1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát mức độ tuân thủ phác đồ điều trị sốc nhiễm khuẩn ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ

6 155 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 290,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tỷ lệ tử vong do sốc nhiễm khuẩn ở trẻ em đã giảm đáng kể tại các nước phát triển khi tuân thủ đúng phác đồ điều trị. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong tại các nước đang phát triển vẫn còn rất cao. Điều này có thể do tỷ lệ tuân thủ phác đồ còn thấp. Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ tuân thủ các biện pháp điều trị sốc nhiễm khuẩn tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ.

Trang 1

KHẢO SÁT MỨC ĐỘ TUÂN THỦ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ SỐC NHIỄM KHUẪN

Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG CẦN THƠ

Nguyễn Phước Sang*, Phùng Nguyễn Thế Nguyên**, Trần Diệp Tuấn**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề - Mục tiêu: Tỷ lệ tử vong do sốc nhiễm khuẩn ở trẻ em đã giảm đáng kể tại các nước phát triển

khi tuân thủ đúng phác đồ điều trị Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong tại các nước đang phát triển vẫn còn rất cao Điều này có thể do tỷ lệ tuân thủ phác đồ còn thấp Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ tuân thủ các biện pháp điều trị sốc nhiễm khuẩn tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu 73 bệnh nhi sốc nhiễm khuẩn từ 1 tháng - 15 tuổi,

nhập khoa Hồi sức tích cực – Chống độc, bệnh viện Nhi Đồng Cần thơ từ 01/01/2012 đến 30/04/2016

Kết quả: Trẻ dưới 60 tháng chiếm đa số (83,6%), tỷ lệ nam/nữ 0,97 Phần lớn bệnh nhi có biểu hiện lâm

sàng nặng với mạch không bắt được (49,3%), huyết áp không đo được (50,7%), hôn mê (28,8%), chi lạnh (79,5%), thở nấc/ngưng thở (37%) 35,6% trẻ mắc các bệnh lý kèm theo 100% các trường hợp vào sốc nhiễm khuẩn đều tuân thủ mục tiêu hỗ trợ hô hấp ban đầu Tỷ lệ tuân thủ mục tiêu chọn dung dịch điện giải chống sốc ban đầu là 98,6% 95,8% các trường hợp tuân thủ việc chọn dopamin là thuốc vận mạch đầu tiên 98,6% các trường hợp kháng sinh được sử dụng trong vòng 1 giờ đầu tiên sau khi chẩn đoán 100% trẻ được đặt catheter động mạch đo huyết áp xâm lấn trong 6 giờ đầu 23,3% trẻ được đặt catheter tĩnh mạch trung tâm trong 6 giờ đầu 47,9% được đặt thông tiểu trong 6 giờ đầu Tỷ lệ tử vong trong nghiên cứu còn khá cao, với tử vong trong

24 giờ và tử vong chung lần lượt là 49,3% và 76,7%

Kết luận: Tỷ lệ tuân thủ một biện pháp điều trị còn thấp và tình trạng lâm sàng nặng lúc chẩn đoán có thể là

những nguyên nhân làm tỷ lệ tử vong còn cao Tuân thủ tốt hướng dẫn điều trị sốc nhiễm khuẩn hiện nay có thể làm giảm tỷ lệ tử vong đáng kể

Từ khóa: Sốc nhiễm khuẩn, tuân thủ, điều trị

ABSTRACT

SURVEY OF ADHERENCE TO TREATMENT REGIMEN SEPTIC SHOCK AT CAN THO CHILDREN’S

HOSPITAL

Nguyen Phuoc Sang, Phung Nguyen The Nguyen, Tran Diep Tuan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 21 - No 1 - 2017: 309 - 314

Background – Objectives: Mortality rates from septic shock in children has declined with implementation

the treatment regimen Unfortunately, lesser developed countries continue to exhibit high death This may be due

to regimen adherence rate remains low Objectives of the study to determine the rate of compliance with the treatment of septic shock at Can Tho Children’s Hospital

