết nẻn kinh tế, Nhà nuớc đã ban hành nhiểu vãn bản pháp luật nhằm thể chế hóa các chủ trương, đuờng lối của Đảng về đổi mới kinh tế - xã hội Các văn bản pháp luật được ban hành trong thời kỳ này đã tạo nên những dộng lực nhằm phát huy tiềm nãng của các thành phần kinh tế trong xã hội, phát triển nền kinh tế hàng hóa thị trường có nhiều thành phẩn theo định hướng xã hội chủ nghĩa Các quy định của pháp luật dân sự đã bước đầu ghi nhận những nguyên tấc cơ bản, truyền thống của pháp luật dân sự là: Tự nguyện, bình đẳng, công bằng, tự do cam kết, thoả thuận Pháp luật dân sự Việt Nam nói riêng bước đầu đã có sự phù hợp

và xích gần vói thông lệ và tập quán quốc tế truyền thống trong lĩnh vực dân sự

Các văn bản pháp luật về dân sự ban hành trong giai đoạn này có đặc điểm là: Đã có những văn bản quy định riêng về từng lĩnh vực cụ thể khác nhau của pháp luật dân sự nhằm tạo thuận lợi cho quá trình áp dụng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nâng cao trình độ nhận thức, dân trí pháp lý Hiệu lực pháp

lý của các văn bản pháp luật ban hành trong thời gian này tương đối cao thể hiện dưới dạng: Luật do Quốc hội ban hành hoặc Pháp lệnh do Hội đồng Nhà nước ban hành (sau này là Uỷ ban thường vụ Quốc hội) Ngoài ra, để cụ thể hoá Luật và Pháp lộnh, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) còn ban hành các Nghị định hướng dẫn thi hành các luật và pháp lệnh được Quốc hội, Hội đồng Nhà nước công

bố Các văn bản pháp luật trong lĩnh vục dân sự đã được ban hành như: Luật quốc tịch ban hành năm 1988, Luật đất đai ban hành nãm 1986, Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam ban hành năm 1988, Pháp lệnh về sở hữu công nghiệp ban hành năm 1989, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ban hành nãm 1989, Pháp lộnh về thừa k ế ban hành năm 1990, Pháp lệnh về hợp đồng dân sự ban hành năm 1991, Luật hôn nhân và gia đình ban hành năm 1986 Các văn bản pháp luật thời kỳ này đã được ban hành theo một trình tự, thủ tục luật định, tính chuyên môn hoá và kỹ thuật lập pháp khá cao Tuy nhiên, các quy định mới chỉ là các Pháp lộnh và các Nghị định hướng dẫn thi hành mà ít có các đạo luật

Năm 1992 Quốc hội đã ban hành Hiến pháp mới - Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Hiến pháp trong chặng đường đẩu của thời

kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Là đạo luật cơ bản của Nhà nước, Hiến pháp năm 1992 đã tạo cơ sở và tiền đề pháp lý cho việc ban hành các văn bản pháp luật với những nội dung và cơ sỏ pháp lý mới Sau khi Hiến pháp năm 1992 có hiệu lực, nhiều văn bản pháp luật trong lĩnh vực dân sự đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tinh thần và nội dung được quy định trong đạo luật cơ bản của Nhà nước như: Luật đất đai (1993); Pháp lệnh về quyển và nghĩa vụ của các tổ chức được giao

Trang 31

đất, cho thuê đất; Pháp lệnh về quyển và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất tại Việt Nam; Pháp lệnh bảo hộ quyén tác giả (1994); gần đây là Luật hôn nhân và gia đình nãm 2000 Cùng vói các đạo Luật, các Pháp lệnh, Chính phù còn ban hành nhiều Nghị định để bổ sung kịp thời trong quá trình quản lý, điểu hành đất nước và các văn bản của các bộ, cơ quan ngang bộ cũng được ban hành thường xuyên hơn, nhằm cụ thể hoá những nội dung cơ bản của Hiến pháp.

