U lympho không Hodgkin não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa là một biến thể hiếm gặp của ULKH ngoài hạch. Bài viết trình bày đặc điểm dấu ấn sinh học và bất thường gen MYC, BCL2, BCL6 trong bệnh u lympho không Hodgkin não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa tại Bệnh viện Chợ Rẫy.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM DẤU ẤN SINH HỌC VÀ BẤT THƯỜNG GEN MYC, BCL2, BCL6 TRONG BỆNH U LYMPHO KHÔNG HODGKIN NÃO NGUYÊN PHÁT
TẾ BÀO B LỚN LAN TỎA TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY
Hoàng Thị Thuý Hà 1 , Lê Hùng Phong 1 , Mạc Hồng Phước 1 ,
Nguyễn Trường Sơn 2 , Phạm Quang Vinh 3
TÓM TẮT 34
Đặt vấn đề: U lympho không Hodgkin
(ULKH) não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa là
một biến thể hiếm gặp của ULKH ngoài hạch
Nguồn gốc tế bào của khối u thuộc nhóm không
tâm mầm với dấu ấn đặc trưng MUM1 và BCL6
dương tính tỷ lệ cao
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Đối tượng gồm 57 bệnh nhân được chẩn đoán
ULKH não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa,
được làm xét nghiệm hóa mô miễn dịch và phát
hiện bất thường gen MYC, BCL2, BCL6 bằng kỹ
thuật FISH Phương pháp nghiên cứu: mô tả tiến
cứu
Kết quả: Tỷ lệ dương tính với dấu ấn CD10,
BCL6, MUM1 và BCL2 là 10,5%; 61,4%; 87,7%
và 67,3% Tỷ lệ nhóm tâm mầm là 19,3% và
không tâm mầm là 80,7% Chỉ số Ki67 dương
tính cao với trung vị 60% (từ 0% đến 95%) Bất
thường di truyền thường gặp nhất là tái sắp xếp
BCL6 (9,8%), chuyển đoạn MYC (5,9%) Tái
sắp xếp BCL2 và double-hit (MYC/BCL2,
1
Bệnh viện Chợ Rẫy
2
Bộ Y tế
3 Đại học Y Hà Nội
Chịu trách nhiệm chính: Hoàng Thị Thúy Hà
SĐT: 0908.456.307
Email: thuyhado@yahoo.com.vn
Ngày nhận bài: 20/8/2022
Ngày phản biện khoa học: 20/8/2022
Ngày duyệt bài: 17/10/2022
MYC/BCL6) gặp ở 1 bệnh nhân (1,9% mỗi nhóm)
Kết luận: Đa số bệnh nhân u lympho não
nguyên phát có nguồn gốc tế bào không tâm
mầm tái sắp xếp gen MYC gặp tỷ lệ cao nhất
trong các bất thường di truyền
Từ khóa: U lympho không Hodgkin não
nguyên phát, đặc điểm sinh học khối u, bất
thường di truyền
SUMMARY TUMOR BIOMARKERS, MYC TRANSLOCATION, BCL2 AND BCL6 REARRANGEMENTS IN NEWLY DIAGNOSED PRIMARY CEREBRAL DIFUSE LARGE B CELL LYMPHOMA
AT HEMATOLOGY DEPARTMENT IN
CHO RAY HOSPITAL
Background: Primary cerebral diffuse large
B cell lymphoma is an uncommon variant of extranodal non – Hodgkin lymphoma The cell origin of the tumor is the non- geminal center B- cell
Subjects and Research method: Subject:
We performed a analysis of molecular biomarkers, MYC translocations, BCL2 and BCL6 rearrangements by FISH in 57 patients who have been diagnosed primary cerebral lymphoma Research method: prospective
descriptive study
Results: CD10, BCL-6, MUM1, BCL-2
antigens were immunohistochemically labeled on paraffin-embedded sections; the 4 were positive
Trang 2in 10,5%; 61,4%; 87,7% and 67,3% of the
tumors, respectively Among the 57 patients, the
percentage of GCB was 19,3% and of non- GCB
was 80,7% The Ki67 index positive was high
level (median 60%, range: 0-95%) The most
common genetic abnormalities were BCL6
