1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tác nhân gây bệnh và tình hình sử dụng kháng sinh trong viêm nội tâm mạc nhiễm trùng ở trẻ em tại bệnh viện Nhi đồng I

8 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 240,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu chính của bài viết nghiên cứu hồi cứu 35 trường hợp viêm nội tâm mạc nhiễm trùng (VNTMNT) tại khoa Tim mạch BV. Nhi đồng 1, từ 04-1999 đến 06-2002, cho thấy: (1) Tỉ lệ VNTMNT trong số bệnh nhi bệnh tim cao (1,02%), 57,14% xảy ra ở trẻ ≥ 10 tuổi và phần lớn đến từ các tỉnh. (2) VNTMNT xảy ra chủ yếu trên trẻ tim bẩm sinh, đứng hàng đầu là thông liên thất, tiếp đến là còn ống động mạch và tứ chứng Fallot. 68,57% trường hợp bị suy dinh dưỡng. (3) 51,43% trường hợp tìm thấy ngõ vào.

Trang 1

KHẢO SÁT TÁC NHÂN GÂY BỆNH VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG VIÊM NỘI TÂM MẠC NHIỄM TRÙNG Ở TRẺ EM TẠI

BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG I

Vũ Minh Phúc*, Trần thị Ngọc Bích, Trương thị Thúy Mai

TÓM TẮT

Hồi cứu 35 trường hợp viêm nội tâm mạc nhiễm trùng (VNTMNT) tại khoa Tim mạch BV Nhi đồng 1, từ 04-1999 đến 06-2002, cho thấy: (1) Tỉ lệ VNTMNT trong số bệnh nhi bệnh tim cao (1,02%), 57,14% xảy ra ở trẻ 10 tuổi và phần lớn đến từ các tỉnh (2) VNTMNT xảy ra chủ yếu trên trẻ tim bẩm sinh, đứng hàng đầu là thông liên thất, tiếp đến là còn ống động mạch và tứ chứng Fallot 68,57% trường hợp bị suy dinh dưỡng (3) 51,43% trường hợp tìm thấy ngõ vào 2 ngõ vào thường gặp nhất là nhiễm trùng răng miệng và viêm phổi (4) Chỉ có 48,57% trường hợp cấy máu dương tính, nhiều khả năng do thời gian cấy máu ngắn và môi trường cấy máu không đủ Streptococcus viridans là vi khuẩn gây VNTMNT nhiều nhất (58,82%), ngoài ra có Staphylococcus aureus, Staphylococcus coagulase negative, Enterococci, Enterococcus feacalis (5) 100% trường hợp VNTMNT do Streptococcus viridans nhạy với cefotaxim, 90% nhạy vancomycin, 50% nhạy oxacillin, chỉ có 40% nhạy penicillin Tất cả các vi khuẩn gây bệnh đều còn nhạy tốt với cefotaxim và vancomycin (6) 100% trường hợp VNTMNT được cho kháng sinh ngay lúc nhập viện, sau khi cấy máu; nhưng chỉ đúng chỉ định trong 80% trường hợp Kháng sinh đầu tiên được các bác sĩ khoa Tim mạch BV Nhi đồng 1 sử dụng khi chưa có kết quả cấy máu là penicillin (71,43%) ± gentamycin 65,71% trường hợp phải đổi kháng sinh sau khi có kết quả cấy máu

ABSTRACT

RESEARCH OF THE ETIOLOGICAL MICROORGANISMS AND OF THE

ANTIMICROBIAL THERAPY IN INFECTIVE ENDOCARDITIS AT THE PEDIATRIC

HOSPITAL N°1

Vu Minh Phuc, Tran thi Ngoc Bich, Truong thi Thuy Mai Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol.7 *

Supplement of No 1: 91 - 98

A retrospective study of 35 cases of infective endocarditis (IE), at the Cardiovascular Department of the Pediatric Hospital N°1, from April 1999 to June 2002, shows that: (1) The incidence of IE among hospitalized children with cardiac disease was 1,02%; 57,14% of cases occurred in 10-year or older children; most of IE children came from provinces (2) IE mainly occurred in children with congenital heart disease in which ventricular septal defect, patent ductus arteriosus and tetralogy of Fallot were most common; 68,57% of IE children had malnutrition (3) 51,43% of cases had previous infection Dental and oral infection, pneumonia were mostly often seen (4) Positive blood culture only occurred in 48,57% of cases, maybe due to short period of incubation and inappropriate media Streptococcus viridans was most frequently responsible for IE (58,82%); in addition, there were Staphylococcus aureus, Staphylococcus coagulase negative, Enterococci and Enterococcus feacalis (5) 100% of IE due to S viridans were sensitive with cefotaxim, 90% with vancomycin, 50% with oxacillin and only 40% with penicillin All microorganisms were sensitive with cefotaxim and vancomycin (6) 100% of IE were given antibiotic at the time of admission, after doing blood culture but only 80% of them were right The first line antibiotic used in the Cardiovascular Department of