Dù rằng các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có nhiều cố gắng trong việc ban hành các vãn bản pháp quy để từng bước thực hiện mục tiêu “nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật” những vẫn còn nhiều vấn để có ý nghĩa cơ bản trong linh vục dân sự chưa dược pháp luật điểu chỉnh một cách có hệ thống Đó là các quan hệ vé sờ hữu tài sản, các quan hộ về nghĩa vụ dân sự; các loại hợp đông dân sự thông dụng; vấn để bồi thuờng thiệt hại, thùa kế là nhũng ch ế định truyển thống của pháp luật dân sự Đặc biệt là: Cho đến thời điểm này, trong hệ thống các vãn bản pháp luật dân sự chưa có một văn bản nào quy định vể quyền sở hữu, một quyển tiền đề có ý nghĩa quan trọng của pháp luật dân sự Ngoài ra, trong điều kiện giao lưu quốc tế của nước ta ngày càng mở rộng, các quan hệ dân sự có yếu

tố nước ngoài cũng chưa được quy định cụ thể trong một đạo luật có hiệu lực pháp

lý cao Hiệu lực pháp lý của các vãn bán pháp luật đuợc ban hành trước khi có Bộ luật dân sự cũng vẫn chủ yếu là các pháp lệnh cùng một số ít các luật nên vẫn còn không ít những hạn chế Tính chổng chéo và tình trạng Ihiếu luật để điều chinh một cách tổng thể các quan hệ dân sự vẫn còn là vấn đé bức xúc trong đời sống xã hội

Do có sự chuyển đổi của nển kinh tế, của cơ chế quản lý nhà nước, nên nhiểu quy định trong các văn bản pháp luật dân sự - kinh tế trước đây không còn phù hợp trong điều kiện nền kinh tế thị trường có nhiều thành phẩn Nếu tiếp tục duy trì và

áp dụng trong thực tế thì sẽ là yếu tố' cản trở, kìm hãm sự phát triển của nén kinh tế

- xã hội Hệ thống các quy định pháp luật này trong thực tế đã gây ra những khó khăn, trở ngại, thiếu thống nhất trong việc áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyển để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong giao lưu dàn sự Trong thực tế, do thiếu những quy định pháp luật dân sự, nên đã xảy ra không ít những trường hợp xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp, gây thiệt hại cho

cá nhân, tập thể, Nhà nước; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cắ nhân, tổ chức nhưng chưa có cơ sở pháp lý để bảo vệ Nhiều trường hợp có sự vi phạm nhưng không dược xem xét và giái quyết, vì thiếu quy định của luật Ngoài ra, với những quỵ định trong các vãn bản pháp luật dân sự thời kỳ này chưa tạo cơ sờ pháp lý nhằm tiếp tục giải phóng mọi năng lực sản xuất xã hội; chưa bảo đảm sự bình đáng và an loàn pháp lý trong quan hệ dân sự đã làm ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt; ánh hướng đến các hoạt dộng sán xuất, kinh doanh của toàn xã hội Với

hệ thống các văn bán pháp luật dân sự dù đã dược sửa đổi, bổ sung nhưng vản không tạo được tính chất đổng bộ, đầy đú và thống nhất để giải quyết các tranh chấp dân sự Không có cơ sờ pháp lý để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp Luật kinh tế - thương mại trong điều kiện Việt Nam hội nhập khu vực và toàn cầu hoá

Trang 32

Do hộ thống pháp luật thực định vừa thiếu lại vừa không đồng bộ, nên các cấp Tòa án nhân dân vẫn còn phải vận dụng các Báo cáo tổng kết hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao; hoặc các thông tư, chì thị hướng dẫn nội bộ ngành để giải quyết những tranh chấp dân sự phát sinh trong thực tế nhưng chưa dược pháp luật quy định Đây là việc làm không bình thường của một chế độ Nhà nước pháp quyền và không phù hợp với yêu cầu của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.Nhận thức duợc tầm quan trọng đó nên ngay sau khi ban hành Hiến pháp nãm 1980, Nhà nước đã thành lập Ban soạn thảo Bộ luật dân sự Nhưng do kinh nghiệm lập pháp còn hạn chế và đây lại là vấn đề rất phức tạp của đời sống xã hội, nên sau mười lãm nãm soạn thảo công phu Bộ luật dân sự mới dược Quốc hội thống qua vào nãm 1995 Tuy còn có những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện nhung

