1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nồng độ chì trong máu và yếu tố nguy cơ phơi nhiễm chì ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 2

8 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 362,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được tiến hành với mục tiêu nhằm xác định nồng độ chì trong máu (BLL ‐ Blood Lead Level) và các yếu tố nguy cơ phơi nhiễm với chì ở trẻ em nhập khoa Hô Hấp Bệnh Viện Nhi Đồng 2 thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu tiến hành cắt ngang trong thời gian tháng 04-05 năm 2012 tại khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi Đồng 2 thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 1

NỒNG ĐỘ CHÌ TRONG MÁU VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ   PHƠI NHIỄM CHÌ Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 

Huỳnh Hoàng Anh*, Phạm Thị Minh Hồng** 

TÓM TẮT 

Mục  tiêu  nghiên  cứu: Xác định nồng độ chì trong máu (BLL ‐ Blood Lead Level) và các yếu tố nguy cơ 

phơi nhiễm với chì ở trẻ em nhập khoa Hô Hấp Bệnh Viện Nhi Đồng 2 thành phố Hồ Chí Minh. 

Phương pháp nghiên cứu: cắt ngang trong thời gian tháng 04 ‐ 05 năm 2012 tại khoa Hô hấp Bệnh viện 

Nhi Đồng 2 thành phố Hồ Chí Minh. 

Kết quả: Có 311 trẻ tham gia nghiên cứu. Tuổi trung bình 12 tháng, nhóm tuổi dưới 5 tuổi 96,5%, trong 

đó nhóm tuổi dưới 12  tháng chiếm 51,1%. Tỉ lệ nam/nữ: 1,6/1. Trẻ cư ngụ tại TPHCM 46,9%. BLL trung bình  3,6 (1,65 – 6,1) μg/dl, BLL > 5 μg/dl 35,4%, BLL ≥ 10 μg/dl 7,1%. Có 0,3 % gia đình sử dụng bình acquy cũ để  làm vật dụng trong nhà, 16,4% trẻ có cha mẹ hàn chì tại nơi làm việc. Tỉ lệ trẻ sống gần giao lộ đông đúc 27,3%.  Trong gia đình có người từng dùng thuốc dân gian hoặc cổ truyền 40,5%. BLL trung bình của  nhóm dưới 12  tháng tuổi thấp nhất 1,65(1,65 – 3,6) μg/dl, BLL trung bình nhóm cư ngụ tại Bình Dương cao nhất 5,4 (1,65 –  7,9) μg/dl, BLL trung bình nhóm có đi học 5,7 (4,1 – 8,15) μg/dl và nhóm có cha mẹ tái chế hoặc nấu chảy kim  loại tại nơi làm việc 5,5 (4,4 – 6,5) μg/dl. BLL > 5 μg/dl liên quan có ý nghĩa với nhóm tuổi 12 – 24 tháng (OR =  5,85; Khoảng tin cậy (KTC) 95%; 3,15 – 10,85), nhóm có đi học  (OR = 4,61; KTC 95%; 2,67 – 7,99), nhóm cư  ngụ tại Bình Dương (OR = 3,04; KTC 95%; 1,63 – 5,68), nhóm sử dụng nước mưa (OR = 2,36; KTC 95%; 0,98  – 5,67) và nhóm có cha mẹ tái chế hoặc nấu chảy kim loại tại nơi làm việc (OR = 4,08; KTC 95%; 0,94 – 17,64). 

Kết luận: BLL trung bình trong nghiên cứu cao, tương đương với các nước trong khu vực Đông Nam 

Á và Trung Quốc. Các yếu tố lứa tuổi, nơi cư trú, đi học, nguồn nước và nghề nghiệp cha mẹ có liên quan  với BLL cao. 

Từ khóa: nồng độ chì trong máu. 

ABSTRACT  

BLOOD LEAD LEVEL AND RISK FACTORS OF LEAD EXPOSURE IN CHILDREN  

AT CHILDREN’S HOSPITAL 2 

Huynh Hoang Anh, Pham Thi Minh Hong  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 426 ‐ 433 

Objectives:  The  purpose  of  this  study  was  to  determine  blood  lead  level  (BLL)  and  risk  factors  of  lead 

exposure in children admitted to the Respiratory Department, Children’s Hospital 2, Ho Chi Minh city. 

Methods: A cross‐sectional study was conducted from April to May 2012 at the Respiratory Department, 

Children’s Hospital 2, Ho Chi Minh city. 

