Đề tài này được tiến hành với mục tiêu nhằm xác định nồng độ chì trong máu (BLL ‐ Blood Lead Level) và các yếu tố nguy cơ phơi nhiễm với chì ở trẻ em nhập khoa Hô Hấp Bệnh Viện Nhi Đồng 2 thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu tiến hành cắt ngang trong thời gian tháng 04-05 năm 2012 tại khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi Đồng 2 thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 1NỒNG ĐỘ CHÌ TRONG MÁU VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ PHƠI NHIỄM CHÌ Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2
Huỳnh Hoàng Anh*, Phạm Thị Minh Hồng**
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định nồng độ chì trong máu (BLL ‐ Blood Lead Level) và các yếu tố nguy cơ
phơi nhiễm với chì ở trẻ em nhập khoa Hô Hấp Bệnh Viện Nhi Đồng 2 thành phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu: cắt ngang trong thời gian tháng 04 ‐ 05 năm 2012 tại khoa Hô hấp Bệnh viện
Nhi Đồng 2 thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả: Có 311 trẻ tham gia nghiên cứu. Tuổi trung bình 12 tháng, nhóm tuổi dưới 5 tuổi 96,5%, trong
đó nhóm tuổi dưới 12 tháng chiếm 51,1%. Tỉ lệ nam/nữ: 1,6/1. Trẻ cư ngụ tại TPHCM 46,9%. BLL trung bình 3,6 (1,65 – 6,1) μg/dl, BLL > 5 μg/dl 35,4%, BLL ≥ 10 μg/dl 7,1%. Có 0,3 % gia đình sử dụng bình acquy cũ để làm vật dụng trong nhà, 16,4% trẻ có cha mẹ hàn chì tại nơi làm việc. Tỉ lệ trẻ sống gần giao lộ đông đúc 27,3%. Trong gia đình có người từng dùng thuốc dân gian hoặc cổ truyền 40,5%. BLL trung bình của nhóm dưới 12 tháng tuổi thấp nhất 1,65(1,65 – 3,6) μg/dl, BLL trung bình nhóm cư ngụ tại Bình Dương cao nhất 5,4 (1,65 – 7,9) μg/dl, BLL trung bình nhóm có đi học 5,7 (4,1 – 8,15) μg/dl và nhóm có cha mẹ tái chế hoặc nấu chảy kim loại tại nơi làm việc 5,5 (4,4 – 6,5) μg/dl. BLL > 5 μg/dl liên quan có ý nghĩa với nhóm tuổi 12 – 24 tháng (OR = 5,85; Khoảng tin cậy (KTC) 95%; 3,15 – 10,85), nhóm có đi học (OR = 4,61; KTC 95%; 2,67 – 7,99), nhóm cư ngụ tại Bình Dương (OR = 3,04; KTC 95%; 1,63 – 5,68), nhóm sử dụng nước mưa (OR = 2,36; KTC 95%; 0,98 – 5,67) và nhóm có cha mẹ tái chế hoặc nấu chảy kim loại tại nơi làm việc (OR = 4,08; KTC 95%; 0,94 – 17,64).
Kết luận: BLL trung bình trong nghiên cứu cao, tương đương với các nước trong khu vực Đông Nam
Á và Trung Quốc. Các yếu tố lứa tuổi, nơi cư trú, đi học, nguồn nước và nghề nghiệp cha mẹ có liên quan với BLL cao.
Từ khóa: nồng độ chì trong máu.
ABSTRACT
BLOOD LEAD LEVEL AND RISK FACTORS OF LEAD EXPOSURE IN CHILDREN
AT CHILDREN’S HOSPITAL 2
Huynh Hoang Anh, Pham Thi Minh Hong
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 426 ‐ 433
Objectives: The purpose of this study was to determine blood lead level (BLL) and risk factors of lead
exposure in children admitted to the Respiratory Department, Children’s Hospital 2, Ho Chi Minh city.
Methods: A cross‐sectional study was conducted from April to May 2012 at the Respiratory Department,
Children’s Hospital 2, Ho Chi Minh city.