* TS, giảng viên Bộ môn Nhi trường Đại học Y Dược TP HCM

Trang 2

the Pediatric Hospital N°1 was penicillin (71,43%) associated with gentamycin in some cases 65,71% of IE had to change to other antibiotics after having the result of blood culture

ĐẶT VẤN ĐỀ

VNTMNT thường xảy ra trên cơ địa có bệnh tim

sẵn có, nhưng cũng có thể xảy ra trên những bệnh

nhân không có bệnh tim Theo y văn thế giới, tần

suất của nó ở trẻ em không cao, 1/ 1.280 trẻ nhập

viện(27) Tuy nhiên đây là một bệnh có nhiều biến

chứng nguy hiểm tính mạng, nếu không điều trị

đúng và kịp thời Trong thời đại kháng sinh hiện

nay, việc điều trị VNTMNT không còn khó khăn như

trước; nhưng vấn đề là sử dụng kháng sinh như thế

nào để đạt được hiệu quả tốt nhất, ít tốn kém nhất,

và tránh được việc tạo ra những chủng vi khuẩn

kháng thuốc trong tương lai Rất nhiều tài liệu đã

trình bày về nguyên tắc sử dụng kháng sinh trong

VNTMNT, nhưng thực tế cho thấy các thầy thuốc áp

dụng rất khác nhau Chúng tôi thực hiện nghiên

cứu này nhằm xác định lại tác nhân gây VNTMNT ở

trẻ em hiện nay, tình hình kháng thuốc của các vi

khuẩn và việc sử dụng kháng sinh hiện nay của các

thầy thuốc trong VNTMNT ở trẻ em

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Gồm tất cả trẻ em từ > 1 tháng tuổi đến 15

tuổi, nhập bệnh viện Nhi đồng 1 – TP.HCM, từ

04-1999 đến 06-2002, được chẩn đoán xác định

VNTMNT theo tiêu chuẩn của Duke(6) và được cấy

máu ngay lúc nhập viện, trước khi cho kháng sinh

Phương pháp nghiên cứu

Là hồi cứu, mô tả hàng loạt ca Chúng tôi lấy tất

cả các trường hợp thoả điều kiện nghiên cứu Tất cả

hồ sơ bệnh án trong lô nghiên cứu sẽ được 2 bác sĩ

xem xét, thu thập các số liệu và điền vào phiếu dữ

liệu mẫu, sau đó xử lý theo chương trình Epi-info

4.06B

KẾT QUẢ

Đặc điểm dịch tễ

Có tất cả 35 trường hợp (th) bị VNTMNT trong

khoảng thời gian 04-1999 đến 06-2002, tất cả đều

thoả điều kiện nghiên cứu, chiếm tỉ lệ trong số trẻ bị bệnh tim nhập viện cùng thời điểm là 35/3425 (1,02%) Tuổi trung bình là 9,26 ± 3,96, nhỏ nhất là

8 tháng, lớn nhất là 15 tuổi Giới nam18 th (51,43%), nữ 17 th (48,57%) Thành phố 06 th (17,14%), tỉnh 29 th (82,86%)

Bảng 1: Phân bố theo tuổi của VNTMNT

Số trường hợp Tỉ lệ %

< 12 tháng 01 02,86

12 tháng - < 5 tuổi 03 08,57

5 tuổi - < 10 tuổi 11 31,43

10 tuổi 20 57,14

Đặc điểm cơ địa bệnh nhân VNTMNT:

Suy dinh dưỡng (phân loại theo Gomez): 24 th (68,57%); mức độ nhẹ 09 th (37,5%), trung bình, 10

th (41,67%), nặng 05 th (20,83%)

Bảng 2: Số trường hợp có bệnh tim

Thông liên thất + hở van động mạch chủ 02 Tứ chứng Fallot + còn ống động mạch 02 Thông liên thất + hở van động mạch chủ + hẹp eo động mạch chủ + còn ống động mạch

01 Thông liên thất + còn ống động mạch 01 Thông liên thất + hẹp động mạch phổi 01 Hở van 2 lá và van động mạch chủ bẩm sinh 01 Thông liên thất + hẹp động mạch chủ 01 Hở van động mạch chủ bẩm sinh + túi phình động mạch chủ lên

01 Hở van động mạch chủ bẩm sinh 01

Hẹp trên van động mạch chủ + hở van động mạch chủ bẩm sinh

01 Không lỗ van động mạch phổi + còn ống động mạch 01 Hở van 2 lá và van động mạch chủ hậu thấp 01

Ngõ vào của VNTMNT không tìm thấy trong 17

th (48,57%) và được tìm thấy trong 18 th (51,43%)