Results: 311 children were enrolled in this study and their mean age was 12 months. 96.5% of them were 

under 5 years and 51.1% under 12 months. The male to female ratio was 1.6/1. 46.9% of them live in Ho Chi  Minh city. The average BLL was 3.6 (1.65 – 6.1) μg/dl; 35.4% of them had BLL > 5 μg/dl and 7.1% had BLL ≥ 

10  μg/dl.  0.3%  of  families  used  casings  of  old  batteries  inside  the  house  for  furnitures.  16.4%  of  parents  do 

Tác giả liên lạc: BSNT. Huỳnh Hoàng Anh  ĐT: 0902417717  Email: h_anh1311@yahoo.com  

Trang 2

welding  at  work.  27.3%  of  children  live  near  a  busy  intersection.  40.5%  of  families  ever  used  traditional  medicines or folk medicines. The lowest average BLL [1.65 (1.65 – 3.6) μg/dl] was found in children under 12  months while the highest average BLL [5.4(1.65 – 7.9)μg/dl] in children who live in Binh Duong province. The  average BLL of school children was 5.7 (4.1 – 8.15) μg/dl, children whose parents do metal recycling or melting 

at work 5.5 (4.4 – 6.5) μg/dl. BLL > 5 μg/dl was significantly related to children  age 12‐24 months (OR = 5.85; 

CI  95%;  3.15  –  10.85),  school  children  (OR  =  4.61;  CI  95%;  2.67  –  7.99),  children  located  in  Binh  Duong  province (OR = 3.04; CI 95%; 1.63 – 5.68), using rainwater (OR = 2.36; CI 95%; 0.98 – 5.67) and children  whose parents do metal recycling or melting at work (OR = 4.08; CI 95%; 0.94 – 17.64). 

Conclusions: The average BLL found in the study is high, similar to other Southeast Asian countries and 

China. Factors including age, location, school children, source of drinking water and parental occupation were  related to the elevated BLL. 

Key words: blood lead level. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Ngộ  độc  chì  là  một  trong  những  bệnh  tật 

do môi trường phổ biến nhất, chiếm 0,6% gánh 

nặng bệnh tật toàn cầu(18). Trẻ em bị ảnh hưởng 

do  tiếp  xúc  với  chì  nhiều  hơn  người  lớn(4,14). 

Chì ảnh hưởng đến hầu hết mọi cơ quan sống 

nhưng  hậu  quả  lâu  dài  chủ  yếu  trên  hệ  thần 

kinh  trung  ương  và  ngoại  biên(4,6).  Ngưỡng 

nồng  độ  chì  trong  máu  an  toàn  theo  khuyến 

cáo  của  CDC  là  <  10  μg/dl,  và  đến  2012 

ngưỡng này được xem < 5 μg/dl(6,7,8). Tuy nhiên 

nồng  độ  chì  trong  máu  từ  1  –  3  μg/dl  có  thể 

liên quan với độc tính thần kinh dưới mức lâm 

sàng(7). Xăng pha chì là nguồn phơi nhiễm chì 

quan trọng đã dần được loại bỏ ở hầu hết các 

quốc  gia  trên  thế  giới.  Tuy  nhiên,  tại  Trung 

Quốc  và  các  nước  Đông  Nam  Á,  các  nghiên 

cứu thực hiện sau khi loại bỏ xăng pha chì cho 

thấy nồng độ chì trong máu trung bình và tỉ lệ 

>  10  μg/dl  còn  rất  cao.  Điều  này  chứng  tỏ 

ngoài  xăng  pha  chì  còn  rất  nhiều  nguồn  phơi 

nhiễm chì khác. Việt Nam đã loại bỏ xăng pha 

chì  từ  năm  2001(15),  nhưng  cho  đến  hiện  nay 

chưa có các nghiên cứu cũng như chương trình 

giám  sát  nào  về  nồng  độ  chì  trong  máu.  Từ 

thực  tiễn  đó  chúng  tôi  thực  hiện  nghiên  cứu 

này nhằm khảo sát nồng độ chì trong máu và 

các yếu tố nguy cơ phơi nhiễm chì hiện tại của 

trẻ em nước ta. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Thiết kế nghiên cứu  

Cắt ngang 

Dân số nghiên cứu 

Trẻ em từ 1 tháng đến 15 tuổi nhập khoa Hô  hấp  Bệnh  viện  Nhi  Đồng  2  thành  phố  Hồ  Chí  Minh trong thời gian tháng 04 ‐ 05 năm 2012. 

Tiêu chuẩn chọn mẫu 

Trẻ  em  tuổi  từ  1  tháng  ‐15  tuổi  nhập  khoa 

Hô  hấp,  Bệnh  viện  Nhi  Đồng  2,  thành  phố  Hồ  Chí Minh, trong thời gian tháng 4 ‐ tháng 5 năm 

2012  và  cha  mẹ  đồng  ý  tham  gia  nghiên  cứu.  Người chăm sóc trẻ sẽ được mời để tham vấn về  tình trạng nhiễm độc chì. Nếu đồng ý tham gia 

họ sẽ ký vào bản đồng thuận và trả lời các câu  hỏi liên quan đến nguy cơ phơi nhiễm chì. Nồng 

độ chì sẽ được phân tích bằng máy Leadcare II 

từ một mẫu máu xét nghiệm của trẻ tại khoa. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Không 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Từ  tháng  04/2012  –  05/2012,  có  311  trẻ  thỏa  tiêu  chuẩn  chọn  mẫu,  cha  mẹ  trẻ  được  phỏng  vấn với bảng câu hỏi và sau đó trẻ sẽ được lấy  máu  mao  mạch  để  xét  nghiệm  BLL  với  máy  LeadCare II. 