Bộ luật dãn sự bước đầu pháp điển hoá các quy định dân sự, nhằm bào đảm tính chất hệ thống, thống nhất của pháp luật dân sự Theo Nghị quyết của Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 9 Bộ luật dân sự có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/1996 dã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình lập pháp của Nhà nước ta Bộ luật được xác định có tầm quan trọng sau Hiến pháp và có nhiệm vụ điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp, làm nền táng và định hướng cho việc phát triển các quan hệ dãn sự, kinh tế, hôn nhân và gia đình, lao động, đất đai và các lĩnh vục khác Bộ luật dân sự được ban hành năm 1995 là đạo luật có quy mò và

hệ thống nhát trong các bộ luật từ nãm 1945 đến nay Với phạm vi điều chinh các quan hệ dân sự rộng lớn, liên quan đến nhiều hoạt động của đời sống xã hội, nên

dể thực hiện có hiệu quả các quy định của Bộ luật dân sự Nhà nước đã ban hành nhiều vãn bản dưới luật hướng dẫn chi tiết thực hiện và đã thành lập nhiều cơ quan chức năng để thực hiện từng lĩnh vực khác nhau theo quy định của Bộ luật dân sự

Vi d ụ : Để thực hiện các quy định trong Bộ luật dân sự năm 1995, Chính phủ

đã ban hành nhiều Nghị định nhằm hướng dẫn áp dụng như: Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ về Ihủ tue chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyển sử dụng đất; Nghị dịnh số 25/1999/NĐ-CP ngày 19/4/1999 của Chính phú về phương thức trả nhà ở, giá cho thuê nhà ớ khi chưa trả lại nhà và thú tục xác lập quyển sở hữu nhà trong một số trường hợp riêng biệt được quy định tại Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998; Nghị định số

! 19/1999/NĐ-CP neày 18/9/1999 của Chính phú về một sô' chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ; Nghị định số 38/2000/NĐ-CP ngày 23/8/2000 của Chính phú về quy định thu liền sử dụng đất; Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về cổng chứng, chứng thực

Đế thực hiện có hiệu quả các quy định cúa Bộ luật dân sự năm 1995, Nhà nước đã thành lập các cơ quan chức năng có tính chất hỗ trợ như: Cơ quan bán đấu giá, cục đăng ký giao dịch có bảo đảm

Trang 33

Sau hơn mười năm thi hành Bộ luật dân sự năm 1995, nhiểu quy định đã không còn phù hợp nhất là khi Viột Nam đang tích cực chuẩn bị các điéu kiện để gia nhập Tổ chức thương mại thế giới nên việc sửa đổi pháp luật là cần thiết Từ những năm đầu của thế kỷ XXI, Nhà nước đã có chủ trương và thành lập Ban soạn thảo và sửa đổi Bộ luật dân sự năm 1995, nhằm: Khắc phục những hạn ch ế trong các quy định cũ; loại bỏ và bổ sung những quy định mói phát sinh trong đời sống

xã hội Ban dự thảo sửa đổi bộ luật đã tiến hành công tác điều tra, khảo sát tổng thể, đánh giá hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 1995, rút kinh nghiệm từ thực tiễn áp dụng và học hỏi kinh nghiệm của các nước phát triển Sau gần 5 năm tích cực và khẩn trương sửa đổi, Bộ luật dân sự năm 2005 đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua toàn vãn theo Nghị quyết sô' 45/2005/Q H 11 và được công bố theo Lệnh Chủ tịch nước số 06/2005/L-CTN ngày 27/6/2005

So với Bộ luật dân sự năm 1995 với 838 điều luật thì Bộ luật dân sự năm 2005 chỉ còn 777 điểu luật Như vậy, cùng với việc bổ sung những nội dung mới, cần thiết phải được điều chỉnh bằng pháp luật thì Bộ luật dân sự năm 2005 đã loại bỏ những sự chồng chéo hoặc không có ý nghĩa thực tế; sắp sếp lại thứ tự một số điều luật trong các chương, mục cho họp lý hơn; riêng phần thứ sáu quy định về quyền sở hữu trí tuệ chỉ quy định các vấn đề có tính chất cơ bản, còn nội dung đã được chuyển sang quy định trong luật chuyên ngành vẻ sở hữu trí tuệ

CÂU H Ỏ I T H Ả O LUẬN

1 Luật dân sự là gì? Trình bày khái quát chung về pháp luật dân sự

2 Đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự là những nhóm quan hệ xã hội nào? Hãy phân tích, vì sao Luật dân sự không điểu chỉnh toàn bộ các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân trong đời sống xã hội

3 Phân tích đặc điểm vể đối tượng điều chình của Luật dân sự

4 Vì sao Luật dân sự lại có phương pháp diều chỉnh riêng? Hãy phân tích các đặc điểm riêng về phương pháp điều chỉnh của Luật dân sự