Results: 311 children were enrolled in this study and their mean age was 12 months. 96.5% of them were
under 5 years and 51.1% under 12 months. The male to female ratio was 1.6/1. 46.9% of them live in Ho Chi Minh city. The average BLL was 3.6 (1.65 – 6.1) μg/dl; 35.4% of them had BLL > 5 μg/dl and 7.1% had BLL ≥
10 μg/dl. 0.3% of families used casings of old batteries inside the house for furnitures. 16.4% of parents do
Tác giả liên lạc: BSNT. Huỳnh Hoàng Anh ĐT: 0902417717 Email: h_anh1311@yahoo.com
Trang 2welding at work. 27.3% of children live near a busy intersection. 40.5% of families ever used traditional medicines or folk medicines. The lowest average BLL [1.65 (1.65 – 3.6) μg/dl] was found in children under 12 months while the highest average BLL [5.4(1.65 – 7.9)μg/dl] in children who live in Binh Duong province. The average BLL of school children was 5.7 (4.1 – 8.15) μg/dl, children whose parents do metal recycling or melting
at work 5.5 (4.4 – 6.5) μg/dl. BLL > 5 μg/dl was significantly related to children age 12‐24 months (OR = 5.85;
CI 95%; 3.15 – 10.85), school children (OR = 4.61; CI 95%; 2.67 – 7.99), children located in Binh Duong province (OR = 3.04; CI 95%; 1.63 – 5.68), using rainwater (OR = 2.36; CI 95%; 0.98 – 5.67) and children whose parents do metal recycling or melting at work (OR = 4.08; CI 95%; 0.94 – 17.64).
Conclusions: The average BLL found in the study is high, similar to other Southeast Asian countries and
China. Factors including age, location, school children, source of drinking water and parental occupation were related to the elevated BLL.
Key words: blood lead level.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngộ độc chì là một trong những bệnh tật
do môi trường phổ biến nhất, chiếm 0,6% gánh
nặng bệnh tật toàn cầu(18). Trẻ em bị ảnh hưởng
do tiếp xúc với chì nhiều hơn người lớn(4,14).
Chì ảnh hưởng đến hầu hết mọi cơ quan sống
nhưng hậu quả lâu dài chủ yếu trên hệ thần
kinh trung ương và ngoại biên(4,6). Ngưỡng
nồng độ chì trong máu an toàn theo khuyến
cáo của CDC là < 10 μg/dl, và đến 2012
ngưỡng này được xem < 5 μg/dl(6,7,8). Tuy nhiên
nồng độ chì trong máu từ 1 – 3 μg/dl có thể
liên quan với độc tính thần kinh dưới mức lâm
sàng(7). Xăng pha chì là nguồn phơi nhiễm chì
quan trọng đã dần được loại bỏ ở hầu hết các
quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, tại Trung
Quốc và các nước Đông Nam Á, các nghiên
cứu thực hiện sau khi loại bỏ xăng pha chì cho
thấy nồng độ chì trong máu trung bình và tỉ lệ
> 10 μg/dl còn rất cao. Điều này chứng tỏ
ngoài xăng pha chì còn rất nhiều nguồn phơi
nhiễm chì khác. Việt Nam đã loại bỏ xăng pha
chì từ năm 2001(15), nhưng cho đến hiện nay
chưa có các nghiên cứu cũng như chương trình
giám sát nào về nồng độ chì trong máu. Từ
thực tiễn đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu
này nhằm khảo sát nồng độ chì trong máu và
các yếu tố nguy cơ phơi nhiễm chì hiện tại của
trẻ em nước ta.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu
Cắt ngang
Dân số nghiên cứu
Trẻ em từ 1 tháng đến 15 tuổi nhập khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi Đồng 2 thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tháng 04 ‐ 05 năm 2012.
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Trẻ em tuổi từ 1 tháng ‐15 tuổi nhập khoa
Hô hấp, Bệnh viện Nhi Đồng 2, thành phố Hồ Chí Minh, trong thời gian tháng 4 ‐ tháng 5 năm
2012 và cha mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu. Người chăm sóc trẻ sẽ được mời để tham vấn về tình trạng nhiễm độc chì. Nếu đồng ý tham gia
họ sẽ ký vào bản đồng thuận và trả lời các câu hỏi liên quan đến nguy cơ phơi nhiễm chì. Nồng
độ chì sẽ được phân tích bằng máy Leadcare II
từ một mẫu máu xét nghiệm của trẻ tại khoa.