Nồng độ chì trong máu 

Với  BLL  kiểm  tra  bằng  máy  LeadCare  II  trong  toàn  bộ  311  trẻ,  có  BLL  trung  bình  là  3,6 

Trang 3

(1,65  –  6,10)  μg/dl.  Trong  đó  201  trẻ  (64,6%)  có 

BLL ≤ 5 μg/dl, 110 trẻ có BLL > 5 μg/dl (35,4%),  

22 trẻ có BLL ≥ 10 μg/dl (7,1 %) và 9 trẻ có BLL > 

20 μg/dl, 3 trẻ BLL > 35 μg/dl. 

Do  số  lượng  trẻ  có  BLL  >  10μg/dl  chiếm  số 

lượng  ít  22  trẻ  (7,1%)  so  với  nhóm  có  BLL  < 

10μg/dl. Và vì hiện tại theo khuyến cáo mới nhất 

của  CDC  năm  2012  chẩn  đoán  BLL  cao  khi  > 

5μg/dl(10) nên chúng tôi chia nhóm BLL >5μg/dl 

và BLL ≤ 5μg/dl  để phân tích các nguy cơ phơi 

nhiễm chì của trẻ. 

BLL trung bình theo nhóm tuổi 

Bảng 1: BLL trung bình theo nhóm tuổi 

Nhóm tuổi

p

< 0,001

BLL trung bình theo giới tính 

Bảng 2: BLL trung bình theo giới tính 

0,786

BLL theo nơi cư ngụ 

Bảng 3: BLL theo nơi cư ngụ 

0,007

BLL trung bình theo các nguy cơ phơi nhiễm chì 

Bảng 4: BLL trung bình theo các nguy cơ phơi nhiễm chì 

<0,001

Trước đây hoặc hiện nay có ai trong gia đình tham gia vào

việc tái chế chì không

0,906

Cha mẹ trẻ có làm việc tại trạm xăng hoặc tại gara sữa

chữa xe hơi không

0,26

Cha mẹ trẻ có tái chế hoặc nấu chảy kim loại tại nơi làm

việc không

0,03

Sau đại học 3,33(1,8–5,02)

0,164

Trang 4

Nguy cơ về phơi nhiễm chì BLL p

0,523

Trong gia đình có ai từng dùng thuốc cổ truyền hoặc dân

gian không

0,361

Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ với BLL cao (> 5 μg/dl) 

Bảng 5: Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ với BLL cao (> 5 μg/dl) 

Nhóm tuổi

(tháng)

Trẻ có đi học

Trẻ sống gần đường phố hoặc giao lộ

Trong gia đình có người dùng thuốc cổ

Cha mẹ trẻ có tái chế hoặc nấu chảy kim

Nguồn nước

uống

(*) Odd Ratio, khoảng tin cậy 95% và p được xác định bởi phân tích hồi qui logistic đơn biến. 

BÀN LUẬN 

Nhóm trẻ trong nghiên cứu của chúng tôi là 

cắt  ngang  tại  khoa  Hô  Hấp‐  Bệnh  Viện  Nhi 

Đồng  2,  nên  chúng  tôi  không  nhắm  vào  đối 

tượng  có  nguồn  phơi  nhiễm  cụ  thể  và  rõ  ràng 

nào.  Chúng  tôi  chọn  khoa  Hô  Hấp  vì  đối  với 

những ảnh hưởng của chì lên cơ thể thì hầu như 

không  thấy  ghi  nhận  có  hệ  hô  hấp,  mặc  dù 

đường  hô  hấp  là  một  trong  những  con  đường 

tiếp  xúc  trong  chu  trình  ngộ  độc  chì.  Và  chúng 

tôi  thu  thập  mẫu  máu  làm  xét  nghiệm  chì  từ  mẫu  máu  xét  nghiệm  bệnh  nền  làm  trẻ  phải  nhập  viện.  Bên  cạnh  thu  thập  kết  quả  BLL  của  tất cả những trẻ trong nghiên cứu, chúng tôi còn  phỏng vấn trực tiếp cha mẹ trẻ về những yếu tố  nguy cơ phơi nhiễm có thể dẫn đến BLL ở mức 

độ cao như lứa tuổi, địa chỉ nhà, trẻ có đi học (có  tiếp  xúc  với  môi  trường  ngoài  nhà),  các  yếu  tố  nguy cơ nghề nghiệp về phơi nhiễm chì, của trẻ  lẫn những người cùng sống trong một nhà, các 

