1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Dấu ấn sinh học vùng giữa tiền hormon trong tiên lượng của suy tim nặng

8 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá giá trị tiên lượng của MR‐proANP (mid‐regional pro‐atrial natriuretic peptide) và MR‐proADM (mid‐regional pro‐adrenomedullin) trên bệnh nhân suy tim nặng. Nghiên cứu tiến hành trên 38 bệnh nhân suy tim nặng, được định nghĩa có phân độ NYHA III/IV và phân suất tống máu thất T (EF). Mời các bạn tham khảo bài viết.

Trang 1

DẤU ẤN SINH HỌC VÙNG GIỮA TIỀN HORMON   TRONG TIÊN LƯỢNG CỦA SUY TIM NẶNG 

Lê Ngọc Hùng*, Nguyễn Chí Thanh** 

TÓM TẮT 

Cơ  sở: Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá giá trị tiên lượng của MR‐proANP (mid‐regional pro‐atrial 

natriuretic peptide) và MR‐proADM (mid‐regional pro‐adrenomedullin) trên bệnh nhân suy tim nặng . 

Phương  pháp: Thiết kế nghiên cứu kiểu quan sát, tiền cứu thực hiện trên 38 bệnh nhân suy tim nặng, 

được định nghĩa có phân độ NYHA III/IV và phân suất tống máu thất T (EF) < 30%. Tất cả bệnh nhân được đo  MR‐proANP và MR‐proADM. Bệnh nhân được theo dõi khả năng sống còn trong suốt thời gian nằm viện và  xuất viện cho đến 12 tháng. 

Kết  quả:  Nồng  độ  MR‐proANP  là  413,5  (154,9  –  1130)  pmol/L  và  MR‐proADM  là  1,2  (0,05  –  10,95) 

nmol/L trên 38 bệnh nhân (18 nam, NYHA độ IV: 21). Có 4 bệnh nhân tử vong trong 30 ngày (10,5%, [2,6 –  21,1]%). Điểm cắt cho tiên lượng sống còn trong 30 ngày của MR‐proANP là 452 pmol/L với độ nhạy và độ đặc  hiệu là 75% và 69%, theo thứ tự; và của MR‐proADM là 2 nmol/L với độ nhạy và độ đặc hiệu là 75% và 71%,  theo thứ tự. Có 18 tử vong (47,4%) trong 12 tháng. Điểm cắt cho tiên lượng sống còn trong 12 tháng của MR‐ proANP là 400 pmol/L với độ nhạy và độ đặc hiệu là 72% và 65%, theo thứ tự; và của MR‐proADM là 1,2  nmol/L với độ nhạy và độ đặc hiệu là 78% và 65%, theo thứ tự. Phân tích đa biến Cox regression, cho thấy pro‐ ADM có giá trị độc lập tiên lượng sống còn 12 tháng với hệ số may rủi hiệu chỉnh (adjusted hazard ratio, HR) là  5,3 (1,6‐17,1), p = 0,006. 

Kết luận: MR‐proADM là chất chỉ điểm sinh học tốt tiên lượng điều trị suy tim. Cần thêm nghiên cứu về 

vai trò của MR‐proADM trên mặt lâm sàng khác. 

Từ khóa: MR‐proADM, MR‐proANP, suy tim, NYHA, độ nhạy, độ đặc hiệu 

ABSTRACT 

MID‐REGION PRO‐HORMONE BIOMARKERS FOR PROGNOSIS IN SEVERE HEART FAILURE 

Le Ngoc Hung, Nguyen Chi Thanh 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2013: 563 ‐ 570 

Objectives: The aim of study was to assess the prognostic value of MR‐proANP (mid‐regional pro‐atrial 

natriuretic peptide) and MR‐proADM (mid‐regional pro‐adrenomedullin) in patients with severe heart failure. 

Methods: An observational, prospective study was carried on 38 patients with severe heart failure, defined 

as having NYHA degree III/IV and left ventricle ejection fraction (EF) < 30%. All patients were measured both  MR‐proANP and MR‐proADM. Patients were observed the survival over the hospital stay and thereafter the  discharge until 12 months. 