Tiêu chuẩn loại trừ
Không
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Từ tháng 04/2012 – 05/2012, có 311 trẻ thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu, cha mẹ trẻ được phỏng vấn với bảng câu hỏi và sau đó trẻ sẽ được lấy máu mao mạch để xét nghiệm BLL với máy LeadCare II.
Nồng độ chì trong máu
Với BLL kiểm tra bằng máy LeadCare II trong toàn bộ 311 trẻ, có BLL trung bình là 3,6
Trang 3(1,65 – 6,10) μg/dl. Trong đó 201 trẻ (64,6%) có
BLL ≤ 5 μg/dl, 110 trẻ có BLL > 5 μg/dl (35,4%),
22 trẻ có BLL ≥ 10 μg/dl (7,1 %) và 9 trẻ có BLL >
20 μg/dl, 3 trẻ BLL > 35 μg/dl.
Do số lượng trẻ có BLL > 10μg/dl chiếm số
lượng ít 22 trẻ (7,1%) so với nhóm có BLL <
10μg/dl. Và vì hiện tại theo khuyến cáo mới nhất
của CDC năm 2012 chẩn đoán BLL cao khi >
5μg/dl(10) nên chúng tôi chia nhóm BLL >5μg/dl
và BLL ≤ 5μg/dl để phân tích các nguy cơ phơi
nhiễm chì của trẻ.
BLL trung bình theo nhóm tuổi
Bảng 1: BLL trung bình theo nhóm tuổi
Nhóm tuổi
p
< 0,001
BLL trung bình theo giới tính
Bảng 2: BLL trung bình theo giới tính
0,786
BLL theo nơi cư ngụ
Bảng 3: BLL theo nơi cư ngụ
0,007
BLL trung bình theo các nguy cơ phơi nhiễm chì
Bảng 4: BLL trung bình theo các nguy cơ phơi nhiễm chì
<0,001
Trước đây hoặc hiện nay có ai trong gia đình tham gia vào
việc tái chế chì không
0,906
Cha mẹ trẻ có làm việc tại trạm xăng hoặc tại gara sữa
chữa xe hơi không
0,26
Cha mẹ trẻ có tái chế hoặc nấu chảy kim loại tại nơi làm
việc không
0,03
Sau đại học 3,33(1,8–5,02)
0,164
Trang 4Nguy cơ về phơi nhiễm chì BLL p
0,523
Trong gia đình có ai từng dùng thuốc cổ truyền hoặc dân
gian không
0,361
Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ với BLL cao (> 5 μg/dl)
Bảng 5: Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ với BLL cao (> 5 μg/dl)
Nhóm tuổi
(tháng)
Trẻ có đi học
Trẻ sống gần đường phố hoặc giao lộ
Trong gia đình có người dùng thuốc cổ
Cha mẹ trẻ có tái chế hoặc nấu chảy kim
Nguồn nước
uống
(*) Odd Ratio, khoảng tin cậy 95% và p được xác định bởi phân tích hồi qui logistic đơn biến.