Trang 5

nguồn  có  khả  năng  là  nguồn  phơi  nhiễm  chì 

trong  gia  đình  như  nguồn  nước,  sơn  nhà,  môi 

trường  sống  gần  đường  phố  hoặc  giao  lộ  đông 

đúc,  và  thói  quen  dùng  thuốc  cổ  truyền,  thuốc 

dân  gian  hay  sản  phẩm  không  rõ  nguồn  gốc 

cũng  như  chưa  được  kiểm  định  về  mức  độ  chì 

an toàn trong sản phẩm điển hình là đồ chơi trẻ 

em… 

BLL trung bình 

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  số  trẻ  có 

BLL > 10μg/dl là 7,1%. Trong đó BLL trung bình 

là 3,6 (1,65 – 6,10) μg/dl. So với kết quả từ nghiên 

cứu phơi nhiễm chì của trẻ em ở làng tái chế chì 

Đông Mai, tỉnh Hưng Yên năm 2012, tỷ lệ BLL > 

10μg/dl  là  100%  và  BLL  trung  bình  là  34,8 

μg/dl(17), những kết quả từ nghiên cứu của chúng 

tôi  là  thấp  hơn  nhiều.  Điều  này  có  thể  lý  giải 

được là do sự khác nhau trong cách chọn mẫu. 

Chúng  tôi  chọn  mẫu  không  nhắm  vào  những 

đối tượng có nguy cơ phơi nhiễm chì rõ ràng, cố 

gắng  chọn  mẫu  có  thể  đại  diện  cho  cộng  đồng 

và  ít  bị  nhiễu  nhất.  Còn  trong  nghiên  cứu  của 

Wallace,  dân  số  mẫu  là  trẻ  em  sống  trong  làng 

tái  chế  chì,  vì  thế  trẻ  có  nguồn  phơi  nhiễm  chì 

trực  tiếp  và  rõ  ràng  là  công  việc  tái  chế  chì. 

Nghiên cứu tại Đông Mai đã cho thấy rằng các 

hoạt  động  tái  chế  chì  tại  nhà  có  liên  quan  với 

mức độ BLL cao có ý nghĩa thống kê (p=0,007)(17). 

Do đó kết quả từ nghiên cứu này với nghiên cứu 

của  chúng  tôi  là  khác  biệt  nhiều  về  BLL  trung 

bình. 

Vì  tính  tương  đồng  về  địa  dư,  khí  hậu,  các 

đặc  điểm  kinh  tế  của  các  nước  trong  khu  vực, 

nên  với  kết  quả  tần  suất  BLL  >  10μg/dl  trong 

nghiên  cứu,  chúng  tôi  nhận  thấy  cũng  tương 

đồng với một số nước trong khu vực Đông Nam 

Á và Trung Quốc. 

Bảng 6: Tỉ lệ BLL > 10μg/dl và BLL trung bình một 

số nước trong khu vực 

Quốc gia lượng Số >10µg/dl (%) Tỉ lệ BLL BLL trung bình (µg/dl)

(**) Bảng trên ta thấy tần suất BLL > 10μg/dl 

ở Indonesia 1 là cao vượt bậc, 32%. Đây là kết  quả từ nghiên cứu BLL và các yếu tố nguy cơ  ngộ  độc  chì  trong  số  những  trẻ  ở  Jakarta  vào  tháng  06/2001,  trước  khi  chính  phủ  nước  này  thực  hiện  loại  bỏ  chì  trong  xăng  vào  07/2001.  Những nghiên cứu còn lại được thực hiện sau  khi đã loại bỏ xăng pha chì ở các nước này một  thời gian. 

(*)  Mặc dù nghiên cứu ở Philippin thực hiện sau  khi nước này đã loại bỏ xăng pha chì nhưng tỉ lệ BLL 

> 10μg/dl ở nước này cũng còn cao. Đây là kết quả từ  nghiên cứu đánh giá BLL trong số những trẻ sống tại  vùng  nông  thôn  tại  Philippin,  trong  khi  các  nghiên  cứu còn lại không tập trung vào vùng nông thôn. 