rearrangements (9,8%), MYC translocations
(5,9%) BCL2 rearrangements and double-hit
(MYC/BCL2, MYC/BCL6) occurred in 1 patient
(1,9% each)
Conclusion: The majority of primary
cerebral lymphoma patients were classified in the
non- GCB subgroup and the MYC translocations
had the highest rate of genetic abnormalities
Keywords: Primary Cerebral diffuse large B
cell Lymphoma, tumor biomarkers, genetic
abnormalities
I ĐẶT VẤN ĐỀ
U lympho không Hodgkin (ULKH)
nguyên phát hệ thần kinh trung ương là một
biến thể không phổ biến của ULKH ngoài
hạch, biểu hiện ở não, màng não mềm, mắt
hay tủy sống mà không có bất kỳ dấu hiệu
nào của ULKH hệ thống và được xem là một
bệnh khá hiếm Theo thống kê hàng năm có
2,5 – 30 trường hợp mới mắc/10 triệu người
ULKH não nguyên phát với đặc điểm khối u
khu trú tại não và là phân nhóm thường gặp
nhất (chiếm đến 80% ULKH nguyên phát hệ
thần kinh) [1]
Phần lớn ULKH não nguyên phát
(>95%) là u lympho tế bào B lớn lan tỏa
(DLBCL) với biểu hiện các dấu ấn của dòng
tế bào B (như CD20, CD19, CD79a), cũng
như dấu ấn đơn dòng của immunoglobulin
chuỗi nhẹ bề mặt Tương tự ULKH hệ thống,
ULKH não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa
có dưới nhóm: tâm mầm và không tâm mầm
Hai dưới nhóm này được phân biệt với nhau
trên lâm sàng Tuy vậy, vẫn còn một số trường hợp không thể xếp vào 2 loại trên và biểu hiện gen không dễ thực hiện rộng rãi ở các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển Vì vậy, phân nhóm DLBCL có thể dựa vào xét nghiệm hóa mô miễn dịch (CD10, BCL6 và IRF4 / MUM1) và các thuật toán để xếp vào hai nhóm tâm mầm và không tâm mầm Mặc dù các nhóm này không có sự tương quan chặt chẽ nhưng vẫn được chấp nhận trên lâm sàng và lược đồ Hans là phù hợp với biểu hiện gen nhất [2] Một số nghiên cứu trên thế giới tập trung nghiên cứu hình thái của ULKH não nguyên phát tế bào
B lớn Kết quả cho thấy 50-80% có biểu hiện BCL6 trên lam nhuộm hóa mô và ít nhất 95% dương tính với MUM1, chứng minh phần lớn các ca bệnh thuộc phân nhóm không tâm mầm Theo nghiên cứu CALGB
50202, khối u tăng tiết BCL6 có mối tương quan với tình trạng kháng trị của bệnh, thời gian sống còn và thời gian sống bệnh không tiến triển ngắn, do vậy có thể sử dụng BCL6 như một dấu ấn để tiên lượng bệnh [3] Bất thường di truyền trong ULKH não nguyên phát cũng gặp những bất thường gen tương tự trong DLBCL hệ thống như chuyển đoạn MYC, tái sắp xếp BCL2, BCL6 và các bất thường này đều liên quan đến kết cục đáp ứng bệnh kém Bệnh nhân ULKH não nguyên phát có thể gặp bất thường một, hai hoặc cả ba gen Các bất thường gen MYC, BCL2, BCL6 xác định bằng nhiều kỹ thuật sinh hoặc phân tử khác nhau trong đó kỹ thuật lai tại chỗ huỳnh quang hai màu (dual FISH) được sử dụng khá phổ biến với giá trị chẩn đoán cao
Do ULKH não nguyên phát là một bệnh hiếm gặp, chẩn đoán và điều trị bệnh cần cơ
sở y tế chuyên khoa sâu về phẫu thuật thần
Trang 3nghiên cứu về ULKH não nguyên phát rất ít
Số bệnh nhân mới hàng năm chẩn đoán
ULKH não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa
tại Khoa Huyết học- bệnh viện Chợ Rẫy
chiếm khoảng 4% tổng số bệnh nhân ULKH
mới Tỷ lệ này có xu hướng tăng dần và đây
cũng là tỷ lệ khá cao so với dịch tễ chung
(1% ULKH) Vì vậy, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài này với mục tiêu“Mô tả
đặc điểm sinh học khối u và bất thường
gen MYC, BCL2, BCL6 trong bệnh u
lympho không Hodgkin não nguyên phát
tế bào B lớn lan tỏa tại bệnh viện Chợ
Rẫy”
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng: 57 bệnh nhân mới chẩn
đoán ULKH não nguyên phát tế bào B lớn
lan tỏa tại Khoa Huyết học- bệnh viện Chợ
Rẫy, đồng ý hóa trị phác đồ Methotrexate
liều cao phối hợp Rituximab
2.2 Phương pháp nghiên cứu: mô tả
tiến cứu Thời gian từ tháng 10/2015 đến
tháng 12/2017
2.3 Phương pháp thực hiện:
2.3.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh:
- Sinh thiết khối u não, khảo sát giải phẫu
bệnh với đặc điểm mô bệnh học là tế bào lớn
lan tỏa mang dấu ấn dòng tế bào B có CD20
dương tính
- Khảo sát loại trừ vị trí tổn thương
nguyên phát: CT - Scan, MRI, PET- CT, tủy
đồ, chọc dịch não tủy (khảo sát tế bào, đạm)
- Loại trừ các bệnh nhân không đủ điều
kiện hóa trị phác đồ Methotrexate liều cao
phối hợp Rituximab bao gồm: độ lọc cầu
thận < 60ml/phút; có chống chỉ định đa dịch
truyền và anti – HIV (+)
2.3.2 Phương pháp tiến hành xét nghiệm:
- Mẫu mô vùi nến được thực hiện xét nghiệm hóa mô miễn dịch trên hệ thống máy nhuộm tự động:
+ Dấu ấn CD10, BCL2, KI67 thực hiện trên hệ thống máy Vetana- BenchMark (ROCHE)
+ Dấu ấn BCL6, MUM 1 thực hiện trên
hệ thống máy IntelliPATH (BIOCARE)
- Đánh giá kết quả nhuộm hóa mô CD10, BCL2, BCL6, MUM1 :
+ Âm tính: không bắt màu trong bào tương tế bào u hoặc bắt màu nhạt hơn tế bào
mô đệm < 30% tế bào u vùng xâm lấn + Dương tính: >30% tế bào u bắt màu trong bào tương với cường độ tương đương hoặc đậm hơn tế bào mô đệm
- Đánh giá kết quả nhuộm hóa mô Ki67: kết quả thể hiện bằng tỷ lệ % tế bào dương tính
+ Âm tính: không bắt màu trong bào tương tế bào u hoặc bắt màu nhạt hơn tế bào
mô đệm
+ Dương tính: tế bào u bắt màu trong bào tương với cường độ tương đương hoặc đậm hơn tế bào mô đệm
- Phát hiện bất thường gen MYC, BCL2, BCL6 bằng phương pháp lai huỳnh quang tại chỗ FISH trên hệ thống máy Bioview (ABBOTT)
+ Kết quả đánh giá dựa trên tỷ lệ % tế bào có sự chuyển đoạn tín hiệu giữa nhiễm sắt thể 8 và 14 ( bất thường gen MYC), đứt gãy tín hiệu của nhiễm sắc thể 18 (bất thường gen BCL2) và đứt gãy tín hiệu của nhiễm sắc thể 3 (bất thường gen BCL6)
Trang 4III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Từ tháng 10/2015- 12/2017, chúng tôi có 57 bệnh nhân ULKH não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa được hóa trị phác đồ Methotrexate liều cao phối hợp Rituximab với kết quả như sau:
3.1 Đặc điểm chung nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Bảng 1 Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Tuổi: trung bình 53,2 ± 12,5 (15-80)
Giới
Nhận xét: Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân là 53,2 tuổi, trung vị tuổi bệnh nhân ở
thời điểm chẩn đoán là 55 tuổi, trong đó 71,9 % bệnh nhân dưới 60 tuổi.Tỷ lệ nam/nữ là 1,47/1, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,18
3.2.Đặc điểm dấu ấn miễn dịch khối u
Bảng 2 Dấu ấn miễn dịch khối u
Dấu ấn miễn dịch Số bệnh nhân
làm XN
Nhận xét: 57 bệnh nhân được xét nghiệm dấu ấn CD10, BCL6, MUM1 và 55 bệnh nhân
được xét nghiệm dấu ấn BCL2 Dấu ấn CD 10 dương tính ở 10,5%, trong khi đa số bệnh nhân dương tính với MUM1
Bảng 3 Phân loại dưới nhóm theo lược đồ Hans
Phân loại dưới nhóm Số bệnh nhân (n) Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Đa số bệnh nhân có đặc điểm tế bào u xếp vào nhóm không tâm mầm 80,7% Bảng 4 Đặc điểm dấu ấn miễn dịch Ki67
Chỉ số Ki67 Số bệnh nhân (n=57) (Tỷ lệ %) Trung vị [tứ phân vị]: 60% [40-75%]
Nhận xét:
Trang 53.3 Đặc điểm bất thường di truyền khối u
Bảng 5 Đặc điểm bất thường di truyền khối u
Bất thường di truyền Số bệnh nhân (n) Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Số bệnh nhân có tái sắp xếp gen BCL6 chiếm tỷ lệ cao nhất 9,8%, chuyển đoạn
MYC chiếm 5,9% Tái sắp xếp gen BCL2, double- hit rất hiếm gặp và không phát hiện bệnh nhân có triple- hit
IV BÀN LUẬN
4.1 Đặc điểm chung nhóm bệnh nhân
nghiên cứu
Trong thời gian nghiên cứu từ tháng
10/2015 đến tháng 12/2017, chúng tôi có 57
bệnh nhân được chẩn đoán xác định ULKH
não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa đồng ý
tham gia vào nghiên cứu Trên thực tế số
bệnh nhân chẩn đoán bệnh cao hơn số bệnh
nhân tuyển vào nghiên cứu khoảng 1,5 lần
(khoảng 40-50 BN/ năm) Có thể thấy, số
bệnh nhân chẩn đoán ULKH não nguyên
phát tế bào B lớn lan tỏa tại Khoa Huyết học
Bệnh viện Chợ Rẫy rất lớn, cao hơn nhiều so
với đặc điểm dịch tễ chung của bệnh Do đặc
điểm của Bệnh viện Chợ Rẫy là bệnh viện đa
khoa tuyến cuối của khu vực phía Nam, có
thế mạnh rất lớn trong phẫu thuật thần kinh
nên số bệnh nhân mới được chẩn đoán bệnh
tại bệnh viện chúng tôi khá cao
Tuổi trung bình tại thời điểm chẩn đoán
bệnh là 53,1 ± 12,5 tuổi (trung vị tuổi 55), đa
số bệnh nhân trong độ tuổi từ 40-70 tuổi
(84%) Kết quả của chúng tôi tương đồng với
kết quả các báo cáo gần đây cho thấy, tuổi
trung bình lúc chẩn đoán khoảng từ 45-65
tuổi, nhóm tuổi nguy cơ cao nhất của ULKH nguyên phát hệ thần kinh trung ương là trên
60 tuổi, và tỷ lệ mới mắc của nhóm tuổi này ngày càng tăng lên [4]
Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân lớn tuổi nhất là 80 tuổi và nhỏ tuổi nhất
15 tuổi Tác giả Kasenda và cộng sự phân tích gộp 13 nghiên cứu với 783 bệnh nhân chẩn đoán ULKH nguyên phát hệ thần kinh trung ương ≥ 60 tuổi, nhóm bệnh nhân trên
75 tuổi chiếm 14%, lớn tuổi nhất là 90 tuổi
và vẫn tiếp cận với phương pháp điều trị Methotrexate liều cao [5]
Về giới tính, trong hầu hết các nghiên cứu ghi nhận số bệnh nam trội hơn nữ với tỷ
lệ nam: nữ dao động 1,5:1 đến 2:1 [4] Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ BN nam chiếm 59,6% và nữ 40,4%, nam/nữ 1,47:1 với sự khác biệt giữa 2 giới không có
ý nghĩa thống kê
4.2 Đặc điểm dấu ấn miễn dịch khối u
Kết quả bảng 2, tỷ lệ bệnh nhân có dấu
ấn CD10 dương tính ở số ít 10,5% Đa số bệnh nhân dương tính với dấu ấn MUM1 (87,7%) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với đặc điểm sinh học của khối u
Trang 6trong ULKH não nguyên phát Một số
nghiên cứu trên thế giới tập trung nghiên cứu
hình thái của ULKH nguyên phát hệ thần
kinh trung ương thể tế bào B lớn, kết quả cho
thấy 50-80% có biểu hiện BCL6 trên lam
nhuộm hóa mô và ít nhất 95% dương tính với
MUM1 chứng minh phần lớn các ca bệnh
thuộc phân nhóm không tâm mầm, hiếm gặp
các trường hợp dương tính với CD10 (<10%)
như nghiên cứu của Camilleri-Boet, Cho,
Anita và cộng sự [6], [7], [8]
Hiện nay, phân loại thể bệnh DLBCL
thành các dưới nhóm tâm mầm và không tâm
mầm đã được thực hiện phổ biến ở nhiều
Bệnh viện, việc phân loại này có ý nghĩa lớn
trong tiên lượng cũng như lựa chọn phác đồ
điều trị Có nhiều cách phân loại dựa trên các
dấu ấn miễn dịch như phân loại của Choi,
Visco - Young, Hans… Nghiên cứu năm
2004 của Hans và cộng sự, cho thấy trong
thể DLBCL chỉ với bộ 3 dấu ấn miễn dịch
CD10, BCL6, MUM1 đủ để phân thành các
dưới nhóm tâm mầm và không tâm mầm, kết
quả của phân loại này cho thấy tỷ lệ sống
thêm toàn bộ 5 năm của nhóm tâm mầm là
76% cao hơn rất nhiều so với nhóm không
tâm mầm chỉ đạt 34% (p<0.001) [2] Bảng 3
cho kết quả đa số bệnh nhân xếp nhóm
không tâm mầm (80,7%) Điều này hoàn
toàn phù hợp với nguồn gốc tế bào của
ULKH não xuất phát từ hậu tâm mầm
Nghiên cứu về gen của Montessino cũng
chứng minh đa phần u có nguồn gốc từ tâm
mầm muộn [9]
KI 67 là một protein được tìm thấy trong
tế bào Đây là một cách để đo tốc độ phát
triển và sự phân chia của các tế bào ác tính
Thông thường, chỉ số Ki67 được biểu diễn
bằng tỷ lệ % dương tính của tế bào u với dấu
ấn này Giá trị Ki67 tỷ lệ thuận với nguy cơ
quả dấu ấn Ki67 trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ só 2 bệnh nhân âm tính, trung vị chỉ
số Ki67 là 60% (từ 0% đến 95%) Điều này chứng minh bản chất của tổ chức lymphoma não rất ác tính Kết quả của chúng tôi thấp hơn kết quả của tác giả Cho nghiên cứu trên
45 bệnh nhân, ghi nhận trung vị của chỉ số KI67 là 85% (từ 15% đến 99%) [7]
4.3 Đặc điểm bất thường di truyền khối u
Cũng như bất thường di truyền của DLBCL hệ thống, bất thường di truyền trong ULKH não nguyên phát cũng gặp những tổn thương tương tự vì bản chất cùng là tế bào B lớn Bảng 5 là kết quả xét nghiệm gen thực hiện bằng kỹ thuật FISH trên mẫu mô vùi nến Chúng tôi thực hiện được 51 trong tổng
số 57 mẫu xét nghiệm, 1 mẫu mô không còn
tế bào u và 5 mẫu trơ nên không thực hiện được xét nghiệm này Số bệnh nhân có tái sắp xếp gen BCL6 chiếm tỷ lệ cao nhất 9,8%, chuyển đoạn MYC chiếm 5,9% Tái sắp xếp gen BCL2 và double hit chỉ gặp ở 1 bệnh nhân và không gặp trường hợp nào có triple hit
Chuyển đoạn MYC trong ULKH nguyên phát hệ thần kinh trung ương rất hiếm gặp, chiếm khoảng 3% tương đương trong DLBCL hệ thống Những nghiên cứu gần đây cho thấy biểu hiện gen bằng kỹ thuật GEP, biểu hiện MYC trong ULKH nguyên phát hệ thần kinh trung ương cao hơn DLBCL hệ thống [6], [9] Kết quả của chúng tôi tương đương với các báo cáo trên
Tái sắp xếp gen BCL6 và BCL2 trong ULKH nguyên phát hệ thần kinh trung ương cũng ít gặp hơn trong DLBCL hệ thống (BCL6 khoảng > 10% và BCL2 ít hơn 10%) [6], [10] Tỷ lệ này của chúng tôi thấp hơn so với một số nghiên cứu đã công bố kết quả
Trang 7cứu về biểu hiện kép trong ULKH não
nguyên phát, double hit lymphoma với gặp
với tỷ lệ khoảng vài %, triple hit lymphoma
rất hiếm, thường báo cáo ca lâm sàng [10],
[11]
V KẾT LUẬN
Nghiên cứu về đặc điểm sinh học khối u
của 57 bệnh nhân ULKH não nguyên phát tế
bào B lớn lan tỏa, chúng tơi ghi nhận tỷ lệ
bệnh nhân dương tính với dấu ấn CD10,
BCL6, MUM1 và BCL2 là 10,5%; 61,4%;
87,7% và 67,3% Tỷ lệ bệnh nhân nhĩm tâm
mầm là 19,3% và khơng tâm mầm là 80,7%
Chỉ số Ki67 dương tính cao với trung vị 60%
(từ 0% đến 95%) Bất thường di truyền
thường gặp nhất là tái sắp xếp BCL6 (9,8%),
chuyển đoạn MYC (5,9%) Tái sắp xếp
BCL2 và double-hit (MYC/BCL2,
MYC/BCL6) gặp ở 1 bệnh nhân (1,9% mỗi
nhĩm)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ann S La Casce (2014) Theurapeutic use
of high – dose methotrexate
<http://www.uptodate.com/contents/therapeu
tic-use-and-toxicity-of-high-dose-methotrexate> xem 24/10/2014
2 Hans CP et al (2004) Confirmation of the
molecular classification of diffuse large B-cell
lymphoma by immunohistochemistry using a
tissue microarray Blood, 103, 275-282
3 James LR, Eric DH, Jeffrey LG et al
(2013) Intensive Chemotherapy and
Immunotherapy in Patients With Newly
Diagnosed Primary CNS Lymphoma:
CALGB 50202 (Alliance 50202) Journal of
Clinical Oncology 31, no 25, 3061-3068
4 Kadan-Lottick et al (2002) Decreasing
Incidence Rates of Primary Central.Nervous
System Lymphoma.Cancer,95, 193-202
5 Kasenda B, Ferreri AJ, Marturano E et al
(2015) First-line treatment and outcome of elderly patients with primary central nervous system lymphoma (PCNSL)-a systematic review and individual patient data
meta-analysis Ann Oncol, 26, 1305-1311
6 Camilleri-Broët S, Crinière E, Broët P, et
al (2006) A uniform activated B-cell-like
immunophenotype might explain the poor prognosis of primary central nervous system lymphomas: analysis of 83 cases Blood,
107, 190-196
7 Cho U, Oh WJ, Hong Y et al (2018)
Prognostic Significance of High Ki-67 Index and Histogenetic Subclassification in Primary Central Nervous System Lymphoma Appl Immunohistochem Mol
Morphol, 26(4), 254-262
8 Anita Mahadevan, Clementina Rama, et al
(2015).Primary central nervous system diffuse large B-cell lymphoma in the immunocompetent: Immunophenotypic subtypes and Epstein-Barr virus association
J Neurosci Rural Pract, 6(1), 8–14
9 Montessino Rongen M, Brunn A, Bentink
S (2008) Gene expression profiling suggests
primary central nervous system lymphomas
to be derived from a late germinal center B
cell Leukemia,22, 400
10 Anahita Nosrati, Ahmad Monabati, Alireza Sadeghipour et al (2019) MYC, BCL2, and
BCL6 rearrangements in primary central nervous system lymphoma of large B cell
type Annals of Hematology, 98, 169–173
11 Raju KP, Malini S et al (2013) Double-hit
B-cell lymphomas with BCL6 and MYC translocations are aggressive, frequently extranodal lymphomas distinct from BCL2 double-hit B-cell lymphomas Am J
SurgPathol,37(3), 323-32