1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Dấu ấn sinh học galectin-3 trong suy tim cấp

8 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 373,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc khảo sát vai trò của nồng độ galectin-3 huyết tương trong tiên lượng tử vong do mọi nguyên nhân 30 ngày suy tim cấp.

Trang 1

DẤU ẤN SINH HỌC GALECTIN-3 TRONG SUY TIM CẤP

Đặng Quang Toàn * , Tạ Thị Thanh Hương **

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Galectin-3 là một dấu ấn sinh học được đưa vào khuyến cáo của Hội Tim mạch học Hoa Kỳ và Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (ACC/AHA) năm 2017 giúp tiên lượng bệnh nhân suy tim cấp Tại Việt Nam chưa

có công trình nghiên cứu đánh giá vai trò này của galectin-3

Mục tiêu: Khảo sát vai trò của nồng độ galectin-3 huyết tương trong tiên lượng tử vong do mọi nguyên

nhân 30 ngày suy tim cấp

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, thực hiện trên 113 bệnh nhân suy

tim cấp tại khoa Nội Tim mạch – Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 3/2018 đến tháng 7/2018 Xét nghiệm galectin-3 được thực hiện bằng phương pháp ARCHITECT trên máy Architect i2000SR tại khoa Sinh hoá – Bệnh viện Chợ Rẫy Giá trị galectin-3 bình thường là 9,3 – 25,7 ng/mL

Kết quả: Nồng độ galectin-3 ở bệnh nhân suy tim cấp có trung vị 34,6 (27,35 – 44,1) ng/mL Diện tích dưới

đường cong ROC của galectin-3 trong tiên lượng tử vong do mọi nguyên nhân 30 ngày suy tim cấp là 0,844 (KTC 95%: 0,763 – 0,925, p < 0,001) Điểm cắt tốt nhất trong tiên lượng là 37,9 ng/mL có độ nhạy 81,3%, độ đặc hiệu 70,4% Sau khi đã hiệu chỉnh với tuổi, độ lọc cầu thận ước đoán và BNP, galectin-3 > 37,9 ng/mL có OR

= 9 (KTC 95%: 3,1 – 25,9; p < 0,001)

Kết luận: Galectin-3 có vai trò trong tiên lượng tử vong do mọi nguyên nhân 30 ngày bệnh nhân suy tim

cấp với diện tích dưới đường cong ROC là 0,844 và điểm cắt tốt nhất là 37,9 ng/mL

Từ khoá: galectin-3, suy tim cấp

ABSTRACT

BIOMARKER GALECTIN-3 IN ACUTE HEART FAILURE

Dang Quang Toan, Ta Thi Thanh Huong

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Suplement of Vol 23 - No 2- 2019: 135-141

Background: Galectin-3 as a biomarker has made its way to the American College of Cardiology and American Heart Association (ACC/AHA) 2017 for prognosing patients with acute heart failure In Vietnam, there hasn’t been any study assessing this role of galectin-3

Objectives: The aim of this study was to examine the role of plasma galectin-3 concentrations in predicting

30-day all-cause mortality in patients with acute heart failure

Methods: The study was designed as a cross – sectional investigation, in which 113 patients with acute

heart failure were admitted to the Department of Cardiology, Cho Ray Hospital from March 2018 to July

2018 The plasma galectin-3 measurement was carried out in the Cho Ray Hospital ‘s Department of Biochemistry by the ARCHITECT galectin-3 method on the Architect i2000SR system Galectin-3 normal range was 9.3 – 27.5 ng/mL

Results: The median galectin-3 plasma concentration of patients with acute heart failure was 34.6

(27.35 – 44.1) ng/mL Galectin-3 had an area under the curve ROC of 0.844 (95% CI, 0.763 – 0.925, p < 0.001) for predicting outcome with the best cut-off being 37.9 ng/mL (sensitivity: 81.3%, specificity: 70.4%)

*Bác sĩ nội trú, Bộ môn Nội tổng quát, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

**Bộ môn Nội tổng quát, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BS Đặng Quang Toàn ĐT: 0919795490 Email: dangqtoan178@gmail.com

Trang 2

After adjustment for age, estimated glomerular filtration rate and BNP, galectin-3 > 37.9 ng/mL has an OR

= 9 (95% CI: 3.1 – 25.9, p < 0.001).