BLL trung bình theo nhóm tuổi 

Tuổi  trung  bình  tham  gia  trong  nghiên  cứu  của chúng tôi là 12 (6 – 24) tháng. Do đặc thù của  bệnh lý đường hô hấp thường gặp ở những trẻ < 

5 tuổi mà chúng tôi chọn mẫu là những trẻ nhập  vào khoa Hô Hấp nên lứa tuổi < 5 tuổi chiếm tỷ 

lệ rất cao 96,5% (300/311 trẻ). Qua phân tích kết  quả, chúng tôi nhận thấy với yếu tố nhóm tuổi là  một trong những yếu tố liên quan có ý nghĩa với  BLL  và  mức  độ  BLL  cao  (>  5μg/dl).  Với  BLL  trung  bình  5,3  (3,63  –  7,6)  μg/dl  cao  nhất  ở  lứa  tuổi 12 – 24 tháng tuổi so với các nhóm tuổi còn  lại. Ngoài ra BLL ở 2 nhóm tuổi 24 – 36 và > 36  tháng  tuổi  (đa  phần  từ  36  –  60  tháng)  đều  cao  hơn so với nhóm tuổi 1 – 12 tháng. Điều này phù  hợp  với  đặc  tính  hành  vi  tay  miệng  và  sự  hoạt  động bên ngoài nhà nhiều hơn ở những lứa tuổi  này làm gia tăng nguy cơ phơi nhiễm chì. 

Tương  tự  chúng  tôi  cũng  tìm  thấy  kết  quả  này  trong  nghiên  cứu  đánh  giá  BLL  trong  số  những  trẻ  sống  tại  vùng  nông  thôn  tại  Philippin(15,1) cho thấy BLL tăng từ sau 12 tháng  tuổi đến 30 – 36 tháng và sau đó giảm dần.  

BLL trung bình theo giới tính 

Chúng tôi có trẻ nam chiếm 61,1%, nữ chiếm  38,9%, tuy nhiên chúng tôi không thấy có sự liên 

Trang 6

Cũng  như  trong  nghiên  cứu  dự  đoán  mức 

độ BLL cao ở trẻ em Thái Lan năm 2005(10), từ kết 

quả nghiên cứu cho thấy yếu tố giới tính không 

liên quan với mức độ BLL cao. 

Ngược  lại,  năm  2011  trong  nghiên  cứu  cắt 

ngang mô tả trên ảnh hưởng của những yếu tố 

kinh  tế  xã  hội  lên  sự  phơi  nhiễm  chì  ở  trẻ  em 

theo  giới  tính  tại  Serpong,  Indonesia,  đã  cho 

thấy có sự khác biệt về giới tính với mức độ BLL, 

cụ thể là BLL ở trẻ nam cao hơn. Với BLL ở trẻ 

nam cao gấp 2,63 lần so với trẻ nữ (p < 0,05). Sự 

khác biệt về BLL giữa nam và nữ được giải thích 

là do sự khác biệt về hành vi giữa trẻ nam và trẻ 

nữ.  So  với  trẻ  nữ  thì  các  trẻ  nam  có  khuynh 

hướng thích chơi bên ngoài nhà nhiều hơn, các 

hành  vi  thói  quen  tay  miệng  dẫn  đến  nuốt  các 

chất có chứa chì cũng sẽ tăng lên(12). 

Tương  tự  như  trên,  trong  nghiên  cứu  BLL 

và sự liên quan với các yếu tố dân số ‐ xã hội 

học trong số những trẻ mầm non ở vùng Đông 

Nam của Trung Quốc năm 2012, cũng cho thấy 

BLL ở trẻ nam cao hơn nữ và sự khác biệt này 

cũng được giải thích như trong nghiên cứu tại 

Indonesia(13).  Với  BLL  ở  trẻ  nam  cao  gấp  1,77 

lần so với trẻ nữ trong nhóm có BLL > 10μg/dl 

(p = 0,011) và 1,55 lần trong nhóm có BLL > 5 

μg/dl (p = 0,001). 

Tuy nhiên, những giải thích cho sự khác biệt 

BLL theo giới tính trong 2 nghiên cứu trên chỉ là 

những giả thuyết theo y văn, thực  tế  họ  không 

thu thập các thông tin về hành vi, hoạt động tay 

miệng  của  nhóm  trẻ  trong  nghiên  cứu.  Chúng 

tôi  cũng  không  thu  thập  thông  tin  này,  nên  có 

thể  giữa  trẻ  nam  và  nữ  trong  nghiên  cứu  của 

chúng  tôi  không  có  sự  khác  biệt  về  các  hoạt 

động chơi bên ngoài nhà cũng như các hành vi 

tay  miệng  do  đó  dẫn  đến  kết  quả  BLL  không 

khác nhau theo giới tính. 

BLL theo nơi cư ngụ 

Chúng  tôi  chỉ  tìm  thấy  mối  liên  quan  có  ý 

nghĩa  thống  kê  giữa  mức  độ  BLL  cao  ở  những 

trẻ  sinh  sống  tại  các  tỉnh  Bình  Dương  và  Đồng 

Nai so với trẻ sinh sống tại TPHCM. Chúng tôi  chưa  thể  kết  luận  được  có  sự  khác  biệt  về  BLL  giữa  trẻ  sống  tại  khu  vực  thành  thị  so  với  trẻ  sống tại vùng nông thôn hay không. 