5 So sánh sự khác biệt giữa Luật dân sự và một số ngành luật khác

6 Trình bày sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Luật dân sự ViệtNam

7 Phân tích những điểm mới về kết cấu và nội dung của Bộ luật dân sự năm

2005 do với Bộ luật dân sự năm 1995

Trang 34

B NGUỒN CỦA LUẬT DÂN s ự VIỆT NAM

I K H Á I N IỆM CH U N G VỂ NGUỚN TR O N G LU ẬT DÂN s ự

1 Khái niệm nguồn của pháp luật dân sự

Trong đời sống xã hội, khái niệm nguồn dùng để chỉ một xuất phát điểm, sự khởi đầu của một hiện trượng, sự vật, chẳng hạn suối là nguồn của sông

Nhung “nguồn”của pháp luật được hình thành từ nhiều sụ kiện khác nhau phản ánh các yêu cầu khách quan của Nhà nước trong quản lý và điều hành xã hội được hình thành bởi một hệ thống văn bản pháp luật Một trong những vấn đề cơ bản nhất - là nguồn của pháp luật - vẵn là ý chí của Nhà nước trong quá trình quản lý kinh tế, quản lý xã hội Theo c Mac, đó chính là “ý chí của giai cấp thống trị được nâng lên thành luật" Tất nhiên, ý chí của nhà nước không phải hoàn toàn chỉ có tính chất chủ quan mà nó còn phụ thuộc vào các điều kiện khách quan khác cùa đời sống xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau như: Kinh tế, chính trị, thể chế xã hội Theo nguyên lý chung thì pháp luật “là ý chí của giai cấp thống trị được nàng lên thành luật” để nhà nước điều hành, quản lý xã hội, quản lý kinh tế, bảo dảm trật tự an toàn xã hội và các lĩnh vực khác

Pháp luật dân sự cũng tuân thủ nguyên lý chung đó Nghĩa là, ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện trong các quy phạm pháp luật cụ thể và được thông qua theo một trình tự, thủ tục nhất định Tính chất đặc trưng của pháp luật nói chung

và nhất là cùa pháp luật dân sự nói riêng là ngoài quá trình “luật hoá” ý chí của nhà nuớc, của giai cấp thống trị, còn là việc “chuyển hoá” các tập quán, thói quen dân sự có tính chất truyền thống, phổ thông và tiến bộ vào các quy phạm pháp luật dân sự

Khái niệm nguồn trong pháp luật dân sự theo nghĩa rộng là các quy phạm pháp luật được ban hành theo một trình tự, thủ tục nhất định, quy định cách thức

và giới hạn cách ứng xử của các chủ thể khi tham gia các quan hệ dân sự riêng biệt Theo nghĩa hẹp, dó là các văn bản pháp luật cụ thể do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điểu chỉnh các quan hệ dân sự

Với tính chất là đạo luật quan trọng, phong phú và đa dạng, Bộ luật dân sự năm 1995 trước đây có tới 838 điều và hiện nay Bộ luật dàn sự năm 2005 còn 777 điều luật (vẫn là những bộ luật có nhiều điều luật nhất trong hệ thống pháp luật nước ta) Dù đã được bổ sung, hoàn thiện nhưng hai Bộ luật dân sự cũng không thể khái quát và quy định dược toàn bộ, đầy đù các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân trong đời sống xã hội; nhất là các vấn đề liên quan đến sự cam kết, thoả thuận của các chủ thể trong quá trình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự trong điều kiện của nền kinh tế thị trường Do đó, trước đây Điều 14 Bộ luật dân sự nãm 1995 và hiện nay Điều 3 Bộ luật dân sự nãm 2005 đã quy định: “Trong trường hợp pháp

Trang 35

luật không quy định và các bên không có thoả thuận thì có thể áp dụng tập quán; nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật Tập quán và

áp dụng quy định tương tự của pháp luật không được trái với những nguyên tăc quy định trong Bộ luật này” Đây cũng chính là điểm đặc trưng nhất của pháp luật dân sự

Với những đặc điểm trẽn đây, nguồn của pháp luật dân sự ngoài Bộ luật dân

sự thành văn - là một loại nguồn chính, thì còn là cả một hệ thống các vãn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo một trình tự, thù tục do Luật ban hành vãn bản quy phạm pháp luật quy định để giải thích, quy định

bổ sung, hướng dẫn áp dụng các vấn đề có liên quan thuộc phạm vi điều chinh của Luật dân sự là: Quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân Vì vậy, để điều chỉnh một cách có hiệu quả theo nhũng quy định của pháp luật dân sự, các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền còn ban hành nhiều vẫn bản pháp luật để áp dụng mà Bộ luật dân