Results: Concentration of MR‐proANP was 413.5 (154,9 – 1130) pmol/L and MR‐proADM was 1.2 (0.05 

–  10.95)  nmol/L  in  38  patients  (18  males,  NYHA  degree  IV:  21).  There  were  4  patients  died  within  30  days 

(10.5%,  [2,6  –  21.1]%).  The  cut‐off  points  for  survival  in  30  days  of  MR‐proANP  was  452  pmol/L  with 

* Khoa Sinh Hóa, BV Chợ Rẫy  

** Bộ môn Sinh Hóa, Khoa Y, Đại Học Y Dược TP Cần Thơ 

Tác giả liên lạc: TS. BS. Lê Ngọc Hùng, ĐT: 0913653618, Email: lengochungan@yahoo.com 

Trang 2

sensitivity and specificity as 75% and 69%, respectively; and for MR‐proADM was 2 nmol/L with sensitivity  and specificity as 75% and 71%, respectively. There were 18 dead cases (47.4%) in 12 months. The cut‐off points  for survival in 12 months of MR‐proANP was 400  pmol/L  with  sensitivity  and  specificity  as  72%  and  65%,  respectively,  and  for  MR‐proADM  was  1.2  nmol/L  with  sensitivity  and  specificity  as  78%  and  65%,  respectively. Multivariable Cox regression analysis showed that MR pro‐ADM had the independent prognostic  value for survival in 12 months with adjusted hazard ratio of 5,3 (1.6‐17.1), p = 0.006. 

Conclusions: MR‐proADM was a valued biomarker for prognosis in treatment of severe heart failure. It 

requires having more researches on the role of MR‐proADM in other clinical aspects.  

Keywords: MR‐proADM, MR‐proANP, heart failure, NYHA, sensitivity, specificity  

DẪN NHẬP 

Adrenomedullin  (ADM),  một  peptide  dãn 

mạch  có  tác  dụng  hạ  áp  mạnh,  được  tìm  thấy 

trong nhiều mô cơ quan(15). Nồng độ ADM trong 

plasma  tăng  trên  bệnh  nhân  suy  tim  mạn(3,4). 

Ứng dụng lâm sàng của ADM bị cản trở do tính 

không ổn định trong phương pháp đo lường. 

Gần  đây,  nhiều  phương  pháp  miễn  dịch 

mới áp dụng cho các chất có liên quan đến sự 

điều hòa tim mạch (cardiovascular regulation) 

đã được phát triển nhằm phát hiện ra các đoạn 

tiền  kích  thích  tố  bền  vững  (stable 

prohormone)  được  xem  như  gương  phản  ảnh 

các  kích  thích  tố  trưởng  thành  được  tách 

ra(10,12).  Các  phương  pháp  miễn  dịch  mới  tập 

trung vào tiền kích thích tố nằm ở đoạn giữa, 

có tính ổn định, tạo được mối liên hệ tỉ lệ trọn 

vẹn  (stoichometrically)  với  sự  tổng  hợp  phân 

đoạn  kém  ổn  định  có  tác  động  sinh  học.  Do 

vậy  một  phương  pháp  định  lượng  MR‐

proANP  và  MR‐proADM  được  hình  thành  và 

tạo được một số chẩn đoán có giá trị lâm sàng 

và các thông tin bổ sung vào nhóm natriuretic 

peptides. 

Maisel  Alan  và  cs  (2010)(7)  báo  cáo  kết  quả 

của  nghiên  cứu  BACH  (Biomarkers  in  Acute 

Heart Failure) thực hiện trên 15 trung tâm, 1.641 

bệnh nhân nhập cấp cứu do khó thở, trong đó có 

568  bệnh  nhân  suy  tim  cấp.  Kết  quả  ghi  nhận 

rằng  MR‐proANP  có  giá  trị  tương  đương  BNP 

trong chẩn đoán suy tim cấp trên bệnh nhân khó 

thở,  đặc  biệt  ở  những  bệnh  cảnh  lâm  sàng  mà 

BNP không giải thích được (vùng xám). Và MR‐

proADM  có  giá  trị  giúp  xác  định  những  bệnh 

nhân  có  khả  năng  tử  vong  cao  trong  vòng  90  ngày, và tác dụng cộng vào tiên lượng của BNP.   Chúng  tôi  thực  hiện  nghiên  cứu  giá  trị  tiên  lượng  của  MR‐proANP  và  MR‐proADM  trên  bệnh nhân suy tim nặng NYHA độ III và IV, với  mục tiêu khảo sát điểm cắt, độ nhạy, độ đặc hiệu  của giá trị tiên lượng tử vong sớm trong 30 ngày 

và  trong  12  tháng  của  MR‐proANP  và  MR‐ proADM. 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Nghiên  cứu  tiền  cứu,  thiết  kế  kiểu  quan  sát,  cắt  dọc,  không  can  thiệp,  hàng  loạt  ca.  Quần thể bệnh nhân quan sát là các bệnh nhân  được  chẩn  đoán  suy  tim  nặng  và  điều  trị  tại  khoa  Nội  Tim  mạch,  bệnh  viện  Chợ  Rẫy,  từ  tháng  8/2010  đến  tháng  9/2011.  Suy  tim  nặng  được  định  nghĩa  là  suy  tim  có  hạn  chế  hoạt  động theo NYHA độ III hay IV kèm theo phân  suất tống máu thất T (EF) < 30%.  