BÀN LUẬN
Nhóm trẻ trong nghiên cứu của chúng tôi là
cắt ngang tại khoa Hô Hấp‐ Bệnh Viện Nhi
Đồng 2, nên chúng tôi không nhắm vào đối
tượng có nguồn phơi nhiễm cụ thể và rõ ràng
nào. Chúng tôi chọn khoa Hô Hấp vì đối với
những ảnh hưởng của chì lên cơ thể thì hầu như
không thấy ghi nhận có hệ hô hấp, mặc dù
đường hô hấp là một trong những con đường
tiếp xúc trong chu trình ngộ độc chì. Và chúng
tôi thu thập mẫu máu làm xét nghiệm chì từ mẫu máu xét nghiệm bệnh nền làm trẻ phải nhập viện. Bên cạnh thu thập kết quả BLL của tất cả những trẻ trong nghiên cứu, chúng tôi còn phỏng vấn trực tiếp cha mẹ trẻ về những yếu tố nguy cơ phơi nhiễm có thể dẫn đến BLL ở mức
độ cao như lứa tuổi, địa chỉ nhà, trẻ có đi học (có tiếp xúc với môi trường ngoài nhà), các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp về phơi nhiễm chì, của trẻ lẫn những người cùng sống trong một nhà, các
Trang 5nguồn có khả năng là nguồn phơi nhiễm chì
trong gia đình như nguồn nước, sơn nhà, môi
trường sống gần đường phố hoặc giao lộ đông
đúc, và thói quen dùng thuốc cổ truyền, thuốc
dân gian hay sản phẩm không rõ nguồn gốc
cũng như chưa được kiểm định về mức độ chì
an toàn trong sản phẩm điển hình là đồ chơi trẻ
em…
BLL trung bình
Trong nghiên cứu của chúng tôi, số trẻ có
BLL > 10μg/dl là 7,1%. Trong đó BLL trung bình
là 3,6 (1,65 – 6,10) μg/dl. So với kết quả từ nghiên
cứu phơi nhiễm chì của trẻ em ở làng tái chế chì
Đông Mai, tỉnh Hưng Yên năm 2012, tỷ lệ BLL >
10μg/dl là 100% và BLL trung bình là 34,8
μg/dl(17), những kết quả từ nghiên cứu của chúng
tôi là thấp hơn nhiều. Điều này có thể lý giải
được là do sự khác nhau trong cách chọn mẫu.
Chúng tôi chọn mẫu không nhắm vào những
đối tượng có nguy cơ phơi nhiễm chì rõ ràng, cố
gắng chọn mẫu có thể đại diện cho cộng đồng
và ít bị nhiễu nhất. Còn trong nghiên cứu của
Wallace, dân số mẫu là trẻ em sống trong làng
tái chế chì, vì thế trẻ có nguồn phơi nhiễm chì
trực tiếp và rõ ràng là công việc tái chế chì.
Nghiên cứu tại Đông Mai đã cho thấy rằng các
hoạt động tái chế chì tại nhà có liên quan với
mức độ BLL cao có ý nghĩa thống kê (p=0,007)(17).
Do đó kết quả từ nghiên cứu này với nghiên cứu
của chúng tôi là khác biệt nhiều về BLL trung
bình.
Vì tính tương đồng về địa dư, khí hậu, các
đặc điểm kinh tế của các nước trong khu vực,
nên với kết quả tần suất BLL > 10μg/dl trong
nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy cũng tương
đồng với một số nước trong khu vực Đông Nam
Á và Trung Quốc.
Bảng 6: Tỉ lệ BLL > 10μg/dl và BLL trung bình một
số nước trong khu vực
Quốc gia lượng Số >10µg/dl (%) Tỉ lệ BLL BLL trung bình (µg/dl)
(**) Bảng trên ta thấy tần suất BLL > 10μg/dl
ở Indonesia 1 là cao vượt bậc, 32%. Đây là kết quả từ nghiên cứu BLL và các yếu tố nguy cơ ngộ độc chì trong số những trẻ ở Jakarta vào tháng 06/2001, trước khi chính phủ nước này thực hiện loại bỏ chì trong xăng vào 07/2001. Những nghiên cứu còn lại được thực hiện sau khi đã loại bỏ xăng pha chì ở các nước này một thời gian.
(*) Mặc dù nghiên cứu ở Philippin thực hiện sau khi nước này đã loại bỏ xăng pha chì nhưng tỉ lệ BLL
> 10μg/dl ở nước này cũng còn cao. Đây là kết quả từ nghiên cứu đánh giá BLL trong số những trẻ sống tại vùng nông thôn tại Philippin, trong khi các nghiên cứu còn lại không tập trung vào vùng nông thôn.