Conclusions: Galectin-3 had the ability to predict 30-day all-cause mortality with good discriminatory

capacity, AuROC is 0.844, best cut-off is 37.9 ng/mL

Key words: galectin-3, acute heart failure

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy tim cấp là vấn đề sức khoẻ cộng đồng

Dù cho có những tiến bộ trong điều trị, tỷ lệ tử

vong và bệnh tật còn cao Tỷ lệ tử vong 1 năm ở

bệnh nhân suy tim cấp là 20% trong khi tỷ lệ tái

nhập viện trong 30 ngày là 25%(1) Sự ra đời của

các dấu ấn sinh học đã làm thay đổi và giúp ích

trong việc quản lý bệnh nhân suy tim Các

peptide bài niệu tuy có giá trị nhưng bản thân

một mình không đủ giúp tiên lượng hay phân

tầng nguy cơ bệnh nhân một cách chính xác

nhất Do đó, các dấu ấn sinh học khác nhau phản

ánh quá trình sinh lý bệnh khác nhau trong suy

tim đang được quan tâm Trong đó galectin-3,

một protein gắn β-galactoside có liên quan đến

quá trình viêm và xơ hóa tim qua các công trình

nghiên cứu trên thế giới đã được chứng minh có

vai trò trong tiên lượng bệnh nhân suy tim

cấp(4) Khuyến cáo của Trường môn Tim và Hội

Tim Hoa Kỳ năm 2017 cho phép thực hiện xét

nghiệm galectin-3 nhằm tiên lượng hay phân

tầng nguy cơ thêm vào bệnh nhân suy tim cấp

với mức khuyến cáo IIb(10) Tại Việt Nam, công

trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thúy Nga

cho thấy nồng độ galectin-3 ở bệnh nhân suy tim

cao hơn người bình thường và chưa có công

trình nào đề cập đến vai trò tiên lượng của

galectin-3 ở bệnh nhân suy tim cấp(7,8)

Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát vai trò của nồng độ galectin-3 huyết

tương trong tiên lượng ngắn hạn suy tim cấp với

mục tiêu cụ thể là:

Xác định nồng độ galectin-3 huyết tương ở

bệnh nhân suy tim cấp

Xác định mối liên quan giữa nồng độ

galectin-3 với tuổi, giới, độ lọc cầu thận ước

đoán, peptide natri lợi niệu nhóm B (Brain

natriuretic peptide - BNP)

Xác định giá trị của nồng độ galectin-3 huyết tương trong tiên lượng tử vong do mọi nguyên nhân trong vòng 30 ngày (tính từ ngày xuất viện) ở bệnh nhân suy tim cấp

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích

Dân số nghiên cứu

Bệnh nhân nhập khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Chợ Rẫy từ 03/2018 đến 07/2018

Tiêu chuẩn chọn vào

Bệnh nhân ≥ 16 tuổi, nhập viện được chẩn đoán suy tim cấp dựa trên hướng dẫn chẩn đoán suy tim cấp của Hội tim Châu Âu 2012(5)

Tiêu chuẩn loại ra

Bệnh nhân có ung thư, xơ hóa phổi, xơ gan, suy thận mạn giai đoạn cuối, creatinine huyết thanh ≥ 3 mg/dL, choáng nhiễm trùng, bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

Cỡ mẫu

Tính cỡ mẫu theo các công thức sau

2

2 x σ2

d2 x 1,1

Với α = 0,05 (độ tin cậy 95%), Z 0,975 = 1,96 (trị số từ phân phối chuẩn), σ = 20,61 ng/mL (độ lệch chuẩn của nồng độ trung bình galectin-3 trong bệnh nhân suy tim, theo nghiên cứu của Nguyễn Thúy Nga ( 7 ) ), d = 5 ng/mL (sai số cho phép), tỷ lệ mất mẫu dự kiến 10%, ta có: n ≥ 73 đối tượng

Nghiên cứu chúng tôi thu nhận được 113 bệnh nhân suy tim cấp

Thu thập và xử lý số liệu

Bệnh nhân thoả tiêu chuẩn, đồng ý tham gia nghiên cứu được thu thập thông tin theo mẫu, với mẫu xét nghiệm galectin-3 lấy 2mL máu tĩnh mạch trong 24 giờ đầu sau nhập viện Xét nghiệm galectin-3 được thực hiện tại khoa Sinh