Chẩn đoán suy tim dựa theo các tiêu chuẩn  sau: trên lâm sàng có triệu chứng khó thở (giảm  lúc  nghỉ,  tăng  khi  gắng  sức),  phù  ngoại  biên  (phù  bàn  chân,  cổ  chân,  cẳng  chân),  tĩnh  mạch 

cổ nổi – hoặc áp lực tĩnh mạch trung ương cao (> 

16 cm nước), gan to, ran ư đọng đáy phổi, nhịp  tim nhanh >120 lần/phút, nghe tim  có  tiếng  T3.  Bệnh  nhân  được  phân  độ  suy  tim  theo  NYHA: 

độ I: không giới hạn họat động thể lực, không có  triệu  chứng  khi  gắng  sức;  độ  II:  giới  hạn  nhẹ  hoạt động thể lực, có triệu chứng khi gắng sức; 

độ  III:  giới  hạn  đáng  kể  hoạt  động  thể  lực,  không có triệu chứng lúc nghỉ ngơi; độ IV: khó  khăn  khi  tiến  hành  các  hoạt  động  thể  lực,  có  triệu chứng lúc nghỉ ngơi.  

Trang 3

nếu kèm theo các bệnh lý sau: suy thận, xơ gan, 

hội chứng vành cấp, chấn thương tim, tâm phế 

mãn, hội chứng Cushing. 

Các  biến  số  khảo  sát  gồm  tuổi,  phái  tính, 

bệnh lý nền của suy tim (bệnh mạch vành, bệnh 

van  tim,  bệnh  cơ  tim,  tăng  huyết  áp,  bệnh  tim 

bẩm  sinh,  bệnh  lý  khác),  điện  tâm  đồ  (nhịp 

xoang,  rung  nhĩ,  phì  đại  tâm  thất),  phân  độ 

NYHA (chỉ chọn độ III, IV), triệu chứng thực thể 

của  suy  tim  (ran  ứ  đọng  phổi,  phù  phổi  cấp, 

tiếng T3, phản hồi gan ‐ tĩnh mạch cảnh (+), gan 

to,  tim  nhanh  >  120  lần/phút),  creatinin  huyết 

thanh,  phân  suất  EF,  tiêu  chuẩn  chẩn  đoán  phì 

đại tâm thất trên ĐTĐ(7) (chỉ số Sokolov – Lyon: 

SV1  +  RV5  hoặc  RV6  >  35mm,  chỉ  số  Cornell: 

RaVL  +  SV3  >  28  mm  (nam),  RaVL  +  SV3  >  20 

mm ( nữ ), và RaVL > 11 mm), tiêu chuẩn chẩn 

đoán  rung  nhĩ  (nhịp  nhĩ:  >  300  l/p,  nhịp  tim: 

không đều, nhịp thất: thay đổi). 

Nghiên  cứu  được  thực  hiện  tại  khoa  Tim 

mạch  bệnh  viện  Chợ  Rẫy,  trong  thời  gian  từ 

tháng 2/2010 đến tháng 3/2011. 

Xét  nghiệm  định  lượng  nồng  độ  MR‐

proANP,  MR‐proADM  trong  máu  được  thực 

hiện tại khoa Sinh hóa bệnh viện Chợ Rẫy theo 

quy  trình  sau:  mẫu  máu  EDTA  chống  đông 

được lấy sau khi bệnh nhân nằm nghỉ tại giường 

30  phút,  mẫu  được  lấy  trong  vòng  24  giờ  sau 

nhập viện, thể tích 2 ml. Xét nghiệm được thực 

hiện  trên  hệ  thống  máy  KRYPTOR  (BRAHMS 

AG,  Hennigsdorf/Berlin,  Đức),  định  lượng  theo 

công  nghệ  TRACE  (time‐resolved  amplified 

cryptate emission technology). Giới hạn định 

lượng của MR‐proANP là 4,5 pmol/L, hệ số dao 

động  của  chính  xác  trong  ngày  là  1,2%  và  dao 

động chung là 5,4%. Đối với MR‐proADM, giới 

hạn định lượng là 0,23 nmol/L, hệ số dao động 

của  chính  xác  trong  ngày  là  1,9%  và  dao  động 

chung  là  8,9%.  Giá  trị  bình  thường  của  MR‐

proANP  theo  nhà  sản  xuất  là  3‐85  pmol/L,  và 

MR‐proADM là 0,1‐0,64 nmol/L. 