Những  kết  quả  thu  được  từ  bộ  câu  hỏi  phỏng  vấn,  qua  phân  tích  kiểm  định  chúng  tôi  còn nhận thấy những yếu tố nguy cơ liên quan  với mức độ BLL cao có ý nghĩa thống kê trong  nghiên cứu này gồm: trẻ có đi học, nguồn nước  uống của gia đình là nước mưa và nghề nghiệp  của  cha  hoặc  mẹ  có  tái  chế  hoặc  nấu  chảy  kim  loại tại nơi làm việc. 

BLL  trung  bình  theo  các  nguy  cơ  phơi  nhiễm chì 

Việc trẻ đi học có liên quan ý nghĩa với mức 

độ BLL cao có thể giải thích là ngoài môi trường  tại  nhà,  trẻ  còn  tiếp  xúc  thêm  với  những  môi  trường  bên  ngoài  khác  dẫn  đến  tăng  nguy  cơ  phơi nhiễm với các nguồn chì.  

Kế tiếp là nguồn nước sử dụng, trong nghiên  cứu của chúng tôi nhận thấy rằng sử dụng nước  mưa một yếu tố liên quan với mức độ BLL cao là  không  rõ  ràng  khi  phân  tích  hồi  quy  đa  biến.  Các  thông  tin  về  mức  thu  nhập  của  gia  đình  không  được  thu  thập  trong  nghiên  cứu  này,  nhưng qua nguồn nước sử dụng như nước mưa 

có  thể  gián  tiếp  gợi  ý  tình  trạng  kinh  tế  thiếu  thốn hoặc là trẻ sống ở vùng nông thôn. Đối với  trình  độ  học  vấn  ta  thấy,  trình  độ  học  vấn  cao  nhất  ở  những  hộ  gia  đình  sử  dụng  nước  mưa  cũng  không  cho  thấy  thấp  hơn  những  hộ  gia  đình sử dụng nguồn nước khác, vì vậy trình độ  học  vấn  không  là  yếu  tố  liên  quan  với  mức  độ  BLL cao trong nghiên cứu này. Hơn nữa chúng  tôi thu thập số liệu trong tháng 4 và tháng 5 là  những tháng mùa nắng tại nước ta, tức là trong  thời  gian  này  trẻ  không  phơi  nhiễm  với  nước  mưa nếu ta xem nước mưa là yếu tố nguy cơ. Vì  thế  có  thể  giải  thích  tình  trạng  BLL  cao  với  sử  dụng nguồn nước mưa là do: các dụng cụ để dự  trữ nước có chứa chì, hoặc dụng cụ lấy nước có  chứa hoặc được hàn chì…Tuy nhiên nghiên cứu  này của chúng tôi không bao gồm việc khảo sát 

và  đo  lường  nồng  độ  chì  từ  những  vật  dụng 

Trang 7

cũng  như  nguồn  nước  sử  dụng  trong  gia  đình, 

và  môi  trường  sống  tại  nhà  hoặc  xung  quanh 

nhà trẻ. Do đó làm hạn chế việc tìm ra các yếu tố 

nguy cơ phơi nhiễm chì thực sự. 

Với yếu tố nghề nghiệp của cha hoặc mẹ liên 

quan đến việc tái chế hoặc nấu chảy kim loại tại 

nơi  làm  việc  làm  tăng  BLL  gấp  4,08  lần  so  với 

nhóm trẻ có cha  mẹ  làm  nghề  không  liên  quan 

đến  việc  tái  chế  hoặc  nấu  chảy  kim  loại  tại  nơi 

làm  việc  (p  =  0,04).  Vì  những  trẻ  này  có  nguồn 

phơi nhiễm với chì rõ ràng nên có thể giải thích 

được kết quả này. 

Tóm  lại  những  yếu  tố  liên  quan  có  ý  nghĩa 

với mức độ BLL cao trong nghiên cứu của chúng 

tôi  bao  gồm  tuổi,  trẻ  có  đi  học,  nguồn  nước  sử 

dụng  là  nước  mưa  và  nghề  nghiệp  của  cha  mẹ 

có liên quan với tái chế hoặc nấu chảy kim loại 

tại nơi làm việc.  

Nhưng các yếu tố nguy cơ này chưa thể qui 

cho dân số trẻ em nói chung vì cách chọn mẫu 

trong nghiên cứu này không mang tính đại diện 

cho  cộng  đồng.  Bảng  phỏng  vấn  của  chúng  tôi 

không điều tra địa chỉ trẻ sinh sống cụ thể thuộc 

thành thị hay nông thôn, một trong những yếu 

tố liên quan với nguồn phơi nhiễm chì. Chính vì 

thế,  mặc  dù  trẻ  đến  từ  các  tỉnh  thì  vẫn  có  khả 

năng  chúng  sống  trong  khu  vực  thành  thị.  Cụ 

thể với số trẻ đến từ TPHCM chiếm 46,9% thì chỉ 

có 18,5% số trẻ là sống gần đường phố hoặc giao 

lộ  đông  đúc,  trong  khi  53,1%  số  trẻ  đến  từ  các 

tỉnh thì  có  27,3%  trẻ  sống  gần  đường  phố  hoặc 

giao lộ đông đúc. Điều này có thể hiểu là do trẻ 

sống tại TPHCM đa phần trong các hẻm, không 

gần đường giao lộ chính. 

Cũng  có  thể  lập  luận  rằng  nhóm  trẻ  trong 

nghiên cứu này đang bệnh và phải nhập viện, có 

thể không mang tính đại diện cho dân số chung. 

Thế nhưng việc chúng tôi chọn khoa Hô Hấp để 

lấy  mẫu  vì  với  nhóm  trẻ  nhập  viện  liên  quan 

đến các vấn đề hô hấp sẽ không có bị nhiễu bởi 

các triệu chứng liên quan với mức độ BLL cao, vì 

vậy thực tế các triệu chứng bệnh hiện tại ở nhóm 

trẻ này là độc lập với những ảnh hưởng của chì 

lên  cơ  thể.  Bên  cạnh  đó,  nếu  trẻ  nhập  viện 

thường  xuyên  thì  có  thể  giảm  tiếp  xúc  với  các  nguồn phơi nhiễm chì trong môi trường tại nhà  hoặc môi trường xung quanh trẻ sống. Do hiện  tại chúng tôi chưa thể thực hiện nghiên cứu này 

ra cộng đồng được vì những lý do chi phí, nhân  lực cũng như tính khả thi. Vì thế dân số nghiên  cứu của chúng tôi tuy không phải là nhóm dân 

số mẫu đại diện cho cộng đồng nhưng là nhóm  dân số ít bị nhiễu nhất.  

Cho  đến  thời  điểm  hiện  tại,  trong  cả  nước  chúng tôi chỉ tìm thấy một nghiên  cứu  về  phơi  nhiễm  chì  của  trẻ  em  ở  làng  tái  chế  chì  Đông  Mai, tỉnh Hưng Yên năm 2012. Còn lại chưa có  nghiên cứu nào khảo sát và đánh giá tình trạng  phơi  nhiễm  chì  ở  trẻ  em  nước  ta.  Tóm  lại,  mặc 

dù nhóm dân số trong nghiên cứu này chưa thể  kết  luận  là  đại  diện  cho  cộng  đồng,  nhưng  với  việc  cố  gắng  chọn  mẫu  nghiên  cứu  thuận  lợi  nhất trong quá trình đánh giá xem trẻ em nước 

ta có đang có những nguy cơ và ảnh hưởng của  việc phơi nhiễm với chì hay không, chúng tôi hy  vọng nước ta nói chung và người dân nói riêng 

sẽ nhận thức được và có thái độ đúng đắn nhất  trong  sự  ảnh  hưởng  cũng  như  ngăn  ngừa  tình  trạng phơi nhiễm chì ở trẻ em nước ta. 

Bảng 7: Yếu tố nguy cơ phơi nhiễm chì có liên quan 

với BLL cao trong các nghiên cứu 

Nghiên cứu

Các yếu tố nguy cơ phơi nhiễm chì có liên

quan với BLL cao

Chúng tôi (2012) và cha mẹ có tái chế hoặc nấu chảy kim loại Tuổi, nơi cư trú, đi học, sử dụng nước mưa

tại nơi làm việc

Thái Lan (2005)

Tuổi, mảnh sơn tường bong tróc trong nhà, thói quen ăn các mảnh vụn từ sơn, và yếu tố

địa lý Indonesia

Trung Quốc (2012)

Tuổi, giới nam, sống tại những vùng đông đúc và có người hút thuốc trong nhà, trình độ học vấn của mẹ, nghề nghiệp của cha Philippine

(2007) hemoglobin, tiền sử có uống sữa mẹ, sử Tuổi, vật liệu làm mái nhà, nguồn nước,

dụng điện thoại di động và địa chỉ nơi sinh

sống

HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 

Do  thiết  kế  bảng  phỏng  vấn  của  chúng  tôi 

Trang 8

còn  thiếu  một  số  yếu  tố  nguy  cơ  nguồn  phơi 

nhiễm,  nghiên  cứu  chỉ  là  cắt  ngang  mô  tả  mà 

không khảo sát và đo lường nồng độ chì thực tế 

từ môi trường trẻ sinh sống nên chúng tôi chưa 

xác  định  được  những  yếu  tố  nguy  cơ  phơi 

nhiễm với chì một cách thực tế. 

Do cách chọn mẫu nghiên cứu của chúng tôi 

là nhóm mẫu ít bị nhiễu nhất nên kết quả nghiên 

cứu chưa đại diện được cho cộng đồng. 