Trang 3

hoá Bệnh viện Chợ Rẫy bằng phương pháp

ARCHITECT trên máy Architect i2000SR,

Abbott, Hoa Kỳ Giá trị galectin-3 bình thường là

9,3 – 27,5 ng/mL

Glucose được thực hiện theo phương pháp

enzyme, creatinine được thực hiện theo phương

pháp Jaffe, albumin được thực hiện theo phương

pháp so màu trên máy ADVIA 1800, Siemens,

Hoa Kỳ Troponin I được thực hiện theo phương

pháp vi hạt hóa phát quang trên máy ADVIA

Centaur XP, Siemens, Hoa Kỳ BNP thực hiện

theo phương pháp vi hạt hóa phát quang trên

máy Architect i2000SR, Abbott, Hoa Kỳ Độ lọc

cầu thận ước đoán được tính theo công thức

CKD-EPI creatinine (2009)

Siêu âm tim thực hiện bởi bác sĩ khoa Nội

Tim mạch

Thống kê phân tích số liệu bằng SPSS 23.0 và

Medcalc 18.9 Biến số liên tục trình bày dưới

dạng trung bình nếu phân phối chuẩn, hoặc

trung vị nếu không phân phối chuẩn Biến số

định danh trình bày dưới dạng phần trăm So

sánh biến số định lượng phân phối chuẩn dùng

T-test, không phân phối chuẩn dùng Mann

Whitney, Kruskall – Wallis So sánh tỷ lệ dùng

Chi bình phương, Fisher’s Exact Test Hệ số

tương quan Spearman dùng khi phân phối

không chuẩn So sánh 2 diện tích dưới đường

cong dùng DeLong et al Hồi quy logistic để tính

OR Khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

Y đức

Đề tài đã thông qua Hội đồng Y đức Xét

nghiệm ngoài quy trình được chi trả bởi nghiên

cứu viên

KẾT QUẢ

Từ tháng 3/2018 đến tháng 7/2018, có 113

bệnh nhân suy tim cấp tham gia nghiên cứu

Kết quả phân tích trên nhóm dân số nghiên

cứu này như sau:

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Nồng độ galectin-3 (ng/mL) ở bệnh nhân

suy tim cấp không có phân phối chuẩn có

trung vị 34,6, tứ phân vị thứ nhất 27,3, tứ phân

vị thứ ba 44,1, trung bình 40,2, độ lệch chuẩn 2,16, giá trị nhỏ nhất 13,7, giá trị lớn nhất 180,6 Khi so sánh, nồng độ galectin-3 ở nhóm tử vong lớn hơn nhóm không tử vong có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)

Các đặc điểm khác đạt sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tử vong và không tử vong là tuổi, tiền căn đái tháo đường, kiểu hình huyết động, glucose, độ lọc cầu thận ước đoán (eGFR), albumin, troponin I, BNP, điều trị thở máy, vận mạch tĩnh mạch, chẹn beta, lợi tiểu

kháng aldosterone và ngày nằm viện (Bảng 1)

Mối liên quan giữa nồng độ galectin-3 với tuổi, giới, độ lọc cầu thận ước đoán, BNP

Có mối tương quan nghịch, yếu giữa nồng

độ galectin-3 huyết tương và độ lọc cầu thận ước đoán, hệ số tương quan r = -0,33, p < 0,001 Không có mối tương quan giữa nồng độ

galectin-3 huyết tương với tuổi hay BNP (Bảng 2)

Bảng 3 cho thấy nồng độ galectin-3 ở nam

nhỏ hơn ở nữ, sự khác biệt không đạt ý nghĩa thống kê với p = 0,284

Giá trị của nồng độ galectin-3 trong tiên lượng

Diện tích dưới đường cong ROC (AuROC) của galectin-3 trong tiên lượng là 0,844 (KTC 95%: 0,763 – 0,925) Khi so sánh, galectin-3 có AuROC lớn hơn BNP, sự khác biệt giữa 2 diện tích có ý nghĩa thống kê (p = 0,0018) Khi kết hợp galectin-3 và BNP cho AuROC là 0,853 lớn hơn của galectin-3 Tuy nhiên sự khác biệt giữa 2 diện tích không đạt ý nghĩa thống kê (p

= 0,48) Từ đường cong ROC chọn ra điểm cắt tốt nhất của galectin-3 trong tiên lượng là 37,9 ng/mL có độ nhạy 81,3%, độ đặc hiệu 70,4%, tỷ

số khả dĩ dương 2,75, tỷ số khả dĩ âm 0,27

(Biểu đồ 1, Bảng 4)

