1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thảo luận hình sự lần 5 CỤM 3: CÁC TỘI PHẠM VỀ KINH TẾ

14 8,3K 100

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 143 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét trong 2 trường hợp sau: - Trường hợp 1: Nếu người phạm tội cố ý dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản của nạn nhân nhưng vô ý với hậu quả chết người thì trong trường hợp này hành vi dùng vũ

Trang 1

THẢO LUẬN HÌNH SỰ LẦN 5 CỤM 3: CÁC TỘI PHẠM VỀ KINH TẾ

_

I TRẮC NGHIỆM TỰ LUẬN:

1 Hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong Chương các tội xâm phạm sở hữu chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản.

Câu nhận định này là sai

Vì hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong chương các tội xâm phạm sở hữu không chỉ

là hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn là hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích của con người

2 Rừng chỉ là đối tượng tác động của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.

Câu nhận định này là sai

Rừng không chỉ là đối tượng tác động của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Rừng có thể là đối tượng tác động của các tội phạm khác nhau:

- Nếu rừng là rừng phòng hộ, rừng sản xuất, rừng tự nhiên hoặc rừng trồng mà có vốn từ nhà nước thì

là đối tượng của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo

vệ rừng và lâm sản – Điều 232, BLHS)

- Nếu có hành vi huỷ hoại rừng thì có thể là đối tượng tác động của các tội phạm về môi trường (Tội huỷ hoại rừng – Điều 243, BLHS)

- Nếu là rừng trồng của hộ cá nhân, gia đình tổ chức thì là đối tượng tác động của tội phạm sở hữu

3 Không phải mọi loại tài sản bị chiếm đoạt đều là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu.

Nhận định này là đúng

Đối tượng tác động của tội xâm phạm sở hữu là tài sản Tuy nhiên, tài sản đó phải là một trong các loại tài sản như sau:

+ Tài sản đó phải là vật có thực (là sản phẩm lao động của con người, không có tính năng đặc biệt, có giá trị và có chủ sở hữu)

+ Tiền

+ Giấy tờ trị giá được bằng tiền và phải là giấy tờ có giá vô danh

Trang 2

Theo đó, nếu là tài sản như vật có tính năng đặc biệt hoặc giấy tờ có giá hữu danh thì không là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu Do đó, không phải mọi loại tài sản đều là đối tượng tác động của tội xâm phạm sở hữu

4 Từ chối giao trả lại tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên do ngẫu nhiên có được là hành vi chiếm đoạt tài sản.

Nhận định này là sai

Từ chối giao trả lại tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên do ngẫu nhiên có được không là hành vi chiếm đoạt tài sản Theo quy định tại Khoản 1, Điều 176, BLHS, hành vi chiếm giữ trái phép phải là hành vi từ chối giao trả lại tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên khi có yêu cầu trả lại trả lại sản của chủ sở hữu, người quản lí hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm Vì vậy, tài sản ngẫu nhiên có được nếu không có yêu cầu được nhận lại tài sản của chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm thì không là hành vi chiếm đoạt tài sản

5 Mọi hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản đều cấu thành Tội cướp tài sản (Điều

168 BLHS).

Nhận định này là sai

Vì không phải mọi hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản đều cấu thành Tội cướp tài sản

Theo Khoản 1, Điều 168, BLHS về Tội cướp tài sản:

“1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm”.

Dấu hiệu khách quan về mặt hành vi của Tội cướp tài sản theo Điều 168 BLHS 2015 là hành vi đe dọa vũ lực và là phải là đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, tức là sự đe dọa bằng lời nói hoặc hành động

đó phải đang hiện diện đe dọa sẽ tấn công người quản lý tài sản hoặc những người khác làm cho người

đó lâm vào tình trạng không thể chống cự được, nếu không đáp ứng yêu cầu hoặc có ý định ngăn cản hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội

Có những trường hợp đe dọa vũ lực nhưng không xảy ra ngay tức khắc thì sẽ cấu thành tội Cưỡng đoạt tài sản theo Điều 170 của BLHS 2015

Trang 3

6 Hành vi giết người nhằm chiếm đoạt tài sản thì cấu thành Tội cướp tài sản với tình tiết định khung tăng nặng TNHS “dẫn đến hậu quả chết người” (khoản 4 Điều 168 BLHS).

Nhận định này là sai

Hành vi giết người nhằm chiếm đoạt tài sản thì sẽ không cấu thành Tội cướp tài sản với tình tiết định khung tăng nặng TNHS “dẫn đến hậu quả chết người” (khoản 4 Điều 168 BLHS)

Tình tiết định khung tăng nặng TNHS “dẫn đến hậu quả chết người” (khoản 4 Điều 168 BLHS) được

áp dụng khi một người có mục đích cướp tài sản còn tình tiết làm chết người chỉ là do vô ý – Đây là trường hợp hỗn hợp lỗi Còn trong trường hợp giết người nhằm chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội

đã cố ý xâm phạm đến 2 đối tượng là tính mạng và tài sản, do vậy sẽ cấu thành 2 tội riêng biệt: Tội giết người (Điều 123) và Tội cướp tài sản (Điều 168)

7 Hành vi dùng vũ lực trong Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) chỉ tác động đến người đang quản lý tài sản.

Nhận định này là sai

Hành vi dùng vũ lực trong Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) không chỉ tác động đến người đang quản lý tài sản Hành vi dùng vũ lực trong Tội cướp tài sản phải nhằm vào con người: có thể là chủ tài sản, người đang quản lý tài sản, người bảo vệ tài sản, hoặc bất kỳ ai mà người phạm tội cho rằng họ đang hoặc sẽ cản trở việc chiếm đoạt của mình

8 Đối tượng tác động của Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) chỉ là tài sản.

Nhận định này là sai

Đối tượng tác động của Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) không chỉ là tài sản Ngoài đối tượng tác động là tài sản thì đối tượng tác động của Tội cướp tài sản còn là con người

9 Dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người là hành vi cấu thành cả hai tội: Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và Tội giết người (Điều 123 BLHS).

Nhận định này là sai

Xét trong 2 trường hợp sau:

- Trường hợp 1: Nếu người phạm tội cố ý dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản của nạn nhân nhưng vô ý với hậu quả chết người thì trong trường hợp này hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người thì chỉ cấu thành Tội cướp tài sản và hậu quả chết người là tình tiết định khung tăng nặng (theo Điểm c, Khoản 4, Điều 168, BLHS)

Trang 4

- Trường hợp 2: Nếu người phạm tội cố ý dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản của nạn nhân khiến cho nạn nhân tử vong để cướp tài sản thì trong trường hợp này hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người thì cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 168) và Tội giết người (Điều 123)

Do vậy, chỉ khi rơi vào trường hợp 2 thì hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người thì cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 168) và Tội giết người (Điều 123)

10 Khách thể trực tiếp của Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS) chỉ là quan hệ sở hữu.

Nhận định này là sai

Khách thể trực tiếp của Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS) không chỉ là quan hệ sở hữu Bên cạnh quan hệ sở hữu, khách thể trực tiếp của Tội cưỡng đoạt tài sản còn là quyền được bảo vệ sức khoẻ của con người

11 Uy hiếp tinh thần người quản lý tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản không chỉ cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS).

Nhận định này là đúng

Trong trường uy hiếp tinh thần người quản lý tài sản, mà ngay tức khắc làm người đó tê liệt về ý chí, không thể chống cự được (dấu hiệu này phải nhanh chóng về thời gian và sức mạnh liệt của hành vi đe doạ) thì sẽ là hành vi khách quan của Tội cướp tài sản (Điều 168, BLHS)

12 Công khai chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên chỉ cấu thành Tội cướp giật tài sản (Điều 171 BLHS).

Nhận định này là sai

Công khai chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên không chỉ cấu thành Tội cướp giật tài sản (Điều 171 BLHS) Trong trường hợp công khai chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên một cách nhanh chóng thì cấu thành Tội cướp giật tài sản (Điều 171 BLHS) Còn trong trường hợp, công khai chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà do lợi dụng tình trạng không thể ngăn cản của người đó thì sẽ cấu thành Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172, BLHS)

13 Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) đòi hỏi người phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người.