KẾT LUẬN 

BLL trung bình trong nghiên cứu cao, tương 

đương với các nước trong khu vực Đông Nam Á 

và nước láng giềng Trung Quốc. Các yếu tố như 

lứa tuổi, nơi cư trú, đi học, nguồn nước và nghề 

nghiệp cha mẹ có liên quan với BLL cao. 

Cám  ơn  Đơn  vị  Sức  khỏe  Môi  trường  Nhi 

của Đại học Washington Hoa Kỳ đã tài trợ cho 

chúng tôi thực hiện nghiên cứu này. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Albalak  R,  Noonan  G,  Buchanan  S.,  Flanders  WD,  Gotway‐

Crawford  C,  Kim  D,  Jones  RL,  Sulaiman  R,  Blumenthal  W, 

Tan R, Curtis G, McGeehin MA (2002). Blood lead levels and 

risk  factors  for  poisoing  among  children  in  Jakarta, 

Indonesia.The science of the Total Environment, 301: 75 – 85. 

2 American  Academy  of  Pediatrics  Committee  on 

Environmental  Health  (2003).  Lead.  In:  Puth  A.  Etzel, 

Pediatric  environmental  health,  2 nd   ed.,  pp.  249  –  266.  Elk 

Grove Village, USA. 

3 Bellinger DC, Bellinger AM (2006). Childhood lead poisoning: 

the torturous path from science to policy. Journal of Clinical 

Investigation, 116(4): 853–857. 

4 Bellinger  DC,  Stiles  KM,  Needleman  HL  (1992).  Low‐level 

lead  exposure,  intelligence  and  academic  achievement:  a 

long‐term follow‐up study. Pediatrics, 90(6): 855–861. 

5 Canfield RL, et al (2003). Intellectual impairment in children 

with blood lead concentrations below 10 microg per deciliter. 

New England Journal of Medicine, 348(16): 1517–1526. 

6 CDC (1997). Childhood Lead Poisoning in the United States. 

Screening  Young  Children  for  Lead  Poisoning,  US 

Department  of  Health  and  Human  Services,  Public  Health  Service, 13 – 20. 

7 CDC  (2005).  Preventing  lead  poisoning  in  young  children.  Atlanta, GA, Department of Health and Human Services. 

8 CDC  (2007).  Interpreting  and  Managing  Blood  Lead  Levels:  Recommendations  of  CDCʹs  Advisory  Committee  on  Childhood  Lead  Poisoning  Prevention.  Morbidity  and  Mortality Weekly Report. 

9 CDC  (2011).  Fourth  national  report  on  human  exposure  to  environmental chemicals. Atlanta, GA, Department of Health  and Human Services, 54. 

10 Chomchai C, Padungtod C, Chomchai S (2005). Predictors of  Elevated  Blood  Lead  Level  in  Thai  Children:  A  Pilot  Study  Using Risk Assessment Questionnaire. J Med Assoc Thai, 88  (8), 53 – 59. 

11 Hashim JH, Hashim Z, Omar A, Shamsudin SB (2000). Blood  Lead  Levels  of  Urban  and  Rural  Malaysian  primary  school  children. Asia Pac J Public Health, 12(2): 65 – 70. 

12 Iriani D, Matsukawa T, et al (2012). Cross‐sectional Study on  the  Effects  of  Socioeconomic  Factors  on  Lead  Exposure  in  Children  by  Gender  in  Serpong,  Indonesia.  Environmental  Research and Public Health, 9: 4135 – 4149. 

13 Liu  J,  Ai  Y,  McCauley  L,  Pinto‐Martin  J,  Yan  C,  Shen  X,  Needleman  H  (2012).  Blood  lead  levels  and  associated  sociodemographic  factors  among  preschool  children  in  the  South  Eastern  region  of  China.  Paediatr  Perinat  Epidemiol,  26(1): 61 – 69. 

14 Mahaffey KR (1995). Nutrition and lead: strategies for public  health. Environmental Health Perspectives, 103(6): 191–196. 

15 Nguyễn  Tấn  Dũng  (2000),  Chỉ  thị 24/2000/CT‐TTg ngày  23  tháng 11 năm 2000 về việc triển khai sử dụng xăng không pha  chì ở Việt Nam. 

16 Riddel T, Solon O, Quimbo SA, Tan CMC, Butrick E, Peabody 

JW  (2007).  Elevated  blood  lead  levels  among  children  living 

in  the  rural  Philippines.  Bulletin  of  the  World  Health  Organization, 85: 674 – 680. 

17 Wallace R (2012). Childhood Lead Exposure in a Vietnamese  Battery Recycling Village. University of Washington. 

18 WHO  (2009).  Global  health  risks:  mortality  and  burden  of  disease  attributable  to  selected  major  risks.  Geneva,  World  Health Organization. 

 

 Ngày nhận bài báo: 24/10/2013   Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/11/2013   Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 03:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w