Galectin-3 > 37,9 ng/mL khi chưa hiệu chỉnh có OR = 10,3 (KTC 95%: 3,7 – 28,2; p < 0,001) và sau khi hiệu chỉnh với tuổi, độ lọc cầu thận ước đoán và BNP có OR = 9 (KTC 95%: 3,1 – 25,9; p < 0,001) Galectin-3 có giá trị

Trang 4

độc lập trong tiên lượng tử vong ngắn hạn bệnh nhân suy tim cấp (Bảng 5)

Bảng 1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu

(n = 113)

Tử vong chung 30 ngày do mọi nguyên nhân

Dân số học:

Tuổi

Giới nam

66,28 ± 17,41

63 (56%)

72,84 ± 13,22

15 (46,9%)

63,69 ± 18,24

48 (59,3%)

0,011 0,232

Tiền căn

Hút thuốc lá

Tăng huyết áp

Đái tháo đường

Rung nhĩ

Bệnh mạch vành

Suy tim mạn

Suy tim cấp trước đó

57 (50,4%)

73 (64,6%)

36 (31,9%)

11 (9,7%)

83 (73,5%)

84 (74,3%)

61 (54%)

15 (46,9%)

23 (71,9%)

16 (50%)

2 (6,3%)

23 (71,9%)

22 (68,8%)

17 (53,1%)

42 (51,9%)

50 (61,7%)

20 (24,7%)

9 (11,1%)

60 (74,1%)

62 (76,5%)

44 (54,3%)

0,634 0,31 0,009 0,726 0,811 0,393 0,909

Lâm sàng

Huyết áp tâm thu (mmHg)

Huyết áp tâm trương (mmHg)

Tần số tim (lần/phút)

Phù 2 chân

Ran ẩm 2 đáy phổi

Kiểu hình huyết động

Ấm – ướt

Lạnh – ướt

115,2 ± 21,9 69,5 ± 12,2 92,3 ± 17

63 (55,8%)

41 (36,3%)

107 (94,7%)

6 (5,3%)

112,9 ± 22,6 69,3 ± 14,8 96,3 ± 18,2

18 (56,3%)

15 (46,9%)

26 (81,3%)

6 (18,7%)

116,1 ± 21,7 69,6 ± 11,1 90,8 ± 16,3

45 (55,6%)

26 (32,1%)

81 (100%)

0 (0%)

0,487 0,921 0,118 0,947 0,141

<0,001

Cận lâm sàng (lúc nhập viện)

Glucose (mg/dL)

Creatinine (mg/dL)

eGFR (mL/phút/1,73 m2)

Albumin (mg/dL)

Troponin I (ng/mL)

BNP (ng/mL)

EF (%)

115 (91,5 – 175) 1,3 (1,1 – 1,6)

49 (33,6 – 61,9) 3,3 (3,0 – 3,6) 0,78 (0,09 – 7,85)

2673 ± 1262

28 ± 8,83

162 (105 – 233) 1,4 (1,1 – 2,0)

40 (30,6 – 53,3) 3,1 (2,7 – 3,3) 6,2 (0,2 – 15,4) 3045,9 ± 1334,4 28,3 ± 7,5

111 (89 – 145) 1,3 (1,1 – 1,6) 53,6 (35,1 – 64,1) 3,4 (3,1 – 3,7) 0,28 (0,08 – 1,8) 2525,8 ± 1209,4 27,8 ± 9,3

0,019 0,089 0,004 0,002 0,003 0,048 0,796

Điều trị cấp cứu

Thở máy

Vận mạch tĩnh mạch

Nitrate tĩnh mạch

Lợi tiểu tĩnh mạch

Điều trị sau cấp cứu

Lợi tiểu

Ức chế men chuyển

Chẹn thụ thể

Chẹn beta

Lợi tiểu kháng aldosterone

Digoxin

Thời gian nằm viện

Ngày nằm viện

20 (17,7%)

58 (51,3%)

29 (25,7%)

99 (87,6%)

97 (85,8%)

76 (67,3%)

32 (28,3%)

33 (29,2%)

82 (72,6%)

17 (15%) 9,51 ± 6,98

16 (50%)

23 (71,9%)

12 (37,5%)

27 (84,4%)