Thống kê và xử lý số liệu: số liệu được nhập 

lưu giữ  với  phần  mềm  Excel  2007  và  phân  tích 

thống kê sử dụng phần mềm SPSS 18.0. Các biến 

số  định  lượng  có  phân  phối  bình  thường  sẽ  được  mô  tả  bằng  trung  bình  và  độ  lệch  chuẩn.  Các biến số định lượng không có phân phối bình  thường được mô tả bằng trị số trung vị và phạm 

vi  của  biến  số.  Sử  dụng  ROC‐AUC,  (diện  tích  dưới đường biễu diễn ROC – receiver‐operating  characteristic)  để  xác  định  điểm  cắt  nồng  độ  MR‐proANP,  MR‐proADM  cho  tiên  lượng  tử  vong trong 30 ngày và 12 tháng. Dùng phương  pháp  phân  tích  biểu  đồ  xác  xuất  sống  còn  tích  lũy  Kaplan  Meier  để  so  sánh  sự  khác  biệt  tử  vong của 2 nhóm suy tim có giá trị MR‐proANP 

và  MR‐proADM  trê  và  dưới  điểm  cắt,  bằng  phép kiểm Logrank test. Tỉ số chênh (odd ratio,  OR)  và  95%  khoảng  tin  cậy  tương  ứng  được  khảo  sát  đơn  biến  cho  các  biến  số  có  liên  quan  đến  tử  vong,  và  khảo  sát  đa  biến  với  Cox  regression  để  tính  hệ  số  may‐rủi  tỉ  lệ  Cox  đa  biến  (multivariable  Cox  proportional  hazard  ratio)  trong  thời  gian  theo  dõi.  Các  phép  kiểm  được  thực  hiện  với  ngưỡng  của  mức  ý  nghĩa  thống kê 5% (p<0,05).  

KẾT QUẢ 

Có  38  bệnh  nhân  suy  tim  nặng  NYHA  bao  gồm  độ  III  (n=17)  và  độ  IV  (n=21)  tham  gia  nghiên cứu. Chi tiết nhân trắc của các bệnh nhân  này nêu trong bảng 1. Gồm 18 nam, 20 nữ; tuổi  60(18‐88), 100% đều có phân suất tống máu thất 

T ≤ 30%, 31 bệnh nhân có dầy thất T. Nồng độ  MR‐proANP  của  38  bệnh  nhân  là  463,1  ±  208,0  (TB  ±  độ  lệch  chuẩn)  thay  đổi  từ  154,9  –  1130  pmol/L và của MR‐proADM là 1,8 ± 1,8 (TB ± độ  lệch chuẩn) thay đổi từ 0,05 – 10,95 nmol/L. Cả 2  nhóm  nồng  độ  MR‐proANP  và  MR‐proADM  đều có phân bố chuẩn với p > 0,05, Bảng 1 trình  bày  đặc  điểm  lâm  sàng,  nồng  độ  MR‐proANP,  MR‐proADM  và  kết  quả  theo  dõi  tử  vong  của  bệnh nhân. 

Bảng  2  trình  bày  ROC  (receiver‐operating  characteristic) của diện tích dưới đường biểu diễn  (ROC/AUC: ROC of area under the concentration  curve) của độ nhạy thay đổi theo (1‐độ đặc hiệu)  (1‐specific) của MR‐proANP và MR‐proADM để 

Trang 4

đặc hiệu cao nhất cho tiên đoán khả năng tử vong 

sớm trong 30 ngày và muộn trong 12 tháng. Tất 

cả  các  ROC/AUC  đều  >  0,65,  p  <  0,05.  Điểm  cắt 

cho  tiên  lượng  tử  vong  trong  30  ngày  là  452 

pmol/L  và  2,0  nmol/L  theo  thứ  tự  cho  MR‐

proADM và MR‐proANP. Tương tự điểm cắt cho 

tiên lượng tử vong trong 12 tháng là 400 pmol/L 

và  1,2  nmol/L  theo  thứ  tự  cho  MR‐proADM  và 

MR‐proANP (Hình 1a và Hình 1b). 