10 th nhiễm trùng răng miệng, 10 th viêm phổi, 02

th viêm màng não, 02 th nhiễm trùng da Có những trường hợp hiện diện > 1 ngõ vào

Trang 3

Tác nhân gây VNTMNT

Bảng 3: So sánh giữa 2 nhóm cấy máu dương tính

và âm tính

Cấy máu (-) Cấy máu (+) ¶

Số trường hợp 18 17

Tỉ lệ % 51,43 48,57

Tuổi trung bình 8,34 ± 4,58 10,06 ± 3,03 F (p = 0,01)

(55,56%)

08 th (47,06%) χ

2 (p = 0,61)

(44,44%)

09 th (52,94%) Thành phố 03 th

(16,67%)

03 th (17,65%)

χ 2 (p = 0,71)

(83,33%)

14 th (82,35%)

hiệu chỉnh Yates Suy dinh dưỡng 14 th

(77,78%)

10 th (58,82%)

χ 2 (p = 0,22) Có ngõ vào 09 th (50%) 09 th

(52,94%)

χ 2 (p = 0,86)

Cấy máu (-) Cấy máu (+) ¶

Sử dụng kháng sinh trước nhập viện

11 th (61,11%)

10 th (58,82%)

χ 2 (p = 0,89) Thời gian trung bình

dùng kháng sinh trước nhập viện

11,3 ngày 15,7 ngày F (p =

0,002) Thời gian khởi bệnh

trước nhập viện

23,65 ngày 36,06 ngày F (p = 0)

Cấy máu dương tính đúng tiêu chuẩn của VNTMNT(2)

Trong 17 th cấy máu dương tính, Streptococcus viridans 10 th (58,82%), Staphylococcus aureus 04

th (23,53%), Staphylococcus coagulase negative 01

th (5,88%), Enterococci 01 th (5,88%), Enterococcus feacalis 01 th (5,88%)

Bảng 4: Số trường hợp nhạy cảm kháng sinh của các vi trùng gây VNTMNT

S viridans

(10 th)

S aureus

04 th

Staphylococcus coagulase (-)

01 th

Enterococci

01 th

Enterococcus feacalis

01 th

Tình hình sử dụng kháng sinh trong

VNTMNT tại BV Nhi đồng 1 – TP

HCM

Tất cả 35 th đều được cho kháng sinh ngay lúc

nhập viện, sau khi cấy đủ 3 mẫu máu Cho đúng chỉ

định trong 28 th (80%), vì một hoặc nhiều lý do sau

đây: có viêm màng não mủ đi kèm (2 th), có viêm

phổi đi kèm(10 th), có ổ nhiễm trùng nặng vùng

răng miệng đi kèm (9 th), bệnh cảnh lâm sàng điển

hình và nặng (5 th), siêu âm tim ngay lúc nhập viện

thấy có sùi (12 th) Cho không đúng chỉ định trong

07 th (20%)

Kháng sinh đầu tiên được sử dụng trước khi có

kết quả cấy máu gồm Penicillin G 25 th (71,43%),

Cefotaxim 06 th (17,14%), Vancomycin 02 th (5,71%), Oxacillin 01 th (02,86%), Cefazolin 01 th (2,86%), Gentamycin 14 th (dùng kèm Vancomycin hoặc Penicillin)

Trong 6 th dùng cefotaxim, có 2 th viêm màng não, 1 th viêm phổi rất nặng, 1 th bệnh viện tuyến trước đã dùng penicillin và chloramphenicol, 2 th không rõ lý do tại sao dùng ngay cefotaxim 2 th dùng ngay vancomycin vì bệnh viện tuyến trước đã dùng các kháng sinh penicillin, ceftriaxone, ampicillin, gentamycin, peflacin 1 th dùng ngay cefazolin và 1 th dùng ngay oxacillin ngay không rõ lý do

Trang 4

23 th (65,71%) phải đổi kháng sinh sau khi có

kết quả cấy máu, trong đó có 9 th cấy máu âm tính

và 14 th cấy máu dương tính Lý do đổi kháng sinh

là bệnh cảnh lâm sàng không cải thiện và kháng

sinh đồ không phù hợp với kháng sinh hiện đang sử

dụng 14 th chuyển từ penicillin G sang cefotaxim;