26 (81,3%)

22 (68,8%)

7 (21,9%)

2 (6,3%)

16 (50%)

5 (15,6%) 12,78 ± 9,82

4 (4,9%)

35 (43,2%)

17 (21,0%)

72 (88,9%)

71 (87,7%)

54 (66,7%)

25 (30,9%)

31 (38,3%)

66 (81,5%)

12 (14,8%) 8,22 ± 4,99

<0,001 0,006 0,070 0,534 0,382 0,832 0,339 0,001 0,001 1,000 0,017

Bảng 2 Mối tương quan giữa nồng độ galectin-3 với tuổi, eGFR, BNP

Trang 5

Bảng 3 Nồng độ galectin-3 huyết tương ở nam và nữ

Bảng 4 Diện tích dưới đường cong của galectin-3, BNP trong tiên lượng

Biểu đồ 1 Đường cong ROC của galectin-3, BNP trong tiên lượng Bảng 5 Các mô hình hồi quy logistic của galectin-3 trong tiên lượng

Galectin-3 ≤ 37,9 ng/mL

Galectin-3 > 37,9 ng/mL

1 10,3 < 0,001

1 10,1 < 0,001

1

1

BÀN LUẬN

Nồng độ galectin-3 huyết tương ở bệnh nhân

suy tim cấp

Nồng độ galectin-3 huyết tương ở bệnh nhân

suy tim cấp trong nghiên cứu của chúng tôi có

trung vị 34,6 (27,3 – 44,1) ng/mL Kết quả này

tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Thúy Nga

với nồng độ galectin-3 của 80 bệnh nhân suy tim

tại bệnh viện Bạch Mai là 35,01 ± 20,61 ng/mL(7)

Cả 2 nghiên cứu đều sử dụng phương pháp

ARCHITECT, Abbott để xét nghiệm galectin-3

Các nghiên cứu trên thế giới cho kết quả nồng

độ galectin-3 ở bệnh nhân suy tim cấp khác nhau

tùy thuộc vào cỡ mẫu lớn nhỏ và phương pháp

thực hiện xét nghiệm khác nhau Nghiên cứu

của Òscar Miró có nồng độ galectin-3 (phương

pháp VIDAS, BioMériux) của 115 bệnh nhân suy

tim cấp là 26 (21 – 38) ng/mL(6) Nghiên cứu của Demissei có nồng độ galectin-3 (phương pháp Alere) của 2023 bệnh nhân suy tim cấp là 36,3 (27,6 – 48,6) ng/mL(3) Riêng nghiên cứu của tác giả Roland R van Kimmenade sử dụng bộ kit của hãng Bender Medsystems không còn thấy trong các nghiên cứu hiện nay cho thấy nồng độ galectin-3 của 209 bệnh nhân suy tim cấp là 9,2 (7,4 – 12,1) ng/mL(9)

Mối liên quan giữa nồng độ galectin-3 huyết tương với tuổi, giới, độ lọc cầu thận ước đoán, BNP

Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có mối tương quan giữa nồng độ galectin-3 với tuổi, r = 0,161, p = 0,088 Nghiên cứu của Nguyễn Thúy Nga có hệ số tương quan này là r = 0,228, p

> 0,05 Do đó điểm cắt galectin-3 có thể áp dụng cho mọi lứa tuổi(8)

Trang 6

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có

mối liên quan giữa nồng độ galectin-3 với giới

Nghiên cứu của Nguyễn Thúy Nga cũng cho

thấy nồng độ galectin-3 (ng/mL) ở bệnh nhân

nam là 36,57 ± 20,58 không đạt sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê so với nữ là 33,11 ± 20,58(7)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có mối