Nhận định này là sai

Trang 5

Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang trong sự quản lý của người khác Do đó, hành vi khách quan của Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 BLHS thì chỉ cần lén lút đối với người đang quản lý tài sản chứ không cần phải thực hiện lén lút đối với tất cả mọi người

14 Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS).

Câu nhận định này là sai

Vì chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi không phải chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà còn có thể cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 175, BLHS) Trong Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì hành vi khách quan để cấu thành tội phạm là hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối như đưa ra những thông tin không đúng sự thật để đánh lừa người khác Hành vi này có thể thông qua lời nói, xuất trình giấy tờ giả mạo,… khiến cho nạn nhân tin tưởng và tự nguyện giao tài sản, thủ đoạn gian dối của người phạm tội bao giờ cũng phải có trước khi có việc giao tài sản giữa người bị hại Còn nếu trong trường hợp, người phạm tội có được tài sản một cách hợp pháp thông qua hợp đồng (vay, mượn, thuê) nhưng sau đó có các biểu hiện gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản thì sẽ cấu thành tội Lợi dụng tín nhiệm chiếm đọat tài sản (Điều 175) Như vậy, gian dối là đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng không phải mọi hành vi gian dối đều cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

15 Mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS).

Câu nhận định này là sai

Vì không phải mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS 2015) Hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên chỉ cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản khi chiếm đoạt tài tài sản bằng các thủ đoạn: Gian dối để không trả lại tài sản, bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản, cố tình không trả dù có điều kiện và khả năng để trả, sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến tình trạng không có khả năng trả lại Do vậy, nếu người vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng

Trang 6

mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên sau đó đến hạn mà họ không có khả năng chi trả cũng không

bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản thì đó không phải là tội phạm mà là quan hệ pháp luật kinh tế, dân sự

16 Chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên bằng hợp đồng vay tài sản chỉ cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS).

Nhận định này là sai

Chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên bằng hợp đồng vay tài sản không chỉ cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS) Hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên bằng hợp đồng vay tài sản chỉ cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS) khi hành vi chiếm đoạt đó diễn ra sau khi nhận được tài sản một cách hợp pháp qua hợp đồng nhưng sau đó chiếm đoạt Còn trong trường hợp, người thực hiện hành vi vay tài sản mà lúc nhận tài sản họ đã đưa ra có thông tin sai sự thật, hoặc bằng những thủ đoạn nào làm cho nạn nhân tin và tự nguyện giao tài sản thì sẽ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174, BLHS)

17 Cố tình không trả lại cho chủ sở hữu tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên bị giao nhầm là hành vi cấu thành Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS).

Nhận định này là sai

Căn cứ Khoản 1 Điều 176 của BLHS 2015 thì một trong hành vi khách quan của tội này là cố tình không giao trả lại cho chủ sở hữu tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên do bị giao nhầm sau khi chủ

sở hữu, người quản lí hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó

Như vậy, trường hợp chủ sở hữu của tài sản chưa có yêu cầu nhận lại tài sản hoặc yêu cầu đó không phải của chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản thì chưa cấu thành tội phạm tội này

18 Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS) được coi là hoàn thành vào thời điểm chủ thể ngẫu nhiên chiếm hữu được tài sản.

Nhận định này là sai

Giải thích như câu 17

19 Mọi hành vi sử dụng trái phép tài sản của người khác có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177 BLHS).

Nhận định này là sai

Trang 7

Không phải mọi hành vi sử dụng trái phép tài sản của người khác có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177 BLHS) Vì dấu hiệu cấu thành của Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177 BLHS) thì yêu cầu người phạm tội phải có mục đích cụ thể đó là “vì vụ lợi”

mà thực hiện hành vi đó Do vậy, nếu có hành vi sử dụng trái phép tài sản của người khác có giá trị từ

100 triệu đồng trở lên nhưng không vì mục đích vụ lợi thì sẽ không cấu thành Tội sử dụng trái phép tài sản