03 th từ penicillin và 04 th từ cefotaxim chuyển

sang vancomycin + rifampicin + ciprofloxacin; 02

th chuyển từ penicillin sang oxacillin + gentamycin

Kết quả điều trị

Sau thời gian dùng kháng sinh 4-6 tuần, 34 th

đều khỏi bệnh và xuất viện Không có trường hợp

nào phải can thiệp ngoại khoa cấp cứu 01 th tử

vong là bệnh nhân VNTMNT không có bệnh tim

trước đó; VNTMNT xảy ra sau viêm phổi nặng có

biến chứng tràn mủ màng phổi; sau 8 tuần điều trị

đã cắt sốt hoàn toàn, nhưng khối sùi quá lớn nằm

ngay van 3 lá, gây hở van 3 lá nặng; bệnh nhân có

chỉ định phẫu thuật, nhưng trong khi chờ đợi thì đột

tử; nguyên nhân tử vong được dự đoán là do khối sùi

làm tắc lỗ van 3 lá hoặc thuyên tắc phổi

BÀN LUẬN

VNTMNT trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm

1,02% tổng số các bệnh tim nhập viện cùng thời

điểm Tỉ lệ này cao rất nhiều lần so với con số thống

kê của các tác giả vào thập niên 80(27) Tuổi trung

bình là 9,26 ± 3,96 và 57,14% trường hợp xảy ra ở

trẻ ≥ 10 tuổi; giống với ghi nhận gần đây của nhiều

tác giả trong các báo cáo về VNTMNT ở trẻ em, là

bệnh thường gặp ở trẻ ≥ 10 tuổi(3,10,11) Tỉ lệ nam nữ

ngang nhau, và 82,86% bệnh nhân từ tuyến tỉnh

chuyển lên

68,57% trường hợp bị suy dinh dưỡng, chủ yếu ở

mức độ trung bình, vì 34 trong 35 th đều có bệnh

tim trước đó, và thời gian khởi bệnh trung bình

trước khi nhập viện trên 3 tuần Hai lý do này đủ

gây ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của phần

lớn bệnh nhân Trong 35 th, chỉ có duy nhất 1 th

không có bệnh tim trước đó, 1 th bệnh van tim hậu

thấp, còn lại 33 th tim bẩm sinh Trong tim bẩm

sinh nhiều nhất là thông liên thất (11 th), kế đến là

còn ống động mạch và tứ chứng Fallot Điều này

cũng dễ hiểu vì trong tim bẩm sinh, thông liên thất luôn chiếm tỉ lệ cao nhất; mặt khác tứ chứng Fallot được xếp vào nhóm nguy cơ cao bị VNTMNT, thông liên thất và còn ống động mạch được xếp vào nhóm nguy cơ trung bình(1) Ghi nhận của Starke có hơi khác một chút, là tứ chứng Fallot đứng hàng đầu trong các bệnh tim bẩm sinh bị VNTMNT (24%), kế đến mới là thông liên thất (16%)(24)

Chỉ có 18 th (51,43%) là tìm thấy ngõ vào của vi trùng, trong đó nhiễm trùng răng miệng (10 th) và viêm phổi (10 th) đứng hàng đầu Ngoài ra còn có viêm màng não (2 th) và nhiễm trùng da (2 th) Trong các tài liệu, thủ thuật vùng răng miệng và thủ thuật trên đường hô hấp luôn xếp hàng đầu trong danh sách phải phòng VNTMNT Nghiên cứu của chúng tôi không có trường hợp nào xảy ra sau thủ thuật và phẫu thuật, mà chỉ thấy nhiễm trùng tại răng miệng và viêm phổi Có những trường hợp phát hiện cùng lúc được 2-3 ngõ vào của vi trùng Chúng tôi chỉ có được 17 th (48,57%) cấy máu dương tính Khi đem so sánh giữa 2 nhóm cấy máu âm tính và dương tính (bảng 3), chúng tôi thấy có 3 điểm khác biệt: tuổi của nhóm cấy máu dương tính cao hơn, thời gian khởi bệnh trước nhập viện và thời gian sử dụng kháng sinh trước nhập viện của nhóm cấy máu dương tính đều lâu hơn nhóm cấy máu âm tính mặc dù tất cả bệnh nhân đều được cấy 3 mẫu máu cách nhau 1 giờ lúc nhập viện, trước khi sử dụng kháng sinh Theo các tài liệu trên thế giới, có 3 nguyên nhân dẫn đến cấy máu âm tính trong VNTMNT:

(1) sử dụng kháng sinh bừa bãi trước cấy máu; (2) cơ địa suy giảm miễn dịch bị nhiễm những

vi kuẩn khó mọc;

(3) kỹ thuật cấy máu không đạt yêu cầu(2,5,8,9,16,18,19,22,25,26)

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỉ lệ sử dụng kháng sinh trước nhập viện của nhóm cấy máu âm tính và dương tính như nhau, thậm chí nhóm cấy máu dương tính còn có thời gian dùng kháng sinh lâu hơn Như vậy trong nghiên cứu của chúng tôi không thể dùng lý do này để lý giải kết quả cấy máu

Trang 5

âm tính; có thể do những kháng sinh được sử dụng

không nhạy với vi khuẩn gây bệnh, hoặc liều lượng

và đường dùng không đúng, nên tình trạng nhiễm

trùng huyết vẫn tồn tại, dẫn đến những trường hợp

cấy máu dương tính mặc dù đã dùng kháng sinh

trước đó Mặt khác chúng tôi sử dụng chai cấy máu

BACTEC, trong có chứa resin để kết gắn và bất hoạt

một số kháng sinh trong máu nếu trước đó có sử

dụng Qua đây cho thấy, nếu đã dùng kháng sinh

trước nhập viện, vẫn có một nửa trường hợp cấy

máu dương tính dù không ngưng kháng sinh 2 ngày

trước cấy (như trong nghiên cứu của chúng tôi,

bệnh nhân có viêm màng não, viêm phổi, nhiễm

trùng răng miệng nặng, tình trạng quá nặng lúc

nhập viện) Tất cả 35 bệnh nhân trong nghiên cứu

đều không có bệnh lý gì khác và đều không dùng

thuốc gì gây suy giảm miễn dịch Cả 2 nhóm cấy

máu âm tính và dương tính đều không có sự khác

biệt về giới, nơi cư trú, tình trạng dinh dưỡng và ngõ

vào của vi trùng, chỉ khác nhau về tuổi Chúng tôi

không lý giải được sự khác nhau này Những lý do kỹ

thuật dẫn đến cấy máu âm tính trong VNTMNT

là(13):

(1) lấy không đủ máu;

(2) lấy không đủ mẫu; (

3) thời gian nuôi cấy quá ngắn;

(4) môi trường nuôi cấy không đủ

Tại BV Nhi đồng 1, chúng tôi lấy 2-3 ml máu

cho mỗi mẫu cấy, vì chúng tôi sử dụng chai cấy máu

chuẩn BACTEC (Becton Dickinson) dành cho nhi

khoa, nên để đạt yêu cầu pha loãng chỉ cần 2-3 ml là

đủ; khác với người lớn phải lấy một lần ít nhất 10 ml

máu để đạt yêu cầu pha loãng 1:104 Tại khoa Tim

mạch BV Nhi đồng 1, chúng tôi thực hiện thống

nhất cấy 3 mẫu máu cách nhau 1 giờ nếu nghi

VNTMNT từ 1995 Như vậy về số lượng máu lấy số

mẫu máu cấy của chúng tôi đạt yêu cầu chuẩn

Riêng về thời gian nuôi cấy, thì hầu hết các vi khuẩn

thường mọc trong khoảng ≤ 1 tuần Tuy nhiên vẫn

có một số vi khuẩn cần một thời gian lâu hơn mới

mọc được, như nhóm HACEK (Hemophilus species,

Actinobacillus actinomycetemcomitans,

Cardiobacterium hominis, Eikenella species, Kingella kingae) cần 3 tuần, Brucella cần 6 tuần(13) Thời gian nuôi cấy tại BV Nhi đồng 1 là 1 tuần Môi trường cấy máu phải đa dạng, hiếu khí, kỵ khí, đặc biệt dành cho nấm và một số vi khuẩn đặc biệt(13); tại BV Nhi đồng 1 hiện chỉ có môi trường cấy dành cho vi khuẩn hiếu khí mà thôi Như vậy xét về những khả năng gây cấy máu âm tính thì có thể có sự góp phần của 2 yếu tố là môi trường cấy không đủ và thời gian cấy máu ngắn

Trong 17 th cấy máu dương tính, Streptococcus

viridans đứng hàng đầu (58,82%), kế đến là Staphylococcus aureus (23,53%) Kết quả này giống

với hầu hết các y văn, là Streptococcus viridans là

tác nhân gây bệnh trong 50% các trường hợp VNTMNT(14) Không thấy sự hiện diện của nhóm HACEK, các vi khuẩn gram âm khác, vi khuẩn kỵ khí hoặc nấm

10 th VNTMNT cấy máu ra Streptococcus

viridans đều nhạy với cefotaxim, 9 th (90%) nhạy

rifampicin và vancomycin, 5 th (50%) nhạy oxacillin, chỉ có 4 th (40%) nhạy penicillin 4 th cấy máu ra Staphylococcus aureus đều nhạy với vancomycin và rifampicin, 2 th (50%) nhạy oxacillin, cefotaxim và gentamycin Nếu xét tất cả 17

th cấy máu dương tính, với mọi tác nhân gây bệnh (bảng 4), thì kháng sinh đường tĩnh mạch nhạy cảm nhiều nhất là vancomycin (16 th), kế đến là rifampicin (15 th), cefotaxim (14 th), oxacillin và chloramphenicol (8 th), penicillin (6 th # 35,3%), cefuroxim (4 th) và gentamycin (2 th) Theo y văn thì hầu hết các trường hợp VNTMNT do Streptococcus viridans đều nhạy với penicillin(15), và 48% trường hợp VNTMNT bán cấp ở Mỹ là do những

vi khuẩn nhạy với penicillin(21) Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy Sreptococcus viridans nói riêng và các vi khuẩn gây VNTMNT nói chung ít nhạy với penicillin (40% và 35,3%) Ở Anh quốc, streptococci có MBC (nồng độ kháng sinh tối thiểu để diệt khuẩn) ≥ 1mg/ lít(17) được xem là nhạy với penicillin và khi MBC > 10 MIC (nồng độ kháng sinh tối thiểu ức chế vi khuẩn) thì được xem là kháng penicillin

