1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các yếu tố tiên lượng và kết quả điều trị phẫu thuật chấn thương sọ não nặng do máu tụ dưới màng cứng cấp tính

6 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 352,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật chấn thương sọ não nặng do máu tụ dưới màng cứng cấp tính và đưa ra các yếu tố tiên lượng. Nghiên cứu thực hiện theo phương pháp mô tả tiến cứu cắt ngang không đối chứng 34 bệnh nhân chấn thương sọ não nặng do máu tụ dưới màng cứng cấp tính được phẫu thuật mở sọ giải áp kèm lấy máu tụ được thực hiện tại khoa Ngoại thần kinh Bệnh viện Trung Ương Huế.

Trang 1

CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG VÀ KẾT QUẢ   ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO NẶNG  

DO MÁU TỤ DƯỚI MÀNG CỨNG CẤP TÍNH 

Hoàng Nguyễn Nhật Tân*, Nguyễn Hải Long*, Nguyễn Vũ Hiệp*, Nguyễn Thị Hà*,   Huỳnh Kim Ngân*, Ngô Văn Quang Anh*, Nguyễn Hữu Mỹ*, Võ Bá Tường*, Phan Bình Nguyên*.  

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật chấn thương sọ não nặng do máu tụ dưới màng cứng cấp 

tính và đưa ra các yếu tố tiên lượng.  

Phương pháp: Nghiên cứu thực hiện theo phương pháp mô tả tiến cứu cắt ngang không đối chứng 34 bệnh 

nhân chấn thương sọ não nặng do máu tụ dưới màng cứng cấp tính được phẫu thuật mở sọ giải áp kèm lấy máu 

tụ được thực hiện tại khoa Ngoại thần kinh Bệnh viện Trung Ương Huế. Ghi nhận tất cả yếu tố liên quan đến  tiên lượng khi nhập viện, phân loại theo thang điểm GCS, đánh giá kết quả điều trị theo GOS. Khảo sát tương  quan giữa các yếu tố đó với mức độ hồi phục qua sự cải thiện tri giác.  

Kết quả:‐ 34 bệnh nhân được phẫu thuật từ tháng 3/ 2013 đến tháng 6/2014 có độ tuổi từ 5 đến 84, trong 

đó tuổi từ 21 đến 40 tuổi chiếm 50%, nam gấp 3 lần nữ. Kết quả điều trị tốt GOS (4‐5) chiếm tỷ lệ 47,1%, tỷ lệ 

tử vong là 26,5%. ‐ GCS (4‐5), dãn đồng tử là các yếu tố tiên lượng nặng. 

Kết  luận: Mở sọ giải áp trong phẫu thuật chấn thương sọ não nặng do máu tụ dưới màng cứng cấp tính 

giúp giảm biến chứng sau mổ, có 2 yếu tố tiên lượng nặng. 

Từ khóa: máu tụ dưới màng cứng cấp tính, chấn thương sọ não nặng, mở sọ giải áp. 

ABSTRACT 

PROGNOSTIC FACTORS AND SURGICAL OUTCOME OF ACUTE SUBDURAL HEMATOMA  

IN SEVERE TRAUMATIC BRAIN INJURY 

Hoang Nguyen Nhat Tan, Nguyen Hai Long, Nguyen Vu Hiep, Nguyen Thi Ha,   Huynh Kim Ngan, Ngo Van Quang Anh, Nguyen Huu My, Vo Ba Tuong, Phan Binh Nguyen 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 165 – 170 

Objectives : Assessment of surgical outcome of ASDH and the prognostic factors in severe TBI. 

Methods: A non‐comparative, cross‐ sectional and observational study of the 34 cases of ASDH in severe 

traumatic brain injury undergone decompressive craniectomy and hematoma evacuation is done at Hue Central  Hospital. All factors related to prognosis were documented.The conscious state of patients was assessed with GCS  and  the  surgical  outcome  was  assessed  with  GOS.  The  correlation  of  prognostic  factors  and  the  outcome  was  evaluated with statistical analysis.   

Results: There are 34 patients undergone decompressive craniectomy from 03/2013 to 06/2014. Mean age is 

38.4±16.49.  Of  all,  21‐40  accounts  for  50%.  Male  is  three  times  as  many  as  female.  GOS  4‐5  is  composed  of  47.1%. The death rate is 26.5%. GCS of 4‐5 score and bilateral‐ dilatedpupils are unfavorable prognostic factors. 

Conclusions:  Decompressive  craniectomy  seems  to  be  an  efficient  method  in  severe  TBI  which  reduces 

postoperative complications and there are 2 prognostic factor. 

Keywords: Acute subdural hematoma, trauma brain injury, decompressive craniectomy. 

* Bệnh viện Trung Ương Huế

Trang 2

Trong các loại cấp cứu chấn thương thì chấn 

thương  sọ  não  (CTSN)  là  một  cấp  cứu  ngoại 

khoa thường gặp, và hiện nay đang gia tăng với 

sự phát triển không ngừng của nền công nghiệp 

hiện  đại.  Trên  toàn  thế  giới,  CTSN  có  thể  trở 

thành nguyên nhân gây tử vong và tàn tật hàng 

đầu thế giới vào năm 2020. Trong các tổn thương 

của CTSN thì máu tụ dưới màng cứng cấp tính 

là  nguyên  nhân  gây  tỷ  lệ  tử  vong  cao.  Khi  nào 

chỉ định phẫu thuật giải phóng chèn ép cho bệnh 

nhân  bị  chấn  thương  sọ  não  nặng  do  máu  tụ 

dưới  màng  cứng  cấp  tính  để  có  thể  đạt  được 

hiệu quả cao nhất là câu hỏi luôn đặt ra cho các 

phẫu thuật viên thần kinh. 

Do vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Các yếu 

tố tiên lượng và đánh giá kết quả điều trị phẫu 

thuật chấn thương sọ não nặng do máu tụ dưới 

màng cứng cấp tính” nhằm mục tiêu: 

Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật sau khi 

ra viện và tái khám sau 2 tháng và mô tả một số 

yếu tố liên quan đến kết quả điều trị. 

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng 

34 bệnh nhân chấn thương sọ não nặng (GCS

≤ 8) trên phim cắt lớp vi tính sọ não có máu tụ 

dưới  màng  cứng  được  phẫu  thuật  trước  72  giờ 

sau  chấn  thương  từ  tháng  3/2013  đến  tháng 

6/2014 tại bệnh viện Trung Ương Huế. 

Tất  cả  các  bệnh  nhân  đều  được  phẫu  thuật 

theo quy trình: mở sọ rộng, để ngỏ màng cứng, 

lấy  bỏ  máu  tụ.  Mảnh  xương  sọ  được  gửi  tại 

Ngân hàng mô‐ BV TW Huế. 

Đánh giá kết quả điều trị theo thang điểm 

Glasgow  Outcome  Scale  của  Jennett  B.  và 

Bond M. 

Phân  chia  kết  quả  điều  trị  :  Tốt:  GOS  4‐5 

Xấu : GOS 1‐3 

Phương pháp nghiên cứu 

Nghiên cứu thực hiện theo phương pháp mô 

tả can thiệp tiến cứu không đối chứng 

Lập,  quản  lý  hồ  sơ  và  xử  lý  số  liệu  theo  hệ  thống phần mềm Y học SPSS 22. 

KẾT QUẢ 

Độ  tuổi  trung  bình  của  34  bệnh  nhân  chấn  thương  sọ  não  (CTSN)  nặng  do  máu  tụ  dưới  màng cứng cấp tính (DMCCT) có độ tuổi từ 5‐84  tuổi,  trung  bình  là  38,38  ±  16,49  tuổi.  Hay  gặp  nhất là 21‐40 tuổi, với 17 trường hợp chiếm 50%. 

Tỷ lệ nam/ nữ là 25/9. Tỷ lệ tử vong 9/34 (26,5%),  hồi  phục  tốt  16/34  (47,1%),  sống  thực  vật  và  di  chứng là 9/34 (26,5%). 

Liên quan giữa tuổi với kết quả điều trị 

Bảng 1.Liên quan giữa tuổi với kết quả điều trị 

Tuổi vong Tử Di chứng nặng, sống thực vật chứng Di

nhẹ

Không

di chứng

Tổng

12 18

3 1

P  2 =1,75 p=0,216 (>0,05)

Nhận xét: Không có sự khác biệt có ý nghĩa  thống  kê  giữa  hai  nhóm  tuổi  trên  với  kết  quả  điều trị 

Liên quan tri giác trước mổ với kết quả điều trị 

Bảng 2. Liên quan tri giác trước mổ với kết quả điều 

trị 

Glasgow vong Tử nặng, sống Di chứng

thực vật

Di chứng nhẹ

Không di chứng Tổng

4 0 1 0 0 1

5 3 1 0 0 4

6 4 4 3 6 17

7 2 0 3 5 10

8 0 0 2 0 2

P  2 = 7,42 p=0,011 (<0,05)

Nhận xét: Nhóm GCS 4‐5 điểm trước mổ có 

tỷ lệ tử vong, sống thực vật và di chứng nặng là  100%(5/5),  cao  hơn  có  sự  khác  biệt  có  ý  nghĩa  thống kê so với nhóm có điểm GCS 6‐8 điểm là  52,6% (10/19) với p< 0,05. 

Trang 3

Bảng 3.Liên quan giữa dãn đồng tử với kết quả điều 

trị 

Đồng tử vong Tử nặng, sống Di chứng

thực vật

Di chứng nhẹ

Không di chứng Tổng

Dãn một

P  2 = 13,25 p <0,01

Nhận xét: Khi có dãn đồng tử hai bên tỷ lệ tử 

vong, sống thực vật và di chứng nặng cao hơn so 

với các trường hợp chưa có dãn đồng tử hai bên 

có ý nghĩa thống kê với p< 0,01. 

Liên quan giữa dấu hiệu liệt nửa người với kết  quả điều trị 

Bảng 4.Liên quan giữa dấu hiệu liệt nửa người với 

kết quả điều trị 

Liệt nửa người vong Tử

Di chứng nặng, sống thực vật

Di chứng nhẹ

Không

di chứng Tổng

Liệt nửa

P  2 = 0,10 p= 0,548 (>0,05)

Nhận xét: Khi có tình trạng liệt nửa người, tỷ 

lệ  tử  vong,  sống  thực  vật  hay  di  chứng  nặng  không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với 

tỷ lệ này khi chưa có liệt (p>0,05). 

Liên quan giữa bề dày khối máu tụ với kết quả điều trị 

Bảng 5.Liên quan giữa bề dày khối máu tụ với kết quả điều trị 

Bề dày khối

máu tụ Tử vong

Di chứng nặng, sống thực

vật Di chứng nhẹ

Không di chứng Tổng

P  2 = 0,6 p= 0,384 (>0,05)

P 2 = 0,6 p= 0,384 (>0,05)   

Nhận xét: Không có sự khác biệt có ý nghĩa 

thống kê giữa hai nhóm  

Liên quan giữa di lệch đường giữa với kết quả 

điều trị 

Bảng 6.Liên quan giữa di lệch đường giữa với kết 

quả điều trị 

Di

lệchđường

giữa

Tử

vong

Di chứng nặng, sống thực vật

Di chứng nhẹ

Không

di chứng

Tổng

4 8

11 11

P  2 =0,875 p=0,285 (>0,05)

Nhận xét: Không có sự khác biệt có ý nghĩa  thống kê giữa hai nhóm  

Liên  quan  giữa  thời  gian  từ  lúc  chấn  thương  đến lúc phẫu thuật với kết quả điều trị 

Bảng 7.Liên quan giữa thời gian từ lúc chấn thương 

đến lúc phẫu thuật với kết quả điều trị 

Thời gian từ lúc chấn thương đến lúc phẫu thuật

Tử vong

Di chứng nặng, sống thực vật

Di chứng nhẹ

Không

di chứng Tổng

4 7

11 12

P  2 = 0,79 p= 0,4 (>0,05)

Trang 4

Nhận  xét:  Nhận  xét:  Không  có  sự  khác  biệt 

có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm  

BÀN LUẬN 

Kết quả phẫu thuật lấy máu tụ dưới màng cứng 

cấp tính ở bệnh nhân chấn thương sọ não nặng 

Độ tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 

là  38,38  ±  16,49  tuổi,  thấp  nhất  là  5  tuổi  và  cao 

nhất là 84 tuổi, độ tuổi hay gặp nhất là 21‐40 tuổi 

chiếm  50%,  nam  gặp  nhiều  hơn  nữ  có  ý  nghĩa 

thống  kê,  Sỡ  dĩ  ở  nhóm  tuổi  này  gặp  nhiều  vì 

đang ở độ tuổi lao động có nhu cầu đi lại và vui 

chơi giải trí bằng các phương tiện giao thông và 

nam  giới  nhiều  hơn  nữ  giới  do  tính  hiếu  động 

của  nam  giới,  sự  chủ  quan  khi  tham  gia  giao 

thông,hoặc  trong  điều  kiện  sử  dụng  các  chất 

kích thích (rượu, bia, các chất gây nghiện…), các 

tai nạn lao động trong xây dựng các tòa nhà cao 

tầng,  đánh  nhau  xảy  ra  ở  nam  giới.  Kết  quả 

nghiên cứu có 9 trong tổng số 34 trường hợp tử 

vong  chiếm  26,5%,  tỷ  lệ  tử  vong  trong  nghiên 

cứu của chúng tôi tương đương với nghiên cứu 

của các tác giả trong nước. Chấn thương sọ não 

nặng có tỷ lệ sống thực vật hoặc di chứng nặng 

từ 40‐60%. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ 

này là 26,5%. Khi CTSN nặng ALNS sẽ tăng cao 

do  khối  choán  chỗ  của  khối  máu  tụ  DMC,  làm 

giảm  áp  lực  tưới  máu  não,  giảm  cung  cấp  ôxy 

cho não dẫn tới chuyển hóa yếm khí và càng làm 

tăng ALNS. 

Các yếu tố tiên lượng 

Liên quan giữa tuổi với kết quả điều trị 

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  kết  quả 

điều  trị  giữa  hai  nhóm  tuổi  ≤60  và  nhóm  >  60 

tuổi không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 

với p>0,05. Kết quả này tương tự với nghiên cứu 

của tác giả Trần Hoàng Mạnh (2004)( 8 ). Như vậy, 

tuổi không phải là yếu tố tiên lượng nặng. 

Liên quan tri giác trước mổ với kết quả điều trị 

Theo  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  khi  GCS 

trước mổ là 4‐5 điểm thì số tử vong, sống thực 

vật và di chứng nặng (kết quả điều trị xấu) so 

với GCS trước mổ là 6‐8 điểm có sự khác biệt 

có  ý  nghĩa  thống  kê  (p<0,05).  Tất  cả  các  bệnh  nhân có GCS từ 4‐5 điểm điều có kết quả điều  trị xấu, trong khi đó nhóm có GCS từ 6‐8 điểm 

tỷ  lệ  phục  hồi  tốt  là  65,5%,  nghiên  cứu  của  Nguyễn  Đình  Hưng  và  cộng  sự  (2012)  là  73,5%( 6 ).  Theo  nghiên  cứu  của  Bose  (2002),  Albanèse  (2003)( 1,3 )  và  các  tác  giả  trong  nước  điều cho thấy điểm Glasgow liên quan tới kết  quả điều trị. Như vậy tri giác trước mổ thấp là  một yếu tố tiên lượng nặng. 

Liên quan giữa dãn đồng tử với kết quả điều trị 

Tình  trạng  dãn  đồng  tử  có  thể  là  do  chấn  thương trực tiếp ở sàn sọ và hốc mắt (tổn thương  dây thần kinh số 3), nhưng trong máu tụ DMC  cấp  tính  thì  thường  do  thoát  vị  não  thùy  thái  dương gây chèn ép dây thần kinh số 3 cùng bên  với máu tụ, 34 bệnh nhân trong nghiên cứu của  chúng tôi có 24 bệnh nhân có dãn đồng tử chiếm 

tỷ  lệ  70,6%,  tương  tự  với  các  nghiên  cứu  khác  của Bùi Ngọc Tiến 62,86% (2012)( 4 ) những trường  hợp  này  não  giữa  bị  chèn  ép  gây  suy  giảm  tri  giác  và  đi  vào  hôn  mê,  điều  trị  chậm  trễ  các  thương tổn sẽ không phục hồi. Nếu so sánh kết  quả điều trị thì nhóm có dãn đồng tử hai bên có 

tỷ lệ kết quả điều trị xấu cao hơn và có ý nghĩa  thống kê so với nhóm không dãn hoặc dãn một  bên (p<0,01). Kết quả chúng tôi tương tự với kết  quả  của  các  tác  giả  trong  và  ngoài  nước.  Như  vậy,  dãn  đồng  tử  hai  bên  là  một  yếu  tố  tiên  lương nặng. 

Liên quan giữa dấu hiệu liệt nửa người với kết quả  điều trị 

Thương tổn não làm yếu (hoặc liệt) vận động 

có  thể  ở  vỏ  não  (vùng  vận  động  cơ  bản,  phần  trước  vận  động  và  vùng  vận  động  phụ),  vành  tia, bao trong và thân não. Trong chấn thương sọ  não do máu tụ dưới màng cứng cấp tính thì tình  trạng liệt là do có sự chèn ép tăng dần do khối  máu tụ to lên. Trong nghiên cứu của chúng tôi,  bệnh  nhân  có  tình  trạng  liệt  nửa  người  thì  kết  quả  điều  trị  xấu  3/6  (50%)  so  với  khi  không  có  liệt  là  12/28  (42,8%),  không  có  sự  khác  biệt  ý  nghĩa thống kê so với nhóm bệnh nhân chưa có 

Trang 5

bệnh nhân có tình trạng liệt nửa người và tất cả 

bệnh nhân này điều có GCS từ 6‐ 8 điểm, do khi 

GCS 4‐5 điểm thì bệnh nhân đã có biểu hiện của 

co cứng mất vỏ hay duỗi cứng mất não. Kết quả 

nghiên cứu của chúng tôi giống kết quả nghiên 

cứu  của  tác  giả  Nguyễn  Đình  Hưng  (2011)( 6 ). 

Như vậy, liệt nửa người không phải là một yếu 

tố tiên lượng nặng. 

Liên quan giữa hình ảnh cắt lớp vi tính với kết quả 

điều trị 

Di lệch đường giữa và bề dày khối máu tụ 

là một dấu hiệu quan trọng để quyết định phẫu 

thuật  mở  sọ  giải  áp  lấy  máu  tụ,  trong  nghiên 

cứu  của  chúng  tôi,  hai  nhóm  bệnh  nhân  có  di 

lệch đường giữa di lệch >10mm và ≤10mm thì 

tỷ lệ kết quả điều trị xấu không khác biệt có ý 

nghĩa  thồng  kê,  kết  quả  tương  tự  đối  với  hai 

nhóm có bề dày khối máu tụ >15mm và nhóm 

≤ 15mm, nghiên cứu của chúng tôi có kết quả 

khác so với kết quả nghiên cứu của các tác giả 

khác,  có  thể  là  do  số  lượng  bệnh  nhân  trong 

nghiên  cứu  của  chúng  tôi  còn  ít  nên  không  có 

một  sự  đánh  giá  tổng  quan.  Như  vậy,  theo 

nghiên cứu của chúng tôi, di lệch đường giữa > 

10mm  và  bề  dày  khối  máu  tụ  >15mm  không 

phải là yếu tố tiên lượng nặng. 

Liên quan giữa thời gian từ lúc chấn thương đến 

lúc phẫu thuật với kết quả điều trị 

Thời gian từ khi chấn thương đến khi phẫu 

thuật  rất  quan  trọng,  người  ta  thấy  rằng:  Nếu 

mổ trước 4 giờ thì các thương tổn não thứ phát, 

đặc biệt là thiếu máu não cục bộ có thể hồi phục, 

mổ  sau  4  giờ,  thiếu  máu  não  rất  khó  hồi  phục, 

diễn  tiến  đến  nhồi  máu  não,  gây  tử  vong  hoặc 

đời sống thực vật( 7,9 ). 

Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy  có  đến 

67,6%  bệnh  nhân  được  phẫu  thuật  cấp  cứu  lấy 

máu tụ dưới màng cứng sau 4 giờ. Theo Bảng 7, 

những  bệnh  nhân  có  thời  gian  từ  lúc  chấn 

thương đến lúc phẫu thuật > 4giờ thì có tỷ lệ tử 

vong,  sống  thực  vật  và  di  chứng  nặng  không 

khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh 

nhân  có  thời  gian  này  ≤  4giờ  (p>0,05),  kết  quả  này tương tự với kết quả nghiên cứu của tác giả  Joung Ju Kim (2011)( 8 ). Như vậy, theo nghiên cứu  của chúng tôi, thời gian từ lúc chấn thương đến  lúc phẫu thuật > 4giờ không phải là yếu tố tiên  lượng nặng. 

KẾT LUẬN 

Qua  nghiên  cứu  34  trường  hợp  phẫu  thuật  CTSN nặng GCS≤ 8 điểm, do máu tụ DMC cấp  tính  tại  bệnh  viện  Trung  Ương  Huế,  chúng  tôi  rút ra được một số kết luận sau đây: 

‐ Chấn thương sọ não nặng do máu tụ dưới  màng cứng cấp tính gặp nhiều ở nam giới với tỷ 

lệ 73,5%. Độ tuổi hay gặp nhất là 21‐ 40 tuổi, Đa 

số bệnh nhân rối loạn tri giác ngay sau khi chấn  thương (79,4%), nguyên nhân chủ yếu là tai nạn  giao  thông  (82,4%).  Đa  số  bệnh  nhân  vào  viện  trong tình trạng GCS từ 6‐8 điểm (85,3%). 

Tất cả bệnh nhân đều áp dụng phương pháp 

mở sọ rộng giải áp kèm lấy máu tụ dưới màng  cứng, tỷ lệ tử vong còn cao (26,5%). 

Tình  trạng  tri  giác  trước  mổ  thấp  (GCS:  4‐5  điểm),  đồng  tử  dãn  hai  bên  là  các  yếu  tố  tiên  lượng nặng. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Albanèse J, Leone M, et al. (2003), “Decompressive craniectomy  for  servere  traumatic  brain  injury:  Evaluation  of  the  effects  at  one year”, Crit Care Med, 31,10:2535‐2538.  

2 Balan  C,  Alliez  B.  (2010),  “Decompressive  Craniectomy  ‐  from  option to standard”, Romanian Neurosurgery,Vol.XVI. 

3 Bose  B,  (2002),  “Emergency  Decompressive  Craniectomy  for  Traumatic Malignant Intracranial Hypertension”, Neurosurgery  Quarterly, 12,2:171‐181.  

4 Bùi Ngọc Tiến (2012), “Phẫu thuật giải phóng chèn ép não trên  bệnh nhân chấn thương sọ não nặng”, Tạp chí Y học Thành phố 

Hồ Chí Minh, tr.212‐214. 

5 Kim YJ (2011), “The Impact of time from ED arrival to surgery 

on  mortality  and  hospital  length  of  stay  in  patients  with  traumatic brain injury”, J Emerg Nurs, Vol.37, pp.328‐334. 

6 Nguyễn Đình Hưng (2012), “Kỹ thuật giải phóng chèn ép não  trong chấn thương sọ não nặng”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ  Chí Minh, tr.109‐111. 

7 Schouten  JM,  Maas  AIR  (2011),  “  Epidemiology  of  Traumatic  Brain Injury”, Basic and Clinical Science,pp.3270‐3276. 

8 Trần Hoàng Mạnh (2004), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận  lâm sàng và kết quả điều trị máu tụ dưới màng cứng cấp tính 

Trang 6

sĩ y học của bác sĩ nội trú bệnh viện, Đại học Y Dược Huế. 

9 Walcott  BP,  Asaad  WF  (2012),  “Bilateral  Hemicraniectomy  in 

Non‐Penetrating  Traumatic  Brain  Injury”,  Journal  of 

Neurotrauma, Vol.29, pp.1879‐1885. 

Ngày nhận bài báo:       15/10/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   27/10/2014  Ngày bài báo được đăng:     05/12/2014 

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 07:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w