20 Các trường hợp hủy hoại tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội hủy hoại tài sản (Điều 178 BLHS).

Nhận định này là sai

Các trường hợp hủy hoại tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên không chỉ cấu thành Tội hủy hoại tài sản (Điều 178 BLHS) Hành vi huỷ hoại tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên chỉ cấu thành Tội hủy hoại tài sản khi tài sản này là tài sản thông thường Còn trong trường hợp tài sản là công trình,

cơ sở hoặc phương tiện giao thông vận tải, thông tin - liên lạc, công trình điện lực, dẫn chất đốt, công trình thủy lợi hoặc công trình quan trọng khác về quốc phòng, an ninh, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa và xã hội thì sẽ cấu thành Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303, BLHS) hoặc nếu phá hoại các tài sản trên mà có mục đích chống chính quyền nhân dân

sẽ cấu thành Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 114, BLHS)

21 Mọi trường hợp cố ý làm hư hỏng tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội

cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178 BLHS).

Nhận định này là sai

Không phải mọi trường hợp cố ý làm hư hỏng tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178 BLHS) Khi tấn công gây thiệt hại tài sản cho người khác mà người bị thiệt hại có nhiều tài sản bị gây thiệt hại nhưng có tài sản chỉ bị hư hỏng, có tài sản thì bị tiêu huỷ hoàn toàn’ cũng có trường hợp nhiều tài sản mà giá trị tài sản bị thiệt hại lại khác nhau có tài sản giá trị bị thiệt hại ít hơn hai triệu đồng nhưng có tài sản lại có giá trị lớn hơn hai triệu đồng Do vậy, chỉ cần căn cứ ý chí chủ quan của người phạm tội và phương thức thực hiện hành vi phạm tội là mong muốn tài sản đó mất giá trị sử dụng, thì dù trên thực tế tài sản đó vẫn còn khả năng sử sụng thì hành vi này được coi là huỷ hoại taif sản

Trang 8

Ví dụ: A mua 1 lít xăng về tưới lên chiếc xe SH của B sau đó châm lửa đốt nhưng do được mọi người kịp thời phát hiện đã dập tắt được ngọn lửa, chiếc xe chỉ bị cháy lớp vỏ nhựa bên ngoài, thiệt hại là 2 triệu đồng, Chiếc xe chưa bị mất giá trị sử dụng ở mức độ không còn hoặc khó có khẳ năng phục hồi nhưng xét hành vi của A là muốn huỷ hại chiếc xe nên A phạm Tội cố ý huỷ hoại tài sản

22 Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên do vô ý là hành vi chỉ cấu thành Tội

vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180 BLHS).

Nhận định này là sai

Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên do vô ý là hành vi không chỉ cấu thành Tội

vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180 BLHS) Trong trường hợp người gây thiệt hại là chủ thể thường thì đây là dấu hiệu cấu thành thành Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180 BLHS) Còn trong trường hợp, chủ thể gây thiệt hại là người nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thì là yếu tố cấu thành Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179, BLHS)

23 Chủ thể phạm Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179 BLHS) chỉ là người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước.

Nhận định này là sai

Chủ thể phạm Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179 BLHS) không chỉ là người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước Vì ngoài hành vi gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước thì Tội này còn gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Do vậy, lúc này chủ thể không còn là người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước mà có thể là người có chức vụ quyền hạn trong quản lý tài sản, hoặc người có nhiệm vụ bảo quản bảo vệ, người có nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn tài sản đã được giao để sử dụng trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp

24 Dùng tiền giả để trao đổi lấy hàng hóa là hành vi cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS).

Nhận định này là sai

Dùng tiền giả để trao đổi lấy hàng hóa không là hành vi cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) Hành vi mua đi bán lại các đối tượng đó dưới bất kì hình thức nào như mua bán theo

Trang 9

nghĩa thông thường, trao đổi, thanh toán bằng tiền giả là hành vi lưu hành tiền giả Như vậy, hành vi dùng tiền giả để trao đổi lấy hàng hoá sẽ cấu thành Tội lưu hành tiền giả (Điều 207, BLHS)

25 Mang trái phép vật có giá trị lịch sử, văn hóa qua biên giới chỉ là hành vi cấu thành Tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 189 BLHS).

Nhận định này là sai

Mang trái phép vật có giá trị lịch sử, văn hóa qua biên giới không chỉ là hành vi cấu thành Tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 189 BLHS) Tuỳ từng trường hợp mà hành vi mang trái phép vật có giá trị lịch sử, văn hóa qua biên giới cấu thành các tội khác nhau:

- Trong trường hợp mang trái phép vật có giá trị lịch sử, văn hóa qua biên giới nhưng không có mục đích buôn bán thì cấu thành thành Tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 189 BLHS)

- Trong trường hợp mang trái phép vật có giá trị lịch sử, văn hóa qua biên giới nhưng có mục đích buôn bán thì cấu thành thành Tội buôn lậu (Điều 188 BLHS)

26 Mọi hành vi buôn bán trái phép hàng hóa có trị giá từ 100 triệu đồng trở lên qua biên giới đều cấu thành Tội buôn lậu (Điều 188 BLHS).

Nhận định này là sai

Không phải mọi hành vi buôn bán trái phép hàng hóa có trị giá từ 100 triệu đồng trở lên qua biên giới đều cấu thành Tội buôn lậu (Điều 188 BLHS) Tài sản của Tội buôn lậu phải là tài sản thông thường, không có tính năng đặc biệt Còn nếu tài sản là tài sản có tính năng đặc biệt như: ma tuý, vật liệu nổ, vũ khí,… thì sẽ cấu thành các tội phạm riêng biệt

II BÀI TẬP:

Bài tập 1:

Tội danh mà T đã phạm là Tội cướp tài sản (Điều 168, BLHS) và Tội giết người (Điều 123, BLHS) Hành vi của T đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội cướp tài sản:

Dấu hiệu

Khách thể - Khách thể: quan hệ sở hữu và quyền nhân thân của cháu N.

- Đối tượng tác động: cháu N và sợi dây chuyền vàng của cháu N

Mặt khách

quan

- Hành vi: T dùng vũ lực khiến nạn nhân rơi vào tình trạng không thể chống cự được, cụ thể: T lấy một khúc cây còng lớn bằng cổ tay đập mạnh vào đầu cháu N làm cháu té xuống đất sau đó tiếp tục đánh vào đầu cháu N cái thứ hai khiến N bất

Trang 10

- Hậu quả: gây thiệt hại vật chất (thiệt hại về tài sản).

- Mối quan hệ nhân quả: hành vi của T là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại về tài sản cho cháu N

Chủ thể T thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội này - chủ thể thường (nếu có đủ độ tuổi luật

định)

Mặt chủ

quan

- Lỗi: T thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp

- Mục đích: chiếm đoạt tài sản thể hiện qua việc T dùng vũ lực tấn công và đã lấy sợi dây chuyền trên cổ cháu N)

Hành vi của T đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội giết người:

Dấu hiệu

Khách thể - Khách thể: quyền được sống của cháu N.

- Đối tượng tác động: cháu N – con người đang sống

Mặt khách

quan

- Hành vi: T đánh cháu N bất tỉnh T và sau đó ôm cháu N dìm xuống mương, nhấn xác cháu N xuống bùn

- Hậu quả: cháu N tử vong

- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: hành vi dùng vũ lực của T là nguyên nhân trực tiếp khiến cho cháu N tử vong

Chủ thể T thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội này - chủ thể thường (nếu có đủ độ tuổi luật

định)

Mặt chủ

quan

Lỗi: T thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp T biết hành vi của mình là nguy hiểm và thấy được hậu quả tất yếu xảy ra nhưng vẫn mong muốn thực hiện

Bài tập 3:

Hành vi của A và B có phạm tội

Tội danh mà A và B đã phạm là Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170, BLHS)

Hành vi của A và B đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170, BLHS):

Dấu hiệu

Khách thể

- Khách thể: quyền sở hữu tài sản và quyền nhân thân của ông X

- Đối tượng tác động: ông X và tài sản có thực (tiền, điện thoại, đồng hồ) của ông X

Mặt khách

quan

- Hành vi: A và B đã lên kế hoạch để chiếm đoạt tài sản của ông X B dùng thủ đoạn là chụp lại ảnh trong nhà nghỉ của A và X để uy hiếp tinh thần, bắt X phải đưa 250 triệu

Ngày đăng: 15/01/2018, 08:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w