BV Nhi đồng 1 không định MBC và MIC thường qui

Trang 6

khi cấy máu; phải chăng đây là nguyên nhân khiến

cho độ nhạy cảm penicillin của Streptococcus

viridans thấp hơn Ngoài ra MIC và MBC là một

trong những cơ sở quan trọng thuộc về nguyên tắc,

phải biết trước khi tiến hành điều trị một trường hợp

VNTMNT hoặc nhiễm trùng huyết Trong họ

cephalosporin, Streptococcus viridans nhạy tốt với

thế hệ 1 cụ thể là cephalothin và cefazolin, nên 2

kháng sinh này được dùng cho những trường hợp dị

ứng penicillin bởi vì nguy cơ phản ứng chéo <

1%(15) Riêng cephalosporin thế hệ 3, tài liệu thế giới

chỉ nhắc đến ceftriaxone trong điều trị VNTMNT, tuy

nhiên một khi Streptococcus viridans đã kháng

penicillin thì cũng kháng luôn ceftriaxone(15) Không

thấy tài liệu nào đề cập tới cefotaxim; kết quả cấy

máu trong nghiên cứu lại cho thấy 100% trường hợp

VNTMNT do Streptococcus viridans nhạy với

cefotaxim, và rất tiếc là không có dĩa kháng sinh

ceftriaxone trong kháng sinh đồ, nên không biết

được độ nhạy cảm với kháng sinh này như thế nào

Không có trường hợp Streptococcus viridans nào

nhạy với gentamycin cả giống như nhiều nhận xét

của các tác giả khác(15)

Do số trường hợp VNTMNT do Staphylococcus

aureus và các vi khuẩn khác quá ít, nên chúng tôi

không bàn luận về độ nhạy cảm kháng sinh của

chúng Tuy nhiên chúng tôi có một nhận xét là

trong 17 th cấy máu dương tính, 16 th còn nhạy

cảm với Vancomycin, 14 th còn nhạy cảm với

cephalosporin thế hệ 3 Điều này chứng tỏ tình hình

kháng thuốc của các vi khuẩn gram dương ở BV Nhi

đồng 1 không cao, có lẽ vì hầu hết những bệnh

nhân VNTMNT của chúng tôi không xảy ra trên cơ

địa hậu phẫu sau mổ tim hoặc mang van tim nhân

tạo như những thống kê khác, nhưng cũng có thể

do tình hình sử dụng kháng sinh tại BV Nhi đồng 1

thống nhất theo qui trình nên hạn chế được tình

trạng sử dụng kháng sinh bừa bãi dẫn tới kháng

thuốc

Tất cả 35 th VNTMNT đều được cho kháng sinh

ngay lúc nhập viện, sau khi cấy 3 mẫu máu Trong 35

th này chỉ có 4 th VNTMNT cấp do Staphylococcus

aureus, còn lại là VNTMNT bán cấp Điều này không

đúng với khuyến cáo trong các tài liệu là chỉ dùng kháng sinh ngay trong những trường hợp VNTMNT cấp tính Tuy nhiên chúng tôi nhận xét chỉ định của chúng tôi vẫn đúng trong 80% trường hợp, 20% còn lại thật ra có thể theo dõi sát và chờ đến khi có kết quả cấy máu Lý do vì các bệnh nhân của chúng tôi có viêm phổi nặng, viêm màng não mủ, nhiễm trùng răng miệng với bệnh cảnh lâm sàng rất nặng; nếu không điều trị ngay bệnh nhân sẽ có thể tử vong hoặc do những biến chứng, di chứng nặng nề của những bệnh đi kèm này

71,43% trường hợp trong nghiên cứu được cho penicillin G và gentamycin đầu tiên; sự chọn lựa này của các thầy thuốc là hợp lý vì Streptococcus viridans chiếm tỉ lệ cao nhất trong VNTMNT, và theo nhiều tài liệu hầu hết còn nhạy tốt với penicillin(21), mặc dù vẫn có những trường hợp kháng mạnh penicillin(12) Mặc dù Streptococcus

viridans không nhạy gentamycin nhưng nhiều tài

liệu ghi nhận rằng khi cho nó cùng với một kháng sinh thuộc họ beta-lactam sẽ diệt được nhiều dòng streptococci kể cả những dòng kháng thuốc(7,20,23,28) Tuy nhiên kết quả của chúng tôi chỉ có 6 trong 17 th cấy máu dương tính (35,29%) nhạy penicillin 17,14% (6 th) của nghiên cứu được cho cefotaxim đầu tiên; 4 trong số đó có lý do hợp lý là viêm màng não mủ, viêm phổi nặng, và tuyến trước đã dùng penicillin rồi 2 th (5,71%) của nghiên cứu dùng vancomycin ngay lúc nhập viện với lý do tuyến trước đã dùng quá nhiều loại kháng sinh mà bệnh cảnh lâm sàng vẫn nặng Còn 1 th dùng cefazolin và

1 th dùng oxacillin ban đầu thì không rõ ý đồ của thầy thuốc

Sau khi có kết quả cấy máu (1 tuần sau cấy), 23

th (65,71%) phải đổi kháng sinh vì lâm sàng không cải thiện và nặng lên; một số trường hợp trong số này kèm theo kết quả kháng sinh đồ không phù hợp với kháng sinh đang sử dụng 19 trong số 23 th này đổi từ penicillin sang kháng sinh khác, chủ yếu vẫn là cefotaxim (14 th) Như vậy khi xem xét kết quả kháng sinh đồ của các trường hợp cấy máu dương tính, kết hợp với việc đáp ứng trên lâm sàng sau 1 tuần điều trị, chúng tôi thấy cần bàn luận về việc

Trang 7

chọn lựa kháng sinh ban đầu cho những trường hợp

VNTMNT phải điều trị ngay không thể chờ kết quả

cấy máu Nếu như bệnh cảnh lâm sàng gợi ý nhiều

đến tác nhân gây bệnh thì việc chọn lựa này không

khó khăn Những trường hợp còn lại chúng ta nên

chọn kháng sinh nào Nguyên tắc chọn thường dựa

trên: tần suất của tác nhân gây bệnh, nhạy cảm

kháng sinh của tác nhân này, cơ địa bệnh nhân,

kháng sinh đã được tuyến trước sử dụng, chi phí

điều trị, và điều quan trọng là phải chú ý đến việc

tránh tạo những chủng vi khuẩn kháng thuốc trong

tương lai Với những nguyên tắc này chúng tôi nghĩ

vẫn nên chọn penicillin phối hợp gentamycin đầu

tiên, mặc dù trong nghiên cứu cho thấy phần lớn

các trường hợp dùng penicillin sau đó phải đổi Tuy

nhiên nếu xem xét lại, thì chỉ có # 50% các trường

hợp dùng penicillin phối hợp với gentamycin ban

đầu, và liều penicillin không phải là liều cao dành

cho những trường hợp có MBC và MIC cao (≥

300.000 đơn vị/ kg/ ngày) Nếu như chúng ta dùng

đúng đồng thời nếu cấy máu có làm thêm MBC và

MIC có thể giúp tăng tỉ lệ nhạy với penicillin của vi

khuẩn và giảm bớt được số trường hợp phải đổi

kháng sinh như thế này

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

Sau khi hồi cứu 35 trường hợp viêm nội tâm

mạc nhiễm trùng tại khoa Tim mạch BV Nhi đồng

1, chúng tôi rút ra được những kết luận sau:

(1) Tỉ lệ viêm nội tâm mạc nhiễm trùng trong

số bệnh nhi tim mạch cao so với thế giới, chủ yếu

xảy ra ở trẻ ≥ 10 tuổi và phần lớn đến từ các tỉnh

(2) VNTMNT xảy ra chủ yếu trên trẻ tim bẩm

sinh, đứng hàng đầu là thông liên thất, tiếp đến là

còn ống động mạch và tứ chứng Fallot 68,57%

trường hợp bị suy dinh dưỡng

(3) 51,43% trường hợp tìm thấy ngõ vào 2 ngõ

vào thường gặp nhất là nhiễm trùng răng miệng và

viêm phổi

(4) Chỉ có 48,57% trường hợp cấy máu dương

tính, nhiều khả năng do thời gian cấy máu ngắn và

môi trường cấy máu không đủ Streptococcus

viridans là vi khuẩn gây VNTMNT nhiều nhất

(58,82%), ngoài ra có Staphylococcus aureus,

Staphylococcus coagulase negative, Enterococci,

Enterococcus feacalis

(5) 100% trường hợp VNTMNT do Streptococcus viridans nhạy với cefotaxim, 90% nhạy vancomycin, 50% nhạy oxacillin, chỉ có 40% nhạy penicillin Tất cả các vi khuẩn gây bệnh đều còn nhạy tốt với cefotaxim và vancomycin

(6) 100% trường hợp VNTMNT được cho kháng sinh ngay lúc nhập viện, sau khi cấy máu; nhưng chỉ đúng chỉ định trong 80% trường hợp

Kháng sinh đầu tiên được các bác sĩ khoa Tim mạch BV Nhi đồng 1 sử dụng khi chưa có kết quả cấy máu là penicillin ± gentamycin 65,71% trường hợp phải đổi kháng sinh sau khi có kết quả cấy máu Từ nghiên cứu này chúng tôi đưa ra một số đề nghị sau:

(1) Giáo dục phòng VNTMNT cho gia đình bệnh nhi có bệnh tim, đặc biệt chú ý đến tình trạng nhiễm trùng răng miệng và nhiễm trùng hô hấp (2) Bệnh viện cần trang bị cho khoa Vi sinh thêm môi trường cấy máu dành cho vi khuẩn kỵ khí,

vi khuẩn không đặc hiệu và nấm, để thời gian cấy máu lâu hơn, và thực hiện thường qui MIC và MBC cho mọi trường hợp cấy máu dương tính