tương quan nghịch yếu giữa nồng độ galectin-3

huyết tương với độ lọc cầu thận ước đoán, r = -

0,33, p < 0,001 Kết quả này tương tự với nghiên

cứu của Òscar Miró với hệ số tương quan r = -

0,314, p = 0,001(6) Do đó, độ lọc cầu thận càng

thấp nồng độ galectin-3 càng cao

Trong nghiên cứu của chúng tôi không có

mối tương quan giữa nồng độ galectin-3 huyết

tương và BNP, r = 0,145, p = 0,126 Do BNP phản

ánh quá trình căng dãn thành tim còn galectin-3

phản ánh quá trình viêm và xơ hóa trong suy

tim nên không có mối tương quan này

Giá trị của nồng độ galectin-3 huyết tương

trong tiên lượng ngắn hạn

Nghiên cứu của chúng tôi với kết cục là tử

vong do mọi nguyên nhân trong vòng 30 ngày

cho thấy galectin-3 có khả năng tiên lượng tốt

với AuROC = 0,844 (p < 0,001) với điểm cắt tốt

nhất là 37,9 ng/mL Khi so sánh, galectin-3 tốt

hơn BNP (AuROC = 0,624, p = 0,041) trong tiên

lượng và không khác biệt khi kết hợp cả

galectin-3 và BNP (AuROC = 0,853, p < 0,001)

Các nghiên cứu trên thế giới cũng đã xác định

vai trò galectin-3 trong tiên lượng tử vong chung

ngắn hạn Tác giả Òscar Miró đánh giá kết cục tử

vong chung trong 30 ngày cho thấy galectin-3

với AuROC = 0,732 (p = 0,041) có khả năng tiên

lượng tốt hơn NT-proBNP với AuROC = 0,586 (p

= 0,446) và troponin I với AuROC = 0,639 (p =

0,222)(6) Nghiên cứu của Roland R van

Kimmenade cho thấy galectin-3 có khả năng tiên

lượng tử vong chung trong 60 ngày tốt hơn

NT-proBNP và apelin với AuROC = 0,74 (p =

0,0001)(9) Bệnh nhân có nồng độ galectin-3 > 9,42

ng/mL và NT-proBNP > 5,562 pg/mL có nguy cơ

tử vong cao nhất Tác giả Berardinis khi đánh giá

tử vong chung trong 30 ngày cho thấy galectin-3

có AuROC là 0,69 (p = 0,002) và khi kết hợp với đánh giá vector trở kháng sinh học sẽ làm tăng AuROC lên thành 0,764 (p = 0,0001)(2) Nghiên cứu của tác giả Demissei đặc biệt hơn với cỡ mẫu lớn là 2023 bệnh nhân suy tim cấp đánh giá khả năng tiên lượng của galectin-3 tại các thời điểm khác nhau trong lúc nằm viện, cụ thể là vào lúc nhập viện, ngày thứ 3, ngày thứ 7 và ngày thứ 14 Kết quả cho thấy galectin-3 thực hiện tại thời điểm nhập viện có AuROC = 0,785 trong dự đoán tử vong chung 30 ngày và khả năng tiên lượng tại các thời điểm xét nghiệm khác nhau là tương đương Điều này phản ánh bản chất ổn định của galectin-3 trong suy tim và đồng nghĩa không cần thực hiện lặp lại xét nghiệm trong lúc nằm viện để tiên lượng bệnh(3)

Biểu đồ 2 Diện tích dưới đường cong ROC của

galectin-3 tại các thời điểm xét nghiệm khác nhau (3)

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sau khi

đã hiệu chỉnh với tuổi, eGFR, và BNP,

galectin-3 > galectin-37,9 ng/mL có OR = 9 (KTC 95%: galectin-3,1 – 25,9;

p < 0,001) cho thấy galectin-3 là một yếu tố độc lập trong tiên lượng ngắn hạn suy tim cấp Kết quả này là tương đồng với nghiên cứu của tác giả Òscar Miró, sau khi đã hiệu chỉnh với creatinine, eGFR và tuổi, nồng độ galectin-3 >

0,029) trong dự đoán tử vong chung 30 ngày(6) Còn tác giả Roland R van Kimmenade sau khi

Trang 7

phân tích đa biến với các yếu tố đưa vào là

galectin-3, NT-proBNP, tuổi, phân độ NYHA,

eGFR cho thấy log galectin-3 có OR = 10,3

(KTC 95%: 1,6 – 174,1; p = 0,007) trong tiên

lượng tử vong chung 60 ngày( 9 )

HẠN CHẾ

Nghiên cứu của chúng tôi chưa đánh giá

được khả năng của galectin-3 trong tiên lượng

các kết cục khác như tử vong do tim, tái nhập

viện do mọi nguyên nhân, tái nhập viện do

suy tim trong khoảng thời gian trung hạn hay

dài hạn

KẾT LUẬN

Từ tháng 3/2018 đến tháng 7/2018, qua

nghiên cứu trên 113 bệnh nhân suy tim cấp,

chúng tôi đưa ra các kết luận như sau:

Nồng độ galectin-3 (ng/mL) huyết tương ở

bệnh nhân suy tim cấp có trung vị 34,6 (27,3 –

44,1), trung bình 40,2 ± 2,16, giá trị nhỏ nhất 13,7,

giá trị lớn nhất 180,6

Có mối tương quan nghịch yếu giữa nồng độ

galectin-3 với độ lọc cầu thận ước đoán, hệ số

tương quan r = - 0,33, p < 0,001 Không có mối

liên quan hay tương quan giữa nồng độ

galectin-3 với tuổi, giới, BNP

Galectin-3 có khả năng tiên lượng bệnh

nhân suy tim cấp với AuROC = 0,844 (KTC

95%: 0,77 – 0,935; p < 0,001) với điểm cắt tốt

nhất là 37,9 ng/mL có độ nhạy 81,3%, độ đặc

hiệu 70,4%, tỷ số khả dĩ dương 2,75, tỷ số khả

dĩ âm 0,27 Galectin-3 có giá trị độc lập trong

tiên lượng với OR = 9 (KTC 95%: 3,1 – 25,9; p <

0,001) sau khi đã hiệu chỉnh với tuổi, độ lọc

cầu thận ước đoán và BNP

Từ đó, chúng tôi kiến nghị thực hiện xét

nghiệm galectin-3 ở bệnh nhân suy tim cấp nhập

viện để tiên lượng bệnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abraham WT, Adams KF, Fonarow GC, Costanzo MR, Berkowitz RL et al (2005) “In-hospital mortality in patients with acute decompensated heart failure requiring intravenous vasoactive medications: an analysis from the Acute Decompensated Heart Failure National Registry (ADHERE)”

J Am Coll Cardiol, 46 (1) pp 57-64

2 De Berardinis B, Magrini L, Zampini G, Zancla B, Salerno G et

al (2014) “Usefulness of combining galectin-3 and BIVA assessments in predicting short- and long-term events in

patients admitted for acute heart failure” Biomed Res Int, 2014,

pp 983098

3 Demissei BG, Cotter G, Prescott MF, Felker GM, Filippatos G

et al (2017) “A multimarker multi-time point-based risk stratification strategy in acute heart failure: results from the

RELAX-AHF trial” Eur J Heart Fail, 19 (8) pp 1001-1010

4 Maisel AS, Choudhary R (2012) “Biomarkers in acute heart

failure state of the art” Nat Rev Cardiol, 9(8) pp 478-90

5 McMurray JJ, Adamopoulos S, Anker SD, Auricchio A, Bohm

M et al (2012) “ESC Guidelines for the diagnosis and treatment of acute and chronic heart failure 2012: The Task Force for the Diagnosis and Treatment of Acute and Chronic Heart Failure 2012 of the European Society of Cardiology Developed in collaboration with the Heart Failure Association

(HFA) of the ESC” Eur Heart J, 33 (14) pp 1787-847

6 Miro O, Gonzalez de la Presa B, Herrero-Puente P, Fernandez Bonifacio R, Mockel M et al (2017) “The GALA study: relationship between galectin-3 serum levels and short- and long-term outcomes of patients with acute heart failure”

Biomarkers, 22 (8) pp 731-739

7 Nguyễn Thúy Nga, Đỗ Doãn Lợi, Phạm Thiện Ngọc (2015)

“Nghiên cứu nồng độ Galectin-3 huyết tương bệnh nhân suy

tim” Y Học Việt Nam, 433, tr 122 - 126

8 Nguyễn Thúy Nga, Trịnh Thị Quế, Đỗ Doãn Lợi, Phạm Thiện Ngọc (2016) “Nghiên cứu sự liên quan giữa Galectin-3 và

một số dấu hiệu sinh học khác ở bệnh nhân suy tim” Y học

thực hành, 993, tr 81-83

9 Van Kimmenade RR, Januzzi JL Jr, Ellinor PT, Sharma UC, Bakker JA et al (2006) “Utility of amino-terminal pro-brain natriuretic peptide, galectin-3, and apelin for the evaluation of

patients with acute heart failure” J Am Coll Cardiol, 48 (6) pp

1217-24

10 Yancy CW, Jessup M, Bozkurt B, Butler J, Casey DE Jr et al (2017) “2017 ACC/AHA/HFSA Focused Update of the 2013 ACCF/AHA Guideline for the Management of Heart Failure:

A Report of the American College of Cardiology/American Heart Association Task Force on Clinical Practice Guidelines

and the Heart Failure Society of America” Circulation, 136 (6)

pp e137-e161

Ngày nhận bài báo: 08/11/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019

Trang 8

BẤT THƯỜNG XÉT NGHIỆM CHỨC NĂNG GAN TRONG SUY TIM CẤP

Châu Ngọc Hoa * , Huỳnh Trung Tín *

TÓM TẮT

Mở đầu: Bệnh gan do tim thường không có triệu chứng lâm sàng nổi bật, phát hiện tình cờ qua xét nghiệm

cận lâm sàng với đặc trưng dạng ứ mật hay hoại tử tế bào gan Tỉ lệ bất thường xét nghiệm chức năng gan trong suy tim cấp dao động 10 – 60%

Mục tiêu: Khảo sát tỉ lệ, đặc điểm bất thường xét nghiệm sinh hoá gan trên bệnh nhân suy tim cấp

Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên 98 bệnh nhân suy tim

cấp nhập viện tại khoa Nội Tim mạch – Bệnh viện Nhân dân Gia Định từ tháng 4/2018 đến tháng 8/2018 Các xét nghiệm sinh hoá gan AST, ALT, Bilirubin và GGT được thực hiện trong vòng 24 giờ sau nhập viện và được định nghĩa bất thường khi giá trị các xét nghiệm này lớn hơn giới hạn trên bình thường theo tham số quy chiếu phòng xét nghiệm sinh hoá bệnh viện Nhân dân Gia Định, lần lượt là AST > 37U/L, ALT > 40 U/L, Bilirubin >

17 µmol/L, GGT > 50 U/L ở nam và GGT > 32 U/L ở nữ

Kết quả: Trên 98 bệnh nhân suy tim cấp, tỉ lệ bất thường các xét nghiệm sinh hoá gan Bilirubin, GGT,

AST, ALT lần lượt là 43,9%; 75,5%; 41,8%; 29,9% Các xét nghiệm Bilirubin, GGT, AST, ALT lúc nhập viện phần lớn bình thường hoặc tăng dưới 2 lần giới hạn trên của bình thường (GHTBT), 10 – 20% tăng 2 – 5 lần GHTBT và dưới 5% tăng trên 5 lần GHTBT Nhóm suy tim cấp có bất thường xét nghiệm AST, ALT có phân suất tống máu thất trái thấp hơn so với nhóm không bất thường (p<0,05)

Kết luận: Tỉ lệ bất thường xét nghiệm sinh hoá gan trong suy tim cấp dao động 30-75%, khoảng 70%

trường hợp các xét nghiệm này bình thường hoặc tăng dưới 2 lần giới hạn trên bình thường Nhóm suy tim cấp

có bất thường xét nghiệm AST, ALT có phân suất tống máu thất trái thấp hơn so với nhóm không bất thường

Từ khoá: bất thường xét nghiệm chức năng gan, suy tim cấp, bệnh gan tim

ABSTRACT

LIVER FUNCTION ABNORMALITIES IN ACUTE HEART FAILURE

Chau Ngoc Hoa, Huynh Trung Tin

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Suplement of Vol 23 - No 2- 2019: 142-146

Introduction Cardiac hepatopathy may be asymptomatic and featured only by abnormal liver function tests

occasionally found at routine laboratory analysis Primary laboratory findings of cardiac hepatopathy are elevated serum cholestasis and hepatocellular lysis markers The prevalence of liver function abnormalities in acute heart

failure is 10-60%

Objectives: The aim of this study was to determine the prevalence, characteristics of liver function

abnormalities in patients admitted for acute heart failure

Methods The study was designed as a cross – sectional investigation, in which a cohort of 98 patients

admitted for acute heart failure to Internal Cardiology Department - Gia Dinh People Hospital, from April 2018

to August 2018 Liver function test were extracted from samples drawn within 24 hours of admission Based on routine laboratory standards of Gia Dinh Hospital, the upper limit of normal for total bilirubin was greater than

17 µmol/L, for AST and ALT, was greater than 37 mmol/L and 40 mmol/L, and for GGT was greater than 50 U/L in male and 32 U/L in female

Results: Among 98 patients studied, the prevalence of abnormal liver biochemical tests in patients with

Ngày đăng: 14/01/2020, 22:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w