- Một là, yêu cầu chung

+ Vãn bản đó phải bảo đảm các tiêu chuẩn về chính trị, không có nội dung trái với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Văn bản đó phải phát huy dược tính tích cực trong điều kiện: “Môi trường hoà bình, sự hợp tác, liên kết quốc

tế và những xu thế tích cực trên thế giới tạo điều kiện dể chúng ta tiếp tục phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực” (2)

+ Văn bản đó phải bảo đảm các tiêu chuẩn pháp lý của một văn bản pháp quy Nghĩa là, việc ban hành từng loại văn bán phải theo đúng trình tự, thẩm quyền, có nội dung hợp pháp Việc ban hành vãn bản đó phải đúng thủ tục và phải ban hành đúng thời hạn do pháp luật quy định

+ Văn bản đó phải bảo đảm tiêu chuẩn khoa học: Phù hợp với những điều kiện khách quan vẻ: Kinh tế, chính trị, xã hội; phù hợp với phong tục, tập quán và

(1 ) X in tham k hảo th êm sách “C hi d ẫ n áp dụ n g các qu y địn h khác c ù a Bộ lu ậl d ãn sự”c ủ a N X B

L ao đ ộ n g năm 2000 Lưu ý chi d ẫn này th eo các qu y đ ịn h củ a Bộ luật dãn sự n ăm 1995.

(2) B áo cáo ch ỉn h trị của Ban ch ấ p hành T ru n g ương Đ á n g kh o á V III được trình bày tại D ai hôi đai

biếu toàn qu ố c lần Ihứ IX cù a Đ án g , Báo nh ân d ãn số ra ng ày 2 0 /4 /2 0 0 1 , tr 2.

Trang 36

đối tượng áp dụng; phù hợp về cách thức kết cấu, trình bày, văn phong phải rõ ràng, dễ hiểu không dùng những từ đa nghĩa.

- Hai là, yêu cầu riêng

+ Văn bản đó phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo đúng trình tự, thú tục do luật ban hành vãn bản quy phạm pháp luật quy định

+ Trong văn bản đó phải chứa đụng các quy phạm pháp luật dân sự Nghĩa

là, phần nội dung phải có các quy định như một quy phạm pháp luật đế điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực tài sản và một số quan hệ nhân thân, là đối tượng điểu chỉnh cùa pháp luật dân sự

2 Phân loại nguồn cúa Luật dán sự

- Nếu dựa theo thẩm quyền cúa các cơ quan ban hành vãn bản pháp luật, có thể phân ra làm hai loại:

+ Các văn bán pháp luật do các cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành bao gồm: pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; nghị định của Chính phú; các quyêt định hoặc thòng tư, chí thị cùa các bộ, các cơ quan ngang bộ + Các vãn bản pháp luật do cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành bao gồm: Chỉ thị, thông báo hoặc các quyết định riêng biệt cùa Uỷ ban nhân dàn; các văn bản hướng dẫn, giải thích của các sờ, ban, ngành chuyên môn

- Nếu dựa theo hiệu lực pháp lý cùa vãn bản pháp luật, có thể phân ra làm

ba loại:

- Đạo luật cơ bản: Hiến pháp

- Các bộ luật và các luật có liên quan

- Các văn bản dưới luật

Theo nguyên tắc chung, các quy phạm pháp luật dân sự đều có hiệu lực bắt buộc thi hành Nhtmg căn cứ vào hình thức cứa văn bản, cơ quan ban hành văn bán

và hiệu lực pháp lý cùa vãn bản, nguồn của Luật dân sự nếu dựa theo hiệu lực pháp

lý có thế được phân chia thành các loại sau đây:

a H iến pháp

Với tính chất là đạo luật cơ bản của một Quốc gia, là cơ sớ pháp lý của một

hệ thống pháp luật, nên Hiến pháp là cơ sở để xây dựng các luật, văn bản pháp luật khác Là đạo luật cơ bàn của Nhà nước, Hiến pháp chí quv định những nauyên tắc chung nhất của Nhà nước về: Chế độ chính trị, chế độ kinh tế, tổ chức bộ máy nhà nước, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân các đạo luật và các luật cụ thể