(3) Những trường hợp VNTMNT không thể chờ kết quả cấy máu, bắt buộc các thầy thuốc phải dùng kháng sinh ngay, mà bệnh cảnh lâm sàng lại không gợi ý tác nhân gây bệnh, nên dùng penicillin liều cao 300.000 đơn vị/ kg/ ngày phối hợp với gentamycin

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Adnan S Dajani, Kathryn A Taubert Infective

Endocarditis Heart Disease in Infants, Children, and

Adolescents 6ed Lippincott Williams & Wilkins

2001;65:1299

2 Aronson MD, Bor DH: Blood cultures Ann Intern Med

1987;106:246

3 Awadallah SM, Kavey R-EW, Byrum CJ, et al: The changing pattern of infective endocarditis in childhood

Am J Cardiol 68:90, 1991

4 Beeson PE, Brannon ES, Warren JV: Observations on the sites of removal of bacteria from the blood of

patients with bacterial endocarditis J Rxp Med

1945;81:9

Trang 8

5 Cannaday PB, Sanford JP: Negative blood cultures in

infective endocarditis: A review South Med J

1976;69:1420

17 Report of a Working Party of the British Society for Antimicrobial Chemotherapy Antibiotic treatment of

streptococcal and staphylococcal endocarditis Lancet

1985;2:815

6 Durack DT, Lukes AS, Bright DK New criteria for

diagnosis of infective endocarditis: utilization of

specific echocardiographic findings Am J Med

1994;96:200-209

18 Robbins MJ, Soiero R, Frishman WH, et al: Right-side valvular endocarditis: Etiology, diagnosis, and an

approach to therapy Am Heart J 1986;111:128

7 Farber BF, Eliopoulos GM, Ward JI, et al: Resistance

to penicillin-streptomycin synergy among clinical

isolates of viridans streptococci Antimicrob Agents

Chemother 1983;24:871

19 Rubenstein E, Noriega ER, Simberkoff MS, et al: Fungal endocarditis: Analysis of 24 cases and review of

the literature Medicine (Baltimore) 1975;54:331

20 Sande M, Irvin R: Penicillin aminoglycoside synergy:

An experimental streptococcal viridans endocarditis

continued J Infect Dis 1974;129:572

8 Hall B, Dowling HF: Negative blood cultures in

bacterial endocarditis: A decade’s expirience Med Clin

North Am 1966;50:159 21 Shanson D: Antibiotic treatment of endocarditis due to

penicillin-sensitive streptococci, in Horstkotte D,

Bodnar E (eds): Infective Endocarditis London, ICR

Publishers 1991, p79

9 Hampton JR, Harrison MJ: Sterile blood cultures in

bacterial endocarditis Q J Med 1967;36:167

10 Johnson CM, Rhodes KH: Pediatric endocarditis Mayo

Clin Proc 57:86, 1982 22 Shapiro DS, Kenney SC, Johnson M, et al: Chlamydia

psittaci endocarditis diagnosed by blood culture N

Engl J Med 1992;326:1192

11 Kaplan EL, Rich H, Gersony W, Manning J: A

collaborative study of infective endocarditis in the

pediatric age group: An overview In Kaplan EL,

Taranta AV (eds): Infective Endocarditis – An

American Heart Association Symposium Dallas,

American Heart Association, 1977, p 51 Monograph

No 52

23 Stamboulian D, Francioli P, and SE Collaborative Study Group: Two-week treatment of streptococcal endocarditis with single daily dose of ceftriaxone plus

netilmicin (abstract) ENNMID Oslo 1991;1600

24 Starke J: Infection of the heart: Infective endocarditis,

in Feigin R, Cherry J (eds): Pediatric Infectious

Disease, ed 3 Philadelphia, WB Saunders, 1992, p 326

12 Karchmer AW, Moellering RC Jr, Make DC, et al:

Single-antibiotic therapy for streptococcal endocarditis

JAMA 1979;241:1801 25 Tompkins LS, Roesler BJ, Redd SC, et al: Legionella

prosthetic valve endocarditis N Engl Med

1988;318:530

13 Louis Weistein, John L Brusch: Diagnosis Infective

Endocarditis Oxford University Press 1996;

fever Q J Med 1976;45:193

14 Louis Weistein, John L Brusch: Microbiology of

Infective Endocarditis and Clinical Correlates:

Gram-Positive Organism Infective Endocarditis Oxford

University Press 1996; 4:38

27 Van Hare GF et al Infective endocarditis in infants and children during the past 10 years: a decade of

change Am Heart J 1984;107:1235

28 Wolfe J, Johnson W: Penicillin-sensitive streptococcal endocarditis: In vitro and clinical observations on

penicillin-streptomycin therapy Ann Intern Med

1974;81:178.

15 Louis Weistein, John L Brusch: Medical management

Infective Endocarditis Oxford University Press 1996;

13:256-304

16 McKenzie R, Relmer L: Effect of antimicrobials on

blood cultures in endocarditis Diagn Microbial Infect

Dis 1987;8:165

Ngày đăng: 20/01/2020, 06:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w