BLL trung bình theo nhóm tuổi
Tuổi trung bình tham gia trong nghiên cứu của chúng tôi là 12 (6 – 24) tháng. Do đặc thù của bệnh lý đường hô hấp thường gặp ở những trẻ <
5 tuổi mà chúng tôi chọn mẫu là những trẻ nhập vào khoa Hô Hấp nên lứa tuổi < 5 tuổi chiếm tỷ
lệ rất cao 96,5% (300/311 trẻ). Qua phân tích kết quả, chúng tôi nhận thấy với yếu tố nhóm tuổi là một trong những yếu tố liên quan có ý nghĩa với BLL và mức độ BLL cao (> 5μg/dl). Với BLL trung bình 5,3 (3,63 – 7,6) μg/dl cao nhất ở lứa tuổi 12 – 24 tháng tuổi so với các nhóm tuổi còn lại. Ngoài ra BLL ở 2 nhóm tuổi 24 – 36 và > 36 tháng tuổi (đa phần từ 36 – 60 tháng) đều cao hơn so với nhóm tuổi 1 – 12 tháng. Điều này phù hợp với đặc tính hành vi tay miệng và sự hoạt động bên ngoài nhà nhiều hơn ở những lứa tuổi này làm gia tăng nguy cơ phơi nhiễm chì.
Tương tự chúng tôi cũng tìm thấy kết quả này trong nghiên cứu đánh giá BLL trong số những trẻ sống tại vùng nông thôn tại Philippin(15,1) cho thấy BLL tăng từ sau 12 tháng tuổi đến 30 – 36 tháng và sau đó giảm dần.
BLL trung bình theo giới tính
Chúng tôi có trẻ nam chiếm 61,1%, nữ chiếm 38,9%, tuy nhiên chúng tôi không thấy có sự liên
Trang 6Cũng như trong nghiên cứu dự đoán mức
độ BLL cao ở trẻ em Thái Lan năm 2005(10), từ kết
quả nghiên cứu cho thấy yếu tố giới tính không
liên quan với mức độ BLL cao.
Ngược lại, năm 2011 trong nghiên cứu cắt
ngang mô tả trên ảnh hưởng của những yếu tố
kinh tế xã hội lên sự phơi nhiễm chì ở trẻ em
theo giới tính tại Serpong, Indonesia, đã cho
thấy có sự khác biệt về giới tính với mức độ BLL,
cụ thể là BLL ở trẻ nam cao hơn. Với BLL ở trẻ
nam cao gấp 2,63 lần so với trẻ nữ (p < 0,05). Sự
khác biệt về BLL giữa nam và nữ được giải thích
là do sự khác biệt về hành vi giữa trẻ nam và trẻ
nữ. So với trẻ nữ thì các trẻ nam có khuynh
hướng thích chơi bên ngoài nhà nhiều hơn, các
hành vi thói quen tay miệng dẫn đến nuốt các
chất có chứa chì cũng sẽ tăng lên(12).
Tương tự như trên, trong nghiên cứu BLL
và sự liên quan với các yếu tố dân số ‐ xã hội
học trong số những trẻ mầm non ở vùng Đông
Nam của Trung Quốc năm 2012, cũng cho thấy
BLL ở trẻ nam cao hơn nữ và sự khác biệt này
cũng được giải thích như trong nghiên cứu tại
Indonesia(13). Với BLL ở trẻ nam cao gấp 1,77
lần so với trẻ nữ trong nhóm có BLL > 10μg/dl
(p = 0,011) và 1,55 lần trong nhóm có BLL > 5
μg/dl (p = 0,001).
Tuy nhiên, những giải thích cho sự khác biệt
BLL theo giới tính trong 2 nghiên cứu trên chỉ là
những giả thuyết theo y văn, thực tế họ không
thu thập các thông tin về hành vi, hoạt động tay
miệng của nhóm trẻ trong nghiên cứu. Chúng
tôi cũng không thu thập thông tin này, nên có
thể giữa trẻ nam và nữ trong nghiên cứu của
chúng tôi không có sự khác biệt về các hoạt
động chơi bên ngoài nhà cũng như các hành vi
tay miệng do đó dẫn đến kết quả BLL không
khác nhau theo giới tính.
BLL theo nơi cư ngụ
Chúng tôi chỉ tìm thấy mối liên quan có ý
nghĩa thống kê giữa mức độ BLL cao ở những
trẻ sinh sống tại các tỉnh Bình Dương và Đồng
Nai so với trẻ sinh sống tại TPHCM. Chúng tôi chưa thể kết luận được có sự khác biệt về BLL giữa trẻ sống tại khu vực thành thị so với trẻ sống tại vùng nông thôn hay không.