Trang 37

phải dựa vào Hiến pháp và cụ thể hóa những qụy định của Hiến pháp đê điéu chỉnh, tác động tới các quan hệ xã hội mà ngành luật đó có nhiệm vụ điều chình.Đối với Luật dân sự, Hiến pháp cũng là một nguồn có ý nghĩa rất quan trọng đặc biệt Dù rằng, trong Hiến pháp chỉ ghi nhận những vấn đề chung nhât liên quan đến Luật dân sự như: Chế độ kinh tế, quyển và nghĩa vụ cơ bản cùa công dán Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định những nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội Việt Nam ở giai đoạn đầu, thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội với nền kinh tê' thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý cùa Nhà nước Chương II Hiến pháp năm 1992 khi quy định chê dộ kinh tế

đã xác định tính chất cùa nển kinh tế trong giai doạn hiện nay ở nước ta là: Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý cùa Nhà nước Tại chương này, Hiến pháp nám 1992 đã xác nhận sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân; các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên

cơ sở phát huy nội lực, chù động hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá; xác nhận các chế độ sớ hữu Nhà nước, sớ hữu tập thể, sờ hữu tư nhân, trong, đó sở hữu Nhà nước và sớ hữu tập thể là nền táng

Liên quan nhiéu và trực tiếp đến Luật dân sự là Chương V Hiến pháp nãm

1992 quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Ngoài những quyền vể chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Chương V Hiến pháp năm 1992 còn xác nhận những quyền dân sự cơ bản của công dân như: Quyền tự do kinh doanh; quyền sờ hữu những thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở; quyền thừa kế; quyền bình đẳng về nâng lực pháp luật của công dân; các quyển nhân thân và quyền tài sản khác của công dân Trên cơ sở những quy định có tính cơ bản này, Bộ luật dân sự năm 2005 và các văn bản pháp luật có liên quan sẽ tiếp tục cụ thể hoá trong từng lĩnh vực khác nhau

b Bộ luật dán sự và các đạo luật

* Bộ luật dân sự

Từ khi Bộ luật dân sự nãm 1995 được ban hành, có hiệu lực thi hành và sau

đó được thay thế vào năm 2005 thì Bộ luật dãn sự năm 2005 là nguồn chủ yếu, trực tiêp và quan trọng nhất cùa pháp luật dân sự Bộ luật dân sự nãm 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuy có ít hơn một sô điểu luật so với Bộ luật dân sự năm 1995 do yêu cầu cúa kỹ thuật lập pháp vẫn là Bộ luật lớn nhất của Nhà nước ta: Về số lượng điều luật, phạm vi điều chính, vé tính thòng nhất và khái quát cũng như về thời gian chuán bị bổ sung, sứa đổi

Bộ luật dân sự năm 2005, ngoài việc tiếp tục cụ thể hoá những quy định cùa Hiến pháp năm 1992 thê chế hóa Cươna lĩnh chiến lươc phát triển kinh tế - xã hòi

Trang 38

của Đảng, các Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc bảo vệ quyển lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc trong sinh hoạt, tiêu dùng cũng như trong sản xuất, kinh doanh trong điểu kiện hội nhập sâu vào nển kinh tế thế giới.

Các quy định phù hợp, có hiệu quả pháp lý cao sẽ tạo ra sự ổn định các quan

hệ dân sự trong đời sống xã hội, nhằm “tiếp tục giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội, quyền con người về dân sụ góp phần xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiểu thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, vãn minh” (xác định như Lời nói đầu của Bộ luật dân sự năm 1995)

Bộ luật dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyển, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; xây dựng và quy định địa vị pháp

lý, quyền, nghĩa vụ cũng như các chuẩn mực pháp lý, cách ứng xử cho các chủ thê của Luật dân sự trong các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân Các quy định cụ thể của Bộ luật dán sự năm 2005 tiếp tục quán triệt mục tiêu cơ bản là: Tăng cường quán lý xã hội bàng pháp luật, góp phần bảo đảm cuộc sống cộng đổng ổn định, lành mạnh, giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, thuần phong mỹ tục và bản sắc vãn hoá dân tộc hình thành trong lịch sử xây dụng và bảo

vộ Tổ quốc Việt Nam Các quy định cụ thể của Bộ luật dân sự năm 2005 tiếp tục góp phẩn hạn chế tranh chấp tiêu cực trong giao lưu dân sự; tạo cơ sở pháp lý cho Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyển khi giải quyết các tranh chấp dân sự

Việc ban hành Bộ luật dân sự năm 2005 là thực hiện bước quan trọng pháp điển hóa pháp luật dân sự theo hướng tiếp tục mở rộng đối tượng, phạm vi điểu chỉnh; khắc phục tình trạng tản mạn, không đầy đủ, thiếu đồng bộ, tạo cơ sở thuận lợi cho việc áp dụng và thi hành thống nhất pháp luật Bộ luật dân sự năm 2005 là

sự kế thừa, phát triển một truyền thống của pháp luật dân sự Việt Nam, nhất là Bộ luật dân sự năm 1995 và tiếp thu những tinh hoa của pháp luật dân sự trên thế giới vận dụng vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử của Việt Nam giai đoạn hiện tại khi đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới và trong tiến trình toàn cầu hóa

Bộ luật dân sự năm 2005 có nội dung chủ yếu, gồm căn cứ pháp lý ban hành

và báy phần, ghi nhận, quy định các chế định truyền thống khác nhau của pháp luật dân sự theo những tiêu chí khoa học Luật dân sự

Căn cứ pháp lý ban hành của Bộ luật dân sự nãm 2005 chỉ rõ đó là các quy định cùa Hiến pháp năm 1992-Đạo luật cơ bản của Nhà nước, những định hướng

cơ bản có tính chất chi đạo chung đối với các quy dịnh cụ thế của Bộ luật

- Phần thứ nhất: Đây là phần “những quy định chung” tương tự như Bộ luật dân sự năm 1995 nhưng đã có sự kết cấu lại Ihứ tự một số điểu luật Nội dung chủ

Trang 39

yếu của phần này là quy định nhiệm vụ và hiệu lực cùng nguyên tắc áp dụng Luật dân sự khi giải quyết các tranh chấp của Bộ luật dân sự; những nguyên tắc cơ bản trong việc xác lập, thực hiện các quyển và nghĩa vụ dân sự Phần chung này được kết cấu trong 9 chương với tổng số 162 điều luật Trong phần chung này, chương I

Bộ luật dân sự quy định nhiệm vụ và hiệu lực của Bộ luật dân sự; chương II quy định các nguyên tắc cơ bản được áp dụng chung cho tất cả các chế định trong Bộ luật Các chương tiếp theo của Bộ luật đã quy định một cách tổng quát vé chù thể của quan hệ pháp luật dân sự là cá nhân và các vấn đề có liên quan (chương III); từ chương IV đến V xác định địa vị pháp lý của các loại chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác Tại phẩn những quy dịnh chung, chương VI Bộ luật dân sự quy định các nguyên tắc cơ bản về: Giao dịch dãn sự và hậu quà pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu; chương VII quy định vấn đê đại diện; chương VIII quy định vẻ thời hạn và chương IX là các quy định riêng về thời hiệu cùng các vấn đề có liên quan Đây là những quy định có ý nghĩa đối với tất cả các chế định trong Luật dân sự Các chế định cụ thể cùa Bộ luật dân sự được quy định dựa trên cơ sở những quy định chung tại Phần thứ nhất

Theo khoa học Luật dân sự và nguyên tắc cúa pháp luật thì những quy định

có tính chất chung này được áp dụng cho tất cả các chế định cúa Bộ luật dân sự Ngoài ra, những quy định chung của Bộ luật còn được áp dụng khi phải vân dụng tập quán hoặc áp dụng tương tự để giải quyết tranh chấp Đây là nhũng quy định nhằm bảo đảm tính thống nhất vể nội dung các quy định trong Bộ luật và thống nhất trong việc áp dụng của Toà án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyển khi giải quyết các tranh chấp dân sự

- Phẩn thứ hai: Tài sản và quyền sở hữu Theo truyền thống, đây là chế định trọng tâm nhất của pháp luật dàn sự Trên cơ sở quyền sở hữu, các chủ thể mới có thể sử dụng hoặc thực hiện quyẻn định đoạt khi tham gia giao dịch dãn sự Với những đặc thù riêng về tài sản và quyền sở hữu nên Bộ luật dân sự năm 2005 vẫn quy định ngay tại Phần thứ hai của bộ luật với 7 chương: Từ chương X đến chương XVI (từ Điều 163 đến Điều 279)