Bảng 1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân suy tim 

với NYHA III hoặc IV tham gia nghiên cứu  

Nội dung Kết quả (n = 38)

Phái tính (nam/nữ) 18/20

Tuổi (nặm)

Phân nhóm tuổi:

Phân suất tống máu thất T (EF%)

Phân nhóm EF:

20-30 36

Dầy thất T

Phân độ suy tim theo NYHA

Nội dung Kết quả (n = 38)

Nguyên nhân suy tim

Trung bình ± độ lệch chuẩn

Kolmogorov Smirnov) MR-proADM (nmol/L)

Kolmogorov Smirnov)

Tử vong trong 30 ngày (n, %, 95%

KTC)

4, 10,5% (2,6 – 21,1)*

Tử vong trong 12 tháng (n, %, 95%

KTC)

18, 47,4% (31,6 -63,2)*

* KTC: khoảng tin cậy; ** p = 0,9, không có sự khác biệt về 

tử vong giữa các nhóm nguyên nhân suy tim 

Bảng 2. Vai trò của MR‐proANP và MR‐proADM trong tiên lượng tử vong sớm trong vòng 30 ngày trên bệnh 

nhân suy tim nặng NYHA III và IV 

Nội dung MR-proANP (pmol/L)

(n = 38)

MR-proADM (nmol/L) (n = 38) Tiên lượng tử vong sớm trong 30 ngày

Nồng độ trên bệnh nhân tử vong ( n=4)

Nồng độ trên bệnh nhân sống (n = 34)

So sánh với bệnh nhân tử vong (p) (kiểm định Mann-Whitney U)

0,032 0,016 ROC phân tích diện tích dưới đường cong, 95% khoảng tin cậy 0,83

0,67 – 0,99

p = 0,032

0,87 0,69 – 1,0

p = 0,016

Trang 5

Nội dung MR-proANP (pmol/L)

(n = 38)

MR-proADM (nmol/L) (n = 38)

Tiên lượng tử vong muộn trong 12 tháng

Nồng độ trên bệnh nhân tử vong ( n=18)

Nồng độ trên bệnh nhân sống (n = 20)

Trung vị (tối thiểu – tối đa)

So sánh với bệnh nhân tử vong (p)

0,005

Bảng  3  trình  bày  giá  trị  tiên  đoán  đơn  biến 

và đa biến theo Cox Proportion Harzard Model 

của các biến: tuổi (>60 tuổi), phái (nữ), chỉ số EF 

(<20%),  dầy  thất  (T),  NYHA  (IV),  có  rung  nhĩ, 

MR‐proANP (≥ 400 pmol/L), và MR‐proADM (≥ 

1,2  nmol/L)  trên  khả  năng  sống  còn  của  bệnh 

nhân  suy  tim  nặng  theo  thời  gian  trong  12 

tháng.  Kết  quả  cho  thấy  chỉ  có  MR‐proANP  và 

MR‐proADM  có  giá  trị  tiên  đoán  tử  vong  trên 

khảo sát đơn biến với OR(95%CI) là 3,1 (1,1 ‐8,9) 

và 6,5 (2,0 ‐20,4), theo thứ tự. Nhưng khảo sát đa 

biến cho thấy chỉ có MR‐proADM có giá trị tiên 

đoán khả năng tử vong khác biệt với p= 0,006 và 

OR (95% CI) là 5,3 (1,6‐17,1).  

Bảng  4  trình  bày  giá  trị  tiên  đoán  đơn  biến 

và đa biến theo Cox Proportion Harzard Model  của các biến tuổi (>60 tuổi), phái (nữ), chỉ số EF  (<20%),  dầy  thất  (T),  NYHA  (IV),  có  rung  nhĩ,  MR‐proANP (≥ 452 pmol/L), và MR‐proADM (≥ 

2,0  nmol/L)  trên  khả  năng  sống  còn  của  bệnh  nhân  suy  tim  nặng  theo  thời  gian  trong  giai  đoạn  sớm  30  ngày.  Kết  quả  khảo  sát  đơn  biến  cho  thấy  cả  hai  biến  số  MR‐proANP  và  MR‐

proADM có khác biệt về tỉ lệ tử vong giữa giá trị  cao  và  thấp  hơn  giá  trị  nồng  độ  điểm  cắt.  Kết  quả phân tích đa biến cho thấy không có biến số  nào có giá trị giúp tiên lượng tử vong sớm trong  thời gian ngắn 30 ngày. 