Những kết quả thu được từ bộ câu hỏi phỏng vấn, qua phân tích kiểm định chúng tôi còn nhận thấy những yếu tố nguy cơ liên quan với mức độ BLL cao có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu này gồm: trẻ có đi học, nguồn nước uống của gia đình là nước mưa và nghề nghiệp của cha hoặc mẹ có tái chế hoặc nấu chảy kim loại tại nơi làm việc.
BLL trung bình theo các nguy cơ phơi nhiễm chì
Việc trẻ đi học có liên quan ý nghĩa với mức
độ BLL cao có thể giải thích là ngoài môi trường tại nhà, trẻ còn tiếp xúc thêm với những môi trường bên ngoài khác dẫn đến tăng nguy cơ phơi nhiễm với các nguồn chì.
Kế tiếp là nguồn nước sử dụng, trong nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy rằng sử dụng nước mưa một yếu tố liên quan với mức độ BLL cao là không rõ ràng khi phân tích hồi quy đa biến. Các thông tin về mức thu nhập của gia đình không được thu thập trong nghiên cứu này, nhưng qua nguồn nước sử dụng như nước mưa
có thể gián tiếp gợi ý tình trạng kinh tế thiếu thốn hoặc là trẻ sống ở vùng nông thôn. Đối với trình độ học vấn ta thấy, trình độ học vấn cao nhất ở những hộ gia đình sử dụng nước mưa cũng không cho thấy thấp hơn những hộ gia đình sử dụng nguồn nước khác, vì vậy trình độ học vấn không là yếu tố liên quan với mức độ BLL cao trong nghiên cứu này. Hơn nữa chúng tôi thu thập số liệu trong tháng 4 và tháng 5 là những tháng mùa nắng tại nước ta, tức là trong thời gian này trẻ không phơi nhiễm với nước mưa nếu ta xem nước mưa là yếu tố nguy cơ. Vì thế có thể giải thích tình trạng BLL cao với sử dụng nguồn nước mưa là do: các dụng cụ để dự trữ nước có chứa chì, hoặc dụng cụ lấy nước có chứa hoặc được hàn chì…Tuy nhiên nghiên cứu này của chúng tôi không bao gồm việc khảo sát
và đo lường nồng độ chì từ những vật dụng
Trang 7cũng như nguồn nước sử dụng trong gia đình,
và môi trường sống tại nhà hoặc xung quanh
nhà trẻ. Do đó làm hạn chế việc tìm ra các yếu tố
nguy cơ phơi nhiễm chì thực sự.
Với yếu tố nghề nghiệp của cha hoặc mẹ liên
quan đến việc tái chế hoặc nấu chảy kim loại tại
nơi làm việc làm tăng BLL gấp 4,08 lần so với
nhóm trẻ có cha mẹ làm nghề không liên quan
đến việc tái chế hoặc nấu chảy kim loại tại nơi
làm việc (p = 0,04). Vì những trẻ này có nguồn
phơi nhiễm với chì rõ ràng nên có thể giải thích
được kết quả này.
Tóm lại những yếu tố liên quan có ý nghĩa
với mức độ BLL cao trong nghiên cứu của chúng
tôi bao gồm tuổi, trẻ có đi học, nguồn nước sử
dụng là nước mưa và nghề nghiệp của cha mẹ
có liên quan với tái chế hoặc nấu chảy kim loại
tại nơi làm việc.
Nhưng các yếu tố nguy cơ này chưa thể qui
cho dân số trẻ em nói chung vì cách chọn mẫu
trong nghiên cứu này không mang tính đại diện
cho cộng đồng. Bảng phỏng vấn của chúng tôi
không điều tra địa chỉ trẻ sinh sống cụ thể thuộc
thành thị hay nông thôn, một trong những yếu
tố liên quan với nguồn phơi nhiễm chì. Chính vì
thế, mặc dù trẻ đến từ các tỉnh thì vẫn có khả
năng chúng sống trong khu vực thành thị. Cụ
thể với số trẻ đến từ TPHCM chiếm 46,9% thì chỉ
có 18,5% số trẻ là sống gần đường phố hoặc giao
lộ đông đúc, trong khi 53,1% số trẻ đến từ các
tỉnh thì có 27,3% trẻ sống gần đường phố hoặc
giao lộ đông đúc. Điều này có thể hiểu là do trẻ
sống tại TPHCM đa phần trong các hẻm, không
gần đường giao lộ chính.