Methods:Retrospective, descriptive study of 73 patients with septic shock from 1 month to 15 years old

admitted pediatric intensive care unit of Can Tho Children’s Hospital from 01/01/2012 to 30/04/2016

Results:Most of cases are under 60 months (83.6%), male/female rate is 0.97 All of cases are serious

condition with impalpable pulse (49.3%), immeasurable blood pressure (50.7%), coma (28.8%), cold extremities (79.5%), dyspnea/apnea (37%) 35.6% of all children had underlying comorbidity 100% adhered to the target

*Bộ môn Nhi Đại học Y Dược Cần Thơ, **Bộ môn Nhi, Đại học Y Dược TP.HCM

Trang 2

initial respiratory support Adherence rate to fluid guidelines was 98.6% 95.8% of all cases adhered to the selection of dopamine is the first vasoactive drugs 98.6% of all antibiotics used within the first 1 hour after the diagnosis 100% were arterial catheters invasive blood pressure measurement in the first 6 hours 23.3% were treated with central venous catheters in the first 6 hours 47.9% were catheterized in the first 6 hours The mortality rate of septic shock in children is relatively high (76.7%)

Conclusion: Poor compliance with some key recommendations and most of cases are serious condition

may be responsible for the continued high mortality Adherence of the regimen will help improve mortality

due to septic shock

Key words: septic shock, adherence, treatment

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tỷ lệ tử vong do sốc nhiễm khuẩn (SNK) ở

trẻ em vẫn còn rất cao Ngay cả tại Mỹ và các

nước phát triển tỷ lệ này cũng khoảng từ 10%

đến 50%(16,17) Chẩn đoán sớm, xử trí ban đầu

hiệu quả bằng các biện pháp hồi sức tích cực,

kháng sinh thích hợp, sử dụng thuốc vận mạch

và tăng cường co bóp cơ tim hợp lý giúp giảm tỷ

lệ tử vong trong sốc nhiễm khuẩn(9,10) Năm 2004

Hội hồi sức Mỹ đưa ra chiến lược điều trị sớm

theo mục tiêu Chiến lược này đã được áp dụng

có hiệu quả trên trẻ em, giảm được tỷ lệ tử vong

đáng kể nếu tuân thủ đúng hướng dẫn điều

trị(10) Cho đến nay hướng dẫn đã được cập nhật

theo y học chứng cứ qua các năm 2008, 2012

Nhằm đánh giá mức độ tuân thủ phác đồ điều

trị tại một bệnh viện tuyến cơ sở chúng tôi thực

hiện nghiên cứu này góp phần xây dựng phác

đồ điều trị tại tuyến cơ sở để cải thiện hiệu quả

điều trị và giảm tỷ lệ tử vong

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu hồi cứu mô tả hàng loạt ca

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Tất cả bệnh nhi từ 1 tháng – 15 tuổi nhập

khoa Hồi sức Tích cực – Chống độc Bệnh viện

Nhi Đồng Cần Thơ trong thời gian từ 01/01/2012

đến 30/04/2016 được chẩn đoán SNK

Tiêu chuẩn chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn

Theo tiêu chuẩn chẩn đoán SNK đã thống

nhất của Hội thảo Quốc tế về NKH năm 2005

phải thỏa cả 3 tiêu chuẩn sau(5):

Tụt huyết áp theo tuổi

• 1 tháng − < 12 tháng: < 70 mmHg

• 12 tháng − < 10 tuổi: < 70 + 2n (n: tuổi tính bằng năm) mmHg

-≥ 10 tuổi: < 90 mmHg

Có tình trạng viêm:

1 trong các tiêu chuẩn sau

• CRP > 10 mg/dl hay procalcitonin > 0,5 ng/ml

• Tăng bạch cầu theo tuổi/ giảm bạch cầu theo tuổi hay bạch cầu non > 10%

Bằng chứng nhiễm khuẩn

Gợi ý có bằng chứng nhiễm khuẩn với bất kỳ nguyên nhân nào khi có cấy máu dương tính, nhuộm soi tươi, PCR, hoặc có hội chứng lâm sàng liên quan đến khả năng nhiễm khuẩn cao

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân được chẩn đoán là SNK đã được điều trị tuyến trước hoặc chuyển viện lên tuyến trên

Hồ sơ bệnh án không đủ dữ liệu Sốc do những nguyên nhân khác

Phương pháp thu thập số liệu

Tất cả các hồ sơ bệnh án của bệnh nhân thỏa các tiêu chuẩn nghiên cứu sẽ được thu thập bằng bệnh án mẫu được soạn sẵn phù hợp với mục tiêu nghiên cứu

Xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0

Định nghĩa biến số

Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ theo mục tiêu

Trang 3

hỗ trợ hô hấp ban đầu phù hợp:

• Chỉ định thở oxy qua cannula: tím tái và

SaO2< 90% và/hoặc PaO2< 60 mmHg; thở co lõm

ngực nặng; thở rên ở trẻ nhỏ

• Chỉ định đặt nội khí quản thở máy: ngưng

thở, thở không hiệu quả hoặc PaCO2> 50mmHg;

thiếu oxy máu nặng, PaO2< 60 mmHg với oxy,

thở áp lực dương qua ngã mũi (NCPAP)

Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ theo mục

tiêu dùng vận mạch phù hợp: thuốc vận mạch

ban đầu là dopamin nếu sốc không đáp ứng

với bù dịch

Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ mục tiêu đặt

catheter đo huyết áp xâm lấn, đặt catheter tĩnh

mạch trung tâm đo CVP, đặt thông tiểu: các thủ

thuật được tiến hành trong vòng 6 giờ đầu sau

chẩn đoán SNK

Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ mục tiêu dùng

kháng sinh: kháng sinh phải được sử dụng trong

vòng 1 giờ sau khi chẩn đoán SNK

Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ mục tiêu cấy

máu trước khi dùng kháng sinh: cấy máu phải

được thực hiện trước khi dùng kháng sinh cho

bệnh nhân

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong thời gian từ 01/01/2012 đến 30/04/2016

chúng tôi có 73 trẻ sốc nhiễm khuẩn nhập Khoa

Hồi sức Tích cực - Chống độc bệnh viện Nhi

Đồng Cần Thơ thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu

Bảng 1: Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu

Đặc điểm Tần suất

(n=73) Tỷ lệ (%)

Tuổi < 60 tháng 61 83,6

> 60 tháng 12 16,4

Bệnh lý kèm

theo

Hình thức nhập

viện

Chuyển viện 13 17,8

Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng lúc vào sốc

Đặc điểm Tần suất (n=73) Tỷ lệ (%)

Mạch không bắt được 36 49,3

Huyết áp không đo được 37 50,7 Thở nấc/Ngưng thở 27 37,0

Bảng 3: Tỷ lệ tuân thủ các biện pháp điều trị

Điều trị Tuần suất

tuân thủ Tỷ lệ

Hỗ trợ hô hấp 73 100 Chọn dung dịch điện giải là dung dịch

chống sốc ban đầu 72 98,6 Tốc độ dịch 20 ml/kg/≤ 20 phút 45 61,6 Dopamin là thuốc vận mạch đầu tiên 68 95,8

Sử dụng kháng sinh trong 1 giờ đầu 72 98,6 Đặt catheter động mạch trong 6 giờ đầu 73 100 Đặt catheter TTTM trong 6 giờ đầu 17 23,3 Đặt cathethông tiểu 6 giờ đầu 35 47,9

Bảng 4: Tỷ lệ tuân thủ thời điểm thực hiện các xét

nghiệm

Xét nghiệm Tuần suất

tuân thủ Tỷ lệ

Đánh giá rối loạn chức năng các cơ

Lactate máu lúc chẩn đoán 48 65,8 Cấy máu trước khi dùng kháng sinh 42 57,5 ScVO 2 trong 6 giờ đầu 3 4,

Bảng 5: Kết quả điều trị

Kết quả Tần suất (n=73) Tỷ lệ (%)

Tử vong ≤ 24 giờ 36 49,3

Tử vong > 24 giờ 20 27,4

BÀN LUẬN Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu

Trong nghiên cứu của chúng tôi hầu hết các trẻ đều < 60 tháng tuổi chiếm tỷ lệ 83,6%,

tỷ lệ nam/nữ là 0,97.Trẻ nhỏ dưới 5 tuổi khả năng đề kháng kém do hệ thống miễn dịch chưa hoàn chỉnh, sức đề kháng yếu và trẻ dễ

bị nhiễm khuẩn Khi đã nhiễm khuẩn thì dễ bị nhiễm khuẩn nặng hơn các trẻ lớn và nhanh chóng đưa đến NKH và SNK với tỷ lệ tử vong cao tử vong cao, đặc biệt là ở các nước đang phát triển(3) Qua nghiên cứu, chúng tôi cũng ghi nhận trẻ mắc các bệnh lý kèm theo trước khi được chẩn đoán SNK chiếm tỷ lệ 35,6% Bệnh lý nền là một trong những yếu tố làm tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ SNK Theo Watson,

Trang 4

49% trẻ nhiễm khuẩn huyết nặng có bệnh lý

kèm theo trước đó, thay đổi từ 36,1% ở nhóm

trẻ từ 15-19 tuổi đến 59,1% ở nhóm trẻ từ 5-9

tuổi(16) Qua kết quả nghiên cứu chúng tôi thấy

rằng trẻ cư trú tại Cần Thơ chiếm tỷ lệ 50,7%

Đặc điểm lâm sàng

Phần lớn bệnh nhi có biểu hiện lâm sàng

nặng với 49,3% mạch không bắt được, 50,7%

huyết áp không đo được, 28,8% hôn mê, 37% thở

nấc/ngưng thở 37%, 79,5% tay chân lạnh, 45,2%

thiểu niệu Các nghiên cứu trước đây cũng nhận

thấy trẻ bị SNK nhập viện trong tình trạng rất

nặng Phạm Văn Quang ghi nhận phần lớn bệnh

nhi nhập viện đều ở trong tình trạng rất nặng

với 100% rối loạn tri giác, 60% suy hô hấp nặng,

47% mạch không bắt được, 62% huyết áp không

đo được(13) Nghiên cứu năm 2011 tại BVNĐ 1

ghi nhận sốc mất bù 87,7%, trong đó 30,8%

không có mạch và huyết áp không đo được

52,3%(9) Năm 2005, Cao Việt Tùng nghiên cứu tại

Viện Nhi trên 49 trường hợp SNK ghi nhận

91,8% có đầu chi lạnh, 100% trẻ đều có thời gian

đổ đầy mao mạch trên 3 giây, 100% có rối loạn tri

giác (59,2% li bì, 16,3% hôn mê), 69,4% có huyết

áp thấp và kẹp(15)

Tỷ lệ tuân thủ các biện pháp điều trị theo

phác đồ

Kết quả nghiên cứu chúng tôi ghi nhận tất cả

các trường hợp đều được tuân thủ mục tiêu hỗ

trợ hô hấp thở oxy và đặt nội khí quản thở máy

Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Đỗ Thị

Mộng Hoàng, nhận thấy 100% các trường hợp

tuân thủ theo mục tiêu hỗ trợ hô hấp ban đầu(3)

Có tới 40% cung lượng tim dùng cho công thở, vì

vậy khi thông khí giúp cải thiện cung lượng tim

Thông khí áp lực dương cũng làm giảm hậu tải

thất trái, điều này có lợi ở trẻ với cung lượng tim

thấp và kháng lực mạch máu cao(8,5)