Do tính chất đặc trưng riêng về sở hữu, nên Phần thứ hai của Bộ luật đã dành toàn bộ chương X đê’ quy định nhũng vấn đề có tính chất chung về tài sản và quyển sở hữu Ngoài những quy định chung tại Phần thứ nhất thì những quy định chung tại chương X Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định một cách tổng the về tài sán; quyển sở hữu và thời đicm chuyền quyền sở hữu; nguyên tắc thực hiện và bảo

vệ quyền sở hữu; căn cứ xác lập và chấm dứt quyền sớ hữu; các hình thức sờ hữu

và tiêp tục quy định quyển của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản

Trong các chương tiếp theo là các quy định vé các loại tài sản cùng cách phân loại (chương XI); chương XII quy định về nội dung cơ bán cùa quyền sớ hữu (gồm các quyển năng cụ thê: Chiếm hữu sử dụng và định đoạt); chươns XIII quy38

Trang 40

định cụ thể các hình thức sở hữu (gồm 6 mục vói sáu hình thức sở hữu); chương XIV quy định riêng về các căn cứ xác lập, chấm dứt quyền sở hữu; chương XV quy định vể bảo vệ quyền sở hữu cùng nguyên tấc bảo vệ quyền sở hữu bằng trình

tự pháp luật dân sự và chương XVI quy định riêng vể “những quy định khác về quyển sở hữu” (thực chất là quy định về địa dịch và những dịch quyền của chủ sở hữu, giới hạn quyền của chủ sờ hữu trong quá trình sở hữu tài sản)

Trước khi Bộ luật dân sự năm 1995 được ban hành, trong hệ thống các văn bản pháp luật dân sự của Nhà nước ta chưa có một văn bản nào quy định về vấn đề này; các quy định này tiếp tục được hoàn thiện cho hợp lý hơn trong Bộ luật dân

sự năm 2005 Với vai trò, ý nghĩa của tài sản và quyền sở hữu trong nền kinh tế quốc dãn, trong cuộc sống thường ngày của mỗi người dân, nên Bộ luật dân sự xác định là chế định có vị trí trung tâm trong các chế định cùa pháp luật dân sự Đây là tiền đề quan trọng để các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự có quyền xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự và bàng tài sản thuộc sờ hữu của mình đê gánh chịu những trách nhiệm pháp lý dân sự

Các quy định vể tài sản và quyền sở hữu trong Phần thứ II Bộ luật dân sự năm 2005 tiếp tục cụ thể hoá quy định về chế độ sở hữu được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1992 trong điều kiện nước ta đã hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới Những quy định tại Phần thứ hai vẫn thê hiện tính định hướng xã hội chú nghĩa trong sờ hữu, bảo đảm và ổn định quyên sở hữu của cá nhân, pháp nhân, tổ chức

và các chủ thể khác trong giao lưu dân sự; tạo ra những tiền đề pháp lý làm cơ sở vững chắc để phát triển sản xuất, mở rộng đầu tư trong và ngoài nước; tạo điểu kiện cho nền kinh tế quốc dân luôn ổn định và không ngừng tăng trưởng

- Phần thứ ba: Nghĩa vụ dân sự và hợp đổng dân sự Đây là phần có tính chất phổ biến, phức tạp của pháp luật dân sự và là phần có tổng số điều luật nhiều nhất của Bộ luật dân sự Do tính chất đa dạng của các quan hệ dân sự nên Phần thứ

ba được quy định từ Điều 280 đến Điều 630 trong Bộ luật

Do tính chất đặc trung riêng vẻ nghĩa vụ dân sự và hợp dồng dân sự, nên Phẩn thứ ba của Bộ luật cũng đã dành toàn bộ chương XVII để quy định những nguyên tắc cơ bản có tính chất chung vé nghĩa vụ dân sự, thực hiện nghĩa vụ dân

sự, chấm dứt nghĩa vụ dân sự trách nhiệm dân sự, các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và hợp đổng dân sự Cũng như chế định tài sản và quyền sở hữu, ngoài những quy định chung tại Phần thứ nhất thì “những quy định chung” tại chương XVII được áp dụng cho toàn bộ các quy định tại Phẩn thứ ba Trong phần này đã quy định một cách tổng thể riêng các vấn để liên quan đến nghĩa vụ dân sự, các nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ dân sự, trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ (và trách nhiệm dân sự trong những trường hợp riêng biệt), các nguyên tắc về chuyên giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ, các nguyên tắc chung

về chấm dứt nghĩa vụ và các quy định có tính chất nguyên lý chung (bao gồm các vấn đc có liên quan) vể hợp đồng dân sự

Ngày đăng: 02/02/2020, 03:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w