Cũng có thể lập luận rằng nhóm trẻ trong
nghiên cứu này đang bệnh và phải nhập viện, có
thể không mang tính đại diện cho dân số chung.
Thế nhưng việc chúng tôi chọn khoa Hô Hấp để
lấy mẫu vì với nhóm trẻ nhập viện liên quan
đến các vấn đề hô hấp sẽ không có bị nhiễu bởi
các triệu chứng liên quan với mức độ BLL cao, vì
vậy thực tế các triệu chứng bệnh hiện tại ở nhóm
trẻ này là độc lập với những ảnh hưởng của chì
lên cơ thể. Bên cạnh đó, nếu trẻ nhập viện
thường xuyên thì có thể giảm tiếp xúc với các nguồn phơi nhiễm chì trong môi trường tại nhà hoặc môi trường xung quanh trẻ sống. Do hiện tại chúng tôi chưa thể thực hiện nghiên cứu này
ra cộng đồng được vì những lý do chi phí, nhân lực cũng như tính khả thi. Vì thế dân số nghiên cứu của chúng tôi tuy không phải là nhóm dân
số mẫu đại diện cho cộng đồng nhưng là nhóm dân số ít bị nhiễu nhất.
Cho đến thời điểm hiện tại, trong cả nước chúng tôi chỉ tìm thấy một nghiên cứu về phơi nhiễm chì của trẻ em ở làng tái chế chì Đông Mai, tỉnh Hưng Yên năm 2012. Còn lại chưa có nghiên cứu nào khảo sát và đánh giá tình trạng phơi nhiễm chì ở trẻ em nước ta. Tóm lại, mặc
dù nhóm dân số trong nghiên cứu này chưa thể kết luận là đại diện cho cộng đồng, nhưng với việc cố gắng chọn mẫu nghiên cứu thuận lợi nhất trong quá trình đánh giá xem trẻ em nước
ta có đang có những nguy cơ và ảnh hưởng của việc phơi nhiễm với chì hay không, chúng tôi hy vọng nước ta nói chung và người dân nói riêng
sẽ nhận thức được và có thái độ đúng đắn nhất trong sự ảnh hưởng cũng như ngăn ngừa tình trạng phơi nhiễm chì ở trẻ em nước ta.
Bảng 7: Yếu tố nguy cơ phơi nhiễm chì có liên quan
với BLL cao trong các nghiên cứu
Nghiên cứu
Các yếu tố nguy cơ phơi nhiễm chì có liên
quan với BLL cao
Chúng tôi (2012) và cha mẹ có tái chế hoặc nấu chảy kim loại Tuổi, nơi cư trú, đi học, sử dụng nước mưa
tại nơi làm việc
Thái Lan (2005)
Tuổi, mảnh sơn tường bong tróc trong nhà, thói quen ăn các mảnh vụn từ sơn, và yếu tố
địa lý Indonesia
Trung Quốc (2012)
Tuổi, giới nam, sống tại những vùng đông đúc và có người hút thuốc trong nhà, trình độ học vấn của mẹ, nghề nghiệp của cha Philippine
(2007) hemoglobin, tiền sử có uống sữa mẹ, sử Tuổi, vật liệu làm mái nhà, nguồn nước,
dụng điện thoại di động và địa chỉ nơi sinh
sống
HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI
Do thiết kế bảng phỏng vấn của chúng tôi
Trang 8còn thiếu một số yếu tố nguy cơ nguồn phơi
nhiễm, nghiên cứu chỉ là cắt ngang mô tả mà
không khảo sát và đo lường nồng độ chì thực tế
từ môi trường trẻ sinh sống nên chúng tôi chưa
xác định được những yếu tố nguy cơ phơi
nhiễm với chì một cách thực tế.
Do cách chọn mẫu nghiên cứu của chúng tôi
là nhóm mẫu ít bị nhiễu nhất nên kết quả nghiên
cứu chưa đại diện được cho cộng đồng.