Sự tuân thủ mục tiêu chọn dịch hồi sức

ban đầu phù hợp chiếm tỷ lệ rất cao 98,6% Có

một trường hợp sử dụng dung dịch keo là

dung dịch chống sốc ban đầu là do bệnh nhân

này bị ngưng tim ngưng thở trước khi vào

bệnh viện 61,6% tuân thủ tốc độ chống sốc với liều 20ml/kg trong khoảng thời gian ≤ 20phút Dựa trên các nghiên cứu được công bố năm

2012, SSC khuyến cáo không sử dụng dung dịch hydroxyethyl starch có trọng lượng phân

tử trên 200.000 dalton, và các nghiên cứu cho thấy Hydroxyethyl starch tăng nguy cơ suy thận và tăng tỷ lệ bệnh nhân phải lọc máu liên tục so với điện giải(5)

Chúng tôi nhận thấy có 95,8% các trường hợp tuân thủ việc chọn dopamin là thuốc vận mạch đầu tiên Kết quả nghiên cứu này tương tự các nghiên cứu của Đỗ Thị Mộng Hoàng năm 2008-2013 và Nguyễn Minh Tiến năm 2013 tại BVNĐ 1 cho thấy tỷ lệ tuân thủ mục tiêu sử dụng dopamin là thuốc vận mạch đầu tiên tương đối cao(3,11) Đối với SNK ở trẻ em chọn lựa thuốc vận mạch ban đầu vẫn là dopamin, trong khi ở người lớn là nor-epinephrin(8) Trên 50% các trung tâm trong nhiên cứu của Santschi dùng catecholamin nếu bệnh nhi không cải thiện sau

bù dịch 40-60 ml/kg, 25% dùng sau khi truyền dịch 20-40 ml/kg, 8% dùng sau khi bù dịch 60-80 ml/kg và 8% dùng dựa trên kết quả siêu âm tim tại giường(14)

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 98,6% các bệnh nhi được khởi đầu kháng sinh trong vòng 1 giờ sau khi chẩn đoán Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự nghiên cứu của Đỗ Thị Mộng Hoàng, tác giả nhận thấy 97,6% các bệnh nhi được sử dụng kháng sinh trong vòng 1 giờ đầu tiên(3) Theo khuyến cáo của SSC năm

2012, kháng sinh nên được sử dụng trong vòng 1 giờ sau khi chẩn đoán NKH hoặc SNK(7)

Theo khuyến cáo của SSC năm 2012, trong 6 giờ đầu hồi sức SNK cần đạt các mục đích điều trị: nhịp tim, nhịp thở bình thường theo tuổi, tri giác bình thường, CRT ≤ 2 giây, mạch mu chân bắt rõ và không có sự khác biệt giữa mạch trung tâm và ngoại biên, chi ấm, huyết áp bình thường theo tuổi, thể tích nước tiểu ≥ 1ml/kg/giờ, áp lực tưới máu bình thường theo tuổi, ScVO2 ≥ 70%, tối

ưu hóa tiền tải và chỉ số tim 3,3-6 l/phút/m2(5) Tất

cả các trường hợp này đều được đặt trong vòng

Trang 5

6 giờ hồi sức đầu tiên sau khi chẩn đoán SNK

Theo nghiên cứu của Nguyễn Minh Tiến và cộng

sự ghi nhận 84,4% các trường hợp được đặt

catheter động mạch quay đo và theo dõi huyết

áp động mạch xâm lấn với thời gian trung bình

là 1,3 giờ sau khi sốc(11)

23,3% các trường hợp được tuân thủ mục

tiêu đặt catheter tĩnh mạch trung tâm trong 6 giờ

đầu của sốc Đây là một thủ thuật đòi hỏi các bác

sĩ lâm sàng có kinh nghiệm, được huấn luyện và

các phương tiện hỗ trợ như siêu âm tại giường

xác định vị trí tĩnh mạch cảnh trong, tĩnh mạch

dưới đón hoặc tĩnh mạch đùi Do nghiên cứu của

chúng tôi tại một bệnh viện tuyến dưới nên chưa

có nhiều bác sĩ có kỹ năng đặt catheter tĩnh mạch

trung tâm nên tỷ lệ tuân thủ mục tiêu này thấp

Các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cũng

ghi nhận tỷ lệ tuân thủ mục tiêu này thấp(1) Tỷ lệ

tuân thủ mục tiêu đặt catheter trong 6 giờ đầu

của sốc là 47,9% Qua kết quả cho thấy vẫn còn

khá nhiều bệnh nhi mà bác sĩ điều trị đã bỏ qua

việc theo dõi lượng nước tiểu là một thông số

quan trọng đánh giá đáp ứng của bệnh nhi SNK,

mặc dù thủ thuật này rất đơn giản và điều

dưỡng cũng có thể thực hiện được

Tất cả các trường hợp trong nghiên cứu

của chúng tôi đều được thực hiện các xét

nghiệm đánh giá rối loạn chức năng các cơ

quan Tuy nhiên, chỉ có 65,8% được xét

nghiệm lactate máu ngay khi chẩn đoán SNK

Cấy máu trước khi khi sử dụng kháng sinh chỉ

được thực hiện trong 57,5% Kết quả nghiên

cứu của chúng tôi tỷ lệ xét nghiệm lactate máu

ngay lúc chẩn đoán sốc thấp hơn nghiên cứu

của Đỗ Thị Mộng Hoàng (76,4%) và của

Nguyễn Minh Tiến (100%)(3, 11) Kết quả nghiên

cứu chúng tôi ghi nhận chỉ có 4,1% các trường

hợp được xét nghiệm ScVO2 trong 6 giờ đầu

khi chẩn đoán SNK Tỷ lệ này rất thấp mặc dù

tỷ lệ đặt catheter tĩnh mạch trung tâm trong

nghiên cứu của chúng tôi là 31,5% Điều này

cho thấy các bác sĩ điều trị chưa quan tâm

nhiều đến vi tuần hoàn như lactate và ScVO2

Kết quả điều trị

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ tử vong vẫn còn rất cao (76,7%) Trong đó, 36 (49,3%) trẻ tử vong trong vòng 24 giờ đầu sau khi được chẩn đoán Theo Phạm Văn Quang

và cộng sự nghiên cứu từ năm 2002-2008 tại BVNĐ 1 ghi nhận tỷ lệ tử vong 70,2%, trong

đó tử vong trong vòng 24 giờ sau chẩn đoán là 46,8%(13) Kết quả nghiên cứu của Đỗ Thị Mông Hoàng ghi nhận tỷ lệ tử vong do SNK là 57,5%(6) Tuy nhiên, theo các nghiên cứu tại các nước phát triển, từ khi áp dụng theo hướng dẫn điều trị năm 2002 của ACCM tỷ lệ tử vong

do SNK ở trẻ em có xu hướng giảm đáng kể(1)

Tỷ lệ tử vong cũng thay đổi theo khu vực địa lý: 21% tại Bắc Mỹ, 29% tại Châu Âu, 32% tại

Úc và New Zealand, 40% tại Châu Á, 11% tại Mam Mỹ và 40% tại Châu Phi(17)

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 73 bệnh nhi sốc nhiễm khuẩn tại bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ chúng tôi nhận thấy tỷ lệ tuân thủ một số biện pháp điều trị theo phác đồ còn thấp Tuân thủ tốt hướng dẫn điều trị sốc nhiễm khuẩn hiện nay có thể làm giảm tỷ lệ tử vong đáng kể

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Balamuth F, Weiss SL, Neuman MI, et al (2014), “Pediatric

Severe Sepsis in U.S Children’s Hospitals”, Pediatr Crit Care Med 1(9), pp798-805

2 Brierley J, Carcillo J A, Choong K, et al (2009), “Clinical practice parameters for hemodynamic support of pediatric and neonatal septic shock: 2007 update from the American College

of Critical Care Medicine”, Crit Care Med 37 (2), pp666 – 688

3 Bùi Quốc Thắng (2005), “Khảo sát yếu tố dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng trên những bệnh nhi nhiễm trùng huyết tử

vong”, Y Học Thành phố Hồ Chí Minh 9(1), trang 104-108

4 Cao Việt Tùng, Phạm Văn Thắng, Lê Nam Trà (2005), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng sốc nhiễm khuẩn trẻ

em tại khoa hồi sức cấp cứu bệnh viện Nhi Trung Ương”, Tạp chí nghiên cứu Y học 34(2), trang 45-53

5 Castellanos-Ortega A, Borja S, García-Astudillo LA, et al (2010), “Impact of the Surviving Sepsis Campaign protocols on hospital length of stay and mortality in septic shock patients:

Results of a three-year follow-up quasi-experimental study”, Crit Care Med 38, pp1036 –1043

6 Dellinger RP, Carlet JM, Masur H, et al (2004), “Surviving Sepsis Campaign guidelines for management of severe sepsis

and septic shock”, Intensive Care Med 30, pp536–555

Trang 6

7 Dellinger RP, Levy MM, Rhodes A, et al (2013), “Surviving

Sepsis Campaign: International Guidelines for Management of

Severe Sepsis and Septic Shock: 2012”, Crit Care Med 41,

pp580–637

8 Đỗ Thị Mộng Hoàng (2014), Điều trị ban đầu sốc nhiễm khuẩn ở

trẻ em nhập khoa cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng 1 năm 2009 - 2013,

Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch

9 Kuo YW, Chang H T, Wu PC, et al (2012), “Compliance and

barriers to implementing the sepsis resuscitation bundle for

patients developing septic shock in the general medical

wards”, Journal of the Formosan Medical Association 111, pp77-82

10 Na S, Kuan WS, Mahadevan M, et al (2012), “Implementation

of early goal-directed therapy and the surviving sepsis

campaign resuscitation bundle in Asia”, International Journal for

Quality in Health Care 24(5), pp pp.452-462

11 Nguyễn Minh Tiến và cộng sự (2013), “Đánh giá sự tuân thủ

phác đồ điều trị sốc nhiễm trùng ở trẻ em tại khoa Hồi sức tích

cực chống độc Bệnh viện Nhi Đồng 1”, Kỷ yếu hội nghị khoa học

Hồi sức Cấp cứu thường niên 2013, trang 50-59

12 Peake S L, Delaney A, Bailey M, et al (2014), “Goal-Directed

Resuscitation for Patients with Early Septic Shock”, N Engl J

Med 371, pp pp.1496-506

13 Phạm Văn Quang và cộng sự (2010), “Điều trị ban đầu sốc

nhiễm khuẩn trẻ em tại khoa Cấp Cứu bệnh viện Nhi đồng 1”,

Y Học Thành phố Hồ Chí Minh 14(1), trang 15-22

14 Santschi M, Leclerc F, et al (2013), “Management of children with sepsis and septic shock: a survey among pediatric

intensivists of the Réseau Mère-Enfant de la Francophonie”, Annals of Intensive Care 3 (7), p7

15 Watson RS, Carcillo JA, Linde-Zwirble WT, et al (2003), “The Epidemiology of Severe Sepsis in Children in the United

States”, Am J Respir Crit Care Med 167, pp695-701

16 Weiss SL, Fitzgerald JC, Pappachan J, et al (2015), “Global Epidemiology of Pediatric Severe Sepsis: The Sepsis

Prevalence, Outcomes, and Therapies Study”, Am J Respir Crit Care Med 19(10), pp1147-57

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 21/12/2016 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2017

Ngày đăng: 15/01/2020, 08:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w