Hình 1a. ROC‐AUC của MR‐proANP và MR‐proADM 

trong tiên lượng tử vong sớm trong vòng 30 ngày 

Hình 1b. ROC‐AUC của MR‐proANP và MR‐

proADM trong tiên lượng tử vong trong 12 tháng 

Bảng 3. Khảo sát các biến liên hệ tiên đoán tỉ lệ thất bại điều trị (tử vong) trong thời gian 12 tháng của 38 bệnh 

nhân suy tim nặng (n = 38, tử vong: 18) 

Trang 6

Biến số khảo sát Tỉ lệ tử vong n/N

(%) p (χ2 ) OR

(95% CI)

p Harzard ratio đơn biến (95%CI)

p Harzard ratio đa biến (95%CI)

3,1 (1,1 -8,9)

0,16 2,1 (0,7-6,1)

6,5 (2,0 -20,4)

0,006*

5,3 (1,6-17,1)

* Khác biệt có ý nghĩa thống kê sau khi loại bỏ ảnh hưởng của MR‐proANP  # không cần thiết do p (χ 2 ) > 0,05 

Các hình 2a, 2b, 3a, 3b trình bày đường biểu 

diễn  Kapaln  Meier  của  sống  sót  theo  thời  gian 

giữa  từng  căp  2  nhóm  bệnh  nhân  có  nồng  độ 

MR‐ProANP hoặc MR‐proADM ở 2 phía trên –  dưới của điểm cắt tiên lượng tử vong đả nêu ở  trên (Bảng 2). 

Hình 2a. Đường biễu diễn sống Kaplan‐Meier trong 

30 ngày với MR‐proANP điểm cắt 452 pmol/L 

Hình 2b. Đường biễu diễn sống Kaplan‐Meier trong 

30 ngày với MR‐proADM điểm cắt 2 nmol/L 

Hình 3a. Đường biễu diễn sống Kaplan‐Meier trong 

12 tháng với MR‐proANP điểm cắt 400 pmol/L 

Hình 3b. Đường biễu diễn sống Kaplan‐Meier trong 

12 tháng với MR‐proADM điểm cắt 1,2 nmol/L 

Bảng 4, Khảo sát các biến liên hệ tiên đoán tỉ lệ thất bại điều trị (tử vong) sớm trong 30 ngày của 38 bệnh nhân 

suy tim nặng (n=38, tử vong: 4) 

Trang 7

Biến số khảo sát Tỉ lệ tử vong

n/N (%)

p (χ2 ) OR

(95% CI)

p Harzard ratio đơn biến (95%CI)

p Harzard ratio đa biến (95%CI)

125 (∝-0,02)

0,95

7,1 (100-0,75)

0,75

không tính được, # không cần thiết do p (χ 2 ) > 0,05 

BÀN LUẬN 

Kết quả nghiên cứu cho thấy các dấu ấn sinh 

học ở vùng giữa của các tiền hormone có giá trị 

quan  trọng  trong  tiên  lượng  điều  trị  trên  bệnh 

nhân  suy  tim  nặng.  Nghiên  cứu  này  cũng  bổ 

sung  thêm  cho  giá  trị  chẩn  đoán  suy  tim  của 

MR‐proANP trong báo cáo trước đây trên bệnh 

nhân Việt Nam (Lê Ngoc Hùng và cs, 2012, đang 

chờ đăng báo), và kết quả cũng tương tự các kết 

quả trong các báo cáo của  các  nghiên  cứu  khác 

trên thế giới về MR‐proANP(2). Nghiên cứu cũng 

cho  thấy  MR‐proADM  có  giá  trị  tương  đương 

hoặc hơn MR‐proANP trong tiên lượng tử vong.  

Nồng độ MR‐proANP của 38 bệnh nhân là 

463,1 ± 208,0 (TB ± độ lệch chuẩn) thay đổi từ 

154,9 – 1130 pmol/L và của MR‐proADM là 1,8 

±  1,8  (TB  ±  độ  lệch  chuẩn)  thay  đổi  từ  0,05  – 

10,95  nmol/L.  Cả  2  nhóm  nồng  độ  MR‐

proANP  và  MR‐proADM  đều  có  phân  bố 

chuẩn  với  p  >  0,05  (Kolmogorov‐Smirnov). 

Nồng  độ  MR‐proADM  was  about  1,2 

nmol/Lghi  nhận  trên  101  bệnh  nhân  tử  vong 

và 47 bệnh nhân phải tái nhập viện trong vòng 

3 tháng sau cơn nhồi máu cơ tim cấp(5).  

Trong  nghiên  cứu  MR‐proADM  của  Maisel 

và cs, 2010(8), có 65 trường hợp tử vong trong 568 

bệnh  nhân  suy  tim  cấp  tính  (AHF:  acute  heart 

failure)  trong  vòng  90  ngày,  chiếm  tỉ  lệ  11,4%. 