KẾT LUẬN
BLL trung bình trong nghiên cứu cao, tương
đương với các nước trong khu vực Đông Nam Á
và nước láng giềng Trung Quốc. Các yếu tố như
lứa tuổi, nơi cư trú, đi học, nguồn nước và nghề
nghiệp cha mẹ có liên quan với BLL cao.
Cám ơn Đơn vị Sức khỏe Môi trường Nhi
của Đại học Washington Hoa Kỳ đã tài trợ cho
chúng tôi thực hiện nghiên cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Albalak R, Noonan G, Buchanan S., Flanders WD, Gotway‐
Crawford C, Kim D, Jones RL, Sulaiman R, Blumenthal W,
Tan R, Curtis G, McGeehin MA (2002). Blood lead levels and
risk factors for poisoing among children in Jakarta,
Indonesia.The science of the Total Environment, 301: 75 – 85.
2 American Academy of Pediatrics Committee on
Environmental Health (2003). Lead. In: Puth A. Etzel,
Pediatric environmental health, 2 nd ed., pp. 249 – 266. Elk
Grove Village, USA.
3 Bellinger DC, Bellinger AM (2006). Childhood lead poisoning:
the torturous path from science to policy. Journal of Clinical
Investigation, 116(4): 853–857.
4 Bellinger DC, Stiles KM, Needleman HL (1992). Low‐level
lead exposure, intelligence and academic achievement: a
long‐term follow‐up study. Pediatrics, 90(6): 855–861.
5 Canfield RL, et al (2003). Intellectual impairment in children
with blood lead concentrations below 10 microg per deciliter.
New England Journal of Medicine, 348(16): 1517–1526.
6 CDC (1997). Childhood Lead Poisoning in the United States.
Screening Young Children for Lead Poisoning, US
Department of Health and Human Services, Public Health Service, 13 – 20.
7 CDC (2005). Preventing lead poisoning in young children. Atlanta, GA, Department of Health and Human Services.
8 CDC (2007). Interpreting and Managing Blood Lead Levels: Recommendations of CDCʹs Advisory Committee on Childhood Lead Poisoning Prevention. Morbidity and Mortality Weekly Report.
9 CDC (2011). Fourth national report on human exposure to environmental chemicals. Atlanta, GA, Department of Health and Human Services, 54.
10 Chomchai C, Padungtod C, Chomchai S (2005). Predictors of Elevated Blood Lead Level in Thai Children: A Pilot Study Using Risk Assessment Questionnaire. J Med Assoc Thai, 88 (8), 53 – 59.
11 Hashim JH, Hashim Z, Omar A, Shamsudin SB (2000). Blood Lead Levels of Urban and Rural Malaysian primary school children. Asia Pac J Public Health, 12(2): 65 – 70.
12 Iriani D, Matsukawa T, et al (2012). Cross‐sectional Study on the Effects of Socioeconomic Factors on Lead Exposure in Children by Gender in Serpong, Indonesia. Environmental Research and Public Health, 9: 4135 – 4149.
13 Liu J, Ai Y, McCauley L, Pinto‐Martin J, Yan C, Shen X, Needleman H (2012). Blood lead levels and associated sociodemographic factors among preschool children in the South Eastern region of China. Paediatr Perinat Epidemiol, 26(1): 61 – 69.
14 Mahaffey KR (1995). Nutrition and lead: strategies for public health. Environmental Health Perspectives, 103(6): 191–196.
15 Nguyễn Tấn Dũng (2000), Chỉ thị 24/2000/CT‐TTg ngày 23 tháng 11 năm 2000 về việc triển khai sử dụng xăng không pha chì ở Việt Nam.
16 Riddel T, Solon O, Quimbo SA, Tan CMC, Butrick E, Peabody
JW (2007). Elevated blood lead levels among children living
in the rural Philippines. Bulletin of the World Health Organization, 85: 674 – 680.
17 Wallace R (2012). Childhood Lead Exposure in a Vietnamese Battery Recycling Village. University of Washington.
18 WHO (2009). Global health risks: mortality and burden of disease attributable to selected major risks. Geneva, World Health Organization.
Ngày nhận bài báo: 24/10/2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/11/2013 Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014