1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài thảo luận số1 môn luật HS phần các tội phạm

8 125 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 23,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong chương các tội xâm phạm sở hữu chỉ là các hành vi chiếm đoạt tài sản Nhận định sai .Vì hành vi khách quan của các tội phạm quy

Trang 1

Câu 1: Hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong chương các tội xâm phạm sở hữu chỉ là các hành vi chiếm đoạt tài sản

Nhận định sai Vì hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong chương các tội phạm xâm phạm sở hữu không chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn là hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích của con người

Câu 3: Không phải mọi loại tài sản bị chiếm đoạt đều là đối đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu

Nhận định đúng Vì trong một số trường hợp thì tài không phải là đối tượng điều chỉnh của các tội xâm phạm sở hữu khi không thỏa mãng những điều kiện nhất đinh như tiền cũng là một loại tài sản và phải thỏa mãng là loại tiền thật và được phép lưu hành thì mới

là đối tượng tác động của các tội này nếu là tiền giả thì thuộc đối tượng tác động của tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả theo Điều 180 BLHS 2015

Câu 5: Mọi hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản đều cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS).

Nhận định sai Vì theo khoản 1 Điều 168 BLHS 2015 thì hành vi đe dọa dùng vũ lực phải ngay tức khắc nhằm chiếm đoạt tài sản thì cấu thành Tội cướp tài sản Trường hợp theo khoản 1 Điều 170 thì hành vi đe dọa dùng vũ lực nhưng không xảy ra ngay tức khắc thì cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản Do đo, hành vi này không chỉ cấu thành tội cướp tài sản

mà còn có thể cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản tùy vào trường hợp

VD: A đe dọa B giao 5 triệu vào ngày mai nếu không sẽ cùng nhóm bạn đánh hội đồng B Trong trường hợp này, hành vi đe dọa dùng vụ lực của A không diễn ran gay tức khắc, nạn nhân là B cũng không rơi vào tình trạng không thể chống cự được ngay tức khắc, B chỉ bị tác động, quyền xử sự vẫn do B quyết định Trường hợp này, hành vi đe dọa dùng

vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản của A cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS) Căn cứ pháp lý: Điều 168, Điều 170 BLHS

Câu 9: Dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người là hành vi cấu thành cả hai tội: Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và Tội giết người (Điều 123 BLHS).

Nhận định sai

Vì Việc dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người chưa chắc

bị cấu thành cả hai tội: Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và Tội giết người (Điều 123 BLHS) Bởi vì có trường hợp người thực hiện hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mặc dù cố ý đối với hành vi dùng vũ lực nhưng lại vô ý đối với hậu quả làm chết người thì trong trường hợp này người đó sẽ phạm Tội cướp tài sản với tình tiết định

Trang 2

khung tăng nặng là “Làm chết người” quy định tại điểm c, khoản 4 Điều 168 BLHS và không xử thêm Tội giết người (Điều 123 BLHS)

Ví dụ: A đâm B vào chân – không phải bộ phận trọng yếu của cơ thể - để chiếm đoạt xe máy của B nhưng vì B mắc bệnh máu khó đông nên đã mất máu và chết Trong trường hợp này A dù cố ý với hành vi đâm B nhưng lại vô ý với hậu quả làm B chết

Cơ sở pháp lý: Điều 123 và Điều 168 BLHS năm 2015

Câu 13: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) đòi hỏi người phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người.

Nhận định sai

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) không đòi hỏi người phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người vì trong ý thức chủ quan của người phạm tội, chủ thể mà họ mong muốn che giấu hành vi phạm tội của mình nhất chính là người quản lý tài sản bởi chính người quản lý tài sản là chủ thể dễ dàng nhất trong việc nhận thức được tài sản mình đang trong tình trạng thế nào, ở đâu … , chính vì thế, dấu hiệu đặc trưng của tội trộm cắp tài sản thể hiện ở hành vi chiếm đoạt tài sản một cách lén lút, bí mật đối với người quản lý tài sản mà không đòi hỏi phải lén lút với tất cả mọi người, ở đây, trong một số trường hợp, có thể người phạm tội công khai hành vi dịch chuyển tài sản của mình trước người không có trách nhiệm quản lý tài sản, nếu họ thấy việc công khai này không ảnh hưởng đến việc chiếm đoạt tài sản của họ

Cơ sở pháp lý: Điều 173 BLHS

Câu 14: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối

là hành vi chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS)

Nhận định sai

Vì chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi không chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) mà còn cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS) nếu thỏa mãn hết các dấu hiệu định tội

Xét về biểu hiện khách quan :

+ Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) quy định người nào dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên thì cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

+ Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS) quy định người nào thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ dưới 4 triệu đồng (đối với

Trang 3

trường hợp Luật định) bằng việc vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản (Điểm a Khoản 1) thì cũng sẽ cấu thành tội này

Trong trường hợp chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối nhưng biểu hiện gian dối này không là hành vi để Tội phạm chiếm đoạt được tài sản thì sẽ không cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS)

Câu 15: Mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS).

Nhận định sai

Vì không phải mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS 2015) Hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản

có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên chỉ cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản khi chiếm đoạt tài sản bằng các thủ đoạn: Gian dối để không trả lại tài sản, bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản, cố tình không trả dù có điều kiện và khả năng để trả, sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến tình trạng không có khả năng trả lại Do vậy, nếu người vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên sau đó đến hạn

mà họ không có khả năng chi trả cũng không bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản thì đó không phải là tội phạm mà là quan hệ pháp luật kinh tế, dân sự

Câu 17: Cố tình không trả lại cho chủ sở hữu tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên bị giao nhầm là hành vi cấu thành Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS)

Nhận định sai

Vì trong mặt khách quan của tội phạm hành vi chiếm giữ tài sản trái phép là hành vi không giao trả tài sản cho các chủ thể có quyền sau khi họ đã yêu cầu được nhận lại tài sản, đây là trường hợp hành vi phạm tội được thực hiện dưới dạng không hành động phạm tội Tuy nhiên, người thực hiện hành vi trên chỉ được coi là phạm tội nếu họ không giao nộp tài sản do ngẫu nhiên có được sau khi có yêu cầu trả lại hoặc giao nộp lại tài sản của người có quyền Cùng với việc không giao nộp tài sản, người phạm tội có thể thực hiện hành vi chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản đó

Trang 4

Bài tập 1:

Tội danh của T đã phạm là Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và Tội giết người ( Điều 123 BLHS)

Tội cướp tài sản:

- Mặt khách quan:

+ Hành vi: T dung vũ lực khiến nạn nhân rơi vào tình trạng không thể chống cự được , cụ thể: T lấy một khúc cây còng lớn bằng cổ tay đập mạnh vào đầu cháu N làm cháu té xuống đât sau đó tiếp tục đánh vào đầu cháu N làm cháu té xuống đât sau đó tiếp tục đánh vào đầu cháu N cái thứ hai khiến cháu bất tỉnh

+ Hậu quả : gây thiệt hại vật chất

+ Mối quan hệ nhân quả : hành vi của t lag nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại

về tài sản của cháu N

- Mặt chủ quan:

+ Lỗi : T thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp

+ Mục đích: chiếm đoạt tài sản

- Khách thể: quan hệ sở hữu và quyền nhân thân của cháu N

+ Đối tượng tác động: cháu N và sợi dây chuyền vàng của cháu N

- Chủ thể: chủ thể thường

Tội giết người

- Khách thể : quyền được sống của cháu N

+ Đối tượng tác động : Cháu N

- Mặt khách quan:

+ Hành vi : T đánh cháu N bất tỉnh sau đó dìm cháu xuông mương , nhấn cháu N xuống bùn

+ Hậu quả : Cháu N tử vong

+ Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi : hành vi của T là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chêt của cháu N

- Mặt chủ quan :

+ Lỗi : cố ý trực tiếp

- Chủ thể: chủ thể thường

Bài tập 3:

A và B phạm tội cưỡng đoạt tài sản theo điều 170 BLHS 2015

- Khách thể: A và B đã xâm phạm đến quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân

- Mặt khách quan:

Trang 5

+ Hành vi: A và B chụp hình ông X và đánh ông X để uy hiếp buộc ông X đưa 250 triệu nếu không sẽ gửi hình cho vợ con ông X

- Mặt chủ quan:

+ Lỗi của A và B là lỗi cố ý trực tiếp với thủ đoạn uy hiếp tinh thần ông X nhằm chiếm đoạt 250 triệu đồng

- Chủ thể: A và B thỏa mãn điều kiện chủ thể

A và B còn phạm tội cướp tài sản theo điều 168 BLHS 2015

- Khách thể: A và B đã xâm phạm đến quyền sở hữu và quyền nhân thân của ông X

- Về mặt khách quan:

+ Hành vi dùng vũ lực đánh ông X nhằm yêu cầu ông X đưa 300 triệu nhưng ông

X không đưa nên A tiếp tục đánh và lấy đi một số tài sản của ông X gồm tiền, điện thoại đồng hồ

- Mặt chủ quan:

+ Lỗi của A và B là lỗi cố ý trực tiếp

+ Mục đích: nhằm chiếm đoạt tài sản của ông X

- Chủ thể: chủ thể thường

Bài tập 4:

A và B là đồng phạm trong Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác theo quy định tại Điều 172 BLHS 2015

A và B là đồng phạm bởi lẽ:

- Về mặt ý chí: Cả 2 người đều có ý định chiếm đoạt xe gắn máy của người khác và biết đối phương cũng mong muốn như mình

- Về mặt hành vi: Có sự bàn bạc thống nhất cách thực hiện tội phạm, cùng nhau hành động theo sự bàn bạc đó

A và B phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản vì đã thỏa mãn các dấu hiệu của tội này:

- Khách thể: Xâm phạm quyền sở hữu tài sản của chủ chiếc xe máy

+ Đối tượng tác động: Chiếc xe SUZUKI

- Mặt khách quan:

+ Hành vi: A và B đến một bãi giữ xe A đứng ngoài canh chừng để báo động cho

B khi cần thiết B vào trong bãi xe lựa một chiếc xe Suzuki dắt đi, nổ máy và gài

số chạy nhanh mặc cho những người kiểm soát truy hô

+ Hậu quả: Gây thiệt hại về tài sản cho chủ chiếc xe

+ Mối quan hệ nhân quả giũa hành vi và hậu quả: Hành vi của A và B là nguyên nhân trực tiếp khiến cho chủ chiếc xe không thể thực hiện các quyền đối với tài sản của mình

Trang 6

- Chủ thể: A và B đáp ứng điều kiện về chủ thể của tội phạm này – chủ thể thường.

- Mặt chủ quan:

+ Lỗi: Lỗi cố ý trực tiếp A và B biết rõ hành vi của mình xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của chủ chiếc xe nhưng vẫn thực hiện và mong muốn hậu quả xảy ra + Mục đích: Chiếm đoạt chiếc xe máy của người khác

Bài tập 6: Xác định tội danh đối với hành vi của A và B trong vụ án và giải thích tại sao.

A và B phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại điều 174 BLHS 2015

- A và B là đồng phạm trong vụ án trên Trong vụ án, A tham gia với vai trò là người giúp sức Việc A lấy phiếu giao nhận tạo điều kiện về vật chất để B thực hiện hành

vi lấy đi container hàng xà bông B là người tham gia với vai trò là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội

- Chủ thể: A, B là chủ thể thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

- Khách thể: hành vi phạm tội đã xâm phạm đến quyền sở hữu của Công ty X đối với hàng hóa mà cụ thể ở đây là xà bông chứa trong chiếc container

- Về mặt khách quan:

+ Hành vi: B thuê xe đến cảng Cát Lái và tự nhận mình là nhân viên công ty X và

đã sử dụng phiếu giao nhận hàng mà A lấy được trên bàn làm việc ở công ty X để lấy hàng đi B đã có hành vi lừa dối, cố tình làm cho nhân viên quản lý hàng tại cảng tin đó là sự thật cụ thể là tự nhận mình là nhân viên đồng thời đưa phiếu giao nhận hàng do A cung cấp ra, nhân viên quản lý hàng tại cảng đã tin đó là sự thật và

tự nguyện giao hàng Và sau đó B đã có hành vi chiếm đoạt số hàng được nhân viên quản lý hàng tại cảng giao, cụ thể là sử dụng xe đã thuê từ trước để chở số hàng này đi và bán

+ Hậu quả xảy ra là thiệt hại về tài sản mà cụ thể ở đây là giá trị hàng hóa bị chiếm đoạt, tương đương 400 triệu đồng

+ Mối quan hệ nhân quả: hành vi của A và B là nguyên nhân gây ra thiệt hại cho công ty X

- Mặt chủ quan:

+ Lỗi cố ý trực tiếp Về mặt ý chí, cả hai đều mong muốn chiếm đoạt được số hàng hóa này A tạo điều kiện bằng cách lấy một phiếu giao nhận hàng và đưa cho

B để B thực hiện hành vi chiếm đoạt container chứa hàng là xà bông có trị giá 400 triệu B bán container hàng này và chia một phần tài sản thu được

Bài tập 9:

Trang 7

1 Tội danh đối với hành vi của A là Tội cướp giật tài sản với tình tiết định khung

tăng nặng là hành hung để tẩu thoát theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 171 BLHS

- Khách thể: xâm phạm quyền sở hữu sợi dây chuyền và quyền nhân thân của bà C + Đối tượng tác động: sợi dây chuyền 3 chỉ vàng của bà C

- Mặt khách quan:

+ Hành vi: A đưa tay vào kéo đứt sợi dây chuyền 3 chỉ vàng của bà rồi bỏ chạy Sau khi bị phát hiện, A vứt sợi dây chuyền, dùng tay đánh mạnh bà C rồi bỏ chạy (đây là tình tiết định khung tăng nặng của tội này)

- Chủ thể: A (chủ thể thường) có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi theo quy định của pháp luật

- Mặt chủ quan:

+ Lỗi cố ý trực tiếp nhằm chiếm đoạt sợi dây chuyền của bà C

2 Tội danh đối với hành vi của A là Tội cướp giật tài sản theo quy định tại Điều

171 BLHS và Tội giết người theo quy định tại Điều 123 BLHS

- Đối với Tội cướp giật tài sản:

+ Khách thể: xâm phạm quyền sở hữu sợi dây chuyền của bà C

Đối tượng tác động: sợi dây chuyền 3 chỉ vàng của bà C

+ Mặt khách quan:

Hành vi: A đưa tay vào kéo đứt sợi dây chuyền 3 chỉ vàng của bà rồi bỏ chạy

Hậu quả: Bà C mất sợi dây chuyền 3 chỉ vàng

Mối quan hệ nhân quả: Hành vi của A là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại cho bà C

+ Chủ thể: A (chủ thể thường) có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi theo quy định của pháp luật

+ Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp nhằm chiếm đoạt sợi dây chuyền của bà C

- Đối với tội giết người

+ Khách thể: xâm phạm quyền được sống của bà C

Đối tượng tác động: Bà C

+ Mặt khách quan:

Hành vi: A rút dao mang sẵn trong người đâm vào ngực bà C làm bà C chết

Trang 8

Hậu quả: Bà C chết

Mối quan hệ nhân quả: Hành vi của A là nguyên nhân dẫn đến cái chết của bà C

+ Chủ thể: A (chủ thể thường) có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi theo quy định của pháp luật

+ Mặt chủ quan:

Lỗi cố ý trực tiếp A biết hành vi của mình là nguy hiểm nhưng vẫn mong muốn nó xảy

ra thể hiện qua việc A rút dao mang sẵn trong người đâm vào ngực bà C

Ngày đăng: 18/01/2020, 08:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w