Nồng  độ  MR‐proADM  ở  bệnh  nhân  tử  vong 

trong 90 ngày là 2,07 nmol/L (1,2‐3,6) (trung vị, 

25%  ‐  75%  bách  phân  vị)  và  điểm  cắt  cho  tiên 

lượng tử vong trong 90 ngày là 2 nmol/L. Trong  nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ tử vong trong 30  ngày  của  38  bệnh  nhân  suy  tim  nặng  là  10,5%  (2,6‐21,1%),  và  trong  12  tháng  là  47,4%  (31,6  ‐ 63,2)  (%,  95%  khoãng  tin  cậy).  Nồng  độ  MR‐ proADM ở bệnh nhân tử vong trong 30 ngày và 

12 tháng của nghiên cứu chúng tôi là 2,9 nmol/L  (1,9 ‐11,0) và 2,0 nmol/L (0,4–11,0). Điểm cắt cho  tiên  lượng  tử  vong  ở  2  thời  điểm  30  ngày  (1  tháng) và 12 tháng là 2,0 nmol/L và 1,2 nmol/L. 

Cả  hai  thông  số  MR‐proANP  và  MR‐proADM  đều có giá trị rất khác biệt giữa nhóm bệnh nhân 

tử vong và nhóm bệnh nhân sống với p thay đổi 

từ 0,005 đến 0,032 (Bảng 2). Ngược lại, các thông 

số  khác  như  độ  suy  tim  theo  NYHA,  tuổi  cao  (≥60  tuổi),  phái  tính  (nữ),  phân  suất  tống  máu  thất  T  (<  20%),  dầy  thất  T,  và  rung  nhĩ  đều  không  có  sự  khác  biệt  giữa  bệnh  nhân  sống  và 

tử  vong.  Điều  này  nói  lên  giá  trị  cao  của  MR‐ proANP  và  MR‐proADM  trong  tiên  lượng  tử  vong của bệnh nhân suy tim nặng.  

Khan  SQ  và  cs,  2007(5),  trong  nghiên  cứu  LAMP  (Leicester  Acute  Myocardial  Infarction  Peptide) khảo sát giá trị tiên lượng tử vong của  MR‐proADM trên 983 bệnh nhân sau nhồi máu 

cơ  tim  (721  nam,  tuổi  trung  bình  65  tuổi)  trong  thời gian 342 ngày (0‐764 ngày). Kết quả có 101 

tử vong và 49 tái nhập viện do suy tim. Nồng độ  MR‐proADM trên nhóm bệnh nhân này cao hơn  nhóm còn lại, 1,19 (0,09‐5,39) nmol/L so với 0,71  (0,25‐6,66) nmol/L (p<0,0001). Điểm cắt của MR‐ proADM  cho  tử  vong  365  ngày  (12  tháng)  của 

Trang 8

trong nghiên cứu được phân tích theo khả năng 

sống với Kaplan‐Meier và hệ số may rủi theo hồi 

quy Cox (Cox regression hazard ratio), cho thấy 

MR‐proADM là một chỉ điểm tiên lượng mạnh, 

có  tính  độc  lập  về  khả  năng  tử  vong  trong  suy 

tim nặng so với MR‐proANP.  

Tsutamoto và cs, 1997(13), nhận xét BNP hữu 

dụng  hơn  ANP  trong  tiên  lượng  tử  vong  trên 

bệnh  nhân  suy  tim  mạn,  vấn  đề  này  liên  quan 

đến  thời  gian  bán  hủy  dài  hơn  của  BNP(1,6). 

Gegenhuber và cs 2006(2) nhận thấy MR‐proANP 

và  BNP  tương  đương  nhau  trong  tiên  lượng 

sống còn 1 năm trên bệnh nhân suy tim cấp. Khả 

năng  tiên  lượng  tương  tự  cho  NT‐proANP  và 

NT‐proBNP  trong  tử  vong  sau  nhồi  máu  cơ 

tim(11). Lý do chung của ưu điểm vượt trội trong 

tiên  lượng  sống  còn  của  MR‐proANP  và  MR‐

proADM có thể được giải thích do tính ổn định 

cao  hơn  của  các  phân  tử  này  và  việc  áp  dụng 

phương  pháp  định  lượng  trực  tiếp  vào  vùng 

giữa của phân tử(9). Hơn nữa, đã có báo cáo cho 

thấy  NT‐proANP  (so  sánh  với  NT‐proBNP  và 

BNP)  tỏ  ra  rất  ổn  định  đối  kháng  với  các  dao 

động gây ra do hoạt động thể lực (14). 

KẾT LUẬN 

Kết  quả  nghiên  cứu  cho  thấy  MR‐proANP 

và MR‐proADM kết hợp với natriuretic peptide 

cho tiên lượng điều trị suy tim chính xác hơn sử 

dụng natriuretic peptide đơn thuần.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Felker GM, Petersen JW, Mark DB, (2006). Natriuretic peptides 

in the diagnosis and management of heart failure. CMAJ; 175: 

611‐617. 

2 Gegenhuber  A,  Struck  J,  Poelz  W,  et  al,  (2006).  Midregional 

pro‐A‐type natriuretic peptide measurements for diagnosis of 

acute  destabilized  heart  failure  in  short‐of‐breath  patients: 

comparison with B‐type natriuretic peptide (BNP) and amino‐

terminal proBNP. Clin Chem; 52:827–31. 

3 Jougasaki  M,  Rodeheffer  RJ,  Redfield  MM,  et  al,  (1996). 

Cardiac secretion of adrenomedullin in human heart failure. J 

Clin Invest; 97:2370–6. 

4 Jougasaki  M,  Wei  CM,  McKinley  LJ,  Burnett  JC,  (1995).  Elevation  of  circulating  and  ventricular  adrenomedullin  in 

human congestive heart failure. Circulation; 92:286–9. 

5 Khan  SQ,  O’Brien  RJ,  Struck  J,  Quinn  P,  Morgenthaler  N,  Squire I, Davies J, Bergmann A, Ng Leong L, (2007). Prognostic  value  of  Midregional  Pro‐Adrenomedullin  in  patients  with 

acute  myocardial  infarction.  Journal  of  the  American  College  of 

Cardiology; 49 (14): 1525‐1532. 

6 Kimura K, Yamaguchi Y, Horri M, et al, (2007). ANP is cleared  much faster than BNP in patients with congestive heart failure. 

Eur J Clin Pharmacol; 63: 699‐702. 

7 Maisel A, Mueller C, Nowak R, et al. (2010). Mid‐region Pro‐ Hormone  marker  for  diagnosis  and  Prognosis  in  Acute 

Dyspnea. J Am Coll Cardiol; 55: 2062‐76. 

8 Maisel  A,  Mueller  C,  Nowak  R,  Peacock  F,  Landsberg  JW,  Ponikowski P, et al, (2010). Mid‐region pro‐hormone markers 

for  diagnosis  and  prognosis  in  acute  dyspnea.  Journal  of  the 

American College of Cardiology; 55 (19): 2062‐2076. 

9 Moertl  D,  Berger  R,  Struck  J,  Gleiss  A,  Hammer  A,  Morgenthaler  NG,  Bergmann  A,  Huelsmann  M,  Pacher  R,  (2009).  Comparison  of  midregional  pro‐atrial  and  B‐type 

natriuretic  peptides  in  chronic  heart  failure.  Journal  of  the 

American College of Cardiology; 53 (19): 1783‐1790. 

10 Morgenthaler  NG,  Struck  J,  Alonso  C,  Bergmann  A,  (2005).  Measurement  of  midregional  proadrenomedullin  in  plasma 

with an immunoluminometric assay. Clin Chem; 51:1823–9. 

11 Squire IB, O’Brien RJ, Demme B, Davies JE, Ng LL, (2004). N‐ terminal  pro‐Atrial  natriuretic  peptide  (N‐ANP)  and  N‐ terminal  pro‐B‐type  natriuretic  peptide  (B‐BNP)  in  the  prediction  of  death  and  heart  failure  in  unselected  patients 

following acute myocardial infarction. Clin Sci; 107: 309‐16. 

12 Struck  J,  Tao  C,  Morgenthaler  NG,  Bergmann  A,  (2004).  Identification  of  an  adrenomedullin  precursor  fragment  in 

plasma of sepsis patients. Peptides; 25:1369–72. 

13 Tsutamoto T, Wada A, Maeda K, et al, (1997). Attennuation of  compensation  of  endogenous  cardiac  natriuretic  peptide 

system in chronic heart failure. Circulation; 96: 509‐516. 

14 Wijbenga JA, Balk AH, Boomsma F, Man in’t Veld AJ, Hall C, 

(1999). Cardiac peptides differ in their response to exercise. Eur 

Heart J; 20: 1424‐1428. 

15 Yougasaki M, Burnett JC Jr, (2000). Adrenomedullin: potential 

in physiology and pathophysiology. Life Sci; 66: 855‐872. 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 07:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm